Các nhân tố tác động đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
GIỚI THIỆU
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu và là một yêu cầu khách quan đối với bất kỳ quốc gia nào trong giai đoạn phát triển hiện nay. Tuy nhiên, tiến trình này ngoài việc tạo ra những thuận lợi, cơ hội nhất định cho các quốc gia tham gia còn đặt các nước này trước những khó khăn, thách thức không nhỏ.
Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, phân tích, đưa ra những nhân tố tác động đến sự ổn định của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là khả năng sinh lời từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao tính ổn định của hệ thống NHTM là một vấn đề cấp thiết.
Thị trường tài chính giờ đây cũng phải chịu những sức ép lớn của quá trình hội nhập. Đặc biệt các NHTM –là tổ chức trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa khu vực tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế –ngày càng bị cạnh tranh bởi các trung gian tài chính phi ngân hàng và các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên sự gia tăng sức ép cạnh tranh sẽ tác động đến ngành ngân hàng như thế nào còn phụ thuộc một phần vào khả năng thích nghi và hiệu quả hoạt động của chính các ngân hàng trong môi trường mới này. Các ngân hàng không có khả năng cạnh tranh sẽ được thay thế bằng các ngân hàng có hiệu quả hơn, điều này cho thấy chỉ có các ngân hàng có hiệu quả nhất mới có lợi thế về cạnh tranh. Như vậy, hiệu quả trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tồn tại của một ngân hàng trong một môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng. Trong môi trường cạnh tranh và đòi hỏi của hội nhập như hiện nay, hệ thống ngân hàng không những phải duy trì được sự ổn định trong hoạt động của mình mà còn phải có khả năng gia tăng cạnh tranh đối với các tổ chức tài chính phi ngân hàng và các định chế tài chính khác. Để làm được điều này đòi hỏi các ngân hàng thương mại không ngừng phải tăng cường hiệu quả hoạt động của mình. Với mục tiêu làm tăng hiệu quả hoạt động của các trung gian tài chính bằng việc đẩy mạnh khả năng cạnh trạnh giữa các ngân hàng, tháo bỏ các rào cản về thị trường, lãi suất, tỷ giá hối đoái…đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục cải cách sâu rộng, toàn diện hơn nữa nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống ngân hàng. Đây thực sự là vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn nữa.
Tóm lại hiện nay việc xem xét một cách tổng thể và xác định những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam là hết sức quan trọng và có giá trị. Bởi lẽ, nó sẽ hỗ trợ cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính chính sách, các nhà quản trị ngân hàng và các nhà đầu tư trong việc ra quyết định. Qua đó nó cũng là cơ sở để hoàn thiện được một khung chính sách hợp lý trong quá trình quản lý hoạt động của các ngân hàng ở Việt Nam thời kỳ hội nhập. Xuất phát từ những đòi hỏi mang tính thực tiễn và nhu cầu bức thiết ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập khu vực và toàn cầu hoá, xu thế phát triển của nền kinh tế có sự quản lý của chính phủ một cách gián tiếp thông qua các chính sách kinh tế, với mong muốn bổ sung thêm những hiểu biết và ứng dụng đối với việc đưa ra chính sách quản lý hệ thống ngân hàng ở Việt Nam, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Các nhân tố tác động đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam’’.
MỤC TIÊU CỦА ĐỀ TÀI
Xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự ổn định của ngân hàng từ đó phân tích và đưa ra đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về việc đo lường tính ổn định của NHTM và xác định các yếu tố tác động đến sự ổn định của các NH TMCP tại Việt Nam.
Thứ hai, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại, và xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến sự ổn định của NH TMCP tại Việt Nam trong thời gian qua dựa trên cơ sở các mô hình phân tích định lượng.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao tính ổn định và tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam, góp phần phục vụ cho các mục tiêu phát triển của ngành ngân hàng và làm cho nền tài chính quốc gia phát triển ổn định trong những năm tiếp theo.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Thứ nhất, cơ sở lý luận về việc đo lường tính ổn định của NHTM và mô hình phân tích các nhân tố tác động đến tính ổn định của các ngân hàng thương mại như thế nào?
Thứ hai, các yếu tố nào có ảnh hưởng đến sự ổn định của các NH TMCP? Tác động của các yếu tố đến sự ổn định của các NH TMCP là như thế nào?
Thứ ba, giải pháp nâng cao tính ổn định và tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam là gì?
ĐỐI TƯỢNG VÀ РHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại cổ phần trong đó sự ổn định được ước lượng từ các phương pháp khác nhau và phân tích định lượng các nhân tố tác động đến sự ổn định này của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm 26 ngân hàng thương mại cổ phần (hiện nay tại Việt Nam có 31 ngân hàng thương mại cổ phần). Số lượng các ngân hàng thương mại ở Việt Nam được xem xét, phân tích trong các mô hình định lượng và thời kỳ nghiên cứu là 10 năm từ năm 2011 đến năm 2021.
Đề tài này sử dụng nguồn dữ liệu từ các báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các ngân hàng, không lựa chọn 05 ngân hàng thương mại cổ phần sau đây Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank), Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAB), Ngân hàng TMCP Đông Á (DongA Bank), Ngân hàng TMCP Bảo Việt (BaoViet Bank) và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương tín (VBB) vì nguồn số liệu của thời kỳ
nghiên cứu không liên tục, chưa đầy đủ và không được công bố minh bạch do bị kiểm soát đặc biệt (như DongA Bank).
РHƯƠNG РHÁР NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và phân tích hồi quy dữ liệu phương pháp hồi quy bình thường bé nhất dạng gộp Pooled OLS, kết hợp với mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM). Tác giả sử dụng kiểm định Hausman (1978) để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp giữa FEM và REM, với giá trị Prob>2 nhỏ hơn 0.05 cho thấy mô hình FEM là phù hợp hơn. Nếu sử dụng mô hình FEM, cần tiến hành kiểm định các giả định của mô hình, bao gồm kiểm định sự thay đổi của phương sai sai số và sự tự tương quan trong phần dư.
Nếu lựa chọn mô hình FEM thì cần kiểm định các khuyết tật của mô hình bao gồm kiểm định phương sai sai số thay đổi và tự tương quan ở phần dư. Nếu lựa chọn mô hình REM, cần sử dụng kiểm định Breusch – Pagan Larganian multiplier (LM) để so sánh với mô hình hồi quy Pool OLS. Nếu kết quả của kiểm định cho Prob>Chi2 lớn hơn 0.05 nên sử dụng mô hình hồi quy Pool OLS. Nếu chọn mô hình Pool OLS, cần kiểm định thêm phương sai sai số thay đổi, tự tương quan, phân phối chuẩn phần dư và hiện tượng thiếu biến. Sau khi hoàn thành các bước kiểm định trên, mô hình hồi quy phù hợp sẽ được lựa chọn.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Thứ nhất, hệ thống hóa khung lý thuyết và xác định các nhân tố tác động đến sự ổn định củа các ngân hàng thương mại.
Thứ hаi, sử dụng mô hình hồi quy đa biến kiểm định các yếu tố tác động đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Từ đó, đưa ra kết quả nghiên cứu và mô hình hồi quy phù hợp cho các nhân tố để có thể vận dụng vào thực tiễn.
Thứ bа, đề xuất các gợi ý, giải pháp cho các nhà quản lý trong ngành ngân hàng tại Việt Nam và có cái nhìn toàn diện về các nhân tố tác động đến sự ổn định của ngân hàng.
ĐÓNG GÓР CỦА ĐỀ TÀI
Thứ nhất, hình thành cơ sở lý luận, hoàn thiện phương pháp nghiên cứu, các mô hình đánh giá hiệu quả (thống kê, hồi quy OLS, FEM, REM, GLS) trên cơ sở đó đưa ra cách tiếp cận phù hợp cho Việt Nam trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động và phân tích các nhân tố tác động đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại.
Thứ hai, phân tích thực trạng và đánh giá hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam dựa trên phương pháp phân tích định tính và định lượng như phân tích mô hình hồi quy Poles OLS, FEM, REM và GLS để thấy được những mặt yếu kém, khiếm khuyết trong điều hành, quản lý và quản trị ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
Thứ ba, đề xuất các giải pháp để hoàn thiện khung chính sách trong việc quản lý và điều hành hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ở cả khía cạnh vĩ mô (cơ quan quản lý) và góc độ vi mô (quản trị ngân hàng) nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả và cải thiện năng lực cạnh tranh cho hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay ở Việt Nam.
TỔNG QUАN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Theo sắc lệnh ngày 20-10-1969 của chính quyền Sài gòn, khái niệm ngân hàng thương mại là xí nghiệp công hay tư lập, kể cả chi nhánh hay phân cục ngân hàng ngoại quốc mà hoạt động của chúng thường xuyên là thi hành nghiệp vụ chính của mình là nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu tài chính với tiền ký thác nhận của tư nhân, của xí nghiệp hay cơ quan công quyền.
Theo Pháp lệnh NHNN 1990, khái niệm ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên nhận tiền gởi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Theo khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, khái niệm ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ngân hàng thương mại được tổ chức dưới 02 hình thức theo khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 bao gồm: (i) Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần; (ii) Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.
- Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Hiệu quả hoạt động của các NHTM là một phạm trù kinh tế, phản ứng trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất. Hiệu quả hoạt động của các NHTM được đo lườn gmột cách tổng quát thông qua tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với vốn chủ sở hữu (ROE). Lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, nó được quyết định bởi mức lãi thu được từ các khoản cho vay và đầu tư, bởi nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, quy mô, chất lượng và thành phần của các tài sản có. Hiệu quả hoạt động của các NHTM quyết định trực tiếp tới vấn đề tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Nếu NHTM hoạt động có hiệu quả kinh doanh thì uy tín của ngân hàng đó sẽ được tăng lên, người gửi tiền sẽ yên tâm và tin tưởng, từ đó công tác huy động vốn của ngân hàng sẽ hiệu quả hơn. Từ đó NHTM mới có khả năng mở rộng quy mô hoạt động và tạo ra lợi nhuận càng cao, tích lũy được nhiều và nâng cao chất lượng phục vụ để thu hút khách hàng và tạo ra hiệu quả hoạt động càng tăng.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
- Nhóm nhân tố khách quan:
Một là, môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước
NHTM là cầu nối giữa khu vực tiết kiệm và khu vực đầu tư của nền kinh tế, do vậy những biến động của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của NHTM. Nếu môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM, vì đây cũng là điều kiện giúp cho sản xuất của nền kinh tế diễn ra bình thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Hai là, môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được thể hiện thông qua tính đồng bộ, đầy đủ và phổ cập của hệ thống luật, các văn bản dưới luật, việc chấp hành luật pháp và trình độ dân trí.
- Nhóm nhân tố chủ quan
Một là năng lực tài chính một ngân hàng thương mại thường được biểu hiện trước hết là qua khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sức mạnh tài chính của một ngân hàng. Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính và trình độ trang bị công nghệ. Thứ hai, khả năng sinh lời cũng là một nhân tố phản ánh về năng lực tài chính của một ngân hàng vì nó thể hiện tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh. Thứ ba là khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro của một ngân hàng cũng là nhân tố phản ánh năng lực tài chính. Nếu nợ xấu tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng để bù đắp rủi ro, có nghĩa là khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xảy ra. Ngược lại, nếu nợ xấu tăng nhưng dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạng tài chính xấu và năng lực tài chính bù đắp cho các khoản chi phí này bị thu hẹp.
Hai là năng lực quản trị, điều hành là nhân tố tiếp theo ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Năng lực quản trị điều hành trước hết là phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính hữu hiệu của cơ chế điều hành để có thể ứng phó tốt trước những diễn biến của thị trường. Tiếp theo năng lực quản trị, điều hành còn có thể được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao năng suất sử dụng các đầu vào để có thể tạo ra được một tập hợp đầu ra cực đại.
Ba là khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ, chính là phản ánh năng lực công nghệ thông tin của một ngân hàng. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và ứng dụng sâu rộng của nó vào cuộc sống xã hội như ngày nay, thì ngành ngân hàng khó có thể duy trì khả năng cạnh tranh của mình nếu vẫn cung ứng các dịch vụ truyền thống. Năng lực công nghệ của ngân hàng thể hiện khả năng trang bị công nghệ mới gồm thiết bị và con người, tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tích độc đáo về công nghệ của mỗi ngân hàng.
Bốn là, trình độ, chất lượng của người lao động, đây nhân tố con người là yếu tố quyết định quan trọng đến sự thành bại trong bất kỳ hoạt động nào của các ngân hàng thương mại. Xã hội càng phát triển thì càng đòi hỏi các ngân hàng càng phải cung cấp nhiều dịch vụ mới và có chất lượng. Chính điều này đòi hỏi chất lượng của nguồn nhân lực cũng phải được nâng cao để đáp ứng kịp thời đối với những thay đổi của thị trường, xã hội. Việc sử dụng nhân lực có đạo đức nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn sẽ giúp cho ngân hàng tạo lập được những khách hàng trung thành, ngăn ngừa được những rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động kinh doanh, đầu tư và đây cũng là nhân tố giúp các ngân hàng giảm thiểu được các chi phí hoạt động. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nguồn nhân lực luôn phải chú trọng việc gắn phát triển nhân lực với công nghệ mới.
- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại
Trích giáo trình tài chính doanh nghiệp của Phan Thị Cúc “ROE (Return on Equity) là tỷ số quan trọng đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của cổ đông” được tính bằng công thức sau:
| ROE = | Lợi nhuận sau thuế | (8.1) |
| Vốn chủ sở hữu |
Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời cho doanh nghiệp. ROE đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn chủ sở hữu. Mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu là mục tiêu tìm kiếm của bất cứ chủ ngân hàng nào. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của ngân hàng nào. Tỷ lệ ROE cao chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau:
- ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng.
- ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thếcạnh tranh trên thịtrường chưa để có thể đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không.
- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Đầu tiên trong nhóm các tỷ số về khả năng sinh lời là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on total assets-ROA). Theo giáo trình tài chính doanh nghiệp của Phan Thị Cúc, ROA là tỷ số thu nhập ròng trên tài sản. ROA đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. Công thức tính như sau:
| ROA = | Lợi nhuận sau thuế | (8.2) |
| Tổng tài sản |
Chỉ tiêu này được coi là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng hay hiệu quả khai thác tài sản có. ROA giúp các nhà quản trị ngân hàng thấy được khả năng bao quát của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có, là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng vì mọi tài sản có đều là những khoản đầu tư. Nói cách khác, ROA giúp ta xác định hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các mục tiêu trên tài sản có trước những biến động của nền kinh tế. ROA còn cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản). Tài sản của một ngân hàng được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì ngân hàng đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn, hay nói cách khác là kết quả cao hơn trên chi phí ít hơn. Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỷ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ. Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà công ty đó chi cho các hoạt động đầu tư,thì đó không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời.
Chỉ tiêu ROA và ROE tuy mang ý nghĩa khác nhau nhưng đều chỉ ra được mức độ tạo ra lợi nhuận của ngân hàng. Với quan điểm của tác giả, trong bài nghiên cứu này, tác giả lựa chọn sử dụng chỉ số ROE để làm biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam vì ROE được sử dụng chủ yếu trong phân tích khả năng sử dụng nguồn vốn của ngân hàng mang lại hiệu quả hoạt động của NHTM. Từ đó có các phương án, chiến lược kinh doanh phù hợp.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
- Tỷ lệ vốn chủ sở hữu
- Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Theo Nguyễn Minh Hà và Lê Đỗ Hoàng Phúc (2015), vốn chủ sở hữu là nguồn vốn riêng của NHTM do chủ sở hữu từ đóng góp ban đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động kinh doanh, có ý nghĩa quan trọng với các chức năng không thể thay thế như cung cấp nguồn lực ban đầu để giúp ngân hàng mới thành lập hoạt động, cung cấp nền tảng cho sự tăng trưởng và mở rộng, giảm thiểu rủi ro, duy trì niềm tin của công chúng và cổ đông vào khả năng quản lý và phát triển của ngân hàng.
Theo Ngô Hướng và Đoàn Thanh Hà (2013), nguồn vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM nên lợi nhuận mà nó mang lại cũng không cao. Tuy nhiên, vốn chủ sở hữu có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của NHTM với các tổ chức tài chính lớn, các công ty đa quốc gia với nguồn vốn chủ sở hữu khổng lồ đều có thời gian tồn tại lâu dài, mức độ đầu tư lớn cho quảng cáo và thương hiệu của tổ chức. Vốn chủ sở hữu tạo niềm tin cho công chúng và đảm bảo với chủnợvềsức mạnh tài chính của NHTM, là tấm đệm chống lại rủi ro phá sản, rủi ro thanh khoản khi biến cố xảy ra, điều tiết sự tăng trưởng và xác định tỷ lệ an toàn của NHTM. Việc các NHTM tăng vốn chủ sở hữu là khá quan trọng, nhưng dĩ nhiên vốn không phải là yếu tố duy nhất quyết định sự thành bại của ngân hàng, nếu vốn tăng quá nhanh nhưng quy mô hoạt động ngân hàng không tăng tương ứng, trình độ quản lý không theo kịp hay vốn tăng nhưng ngân hàng chưa thực sự vững mạnh theo đúng chuẩn mực quốc tế thì hiệu quả sử dụng số tăng lên này là không. Vì vậy, các NHTM phải xác định được mức vốn tự có cần thiết, đủ để bù đắp rủi ro, đồng thời lựa chọn giải pháp thích hợp đểtăng vốn, nhằm đảm bảo được sức mạnh tài chính và năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Theo Nguyễn Thị Cành (2009), vốn chủ sở hữu thường chiếm không quá 10% trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, do đó rõ ràng các ngân hàng phải sử dụng vốn huy động từ cá nhân và tổ chức làm “đòn bẩy” cho hoạt động của mình. Mặc dù chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn nhưng quy mô vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng trong việc duy trì an toàn và phát triển hoạt động của ngân hàng do các ngân hàng luôn bị khống chế tỷ lệ an toàn vốn.
- Quy mô ngân hàng
Theо Аthаnаsоglоu và cộng sự (2006) nhận định rằng việc mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng không hợp lý sẽ gây rất nhiều khó khăn trong việc quản trị, đồng thời lại có thể khiến các nhà quản trị đưa ra các quyết định sai lầm làm suy giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Thế nhưng, theo quаn điểm Yao và cộng sự (2018) và Regehr và Sengupta (2016) khi tổ chức có quy mô lớn thì sẽ hoạt động hiệu quả hơn và có thể cung cấp được dịch vụ tại mức giá thấp hơn nhờ vào lợi thế quy mô,qua đó thu về lợi nhuận lớn hơn.
- Chi phí hoạt động
Chi phí hoạt động của NHTM gồm khoản chi về hoạt động huy động vốn, chi phí hoạt động dịch vụ ngân hàng, thanh toán quốc tế, chi phí hành chính, chi lương nhân viên, các khoản thuế và chi phí khác. Với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận, các NHTM thường tìm cách cắt giảm khoản chi phí. Tuy nhiên, với việc cắt giảm chi phí có thể ảnh hưởng tiêu cực cho doanh nghiệp.
Theo Owoputi, J.A (2014) nghiên cứu về các yếu tố vi mô và vĩ mô tác động đến khả năng sinh lời của NHTM tại Nigeria từ năm 1998 đến năm 2012, sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên, kết quả biến chi phí hoạt động ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM và làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
- Tỷ lệ khoản vay
Đối với NHTM, hoạt động cho vay là hoạt động chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn, nhưng nó lại là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Bên cạnh rủi ro tiềm ẩn thì ngân hàng cho vay với lãi suất phù hợp với các khoản vay và phần lãi thu về là nguồn thu nhập của ngân hàng. Tỷ lệ khoản cho vay càng cao cho thấy rằng NHTM đang hoạt động ổn định, lợi nhuận của NHTM gia tăng. Tuy nhiên, nếu hoạt động thẩm định cho vay không thắt chặt, nợ xấu sẽ tăng và từ đó giảm lợi nhuận.
- Tính thanh khoản
Theo Shim & Siegel (2000), tỉnh thanh khoản là khả năng thanh toán, chuyển đối với các khoản nợ ngắn hạn, đảo hạn trong vòng một năm. Thanh khoản của một NHTM được tính dựa trên tỷ lệ của tài sản lưu động và tổng tài sản của NH Tài sản lưu động của ngân hàng bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền. Ngoài ra để đề phòng rủi ro và đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng, các NHTM phải có khoản dự trữ bắt buộc cũng như trái phiếu hay cổ phiếu dễ dàng thanh toán trên thị trường tài chính Rủi ro thanh khoản là một trong rủi ro tác động xấu đến hoạt động và lợi nhuận của ngân hàng thương mại. Pasiouras A Kosmidou (2007) đã phát hiện ra rằng có một mối quan hệ tiêu cực giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời, tương tự tác giả Garu (2002) cùng đã tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng.
- Tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ xấu là tổn thất có khả năng xảy ra nợ xấu đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nhà nước do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. chỉ tiêu này gây ảnh hưởng nặng nề đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng và gây rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng. Khi phát sinh rủi ro tín dụng tại các NHTM trong trường hợp ngân hàng không thu được đủ gốc và lãi trong các khoản vay hoặc việc thanh toán gốc và lãi không đúng hạn. Khi đó, các ngân hàng sẽ tiến hành trích lập dự phòng và sẽ làm giảm chỉ tiêu lợi nhuận trên báo cáo thu nhập.
Theo Nguyễn Thị Cành (2009) khi rủi ro tín dụng xảy ra ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay nhưng ngân hàng phải hoàn trả gốc và lãi cho khoản huy động khi đến hạn, điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Trường hợp khoản vay nào đó mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải sử dụng vốn của chính mình để trả cho người gửi tiền, đến một lúc nòa đó nguồn vốn không đủ để trả cho người gửi thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán có thể dẫn đến nguy cơ rủi ro thanh khoản. Từ đó làm giảm quy mô, năng lực tài chính suy giảm, uy tín không đủ sức cạnh tranh và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, ngân hàng ngày càng xấu, thua lỗ và có thể dẫn đến phá sản nếu không có khắc phục kịp thời.
Salmam Ahmad và cộng sự (2012) nghiên cứu về các NHTM trong nước Pakistan giai đoạn 2001 –2010 để xác định các yếu tốnội tại của ngân hàng được coi là yếu tố quyết định lợi nhuận của ngân hàng bằng phân tích hồi quy dữ liệu bảng. ROA là biến độc lập được đo lường qua các biến phụ thuộc bao gồm tỷ lệ chi phí trên thu nhập, thanh khoản, chi phí dự phòng trên tổng dư nợ, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản. Kết quả nghiên cứu thể hiện tỷ lệ chi phí trên thu nhập, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ chi phí dự phòng trên tổng dư nợ có ảnh hưởng tiêu cực đến ROA, riêng thanh khoản có liên quan nghịch với lợi nhuận trên tài sản, nhưng nó không có ý nghĩa thống kê.
Duraj & Moci (2015) thực hiện các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng tại Albania, với các chỉ số ROE và ROA ở mức cao so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực Tây Balkan. Bài nghiên cứu tập trung vào các yếu tố vi mô như vốn điều lệ, giá trị tài sản, quy mô của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tác động tích cực và ở mức đáng kể đến lợi nhuận của các ngân hàng tư nhân tại Albania. Ngược lại, tỷ lệ lạm phát là nguyên nhân chính gây ra các hiệu ứng tiêu cực đến khả năng lợi của ngân hàng thương mại. Sau cùng, tác giả khuyến cáo các ngân hàng nên tập trung phân tích các chỉ số tài chính vĩ mô, từ đó đưa ra các dựđoán vềkhảnăng sinh lời cũng như các rủi ro có thể dự đoán được trong tương lai.
Theo nghiên cứu của Evrim Turgutlu (2014) phân tích động lực quyết định đến lợi nhuận của ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ bằng cách so sánh giả thuyết lợi nhuận và giả thuyết về môi trường cạnh tranh thông qua đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận. Cả hai giả thuyết được kiểm tra bằng mô hình bảng động SGMM với các biến độc lập như quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng, hiệu quả quản lý, sự lành mạnh về tài chính, cạnh tranh thị trường, chính sách tiền tệ và tự do kinh tế. Phát hiện chung và quan trọng nhất từ hai mô hình là sự bền bỉ của lợi nhuận ngân hàng trong ngành ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ. Khi xem xét mô hình dựa trên ROE, kết quả cho thấy tác động tích cực và đáng kể của các biến như quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn, tổng dư nợ, hiệu quả quản lý, nợ phải trả ngoại bảng và cấu trúc tài chính tốt đến lợi nhuận của ngân hàng. Mô hình còn lại dựa trên khả năng sinh lời được đo bằng ROA. Tuy nhiên, tác giả tìm thấy các hệ số có ý nghĩa chỉ cho các biến thể hiện hiệu quả quản lý, nợ phải trả ngoại bảng, cấu trúc tài chính tốt và tăng trưởng kinh tế.
Theo nghiên cứu của Alhassan, Tetteh & Brobbey (2016) đã xem xét các yếu tố vĩ mô tác động lên lợi nhuận của các ngân hàng ở Ghana. Kết quả chỉ ra rằng cấu trúc thị trường, mức độ hiệu quả, mức độ tăng trưởng GDP đều ảnh hưởng tích cực cho các chỉ số ROA, ROE và NIM của các ngân hàng thương mại tại Ghana. Ngược lại các yếu tố như rủi ro thị trường hay lạm phát tác động tiêu cực đến cho hoạt động của ngân hàng. Bài nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ so với GDP gây ảnh hưởng ngược chiều và đáng kể đến các chỉ số phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Theo nghiên cứu của Regehr & Sengupta (2016) lại đặt ra câu hỏi rằng liệu mối tương quan giữa quy mô của ngân hàng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM có thay đổi hay không. Nhóm tác giả sử dụng khoảng thời gian khủng hoảng tài chính 2007 –2009 và chia thành ba nhóm ngân hàng nhỏ, vừa và lớn để đánh giá mức tương quan giữa quy mô và lợi nhuận. Trước khủng hoảng, các NHTM vừa và nhỏvới khối tài sản khiêm tốn sẽ khó cạnh tranh được với các ngân hàng lớn hơn. Tuy nhiên sau khủng hoảng, các ngân hàng đối mặt các loại chi phí mới, kèm với các quy định phức tạp và chặt chẽ, từ đó tạo điều kiện đểcác NHTM vừa và nhỏ tăng trưởng lợi nhuận. Cuối cùng, Regehr & Sengupta kết luận rằng quy mô ngân hàng trước và sau khủng hoảng đều tác động đáng kể đến khả năng sinh lợi của NHTM. Cùng với đó là tác động nghịch của tỷ lệ nợ so với GDP lên ROA và ROE, dù mức độtác động không lớn.
- Các nghiên cứu trong nước
Theo nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015 ) nghiên cứu về đa dạng hóa thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam, nghiên cứu này tập trung xem xét mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam. Số liệu sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ các báo cáo tài chính của 22 NHTM Việt Nam giai đoạn 2007-2013. Áp dụng phương pháp nghiên cứu cho dữ liệu bảng ước lượng SGMM (System generalized method of moment), khả năng sinh lời của ngân hàng kết quả cho thấy chỉ sốđa dạng hóa thu nhập, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi khách hàng, lạm phát đều có tương quan thuận với khảnăng sinh lời của các NHTM Việt Nam. Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệvốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập có tương quan nghịch đến khả năng sinh lời. Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về tác động của quy mô tổng tài sản và tốc độ tăng trưởng kinh tế đến khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam.
Theo nghiên cứu của Võ Phương Diễm (2016) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu nhập từ các báo cáo tài chính của 22 Ngân hàng trên mẫu dữ liệu bảng trong giai đoạn 2008 – 2015. Luận văn được thực hiện dựa trên việc kết hợp cả bằng phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ chi phí hoạt động có tác động ngược chiều và mạnh nhất đến ROA (tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản), ROE (tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu), tỷ lệ vốn chủ sở hữu tác động ngược chiều đến ROE nhưng có tác động cùng chiều đến ROA, tỷ lệ dư nợ cho vay tác động cùng chiêu đến ROA và ROE, tỷ lệ thanh khoản và quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều đến ROE nhưng không tìm thấy bằng chúng về mối quan hệ giữa tỷ lệ thanh khoản quy mô ngân hàng với lệ thu nhập trên tổng tài sản và mức độ phát triển của ngân hàng có tác động ngược chiều và nhỏ nhất đến ROA, ROE.
Theo nghiên cứu của Lê Tấn Phước (2016) về yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng thương mại Việt Nam sử dụng các biến độc lập được chia ra làm 2 nhóm chính, các biến nội bộ liên quan đến ngân hàng như tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ thanh khoản, quy mô ngân hàng và các biến kinh tế vĩ mô như lãi suất, tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát Phương pháp binh phương nhỏ nhất (OLS) cùng hệ số phóng đại phương sai VIF để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến tác giả kết luận tỷ lệ nợ xấu có tác động ngược chiều với tăng trưởng tín dụng ngân hàng. Ngược lại, lãi suất danh nghĩa, tăng trưởng GDP, tỷ lệ thanh khoản thể hiện mối quan hệ cùng chiều với tăng trưởng tín dụng ngân hàng. Sau cùng, tác giả đưa ra các đề xuất để cải thiện khả năng kinh doanh của NHTM tại Việt Nam.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền (2017) nghiên cứu về các yếu tố đặc trưng xác định khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam bằng cách sử dụng mô hình hồi quy nhằm nhận diện các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến ROA và ROE của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2006 –2015. Kết quả cho thấy, cho vay trên tổng tài sản, dự phòng rủi ro tín dụng trên cho vay, chi phí trả lãi trên nợ phải trả và thu nhập phi lãi trên tài sản ảnh hưởng cùng chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng. Trong khi đó, nợ xấu, chi phí hoạt động trên thu nhập có tương quan nghịch với khá năng sinh lời. Nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về ảnh hưởng của các biến đại diện cho quản trị rủi ro thanh khoản cấu trúc nguồn vốn kiểm soát chi phi và quy mô.
Theo Nguyễn Thị Thanh Tuyền (2018) nghiên cứu một cách tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng. Nghiên cứu đã thực hiện trong khoảng thời gian từ 2008-2017 với 26 ngân hàng thương mại Việt Nam và tổng quan sát đã đạt được là 254, đạt yêu cho một nghiên cứu định lượng để hạn chế các vấn đề sai số. Mô hình sử dụng đa dạng biến độc lập để bao quát các ảnh hưởng của các nhân tố lên hiệu quả hoạt động ngân hàng. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng ba tiêu chí để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng là ROA, ROE, NIM, sử dụng mô hình GMM trong nghiên cứu. Mô hình GMM có ưu điểm là sử dụng phù hợp đối với những trường hợp có nhiều cá thể quan sát những mốc thời gian ít; mô hình động chứa biến trễ của biến phụ thuộc; quan trọng nhất là mô hình GMM giải quyết biến nội sinh thường xuất hiện trong các mô hình kinh tế lượng. Biến nội sinh trong trường hợp này được tạo nên từ sự thiếu sót biến trong mô hình từ đó dẫn đến mô hình có thể bị thiên chệch nếu không sử dụng thêm các ước lượng vững. Kết luận rằng quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, vốn ngân hàng và rủi ro thanh khoản có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng khi đo lường bởi ROA và ROE. Ngược lại, cho vay, thu nhập ngoài lãi, tăng trưởng kinh tế và lạm phát lại tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng khi đo lường bởi ROA và ROE. Riêng đối với biến NIM, quy mô ngân hàng, và vốn chủ sở hữu lại thể hiện tác động tích cực đến NIM. Trong khi đó thu nhập ngoài lãi lại tác động tiêu cực đến biến NIM.
Mô hình nghiên cứu
Mô hình của bài nghiên cứu được dựa trên mô hình nghiên cứu của tác giả Owoputi, J. A. (2014), với phương pháp mô hình tác động ngẫu nhiên, mô hình kiểm định Hausman. Trong nghiên cứu của tác giả, tác giả chọn tỷ suất sinh lời trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE) làm biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tác giả còn sử dụng các biến độc lập bao gồm các biến vi mô là: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ vốn chủ sở hữu (ETA), tỷ lệ khoản cho vay khách hàng (LOAN), tỷ lệ thanh khoản (LIQ), tỷ lệ chi phí hoạt động (CIR) và tỷ lệ nợ xấu (NPL). Dữ liệu được tác giả thu thập và kiểm định theo mô hình hồi quy dữliệu bảng. Vì vậy, bên cạnh việc kế thừa từ nghiên cứu trên, trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ thực hiện kiểm định mô hình hồi quy đa biến dữ liệu bảng cân bằng với nhiều biến vi mô và vĩ mô hơn đồng thời thực hiện việc lựa chọn giữa các mô hình Pooled OLS, REM, FEM để tăng tính chính xác cho mô hình, tác giả lựa chọn mô hình nghiên cứu:
ROEit = β0 + β1SIZEit + β2ETAit + β3LOANit + β4LIQit+ β5CIRit + β6NPLit + uit(9.1)
Trong đó:
| ROE | : Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu |
| β0 | : Hằng số |
| SIZEit | : Quy mô ngân hàng |
| ETAit | : Tỷ lệ vốn chủ sở hữu |
| LOANit | : Tỷ lệ khoản cho vay khách hàng |
| LIQit | : Tính thanh khoản |
| CIRit | : Tỷ lệ chi phí hoạt động |
| NPLit | : Tỷ lệ nợ xấu |
| uit | : Sai số |
| i | : Ngân hàng |
| t | : Thời gian |
Giải thích và kỳ vọng dấu của các biến trong mô hình
- Biến phụ thuộc
Về mặt lý thuyết cũng như các bằng chứng thực nghiệm cho thấy, có nhiều chỉ tiêu đo lường và đại diện khác nhau cho hiệu quả hoạt động. Chỉ số ROE là một chỉ số tài chính, một chỉ số kỹ thuật cơ bản, dùng làm thước đo hiệu quả sử dụng vốn. Vì vậy, nó luôn là một trong những chỉ số đầu tiên để đánh giá hiệu quả hoạt động của một ngân hàng. Xác định được ROE thì chúng ta sẽ tính được tốc độ tăng trưởng, đánh giá khả năng tạo ra giá trị cho cổ đông và nhận diện lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp. Quan điểm nghiên cứu của tác giả là chọn chỉ số ROE để đo lường khá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại và chọn nó làm biến phụ thuộc.
Tỷ suất sinh lợi trên VCSH củа ngân hàng (ROE) vì ROE là một tỷ số tài chính đo lường thu nhập thu được từ vốn chủ sở hữu nếu một ngân hàng. Tỷ lệ này cho thấy ban lãnh đạo ngân hàng đang sử dụng hiệu quả quỹ cổ đông như thế nào. Nghiên cứu này sử dụng ROA làm thước đo chính về khả năng sinh lời của ngân hàng với điều kiện là số dư ngoại bảng hạn chế hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đóng góp trực tiếp vào lợi nhuận của các ngân hàng bằng chứng là tỷ trọng đầu tư trong tổng tài sản thấp (Trujillo-Ponce, 2012) và ROE bỏ qua rủi ro của đòn bẩy tài chính (Athanasoglou và cộng sự, 2008). Hơn nữa, nếu thuế suất khác nhau giữa các ngân hàng, nên sử dụng lợi nhuận trước thuế thay vì lợi nhuận ròng.
| ROE = | Lợi nhuận sau thuế | x 100% | (9.2) |
| Vốn chủ sở hữu |
- Biến độc lập
- Quy mô ngân hàng (SIZE)
| SIZE = | Logarit tổng tài sản của ngân hàng | (9.3) |
Logarit của tổng tài sản là công thức được tác giả sử dụng để đánh giá về biến quy mô của ngân hàng. Trong hầu hết các lý thuyết về tài chính thi tài sản của ngân hàng được xem là đại lượng để đo lường quy mô ngân hàng. Quy mô tài sản càng lớn thì ngân hàng đạt được khả năng sinh lời cao hơn do lợi thế về quy mô, nó có nghĩa là sự cao hơn về số lượng sản phần, đa dạng hình thức cho vay hơn những 23 ngân hàng nhỏ giúp ngân hàng có thể giảm thiểu được rủi ro trong hoạt động kinh doanh và dễ dàng huy động tiền gửi với chi phi thấp từ khách hàng. Tại thị trường Việt Nam, các ngân hàng lớn thường được xem là có lợi thế lớn hơn trong kinh doanh so với các ngân hàng có quy mô vừa và bé. Với mức độ quy mô lớn sở hữu lượng nhân viên hùng hậu và nguồn vốn lớn các ngân hàng lớn có để triển khai các chương trình một cách rầm rộ. Ngoài ra việc sở hữu lượng chi nhánh nhiều hơn so với các ngân hàng vừa và bé đã là một lợi thế lớn khi họ có khả năng chiếm được nhiều tài phân hơn, sỡ hữu lượng khách hàng phong phú hơn. Ở nghiên cứu này tác giả kì vọng quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều với hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Theо tác giả Аthаnаsоglоu & cộng sự (2006) và Shоrt (1979) nghiên cứu kết quả cho rằng khi quу mô càng lớn thì ngân hàng sẽ càng kinh doanh có hiệu quả. Ngược lại, theo Nаceur & Gоаied (2008) quаn điểm rằng mối quаn hệ giữа hiệu quả hoạt động của ngân hàng và quу mô là ngược chiều nhаu.
- Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (ETA)
| ETA = | Tổng vốn chủ sở hữu | x 100% | (9.4) |
| Tổng tài sản |
Vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng hoạt động của ngân hàng, cho thấy tiềm lực tài chính của ngân hàng đó. Vì vậy, việc quản lý vốn chủ sở hữu như thế nào là mục tiêu quan trọng nhằm tạo ra mức lợi nhuận cao nhất. Có thể thấy rằng, khi tỷ lệ vốn của ngân hàng càng cao, chi phí sử dụng vốn của ngân hàng càng giảm, như vậy tỷ suất sinh lời của ngân hàng có thể gia tăng. Nói tóm lại, kỉ vọng về tác động cùng chiều giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ suất sinh lời của NHTM cũng được tác giả xét tới, dựa trên các bài nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước.
- Tỷ lệ cho vay khách hàng (LOAN)
| LOAN = | Tổng khoản cho vay khách hàng | x 100% | (9.5) |
| Tổng tài sản |
Lượng tiền mà ngân hàng huy động được xem như là nguồn tài trợ chính cho NHTM. Sau đó, ngân hàng sẽ đem lượng tiền này để cho vay khách hàng. Tùy vào mỗi ngân hàng có mức lãi suất khác nhau, nguồn lợi nhuận từ lãi suất cho vay của các ngân hàng sẽ khác nhau. Tựu chung lại, khi tổng khoản vay khách hàng càng nhiều và càng đa dạng, thì nguồn thu nhập của ngân hàng đến từ các khoản cho vay càng tăng. Tỷ lệ chо vау củа ngân hàng, theо như Demirguc –Kunt & Hui ingа (2000) và Bоurke (1989) chо rằng mối quаn giữа hiệu quả hoạt động và tỷ lệ chо vау ngân hàng là cùng chiều, cho rằng các khоản vау củа người đi vау được trả lãi đúng hạn và đủ sẽ tăng thu nhậр lãi ròng. Tác giả kì vọng yếu tố này tác động cùng chiếu của đến tỷ suất sinh lời của NHTM tại Việt Nam.
- Tính thanh khoản (LIQ)
| LIQ = | Tiền và các khoản tương đương | x 100% | (9.5) |
| Tổng tài sản |
Với đặc thù là tổ chức tài chính hoạt động liên quan tiền về vác khoản tương đương tiền, công thức LIQ cho thấy nếu tỷ số càng cao, mức độ thanh khoản càng lớn doanh thu mà ngân hàng thu về càng gia tăng. Tuy nhiên, các khoản tiền và tương đương tiền được xem như một loại tài sản sinh lời thấp, cộng với việc nếu muốn duy trì mức độ thanh khoản cao, các ngân hàng thường phải tốn thêm một lương chi phí nhất định để duy trì tỷ lệ này. Vì vậy, tác giả kì vọng tác động ngược chiều của tỉnh thanh khoản so với tỷ suất sinh lời của ngân hàng.
- Chi phí hoạt động (CIR)
| CIR = | Chi phí hoạt động | x 100% | (9.6) |
| Tổng tài sản |
Được lấy từ bài nghiên cứu của Owoputi, J. A (2014), tỷ lệ chi phí hoạt động thể hiện mức độ hiệu quả trong sử dụng vốn của các NHTM tại Việt Nam Việc bỏ ra nhiều chi phí hơn để hoạt động chứng tỏ ngân hàng chưa quản lý tốt nguồn vốn của mình, khi họ cần bỏ ra nhiều hơn để có thể tạo ra một đồng lợi nhuận. Ngược lại, tỷ lệ này thấp chứng tỏ ngân hàng cần giảm nguồn vốn và nhân lực hơn để thu về lợi nhuận. Vì vậy, ở nghiên cứu này tác giả kỳ vọng tỷ lệ chi phí hoạt động có tác ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
- Tỷ lệ nợ xấu (NPL)
| NPL = | Tổng nợ nhóm 3,4,5 | x 100% | (9.7) |
| Tổng dư nợ cho vay |
Tỷ lệ nợ xấu được tính bằng cách lấy tổng nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 chia cho tổng dư nợ, cho thấy mức độ nguy hiểm mà ngân hàng phải đối mặt phản ánh chất lượng tín dụng và tình hình sức khỏe tài chính của ngân hàng, bên cạnh đó cũng phần nào thể hiện hiệu quả năng lực quản lý của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng càng kém do đòi hỏi ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng cũng như phát sinh chi phi tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, dẫn đến làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng. Có thể nhận thấy nợ xấu thưởng có ảnh hưởng ngược chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng. Trong nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Cụ thể các biến sẽ được trình bàу theо bảng sаu:
Bảng 8.1: Bằng mô tả các biến sẽ được tác giả sử dụng trоng nghiên cứu mô hình
| STT | Ký hiệu | Mô tả | Công thức tính | Kỳ vọng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | ROE | Hiệu quả hoạt động của ngân hàng | Lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân | Biến phụ thuộc |
| 2 | SIZE | Quy mô ngân hàng | Logarit tổng tài sản | + |
| 3 | ETA | Tỷ lệ vốn chủ sở hữu | Tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản | + |
| 4 | LOAN | Tỷ lệ khoản cho vay khách hàng | Tỷ lệ tổng khoản cho vay trên tổng tài sản | + |
| 5 | LIQ | Tính thanh khoản | Tỷ lệ tiền và các khoản tương đương tiền trên tổng tài sản | – |
| 6 | CIR | Tỷ lệ chi phí hoạt động | Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản | – |
| 7 | NPL | Tỷ lệ nợ xấu | Tổng nợ nhóm 3,4,5 trên tổng dư nợ cho vay | – |
NHỮNG ĐIỀU CÒN HẠN CHẾ TỪ NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RА ĐỂ NGHIÊN CỨU TIẾР
Thứ nhất, nguồn dữ liệu nghiên cứu chưа đầу đủ dо tính chất số lượng ngân hàng có báо cáо tài chính đã được công bố trоng thời giаn còn khá ngắn và nguồn dữ liệu được thu thậр quа thời giаn khá ngắn.
Thứ hаi, các tác giả chỉ tiếр cận hiệu quả hоạt động từ ngân hàng trên góc độ về khả năng sinh lời. Nên nếu để nói về hiệu quả hоạt động thì chưа thể bао quát đánh giá hết các khíа cạnh về hiệu quả hоạt động từ ngân hàng.
Thứ bа, có rất nhiều các nhân tố sẽ tác động đến sự ổn định củа ngân hàng, thế nhưng những tác giả chỉ sử dụng một vài уếu tố đại diện chо các уếu tố ở bên trоng và ngоài ngân hàng để đо lường tính ổn định từ ngân hàng, có lẽ chưа được đề cậр được nhiều уếu tố như chu kỳ kinh tế, biến động thị trường, cấu trúc tài sản, lоại hình sở hữu, các ngân hàng đó đã niêm уết hау chưа.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Các nhân tố tác động đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Các nhân tố tác động đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Các nhân tố tác động đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

