Quản lý Nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Tình trạng phát triển “nóng” về hệ thống cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay đã và đang phát sinh các vấn đề quản lý nhà nước liên quan. Đó là việc thiếu quy hoạch, định hướng phát triển các loại hình cơ sở lưu trú, hệ thống văn bản pháp luật quản lý hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch chưa phù hợp thực tế; doanh nghiệp kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch chưa nghiêm túc chấp hành pháp luật; công tác phối kết hợp, tổ chức thanh kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chưa chặt chẽ và đồng bộ; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước chuyên ngành du lịch ở địa phương còn một số bất cập. Thực trạng nêu trên đang đặt ra thách thức đối với cơ quan quản lý Nhà nước cần nghiên cứu, đánh giá toàn diện để đề ra những giải pháp quản lý, điều chỉnh phù hợp nhằm đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch ở địa phương, góp phần cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch cũng như sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Chính vì vậy, đề tài “Quản lý Nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” sẽ làm sáng tỏ một số cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực này , đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch trong tình hình mới của địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
3. Mục đích của luận văn
Đề tài hệ thống hóa những lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch, đánh giá và phân tích thực trạng quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2010-2015 để đề ra các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn
– Đối tượng nghiên cứu: Ngành Du lịch thành phố Đà Nẵng
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Toàn bộ các hoạt động quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
+ Về thời gian: Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010-2014. Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, tầm nhìn 2025.
5. Phương pháp nghiên cứu luận văn
– Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử.
– Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp tổng hợp đối chiếu dữ liệu; phương pháp khảo sát; phương pháp so sánh và phương pháp kế thừa.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ KINH DOANH LƯU TRÚ DU LỊCH
1.1. Lý luận chung về du lịch, kinh doanh lưu trú du lịch
1.1.1. Một số khái niệm về du lịch, kinh doanh du lịch, kinh doanh lưu trú du lịch
– Du lịch: là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
– Kinh doanh lưu trú du lịch: Tổ chức, cá nhân có thể kinh doanh lưu trú du lịch tại một hoặc nhiều cơ sở lưu trú du lịch với các loại hình: khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê và các cơ sở lưu trú du lịch khác gồm tàu thủy du lịch, tàu hỏa du lịch, ca-ra-van (caravan), lều du lịch.
1.1.2. Nội dung kinh doanh lưu trú du lịch:
a) Kinh doanh lưu trú du lịch: là kinh doanh dịch vụ cho thuê buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú tại cơ sở lưu trú du lịch.
b) Điều kiện kinh doanh lưu trú du lịch (theo qui định tại Điều 64 Luật Du lịch): Tổ chức, cá nhân kinh doanh lưu trú du lịch phải có đủ các điều kiện sau đây:
– Các điều kiện chung bao gồm: có đăng ký kinh doanh lưu trú du lịch; có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường, an toàn, phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật đối với CSLTDL.
– Các điều kiện cụ thể bao gồm:
+ Đối với khách sạn, làng du lịch phải bảo đảm yêu cầu tối thiểu về xây dựng, trang thiết bị, dịch vụ, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ của người quản lý và nhân viên phục vụ theo tiêu chuẩn xếp hạng tương ứng đối với mỗi loại, hạng;
+Đối với biệt thự du lịch và căn hộ du lịch phải bảo đảm yêu cầu tối thiểu về trang thiết bị và mức độ phục vụ theo tiêu chuẩn xếp hạng tương ứng đối với mỗi loại, hạng;
+ Đối với bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, cơ sở lưu trú du lịch khác phải bảo đảm trang thiết bị tối thiểu đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch.

1.1.3. Vai trò của hoạt động du lịch đối với phát triển kinh tế xã hội
a) Du lịch với kinh tế: Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp và cũng là ngành xuất khẩu tại chỗ. Du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân, làm tăng thêm sản phẩm quốc nội, nguồn thu ngoại tệ và lợi nhuận cao.
b) Du lịch với chính trị – xã hội: Du lịch là cầu nối hòa bình giữa các dân tộc trên thế giới, góp phần giải quyết công ăn việc làm.
c) Du lịch với văn hóa: Du lịch góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
d) Du lịch với môi trường: cải thiện tiêu chuẩn sống của dân cư, cải thiện và bảo vệ môi trường.
1.2. Quản lý nhà nước về du lịch, kinh doanh lưu trú du lịch
1.2.1. Khái niệm
Quản lý nhà nước về du lịch, kinh doanh lưu trú du lịch được thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý, điều chỉnh và kiểm soát hoạt động kinh doanh đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động trên lĩnh vực kinh tế du lịch, nhằm đưa du lịch phát triển theo định hướng chung của tiến trình phát triển đất nước.
1.2.2. Sự cần thiết phải có vai trò quản lý của nhà nước đối với hoạt động du lịch
– Hỗ trợ thúc đẩy phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
– QNNN để kiểm tra, giám sát, hướng dẫn, hỗ trợ mọi cá nhân, tổ chức kinh doanh du lịch đúng luật, đúng định hướng của Đảng và Nhà nước đồng thời đảm bảo quyền tự do kinh doanh, các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
1.2.3. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ TW đến địa phương
– Cấp TW : Chính phủ, Bộ VHTTDL (Tổng cục Du lịch), các Bộ ban ngành liên quan
– Cấp địa phương : UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND quận huyện, các Sở ban ngành liên quan
1.2.4. Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch của các cơ quan QLNN
– Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
– Tổng cục Du lịch
– UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW
– Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
– UBND quận, huyện
– Phòng Văn hoá và Thông tin
– Các bộ, ngành có liên quan đến hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch: Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Công an, Bộ Y tế …: ban hành và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền chuyên môn. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo thẩm quyền đối với các hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch theo ngành dọc thông qua các cơ quan chuyên môn ở địa phương.
1.2.5. Nội dung Quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch
a) Đặc điểm quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch
Thứ nhất, kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và nhiều ngành cùng tham gia quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch theo chức năng chuyên môn.
Thứ hai, loại hình cơ sở lưu trú du lịch phổ biến ở Việt Nam là khách sạn.
Thứ ba, quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch bao gồm quản lý và kiểm tra việc đảm bảo các điều kiện về an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm trong các cơ sở lưu trú, quản lý nhà nước về mặt chuyên môn nghiệp vụ, chất lượng cơ sở lưu trú du lịch.
Thứ tư, Cơ sở lưu trú du lịch được phân cấp quản lý và xếp hạng theo hệ thống tiêu chuẩn quốc gia. Sau ba năm được xếp hạng, cơ sở lưu trú du lịch được thẩm định để công nhận lại hạng phù hợp với thực trạng cơ sở vật chất và dịch vụ của cơ sở lưu trú du lịch.
Thứ năm, quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch được thực hiện chủ yếu theo hình thức “hậu kiểm” và “bỏ giấy phép con”.
b) Nội dung quản lý nhà nước về du lịch, kinh doanh lưu trú du lịch: Theo Điều 10 của Luật Du lịch gồm 7 nhiệm vụ quản lý nhà nước phải thực hiện đó là: (1)Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển các loại hình cơ sở lưu trú du lịch; (2)Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế – kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch; (3)Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về kinh doanh lưu trú du lịch; (4)Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ; (5)Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch; (6)Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch; (7)Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch.
1.2.6. Danh mục văn bản quy phạm pháp luật quản lý hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch (phụ lục 1)
1.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về kinh doanh lưu trú du lịch
Xu hướng giao lưu, hội nhập quốc tế, cam kết WTO (phụ lục 2) của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ là mở cửa không hạn chế cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đã có tác động tích cực lẫn tiêu cực đến hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
1.3. Kinh nghiệm qlnn về kinh doanh lưu trú du lịch
1.3.1.Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội
Thực hiện quản lý phát triển các loại hình cơ sở lưu trú theo qui hoạch. Đã phân cấp quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch, kinh doanh lưu trú du lịch đến địa bàn quận, huyện.
1.3.2.Tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam
Chưa thực hiện Quy hoạch, định hướng phát triển các loại hình cơ sở lưu trú đồng thời cũng chưa phân cấp quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch, kinh doanh lưu trú du lịch cho quận, huyện. Công tác thanh kiểm tra chưa chặt chẽ và thường xuyên.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Đà Nẵng
Quy hoạch định hướng phát triển các loại hình cơ sở lưu trú du lịch.Tiến hành phân cấp quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch, kinh doanh lưu trú du lịch cho quận huyện. Cần thiết có sự phối hợp chặt chẽ của các ngành chức năng để triển khai đồng bộ, kịp thời thanh kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ở địa phương đồng thời hỗ trợ thuận lợi cho sự phát triển hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch.
Chương 2
THỰC TRẠNG QLNN VỀ KINH DOANH LƯU TRÚ
DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Tình hình phát triển kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng
2.1.1. Tổng quan về thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng có vị trí địa lý quan trọng, tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng với sông, núi, biển, đảo. Cơ sở hạ tầng, tiện ích hiện đại và đồng bộ, hệ thống cơ sở vật chất của ngành du lịch đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của khách nội địa và quốc tế với sự hội tụ của các thương hiệu khách sạn quốc tế toàn cầu.
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế xã hội của TP Đà Nẵng
Trong những năm qua, kinh tế thành phố phát triển nhanh, GDP tăng bình quân 11,5%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp; kết cấu hạ tầng phát triển, cơ chế đầu tư thông thoáng và hệ thống dịch vụ du lịch ngày càng được cải thiện, làm thay đổi diện mạo đô thị theo hướng văn minh, hiện đại.
2.2. Tình hình phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng
2.2.1. Đầu tư kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Kết cấu hạ tầng nói chung và hạ tầng du lịch nói riêng được đầu tư cải thiện đáng kể, hệ thống đầu tư giao thông đường không, đường bộ, đường biển được liên tục đầu tư mở rộng, nâng cấp. Tính đến 2014, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã có 183 đơn vị kinh doanh lữ hành (trong đó có 108 đơn vị quốc tế, 75 đơn vị nội địa). Số lượng cơ sở lưu trú du lịch năm 2014 tăng gấp 2,4 lần so với thời điểm năm 2010, đạt 435 cơ sở lưu trú với 15.625 phòng.Tổng số cơ sở dịch vụ du lịch đạt chuẩn là 36 cơ sở, trong đó 22 cơ sở ăn uống và 14 cơ sở mua sắm đạt chuẩn. Số lượng đầu xe vận chuyển khách du lịch hiện nay khoảng 1.212 đầu xe.
2.2.2. Nguồn nhân lực du lịch
Tính đến hết tháng 8/2014 Đà Nẵng có 20.626 lao động đang làm việc trong lĩnh vực du lịch, tăng 58% (tương ứng với 7.545 người) so với thời điểm khảo sát năm 2011 .
2.2.3. Hoạt động kinh doanh du lịch
Năm 2010, tổng lượt khách tham quan, du lịch đạt 1.770.000 lượt khách, đến năm 2014 đạt 3.818.683 lượt khách, tăng gấp 2 lần. Thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch trong giai đoạn từ 2010 -2014 tăng gấp 3,5 lần, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 30%. Năm 2010, tổng doanh thu du lịch đạt 3.098 tỷ đồng, đến năm 2014 đạt 9.870 tỷ đồng.
2.2.4.Hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch
Tính đến năm 2014 tổng lượt khách lưu trú trên địa bàn thành phố ước đạt 1.760.050 lượt, tăng gấp 2,15 lần, tổng doanh thu ước đạt 3.011 tỷ đồng, tăng 3,37 lần so với thời điểm năm 2010.
2.3. Thực trạng quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.3.1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển cơ sở lưu trú du lịch
Cơ sở lưu trú phân bố không đồng đều, tập trung mật độ cao tại quận Hải Châu và Sơn Trà. Quy mô khách sạn mini từ 20 phòng trở xuống chiếm 49,6%. Hiệu quả kinh doanh giảm dần qua các năm do cung vượt cầu Tuy nhiên hàng năm cơ sở lưu trú mới vẫn không ngừng tăng lên nhanh chóng, từ 181 cơ sở lưu trú với 6.089 phòng năm 2010 đã tăng lên 435 cơ sở lưu trú với 15.625 phòng vào năm 2014. Dự kiến đến năm 2020 sẽ đạt 22.012 phòng, tăng 15.923 phòng (gấp hơn 2,6 lần) so với thời điểm năm 2010 (phụ lục 3). Đây là tình trạng phát triển “nóng” và tự phát đang diễn ra riêng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng mà cơ quan QLNN chưa có nhiều biện pháp hữu hiệu để quản lý, kiểm soát. Tốc độ phát triển này tiềm ẩn nguy cơ phát triển không bền vững do đó cần thiết phải có sự quản lý, định hướng kịp thời của cơ quan quản lý nhà nước.
2.3.2. Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế – kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đang áp dụng đã đầy đủ. Tuy nhiên, hiện nay một số nội dung qui định của Luật Du lịch cũng như một số tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn không còn phù hợp thực tế cần sớm được bổ sung, sửa đổi, đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới.
2.3.3. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về kinh doanh lưu trú du lịch
Các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường phố biến tuyên truyền pháp luật qua nhiều kênh thông tin. Tuy nhiên, doanh nghiệp không nắm luật, thiếu hiểu biết và cũng không quan tâm nhiều nên hầu hết các doanh nghiệp khi kiểm tra đều bị vi phạm.
2.3.4. Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ
a) Nguồn nhân lực của các doanh nghiệp du lịch: tính đến năm 2014 Đà Nẵng có 20.626 lao động đang làm việc trong lĩnh vực du lịch, tăng 58% so với thời điểm khảo sát năm 2011 . Về chuyên môn nghiệp vụ du lịch tính từ cấp độ sơ cấp nghề đến đại học du lịch là 5.419/10.595 lao động, đạt tỷ lệ 51%, tăng 13% so với thời điểm khảo sát năm 2011. Tuy nhiên kỹ năng tay nghề của phần lớn lao động của khối khách sạn 3 sao trở xuống lại yếu về nghiệp vụ, chưa đáp ứng được yêu cầu. Về ngoại ngữ : Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo về ngoại ngữ toàn ngành là 54,2%.
b) Nguồn nhân lực của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành du lịch: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hiện có 98 cán bộ công chức. Lực lượng nhân sự chuyên trách du lịch của các phòng nghiệp vụ du lịch có 18 người, trong đó có 1 thạc sĩ và 09 cử nhân được đào tạo chuyên ngành du lịch, khách sạn trong và ngoài nước như Thụy Sĩ, Úc, Trung Quốc. Tại các phòng Văn hóa-Thông tin các quận huyện: Hiện chưa có biên chế chuyên trách về du lịch mà đang thực hiện kiêm nhiệm phụ trách các mảng văn hóa, thể thao. Cán bộ kiêm nhiệm không có nghiệp vụ du lịch.
c)Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý: Hiện nay, chỉ riêng Phòng Cảnh sát An ninh trật tự xã hội và Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh có triển khai phần mềm quản lý được kết nối trực tiếp với các doanh nghiệp kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch để khai báo thông tin về đăng ký lưu trú, khách quốc tế.
2.3.5. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành du lịch, sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch
Thiếu bộ máy thực hiện chức năng QLNN về du lịch, về kinh doanh lưu trú du lịch tại địa phương (quận, huyện).Công tác phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch chưa đồng bộ và chặt chẽ, chức năng ngành nào ngành đó triển khai.

2.3.6. Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch
Thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đối với hoạt động du lịch cấp tỉnh có 07 thủ tục cấp phép hoạt động kinh doanh lữ hành và 03 thủ tục cấp đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch. Công tác rà soát, công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực du lịch đã và đang được các ngành chức năng công khai minh bạch theo mô hình cải cách hành chính “1 cửa” tập trung, thời hạn trả kết quả đúng phiếu hẹn.
2.3.7. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch
Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động du lịch trên địa bàn được thực hiện ở mức độ tương đối và thiếu sự phối hợp liên ngành, có ngành ít thanh kiểm tra (Sở VHTTDL) mức xử phạt chủ yếu là cảnh cáo, nhắc nhở nên chưa đủ sức răn đe doanh nghiệp, có ngành (Sở Công thương – Chi cục Quản lý thị trường) lại kiểm tra liên tục gây khó khăn phiền hà cho doanh nghiệp.
2.4. Đánh giá chung về hiện trạng
2.4.1. Những kết quả đạt được
Du lịch phát triển và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò trong nền kinh tế của thành phố, góp phần tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân, giá trị GDP từ du lịch tăng dần đã góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương.
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch ngày càng phát triển với nguồn lực xã hội hóa mạnh mẽ. Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch được quan tâm, chú trọng; chất lượng nguồn nhân lực du lịch tăng lên đáng kể.
Công tác quản lý nhà nước về du lịch đã được quan tâm: Chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhà nước dần từng bước được nâng cao, đội ngũ cán bộ, công chức được bồi dưỡng về nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ và lý luận chính trị.
Nhận thức của các cấp các ngành và toàn xã hội về vị trí, vai trò của du lịch được nâng lên, khẳng định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng có tính chiến lược lâu dài và bền vững góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế -xã hội của thành phố.
2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân:
a) Hạn chế:
– Thiếu quy hoạch định hướng phát triển các loại hình cơ sở lưu trú trên địa bàn thành phố dẫn đến tình trạng xây dựng ồ ạt các khách sạn, cung vượt cầu, giảm giá cạnh tranh không lành mạnh, cắt xén dịch vụ, nhân sự phục vụ làm giảm chất lượng dịch vụ dẫn đến nguy cơ phát triển không bền vững.
– Công tác phối kết hợp liên ngành, công tác thanh kiểm tra hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố của các cơ quan QLNN chưa chặt chẽ và đồng bộ, hình thức xử phạt còn nhẹ chưa đủ sức răn đe đối với doanh nghiệp.
– Hệ thống văn bản pháp luật quản lý hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch chưa phù hợp thực tế
– Doanh nghiệp kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch chưa nghiêm túc chấp hành pháp luật.
– Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước chuyên ngành du lịch ở địa phương còn một số bất cập như chưa phân cấp quản lý nhà nước về du lịch, kinh doanh lưu trú du lịch đến quận, huyện; bộ máy hoạt động của cơ quan QLNN chuyên ngành là Sở VHTTDL chưa đủ lực lượng nhân sự và còn hạn chế về kinh nghiệm nghề nghiệp.
b) Nguyên nhân:
– Nguyên nhân khách quan:
+ Hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch phát triển nhanh chóng do xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa.
+ Ảnh hưởng của tính thời vụ trong hoạt động du lịch. Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như dịch bệnh, thời tiết, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, biến động chính trị.
+ Quy mô hoạt động của du lịch thành phố hiện nay được mở rộng cả chiều rộng và chiều sâu. Trong 5 năm, từ 2008 đến năm 2014, số lượng cơ sở lưu trú tăng 3 lần, đơn vị kinh doanh lữ hành tăng gấp 2 lần, hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ tăng gấp 2,7 lần
+ Bộ máy tổ chức với sự thu nhỏ về quy mô của cán bộ chủ chốt trong lĩnh vực du lịch và số lượng cán bộ công chức làm việc trực tiếp về lĩnh vực du lịch tại các phòng chuyên môn (Nghiệp vụ, Thanh tra) không được tăng cường so với thời điểm còn mô hình Sở Du lịch trước đây.
– Nguyên nhân chủ quan:
+ Thiếu tầm nhìn chiến lược và dài hạn trong việc định hướng, tham mưu ban hành các chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển, cơ chế chính sách cho quản lý và phát triển các loại hình cơ sở lưu trú trên địa bàn thành phố ĐN.
+ Việc thu thập, nắm bắt thông tin, đi thực tế doanh nghiệp, công tác dự báo, dự đoán tình hình chưa được các ngành chức năng quan tâm đầy đủ.
+ Việc bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật không còn phù hợp đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch chưa kịp thời, quy trình rườm rà và mất nhiều thời gian (từ 2-3 năm)
+ Các chủ đầu tư trước khi đầu tư xây dựng khách sạn qui mô từ 3 sao trở xuống hầu hết đều không nghiên cứu thị trường, tiêu chuẩn khách sạn mà xây dựng theo phong trào và theo ý thích cá nhân nên rất nhiều khách sạn được xây dựng mới đã thiếu tiện ích và công năng không phù hợp khi vận hành thực tế, gây khó khăn cho công tác thẩm định công nhận hạng CSLT.
+ Các doanh nghiệp vừa thiếu thông tin về văn bản mới vừa không nắm vững luật pháp liên quan do các văn bản thường xuyên bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới và đôi khi chồng chéo.
+ Các ngảnh chức năng có liên quan chưa thực sự phối hợp đồng bộ trong công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp. Mạnh ngành nào ngành đó kiểm tra. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chưa thật sự quyết liệt và xử phạt mạnh tay đối với các cơ sở lưu trú du lịch hoạt động quá 3 tháng nhưng chưa làm hồ sơ đề nghị công nhận hạng.
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chưa phối hợp với UBND các quận xây dựng quy chế phối hợp và phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước về du lịch cụ thể cho các phòng Văn hóa Thông tin nên các địa phương lúng túng và chưa có cơ sở để triển khai thực hiện.
+ UBND các quận không phân bổ biên chế chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương. Hiện tại phòng Văn hóa –Thông tin chỉ có 1 biên chế thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao.
2.4.3. Một số bài học kinh nghiệm
– Tăng cường công tác phối kết hợp liên ngành trong quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố.
– Các cơ quan quản lý nhà nước cần thường xuyên đi thực tế nắm bắt những vấn đề phát sinh, kịp thời định hướng, điều chỉnh, bổ sung ban hành cơ chế chính sách phù hợp.
– Tiếp tục thực hiện cải cách các thủ tục hành chính theo mô hình 1 cửa.Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý từ TW đến địa phương, giữa các Sở, ban ngành địa phương
– Cần tập trung đào tạo nguồn nhân lực du lịch, nguồn cán bộ công chức thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về du lịch, kinh doanh lưu trú du lịch thực sự đảm bảo trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, lý luận chính trị và kinh nghiệm thực tế; đảm bảo số lượng, chất lượng, cơ cấu phù hợp để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của phát triển du lịch.
2.4.4. Yêu cầu đổi mới
Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đang chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch lập Đề án thành lập Sở Du lịch trên cơ sở tách ra từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tập trung đẩy mạnh phát triển ngành du lịch thành phố theo phê duyệt của Chính phủ.
Chương 3
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH DOANH LƯU TRÚ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. Định hướng phát triển
3.1.1. Định hướng phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước
– Kết luận số 75-KL/TW ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX “Về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”;
– Quyết định số 1874/QĐ-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
– Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2011 về việc Phê duyệt Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; trong đó đã xác định thành phố Đà Nẵng là trung tâm dịch vụ du lịch của vùng du lịch Bắc Trung Bộ nói riêng và khu vực miền Trung nói chung.
– Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng lần thứ XX năm 2010 xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố.
3.1.2. Định hướng phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng
Phát triển du lịch Đà Nẵng trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của thành phố, góp phần chuyển dịch theo hướng cơ cấu kinh tế “dịch vụ – công nghiệp, xây dựng – nông nghiệp”.
3.2. Dự báo các chỉ tiêu phát triển
3.2.1. Dự báo tình hình khách du lịch đến Đà Nẵng đến năm 2020
Dự báo lượng khách đến Đà Nẵng đến năm 2020 ước đạt 8.100.000 lượt khách, trong đó khách quốc tế ước đạt 1.400.000 lượt, khách nội địa ước đạt 6.700.000 lượt. Tổng doanh thu ước đạt 10.100 tỷ đồng, tổng thu du lịch trên toàn địa bàn thành phố ước đạt 23.230 tỷ đồng.
3.2.2. Dự báo tăng trưởng cơ sở lưu trú du lịch đến năm 2020 (phụ lục 4)
Dự báo đến năm 2020, số lượng cơ sở lưu trú du lịch trên toàn địa bàn thành phố ước đạt 571 cơ sở với 22.012 phòng.
3.3. Chủ trương đổi mới tổ chức quản lý ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng
Ngày 26/01/2015, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản số 631/VPCP-V.III v/v dự thảo Nghị định cơ chế đặc thù và một số kiến nghị của UBND thành phố Đà Nẵng trong đó có nội dung Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương thành lập Sở Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao trên cơ sở tách Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hiện nay.
3.4. Các nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.4.1. Nhóm giải pháp về xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển cơ sở lưu trú du lịch
a) Tổ chức định hướng, khuyến cáo xây dựng cơ sở lưu trú
b) Quy hoạch phát triển hệ thống cơ sở lưu trú
3.4.2. Nhóm giải pháp về xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế – kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch
a)Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan trong lĩnh vực lưu trú du lịch: Sửa Luật Du lịch
b)Hoàn thiện tiêu chuẩn định mức kinh tế – kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch: Điều chỉnh bổ sung, sửa đổi tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn
3.4.3. Nhóm giải pháp về tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ
Tăng cường các chương trình đào tạo theo hướng tập trung vào các kỹ năng thực hành, ngoại ngữ trong phạm vi nghề và các kỹ năng mềm cho đội ngũ nhân viên phục vụ trong các cơ sở lưu trú.Tăng cường cử đi thực tế, chia sẻ kinh nghiệm, luân chuyển để đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN. Ứng dụng công nghệ thông tin.
3.4.4. Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch, sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch
-Sớm tách Sở Du lịch theo chủ trương của Chính phủ đã phê duyệt để ổn định tổ chức và triển khai tốt các nhiệm vụ đã đề ra.
-Phân công trách nhiệm cho phòng VHTT các quận, huyện trong quản lý nhà nước về du lịch, lưu trú du lịch nhằm phát huy vai trò và thực hiện tốt quản lý nhà nước ở địa phương.
-Bố trí ít nhất 1 nhân sự chuyên trách về du lịch cho mỗi phòng VHTT để triển khai công tác quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương.

3.4.5. Nhóm giải pháp về cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch
-Tăng cường kiểm tra, xử phạt nặng các cơ sở lưu trú du lịch đã hoạt động quá 3 tháng nhưng không làm hồ sơ đăng ký xếp hạng theo quy định.
-Đối với các trường hợp đã bị xử phạt 1 lần hoặc gia hạn 2 lần trở lên nếu tiếp tục vi phạm thì yêu cầu tạm ngừng kinh doanh ngành nghề này cho đến khi đủ điều kiện kinh doanh.
3.4.6. Nhóm giải pháp về kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch
Đề xuất UBND thành phố ban hành Quy chế phối hợp liên ngành trong quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.4.7. Nhóm giải pháp về hỗ trợ doanh nghiệp
Hỗ trợ pháp lý; Tư vấn nghiệp vụ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Khuyến khích liên kết doanh nghiệp để tạo sức mạnh liên kết giữa các doanh nghiệp, sự gắn bó hỗ trợ giữa cơ quan QLNN với doanh nghiệp.
3.5. Đề xuất kiến nghị
3.5.1. Đối với bộ VHTTDL, TCDL
Khẩn trương bổ sung sửa đổi Luật Du lịch và các tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch.
3.5.2. Đối với UBND thành phố Đà Nẵng
Phê duyệt chủ trương lập Quy hoạch định hướng phát triển hệ thống cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2030.Ban hành quy chế phối hợp liên ngành trong quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch để đảm bảo thực thi đúng pháp luật đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp.
3.5.3. Đối với UBND các quận, huyện
Bố trí nhân sự chuyên trách phụ trách công tác QLNN về du lịch để đảm bảo triển khai các chức năng nhiệm vụ liên quan được phân cấp quản lý trên địa bàn.
3.5.4. Đối với sở văn hóa, thể thao và du lịch
Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ của các quận huyện.Rà soát, tuyển dụng, luân chuyển sắp xếp lại đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN về du lịch.
3.5.5. Đối với các Sở, Ban ngành liên quan
Thường xuyên phổ biến, công khai các văn bản mới, văn bản hết hiệu lực liên quan đến hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch để doanh nghiệp biết thực hiện, hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật không mong muốn.
3.5.6. Đối với các doanh nghiệp du lịch
Nắm vững và thường xuyên cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực du lịch nói chung và lưu trú du lịch nói riêng để đảm bảo thực hiện đúng luật, hạn chế tình trạng cạnh tranh lành mạnh.
KẾT LUẬN
Với mong muốn hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng hướng đến hoàn thành mục tiêu phát triển bền vững ngành du lịch thành phố, luận văn “QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH DOANH LƯU TRÚ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG” đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề như :
– Trình bày hệ thống cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch.
– Ngoài hệ thống cơ sở lý luận làm nền tảng, Luận văn đã tập trung nghiên cứu đánh giá các nội dung QLNN về hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch theo qui định của Luật Du lịch, phân tích những mặt hạn chế, nguyên nhân để thấy được bức tranh tổng thể thực trạng công tác quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay. Từ đó đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể nhằm khắc phục hạn chế đang diễn ra đồng thời hoàn thiện nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch của địa phương trong tình hình mới.
– Hệ thống những giải pháp mà luận văn xây dựng đều nhắm đến mục tiêu giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đã gặp trong thực tế quản lý nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch, mà mục tiêu xa hơn là nâng cao năng lực và tạo sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước đồng thời góp phần nâng cao chất lượng các dịch vụ phục vụ du khách trong các cơ sở lưu trú du lịch, góp phần xây dựng thương hiệu du lịch thành phố Đà Nẵng và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững ngành du lịch thành phố./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN HOC VIEN HANH CHINH\TRUONG THI HONG HANH 26.8.2015 LOPHC18T4


