Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm
Mở đầu
1. Tínhcấpthiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế – xã hội nước ta hiện nay, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) nói riêng là một nhu cầu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự đang ngày càng gia tăng cả vềsố lượng cũng như tính chất phức tạp của từng loạivụ việc. Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTDS nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án,đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dânsựđược nhanh chóng, chính xác, công minh vàđúng pháp luật.
Bộ luật tố tụng dân sự(BLTTDS) 2004 ra đời thay thế các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp laođộng(PLTTGQCTCLĐ) 1996 là bước phát triển có tính bước ngoặt đối với ngành luật TTDS Việt Nam. Bộ luật này quy định khá đầy đủ và toàn diện các nguyên tắc cơ bản trong TTDS; trình tự thủ tục khởi kiện các vụ án dân sự; trình tự thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, thi hành án dân sự; nhiệmvụ,quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan và người tiến hành tốtụng cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thểtham gia tố tụng. Chương XIV BLTTDS quyđịnh về trình tựthủ tục giải quyết vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm. Đây là chế định có vai trò, vị trí rất quan trọng, quyđịnh khá cụ thể và toàn diện các vấn đề như: Các quy định chung tại phiên tòa, thủ tục bắtđầu phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án.
Mặc dù làBộluật mớira đời,cósựkế thừa các quyđịnhtrước đóvà được Quốc hội dày công soạn thảo, song một số quy định về phiên tòa sơ thẩm dân sự trong thực tiễn áp dụng còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập và chưa hợp lý, làm cho quá trình xét xửsơ thẩm gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởngđến chất lượnggiải quyết vụ án cũng như kéo dài thời gian giải quyết, chưa đáp ứng được tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TƯ ngày 2/1/2002về một số nhiệmvụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời giantới(sauđâygọitắtlà Nghị quyết 08) và Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 49).
Chính vì vậy, chúng tôi thấy việc đi sâu nghiên cứu các quy định này này nhằm phân tích, đánh giá đúng các điều luật, tạo điều kiện cho việc nhận thức và áp dụng trên thực tế một cách thống nhất, đồng bộ và đạt hiệu quả cao. Đồng thời, tìm ra những tồn
tại, bất cập của các quy định trên, đưa ra những giải pháp hữu hiệu đóng góp vào quátrình xây dựng pháp luật cũng như áp dụng pháp luật là hết sức cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu các quyđịnh về phiên tòa sơ thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS mà không nghiên cứu vấnđề này đối với việc dân sự. Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu một số quan điểm trong các Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49 về cải cách tư pháp với mục đích làm sáng tỏ trọng tâm nghiên cứu của đề tài.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Quá trình nghiên cứu,đề tài sửdụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kê.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ cơsởlý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm dân sự theo tinh thần cải cách tư pháp.Từ đónhiệm vụ của đề tài là giải quyết về mặt lý luận các khái niệm thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng như các vấn đề có liên quan. Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành, nêu lên thực trạng của việc áp dụng luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sựtạiphiên tòa sơ thẩm. Trên cơ sởđó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật TTDS về phiên tòa sơ thẩm.
6.Kết cấucủa luận văn
Ngoài phần mở đầu,kếtluận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sựChương 2: các quy định về phiên tòa sơ thẩm trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sựvề phiên tòa sơ thẩm.
Chương 1
Một sốvấn đề lý luận
về phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự
1.1. Khái niệm phiên tòa sơ thẩm trong tố tụng dân sự
1.1.1. Vụ án dânsự- cơ sở làm phát sinh phiên tòa sơ thẩm dânsự
Quan hệ dân sự(theo nghĩa rộng) bao gồmcác quan hệ pháp luật dân sự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Các quan hệ này hết sức đa dạng và phong phú, diễn ra hàng ngày trên mọi lĩnh vực củađời sống xãhội và gắn liền với bất cứchủ thể nào. Các chủ thể tham gia quanhệ dân sựbao giờ cũng hướng tới những mục tiêu, lợi ích nhất định.Sựđan xen về mặt lợi ích cũng như tính muôn màu muôn vẻcủa các quan hệ dân sựlàm phát sinh các tranh chấp dân sựlà điều không thể tránh khỏi. Khi xảy ra tranh chấp dân sự, các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án – cơ quan xét xửcủa Nhà nước giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Trong quá trình xảy ra tranh chấp dân sự,các chủ thể có thể thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp.Đó là quá trình tựđiều chỉnh thông qua phương pháp thỏa thuận trong quan hệ pháp luật dân sự mà chưa cần sự can thiệp của một chủ thể thứba. Khi các chủ thể không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp vàyêu cầu tòa án giải quyết thì tranh chấpđó được giảiquyết thông qua con đường tòa án và tranh chấp đó được gọi là vụ án dân sự.
Vụ án dân sự bao gồm các tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động mà các chủ thểkhông tựthỏa thuận được buộc phải khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết. Việcđươngsự khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự là sự kiện làm phát sinh tố
tụng phiên tòa. Hay nói cách khác, “tranh chấp dân sự”kết hợp với yếu tố “kiện” của đương sự làtiền đề để tòa ánmở phiên tòa xét xử. Ngoài yếutố “kiện” là bản chất của
vụ án dân sự, yếu tố chủ thể là nguyên đơn, bị đơn cũng là đặc trưng của loại tố tụng xét xử sơ thẩm dân sự. Vụ án dân sự được BLTTDS quyđịnh tạicác điều 25, 27, 29 và 31 ởtrong các lĩnh vực như dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, laođộng bao gồm:
* Những tranh chấp dân sự truyền thống:
– Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam. – Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.
– Tranh chấp về hợp đồng dân sự.
– Tranh chấp về quyền sởhữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ,trừtrường hợp các bên tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận.
– Tranh chấp về thừa kế tài sản.
– Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
– Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
– Tranh chấp liên quan đến nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật. – Các tranh chấp về dân sự mà pháp luật có quy định.
* Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình:
– Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
– Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. – Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
– Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ. – Tranh chấp về cấp dưỡng.
– Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định. * Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại:
– Tranh chấp phát sinh trong hoạtđộngkinh doanh, thươngmạigiữa cá nhân,tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhận bao gồm: Mua bán hàng hóa; cungứngdịchvụ;phân phối;đại diện, đại lý;ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tưvấnkỹ thuật; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằngđườnghàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá trị khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác.
– Tranh chấp về quyền sởhữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,tổchức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
– Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
– Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định. * Những tranh chấp về lao động:
– Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao độngvới người sửdụng lao động mà Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao động của cơ quan quản lý nhànước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hòa giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định,trừcác tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở:
+Về xửlý kỷ luật lao độngtheo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phươngchấm dứt hợp đồnglao động.
+Về bồi thường thiệt hại giữa người lao độngvà người sửdụng lao động; vềtrợ cấp khi chấmdứt hợp đồnglao động.
+ Giữa người giúp việc giađình với người sửdụng lao động. + Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật lao động.
+ Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khẩu laođộng.
– Tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao độngvới người sửdụng lao động đã được Hội đồng trọng tài lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của Hộiđồngtrọng tài lao động, bao gồm:
+ Về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện khác.
+ Về thực hiện thỏa ước lao động tập thể.
+ Về quyền thành lập, gia nhập,hoạt độngcông đoàn.
– Các tranh chấp khác về lao động mà pháp luật có quy định.
Ngoài khái niệm vụ án dân sự, BLTTDS còn phân biệt một loại việc cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án đó là việc dân sự.
Việc dân sự là các loại việc trong đó các chủ thể không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự(theo nghĩa rộng) mà chỉ yêu cầu tòa án công nhận mộtsựkiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự hay yêu cầu tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự. Do đó, việc dân sự được giải quyết theo một thủ tục tố tụng khácđộc lập mà không làm căn cứ phát sinh hoạt động tố tụng xét xử của tòa án.
Việc dân sự được quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS như sau:
* Những yêu cầu về dân sự:
– Yêu cầu tuyênbố mộtngười mấtnănglựchành vi dânsựhoặc bị hạnchếnăng lực hành vi dân sự,hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vị dân sự.
– Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó.
– Yêu cầu tuyên bố một người mất tích, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
– Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết,hủybỏ tuyên bố một người là đã chết.
– Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
– Các yêu cầu khác về dân sự mà pháp luật có quy định. * Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình:
– Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
– Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
– Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
– Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
– Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nambảnán, quyết định về hôn nhân và gia đình của tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định vềhôn nhân và gia đình của tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
– Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định. * Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại:
– Yêu cầu liên quan đến Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.
– Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
– Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài
– Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
* Những yêu cầu về lao động:
– Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định lao động của tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
– Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định lao động của tòaán nước ngoài.
– Các yêu cầu khác về lao động mà pháp luật có quy định.
Như vậy, vụ án dân sựmới là sựkiện làm phát sinh tố tụng phiên tòa xét xử, do đươngsự khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự.
1.1.2. Cơ chế giải quyết vụ án dân sự theo trìnhtựtố tụng sơ thẩm
Sau khi tòa án thụ lý đơn khởi kiện, có hai cơ chế tố tụng giải quyết vụ án dân sự có thể thực hiện là: Có thể thông qua hoạt động hòa giải hoặc phải mở phiên tòa xét xử.
Hòa giải là mộtchế địnhmang tínhđặc thù trong TTDS. Xuất pháttừquyền quyết định và tự định đoạt cũng như yếu tố thỏa thuận trong quan hệ dân sự, các chủ thểcó thể thỏa thuận vào bất cứthời điểmnào để tựbản thân họ giải quyết tranh chấp. Hòa giải trong TTDS có nhiều ưu điểm vượt trội, vừa thể hiện tính nhân văn trong hoạt động tư pháp đồngthời phát huy được các giá trị truyền thống, tinh thần đoàn kết, giúp đỡtrong nhân dân. Sau khi thụ lý đơn khởi kiện, tòa án có trách nhiệm tổ chức các phiên hòa giải để đương sự có điều kiện thỏa thuận với nhau. Khi tiến hành hòa giải, chỉ các đươngsự có quyền quyết định nội dung giải quyết tranh chấp, tòa án chỉ là người hướng dẫn về mặt pháp luật, khuyến khích các bên thương lượng, đàm phán đồng thời đảm bảo việc hòa giải khôngbị ép buộc và phù hợp với quy định của pháp luật. Nếu đươngsựthỏa thuận được với nhau để giải quyết tranh chấp thông qua hoạt độnghòa giải, việc giải quyết vụ án coi như kết thúc mà không cần tòa án tiến hành xét xử. Hòa giải thành một vụ án dân sự không chỉ giải quyết dứt điểm mâu thuẫn giữa các đương sự mà còn giảm bớt các thủ tục tốn kém thời gian, công sức của đương sự và cơ quan xét xử.
Tuy nhiên, không phải tranh chấp dânsựnào cũng giải quyếtđược bằng conđườnghòa giải. Nhiều tranh chấp chỉ được giải quyết thông qua hoạt độngxét xửcủa tòa án.Đối với những tranh chấp dân sựkhởi kiện ra tòa án, sau khi hòa giải không thành, hoặc không tiến hành hòa giải được (mộtsố trường hợp pháp luật quyđịnh không được hòa giải) thì tranh chấp đó chỉ có thể giải quyết thông qua hoạt động xét xửcủa tòa án tại phiên tòa sơ thẩm.Việc một vụ án dân sự không thể giải quyếtđược bằng con đườnghòa giải đồngnghĩa với việc cácđươngsựkhông thể tựgiải quyết được tranh chấp của họ, khi đó vai trò giải quyết nội dung tranh chấp thuộc về tòa án thông qua việc xét xử.Tại phiên tòa sơ thẩm dân sự,quyền và lợi ích hợp pháp của các bên phụ thuộc vào phán quyết của tòa án dựa trên cơ sở xem xét, đánh giá chứng cứ, kết quảcủa việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa cũng như hoạt động áp dụng pháp luật củaHộiđồng xét xử.Nếu trong quá trình hòa giải, tòa án chỉ giải quyết nhữngvấnđề thuộc phạm vi tranh chấp giữa các đương sự thì việc xét xử tại phiên tòa phải xem xét toàn bộ các vấn đề của vụ án.Ngoài việc xác định nội dung quyền và nghĩa vụ dân sự cho các bên đương sự, tòa án còn giải quyết các vấn đề khác liên quan đến vụ án.
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm dân sự
Theo quyển sổ tay pháp lý thông dụng, thuật ngữ“phiên tòa” có nghĩa là “nơi diễn ra hoạt động xétxửcủa tòa án nhân dân” [14, tr. 270]. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “sơ thẩm” có nghĩa là việc “xét xử một vụ án với tư cách là tòa án ở cấp xét xử thấp nhất” [38, tr. 869], còn Từ điển Luật học thì định nghĩa “sơ thẩm” là “lần đầu tiên đưa ra xét xửvụ án tại một tòa án có thẩm quyền” [37, tr. 434]. Các khái niệm trênđãxác địnhđượcmộtvàiđặctrưngcủaphiên tòa sơ thẩm nói chung cũng như phiên tòa sơthẩm dân sự nói riêng, tuy nhiên còn phiến diện và chưa phản ánh được đầy đủ bản chất của phiên tòa sơ thẩm dân sự.
Chế định phiên tòa sơ thẩm dânsựbao gồm các quy định về trình tự, thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm. Sau khi tòa án thụ lý đơn khởi kiện để giải quyết yêu cầu của đương sự,nếu vụ án buộc phảiđưara xét xửthì tòa án mởphiên tòa sơ thẩm để giải quyết tranh chấp giữa các bên. Tại phiên tòa sơ thẩm dânsựcó mặt đầy đủ những người tiến
hành tố tụng, các bên đương sự và những người tham gia tố tụng khác. Mọi hoạt động tại phiên tòa được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định. Các chủ thể tham gia phiên tòa có tư cách tố tụng khác nhau và có các quyền và nghĩa vụ tố tụng độc lập.Hội đồng xét xử đảmbảo cho việc xét xử diễn ra theo đúng tố tụng đồng thời tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật xác định nội dung quyền và nghĩa vụ dân sựcho các bên đươngsựcũng như giải quyết triệt để các vấn đề khác của vụ án. Các đươngsựthực hiện hoạtđộng chứng minh cho yêu cầu,đề nghịcủa mình, thuyết phụcHộiđồng xét xửđưa ra phán quyết có lợi cho họ. Những người tham gia tố tụng khác có trách nhiệm giúp cho Hội đồng xétxửtìm ra sự thật khách quan của vụ án.Để cómột phán quyết cuối cùng công bằng và thuyết phục, mọi diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm dânsựphải tuân theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ được quy định trong pháp luật TTDS.
Phiên tòa sơ thẩm dân sự được tiến hành vào thời gian và tại địa điểm được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nếu không có căn cứ hoãn phiên tòa hoặc không phải trong trường hợp pháp luật quy định xét xử vắng mặt thì những người tiến hành tố
tụng, đương sự và những người tham gia tố tụng khác (trong trường hợp cần thiết) phải có mặt đầy đủ tại phiên tòa. Ngoài một số trường hợp tòa án phải xét xử kín, phiên tòa sơ thẩm dân sựđược xét xửcông khai, mọi người đều có quyền thamdựphiên tòa.
Từnhững phân tích trên đây, có khái niệm phiên tòa sơ thẩm dân sựnhư sau:
Phiên tòa sơ thẩm dân sự là hình thức tổ chức hoạt động xét xử của tòa án, trong đó vụán dân sựđược đưa ra xét xửlần đầu,do một tòa án cấphuyện hoặc một tòa án cấp tỉnh thực hiện theo thẩm quyền trên cơ sở một trình tự, thủ tục nhất định.
Phiên tòa sơ thẩm dân sự là hoạt động của cơ quan xét xử được điều chỉnh bởi Luật tổ chức tòa án nhân dân (TAND) và pháp luật TTDS. Chính vì vậy, nó cũng cónhững đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm nói chung như: Thành phần Hội đồng xét xử cósự tham gia của Hội thẩm nhân dân; trình tự, thủ tục xétxửtuân theo trình tự xétxửsơthẩm; đối tượng xét xử thuộc thẩm quyền xem xét lần đầu tiên của tòa án cấp sơ thẩm; sự có mặt đầy đủ của các bên đương sự và những người có liên quan đến việc giải quyết
vụ án (phiên tòa phúc thẩm chỉ có mặt những người có liên quan đến kháng cáo, kháng
nghị); bản án, quyết định tại phiên tòa sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị…
Ngoài ra, phiên tòa sơ thẩm dân sự có đặc điểm sau:
Phiên tòa sơ thẩm dân sự là nơi diễn ra các hoạt động tố tụng của riêng cơ quan xét xử trên cơ sở đơn khởi kiện của đương sự yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp dân sự. Nếu như việc mở phiên tòa sơ thẩm hình sự làkếtquả của quá trình điều tra, truy tố thìviệc mởphiên tòa sơ dân sựlại xuất phát từý chí củacác bênđươngsựsau khivụán không giải quyết được thông qua việc hòa giải.
Tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, thứtựhỏi và trình tự phát biểu khi tranh luận đềcao vai trò, vị trí của các bên đương sự. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa dân sự (nếu có) không có vai trò như trong phiên tòa hình sự, họ chỉ tham gia với tư cách là người giám sát hoạt động xét xử của tòa án mà không can thiệp vào nội dung tranh chấp của các đương sự. Vị trí, vai trò của các đương sự tại phiên tòa thể hiện xuhướngdân chủtrong hoạt động tư pháp, tôn trọng quyền yêu cầu và tự định đoạt của họ trong quá trình xét xử.ý chí và sựtựnguyện của các đươngsựluôn được tôn trọng và xem xét trước tiên. Quyết định tại phiên tòa là sựphán xét của tòa án nhưng có thể đơn giản là ghi nhận sựthỏa thuận của các đươngsự.
Kết quả của phiên tòa sơ thẩm dân sựkhông nhất thiết phải bằng một bản ánđược tuyên tại phiên tòa. Nếu như phiên tòa xét xử vụ án hình sự luôn kết thúc bằng bảnán của tòa án kết án một người phạm một tội cụ thể và hình phạt kèm theo (trừ trường hợp được miễn hình phạt) hoặc tuyên bố người đó vô tội thì diễn biến và kết quảcủa phiên tòa sơ thẩm dân sự còn tùy thuộc vào quyền quyết định và tựđịnh đoạt của đương sự trong quá trình diễn ra phiên tòa. Phiên tòa sơ thẩm có thể kết thúc bằng một bản án hoặc cũng có thể kết thúc bằng một quyết định ngay sau khi đương sự rút yêu cầu hoặc thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
1.1.4. Vị trí và ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự
Trong các giai đoạn của TTDS thì xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn quan trọng nhất. Phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dânsựlà giai đoạn kết thúc quá trình giải quyết vụ án dân sự của một cấp tòa án đó là tòa án cấp sơ thẩm.
Phiên tòa sơ thẩm dânsựlà nơi tập trung kết quả các hoạt động của các giaiđoạn tố tụng trước đó.Mọihoạt động củacác giai đoạn thụ lý, hòa giải và chuẩn bị xét xử nhằm thực hiện các thủtục cầnthiết hoặc chỉ tập trung giải quyếtmột số vấn đề cơbản, làm cơ sở để giải quyết toàn bộ nội dung của vụ án được tiến hành tại phiên tòa sơthẩm. Vị trí của phiên tòa sơ thẩm được thể hiện rõ thông qua thành phần tham dự phiên tòa, nội dung công việc giải quyết tại phiên tòa cũng nhưkếtquả giải quyết các công việcđó.Tại phiên tòa sơ thẩm dânsựcó mặt đầy đủ nhữngngười tiến hành tố tụng, các bên đương sự và những người tham giatố tụngkhác. Các chủ thể này “cùng nhau tạo lập bức tranh toàn cảnh về quan hệ pháp luật dânsự mộtcách trung thực, khách quan, toàn diện” [10, tr. 12]. Các tài liệu, chứng cứ được đưa ra xem xét, đánh giá thông qua phần trình bày và tranh luận giữa các bên. Thông qua các hoạt động này tòa án sẽ ra các phán quyết nhằm giải quyết toàn bộ nội dung của vụ án,từviệc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của đương sự cho đến vấn đề án phí, các quyết định phải thi hành ngay (nếu có) và quyền kháng cáođối với bản án.
Trong mối quan hệ với toàn bộ quá trình TTDS, phiên tòa sơ thẩm dân sự được coi là thời điểmchấm dứt việc giải quyếtmộtvụ án dân sựnếunhư các chủthể không thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị. Tại phiên tòa sơ thẩm, nếu cácthủ tục tốtụng được thực hiện đầy đủ,các tài liệu, chứngcứ đã thu thập đầy đủ và được xemxét, đánh giá một cách khách quan, phán quyết của tòa án là có căn cứ, công bằng và thấu tình đạt lý, làm cho các bênđương sự“tâm phục khẩu phục” thì vụ án dân sự sẽ khép lại sau khi kết thúc phiên tòa.
Trong giai đoạn hiện nay, theo tiến trình cải cách tư pháp được đề ra theo tinh thần Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49, phiên tòa sơ thẩm dânsựđang ngày càng khẳng định được vai trò của nó trong việc nâng cao chất lượngxét xửcủa tòa án. Các phán quyết của tòa án phụ thuộc vào diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nhất là phần trình bày,
tranh luận, xem xét, đánh giá chứng cứvà quan điểm của các bên đương sự.Dần dần xóa bỏ tình trạng “án bỏtúi”, án được duyệt sẵn, việc phán xét ởphiên tòabị áp đặt, không khách quan và thiếu sức thuyết phục, làm cho hoạt động xét xử tại phiên tòa sơthẩm mất đi vai trò đích thực của nó. Phiên tòa sơ thẩm dân sự phải là “nơi nói lên tiếng nói của công lý, nói lênsựxác nhận của luật pháp đốivới vụ án đã xảy ra và tháiđộcủa luật pháp với việc đã xảy ra như thế nào. Tòa án nói lên những nhận định và quyếtđịnh của mình là nhân danh Nhà nước như chúng ta thường ghi trong bản án” [24]
Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của công dân.Nhiệm vụ đóđược thực hiện thông qua hoạtđộng xét xửcủa tòa án,để thực hiện được nhiệmvụ đó “trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch [12, tr. 188]. Phiên tòa sơ thẩm dân sự là “nơi phản ảnh đầy đủ và sâu sắc nhất bản chất của một nền công lý, biểu hiện tập trung của quyền tư pháp” [20, tr. 3], nó có ý nghĩa cả về mặt pháp luật cũng như về mặt chính trị – xã hội.
Phiên tòa sơ thẩm dân sựtrước hết phản ánh rõ chức năng xét xửcủa tòa án. Kết quả của phiên tòa sơ thẩm dân sựlà sựthể hiện cụ thể vai trò, nhiệm vụ của tòa án trong việc duy trì trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công lý, giúp cho các quan hệ dân sựphát triển ổn định và lành mạnh, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.
Bản án, quyết định tại phiên tòa sơ thẩm khi có hiệu lựcpháp luật phải được mọichủthểtrong xãhộitôn trọng, các cá nhân,tổchức có nghĩavụchấp hành phải nghiêm chỉnh chấp hành. Nội dung bản án, quyết định xác định quyền và nghĩa vụ cho các bên đương sự và có giá trị pháp lý làm cơ sở cho việc thi hành án, từ đó khôi phục
lại các quyền và lợi ích của cácđươngsự.
Thông qua hoạt động xét xử tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, những người tham gia phiên tòa nói riêng và quần chúng nhân dân nói chung có điều kiện nắm bắt những kiến thức pháp luật, nhận thức được vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệdân sự, qua đó giúp cho họ khi tham gia các quan hệ pháp luật có những xử sự phù hợp với các quyđịnh của pháp luật.Đồngthời, tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, tòa án là người thực hiện, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là môi trường đểnhân dân thực hành quyền giám sát của mình đối với hoạt động xét xử của tòa án.
Nếu việc xét xửtạiphiên tòa sơ thẩm được tiến hành tốtsẽlàm tăng thêm tác dụng của công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật. Ngược lại,
nếu phiên tòa sơ thẩm tiến hành không tốt thì kết quả của công tác giáo dục sẽ bị hạn chế, gây ảnh hưởng xấu, làm cho mọi người thiếu tin tưởng vào hoạt động xét xửcủatòa án [34, tr. 266-267].
Ngoài ra, phiên tòa sơ thẩm dân sự là nơi công dân thực hiện quyền tự do dân chủ nói chung cũng như các quyền và nghĩa vụ trong pháp luật tố tụng nói riêng,thểhiện sựbình đẳngcủa mọi công dân trước pháp luật, quyền được bào chữa, biện hộ,
quyền được dùng chữ viết tiếng nói của dân tộc mình… khẳng định quyền dân chủ của công dân trong lĩnh vực tư pháp, khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước ta.

1.2. Những nguyêntắc điềuchỉnh hoạt động của phiên tòa sơ thẩm dân sự
Khi Tòa án mở phiên tòa để xét xử sơ thẩmvụ án dân sự, mọi vấn đề của vụ ánđều được đưa ra xem xét, đánh giá để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Vì vậy,hoạt độngtố tụngtại phiên tòa phải đáp ứng các nguyên tắc của pháp luật tố tụng nói chung cũng như các nguyên tắc của pháp luật TTDS nói riêng.
1.2.1. Những nguyên tắc chung
Nguyên tắc chung là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo có giá trị cho cả phiên tòa sơ thẩm hình sự và phi hình sự. Việc mở phiên tòa sơ thẩm dân sựtrước hết phải đảm bảo yêu cầu của các nguyên tắc chung sau đây:
1. Nguyên tắc hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự.
Nguyên tắc nàyđược quy địnhtại Điều 129 Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2001),Điều4 Luậttổchức TAND 2002 và tiếptụcđượckhẳngđịnhtạiĐiều11 BLTTDS 2004.Sựtham gia của hội thẩm nhân dân trong thành phầnHộiđồngxétxửnhằm tăngcườngtính dânchủtrong hoạtđộng tư pháp,đảmbảotính khách quan, chính
xác trong hoạtđộngxétxửcủatoà án,đồngthời là hình thức nhân dân thực hiện quyền giám sátcủamìnhđốivớihoạtđộngcủacơ quan nhànước.Khi xétxử,hộithẩm ngang quyền với thẩm phán quyết định mọi vấn đề thuộc nội dung vụ án, cả về áp dụng luật nội dung cũng như luật tố tụng.
2. Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Theo nguyên tắc này, khi xét xửthẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập với các chủ thể khác bên ngoài Hội đồng xét xử cũng như độc lập giữa các thành viên trong Hội đồng xét xử với nhau. Quá trình kiểm tra, xem xét, đánh giá chứng cứ dựa trên cơsở nhận thức của mỗi thành viên Hội đồng xét xử mà không bị chi phối bởi yếu tố bên ngoài. Khi nghị án, hội thẩm biểu quyết trước, thẩm phán là người biểu quyết sau cùng.
3. Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể.
Việc xét xử của tòa ánđược thực hiện bởi một tập thểbao gồm các thành viên trong Hội đồng xét xử. Hội đồng xét xử của phiên tòa sơ thẩm bao gồm các thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Việc xét xửtập thể sẽ tập trung trí tuệ của các thành viên Hộiđồngxét xửgiúp cho việc nâng cao chất lượngxét xửcủa tòa án. Các thành viên Hộiđồngxét xử giải quyết từng vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số. Người cóý kiến thiểu số có quyền bảo lưu ý kiến của mình trong hồ sơ vụ án.
4. Nguyên tắc xét xử công khai.
Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện như sau: Việc xét xửcủa tòa ánđược tiến hành một cách công khai. Mọi người đều có quyền thamdựphiên tòa (trừtrường hợp luật định). Xét xử công khai tạo điều kiện để người dân nâng cao kiến thức hiểu biết và ý thức pháp luật, phát huy tính dân chủ trong hoạt động tư pháp, đồng thời nâng cao ý thức, trách nhiệm của cơ quan xét xử trước nhân dân. Trong một số trường hợp đặc biệt cần giữbí mật nhà nước, hay cần giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì tòa án có thể xử kín nhưng việc tuyên án phải tiến hành công khai.
5. Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự.
Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định tại Điều 52 Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi,bổ sung năm 2001),Điều 8 Luật tổ chức TAND 2002. BLTTDS 2004 tiếp tục khẳngđịnh nguyên tắc này tại Điều 8: Bình đẳngvề quyền vànghĩa vụ trong TTDS. Theo nguyên tắc này, các đươngsựkhi tham gia tố tụng bìnhđẳng với nhau trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS. Tòa án có trách nhiệm đảmbảo cho các đươngsự thực sựbình đẳng với nhau trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng đó. Nguyêntắc này là cơ sở để đương sự tiếnhành hoạt động chứng minh cũng như tranh tụng tại phiên tòa.
6. Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Đây là nguyên tắc có tính chất bao trùm, thể hiện tư tưởng chỉ đạo và có ý nghĩađối với mọi quan hệ pháp luật nói chung cũng như quan hệ pháp luật TTDS nói riêng. Tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia
tố tụngphải tuân thủ những trình tự, thủ tục và thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quyđịnh của BLTTDS. Việc vi phạmtố tụngtạiphiên tòa ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án, thậm chí bản án, quyết định tại phiên tòa có thể bịhủy để xét xử lại từđầu.
1.2.2.Một sốnguyên tắc đặc trưng điều chỉnh riêng biệt hoạt động tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự
Các nguyên tắc đặc trưng điều chỉnh riêng biệt hoạt động tố tụng tại phiên tòa dân sự là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, chi phối trực tiếp mọi hoạt động xét xử của tòa án tại phiên tòa. Ngoài việc đảm bảo các nguyên tắc chung, phiên tòa sơ thẩm dân sự còn phải tuân thủ các nguyên tắc như sau:
1. Nguyên tắc quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: (Điều 4 BLTTDS)
Nguyên tắc này được thể hiện như sau:
Khi đươngsựcó quyền hay lợi ích hợp phápbị xâm phạm và yêu cầu tòa án giải quyết, tòa án có trách nhiệm xem xét vàhướngdẫn họ thực hiện các thủ tục cần thiết để tòa án thụ lý đơn khởi kiện. Sau khi tòa án tiến hành hòa giải không thành, hay không thể tiến hành hòa giải được hoặc trong một số trường hợp pháp luật không cho phép hòa giải. Nếu có đương sự tiếp tục yêu cầu thì tòa án phải mở phiên tòađể xét xửtheo yêu cầu của họ.
Trong quá trình giải quyết vụ án nói chung cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nói riêng, tòa án phải tôn trọng việc thay đổi, bổ sung, rút một phần hay toàn bộ yêu cầu củađươngsự. Tòa án chỉ giải quyết vụ án trong phạm yêu cầu của đương sự. Tại phiên tòa xét xử, nếu đương sự rút đơn khởi kiện thì tòa án phải đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Ngoài ra, theo nguyên tắc này, các đương sự có quyền thuê, nhờ, ủy quyền cho luật sư hay người khác làm người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình trong quátrình giải quyết vụ án.
2. Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5 BLTTDS).
Đây là một trong những nguyên tắc đặc trưng của pháp luật TTDS.Đươngsựcó quyền quyết định và tựđịnh đoạtđối với yêu cầu của họ trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Bên có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại có quyền yêu cầu hoặc không yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ngay cả sau khi đơn khởi kiện đã được tòa án thụ lý.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự có quyền thay đổi, bổ sung, rút một phần hay toàn bộ yêu cầu, Hội đồngxét xửchỉ xét xửtrong phạm vi yêu cầu đó.Nếu tại phiên tòa cácđươngsựthỏa thuận được vớinhau về việc giải quyếtvụ án và sựthỏa thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử tôn trọngsựthỏa thuận của họ và ra quyết định côngnhận sựthỏa thuận của cácđươngsự.
3. Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự (Điều 10 BLTTDS).
Hòa giải trong TTDS cũng là một trong những nguyên tắc đặc trưng của TTDS. Theo nguyên tắc này, tại phiên tòa sơ thẩm dân sự,Hội đồngxét xửcó phải hỏi cácđươngsự có thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không, Hội đồng xét xửcó trách nhiệm hướng dẫn và tạo điềukiện cho các đương sự trong quá trình hòa giải,đồngthời đảmbảo cho việc hòa giải dựa trên cơ sở tự nguyện và đúng pháp luật.
4. Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS.
Khi đươngsựđưa ra yêu cầu,đề nghịđể tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì đồng thời có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu,đề nghị của mình là có căn cứ. Bởi vì, việc xảy ra tranh chấp là việccủa bảnthân các bên đươngsự,mặt khác chỉ các đươngsựmới nắmđược bản chất của nội dung tranh chấp. Chính vì vậy, không ai ngoài các đương sự thực hiện trách nhiệm cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc phản bác yêu cầu của phía bên kia. Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức đưa ra yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì họ cũng có trách nhiệm chứng minh cho đươngsự.Việc bổ sung chứngcứtại phiên tòa tạo điều kiện tối đađểcác đương sự chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình, đồng thời giúp cho tòa án có cơ sở để xác định chính xác quyền và nghĩa vụ dân sựcho các bên đươngsự.
Nguyên tắc này còn đòi hỏi tòa án phải tôn trọng các tài liệu, chứngcứdođươngsự cung cấp. Tòa án không được tự ý đi thu thập chứng cứ khi đương sự không yêu cầu. Đương sự cung cấp chứng cứđến đâu,tòa án xem xét đến đó. Tòa án phải cótrách nhiệm thông báo và tạo điều kiện cho các đương sựbiết và sao chép tài liệu, chứngcứcủa phía bên kia. Các đươngsựphải chịu hậuquảcủa việc không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứngcứ.
1.3. một số nét khái quát về phiên tòa sơ thẩm dân sự trong lịch sử phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Cách mạng Tháng tám thành công và sựra đời của nước Việt Nam dân chủcộng hòa ngày 2/9/1945đã mởra trang sửmới cho lịch sửdân tộc ta. Quá trình hình
thành và phát triển của pháp luật TTDS Việt Nam gắn liền với những biến cố lịch sửcủa dân tộc cũng như các giai đoạn phát triển, tình hình kinh tế – xã hội của đấtnước.
1.3.1. Giai đoạn 1945 – 1959
Trong giai đoạn này, nhiệm vụ chính của cách mạng nước ta là thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà. Vì vậy, Nhànước không có điều kiện xây dựng hệ thống văn bản pháp luật mới mà chủ yếu tiếp tục sử dụng các văn bản pháp luật của chế độ cũ phù hợp với lợiích của chính quyền cách mạng và nhân dân lao động. Tuy nhiên, trong giai đoạn này đãcó một số văn bản pháp luật ra đời đánh dấu sự xuất hiện các quy định về phiên tòa sơthẩm dân sự:
Sắclệnhsố13 ngày 24/1/1946về tổchức các tòa án và các ngạch thẩm phán. Theo TS. Định Ngọc Hiện: “Lịchsửtố tụng dân sựtạitòa bắtđầu từngày 24/1/1946” [40]. Đây được coi là văn bản đầu tiên chứa đựng các quy phạm TTDS của nước ta.Vềphiên tòa sơ thẩm dân sự,văn bản này đã có các quy định về người tiến hành tố tụng, nghị án và tuyên án và cách thức tổ chức một phiên tòa, chẳng hạn nhưĐiều 10 quy
định: “Tại phiên tòa thẩm phán xét xửmột mình, lục sựgiữbút ký lập biên bảntừ”; Điều 31 và Điều41: “Nghị án xong tòalạihọp và ông Chánh án tuyên đọccông khai bản án”; Điều 10 khoản 2: “Thẩm phán sơ cấp có thể ngày nào cũng xử kiện, dù là ngày chủ nhật. lại cóthể nếu cầnđến mởphiên tòa ngoài trụsởcủatòa án, ở nơi cách xa tòaán”. Quyđịnhvềtrách nhiệmcủathẩm phán trong việcbảovệquyền và lợi íchcủacácđương sự:“Thẩm phán không được tự đặt ra lệ mà xử đoán” (Điều 81); ” Thẩm phán không
được tự biện hộ trước tòaán…”(Điều 82); “Các thẩm phán phải làm đầyđủ bổn phận, dự đều các phiên tòa, xét xử thật nhanh chóng và thật công minh. Thanh liêm là đức tính thiêng liêngcủathẩm phán”(Điều83). Bên cạnh các quyđịnh tiến bộđó,Sắc lệnh 51
ngày 17/4/1946 có quy định: “Khi ra phiên tòa… bên bị cùng bên dân sự nguyên cáo cóquyền yêu cầu Tòa án thi hành phương sách cần thiết để chứng tỏ sựthật” (Điều 26).ĐếnSắclệnhsố69 ngày 18/6/1949, quyền bào chữa cho cácđươngsựđượcmởrộng.Điều 1 Sắc lệnh này quy định: “Trước các Tòa án xử việc hộ và thương mại, trước các
Tòa án thường và Tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình, đại hình, trừ Tòa án binh tại mặt trận, nguyên cáo, bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải là Luật sư bênh vực cho mình. Công dân đó phải được ông Chánh án thừa nhận”.
Tiếp tục xây dựngbộ máy tư pháp và pháp luật tố tụng, Sắc lệnh 85 ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng ra đời đã có những quy định mới liên quan đến phiên tòa sơ thẩm dân sự,theo đó Ban tư pháp xã có quyền xét xửsơthẩmđồngthời chung thẩm những việc đòi bồi thườngdưới 300 đồngvà có quyền sơthẩm những việc đòi bồi thường màđươngsựnêu trong đơn kiện là trên 300 đồng. Ngoài ra,Sắclệnh này đãquy định hộithẩm nhân dân tham gia việc xétxử,được nghiên cứu hồ sơ và ngang quyền với thẩm phán khi xét xử; thành phần Hội đồngxét xử sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Quy định luật sư được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho đươngsự.
Mặc dù còn chưa nhiều và đầy đủ nhưng các quy định về phiên tòa sơ thẩm dân sựtrong giai đoạn này đã thể hiện tính manh nha của một ngành luật đang trong giaiđoạn hình thành,đồngthời cũng là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp nhỏ trong nhân dân,ổn định đời sống xã hội trong chế độ mới cũng như tăngcườngsứcdân vào công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
1.3.2. Giai đoạn 1960 – 1989
Giai đoạn này xuất hiện các văn bản có giá trị pháp lý cao có các quy định liên quan đến ngành luật TTDS như Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Luật tổ chức TAND 1960, Luật tổ chức TAND 1981. Trên cơsở đó,các quy định về pháp luật TTDS tiếp
tục hình thành và phát triển, các quy định về phiên tòa sơ thẩm ngày càng nhiều hơn, kết cấu của một chế định pháp lý về trình tự, thủ tục xét xử tại phiên tòa sơ thẩm đã đượcđịnh hình rõ nét.
Trong giai đoạn này, các vấn đề chung có tính nguyên tắc về phiên tòa sơ thẩm dân sự đã được quy định như: Nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm nhân dân xét xửđộc lập và chỉ tuân theo pháp luật (các Hiến pháp 1959, 1980); Nguyên tắc xétxửcông khai
(các Hiến pháp 1959, 1980 và Luật tổ chức TAND 1960, 1981); Nguyên tắc xét xử cóhội thẩm nhân dân tham gia (Hiến pháp 1980); Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể (Hiến pháp 1980). Ngoài ra, các nghị quyết, thông tư do Tòa án nhân dântốicao (TANDTC) ban hành trongđócó một số quy định,giải thích,hướngdẫn các hoạt độngxét xửtại phiên tòa sơ thẩm như: Thông tư 03-NCPL ngày 30/1/1962 của TANDTC về các trường hợp xửkín,xửlưu động; Thông tư 112-NCPL ngày 19/8/1972 của TANDTC quy định về đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Thông tư 2421/TC ngày 29/12/1961 của TANDTC hướng dẫn thực hiện chế độ hội thẩm nhân dân: “Nguyên tắc chung là: Việc xét xử sơ thẩm phải có hội thẩm nhân dân tham gia. Chỉ trong trường hợp đặc biệt, tòaán nhân dân mới xử sơ thẩm mà không có hội thẩm nhân dân tham gia. Khi xử sơ thẩm mà không có hội thẩm nhân dân tham gia thì người ngồi xử chỉ là một thẩm phán” (mục C phần II); Thông tư 16-TATC ngày 27/5/1974 của TANDTC lần đầu tiên đã khái quátđược trình tựxét xử tại phiên tòa:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ bảo đảm việc xét hỏi, tranh luận vàgiữ gìn trật tự tại phiên tòa.Hội đồngxửán có nhiệm vụ quyết định mọi vấn đề về nội dung cũng như về thủ tục tố tụng trong phiên tòa. Đối với những vấn đề đơn giản không cần phải thảo luận lâu thìHộiđồng xửán trao đổivà quyếtđịnhngaytạiphiên tòa, nhưng nếu việc trao đổi đòi hỏi mất nhiều thời gian, hoặc trao đổi để nghị án thì Hộiđồng xử án phải vào phòng nghị án.
Văn bản có ý nghĩa quan trọng nhất về phiên tòa sơ thẩm dân sự trong thời kỳnày là Bản hướng dẫn vềtrình tựxét xửsơ thẩmvề dân sựkèm theo Thông tưsố96 ngày 8/2/1977 của TANDTC. Đây là văn bản quy định các bước tiến hành tại phiên tòa xét xử như một chỉnh thể, nếu bỏ qua mặt hình thức của nó thì Bản hướng dẫn này được coi là một chế định quy định đầy đủ trình tự, thủ tục xét xử vụ kiện dân sự tại phiên tòa sơ thẩm. Theo Bản hướng dẫn này, việc tiến hành phiên tòa về dân sự phải tuần tự theo các bước sau:
1. Bước chuẩn bị cho việc xét hỏi baogồmcác thủ tục: Khai mạc phiên tòa; hỏi căn cước của những người được triệu tập và giải quyết vấn đề những người vắng mặt;
phổ biến những quyền của những người tham gia tố tụng và giải quyết những vấn đềcần thiết để chuẩn bị cho việc xét hỏi; xác định nhiệmvụ của nhân chứng, của giám định viên, của người phiên dịch.
2. Bước giải quyết nội dung chính của phiên tòa gồm các thủ tục: Xét hỏi; tranh luận; nghị án và tuyên án.
3. Những việc phải làm sau phiên tòa gồmcác thủ tục: Kiểm tra lại biên bản phiên tòa; gửi trích lục án và bản sao bản án.
Mặc dù cònhạn chếvề mặtkỹ thuật lập pháp, các quy định không theo kết cấuđiều khoản cụ thể và rõ ràng, nhưng nếu bóc tách từng vấn đề, từng nội dung của nó thìbản hướng dẫn quy định khá chitiết và đầyđủ,về cơ bản đã thể hiện toàn bộ diện mạo của phiên tòa sơ thẩm dân sự. Nếu so với các quy định ở giai đoạn sau này, Bản hướng dẫn có một vài hạn chế như: Trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì không đình chỉ việc giải quyết vụ án mà “Tòa án nhân dân có quyền xử vắng mặt hoặc tạm xếp việc kiện” [26, tr. 52]; hay trong giai đoạn nghị án “Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể chuẩn bị trước bản án theo sự nhận xét chủ quan của mình”; hay khi tuyên án “nếu Tòa án nhân dân xử kín thìtùy từng trường hợp, có thể đọc toàn bộ bản án, hoặc chỉ tóm tắt nội dung sựviệc vànhận định của tòa án” [26, tr. 56] và chỉ đọc toàn bộ phần quyết định của bản án. Tuy nhiên, Bản hướng dẫn đã có những quy định rất tích cực, thậm chí thể hiện sự tiến bộ hơn sovớiPLTTGQCVADS 1989 sau này như: Không giới hạn thời gian tranh luận, “nội dung của bước tranh luận dài hay ngắn là tùy theo tình hình cụ thể của mỗivụ kiện”
[26, tr. 55] hay quy định rất rõ những nội dung của phần nghị án đó là: Những quan hệpháp luậtcầnphải giải quyết trongvụkiện là gì? những chứngcứđãđủchưa? những quyền và nghĩa vụ của các đương sự được giải quyết căn cứ vào pháp luật, chính sách và
giải quyết như thế nào cho đúng… Toàn bộ nội dungBản hướng dẫn đã thể hiện được vai trò,vị trí cũng nhưtầmquan trọng của phiên tòa sơ thẩm trong việc giải quyết vụkiện.Bản hướngdẫn này đặt nền móng cho việc ban hành PLTTGQCVADS năm 1989.
1.3.3. Giai đoạn 1990 – 2004
Giai đoạn này đánh dấu những chuyển đổi mạnh mẽ của nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, nền kinh tế thị trường theo định hướngxã hội chủ nghĩa từngbước đượcđịnh hình, các quan hệ dân sự ngày càng phát triển mạnh mẽ và thể hiện sự muôn màu muôn vẻ.Sựra đời của PLTTGQCVADS 1989 đã “phản ánh đúng thời kỳ phát triển của lịch sử, nó đánhdấumộtbước phát triển trong quá trình lập pháp của Nhà nước ta vềpháp luật tố tụng dânsựnói riêng” [10, tr. 62]. “Đây là văn bản pháp luật chính thứcđiều chỉnh các quanhệ trong lĩnh vực tốtụng dân sự,bao hàm một quy trìnhtố tụng dân sựkhép kín và thống nhất,được áp dụng trong công tác giải quyết, xét xửcác vụkiện dân sự” [10, tr. 62]. PLTTGQCVADS cơ bản đáp ứng được nhu cầu giải quyết một khối lượng lớn các tranh chấp dân sự mỗi năm, trong đó các quyđịnhvề phiên tòa sơthẩm có vai trò nhất định tronghoạt độngxét xử của tòa án.
Trìnhtự,thủtụctiến hành phiên tòa sơ thẩmđượcquyđịnhtạiChương X PLTTGQCVADS bao gồm 9điều (từĐiều 48 đến Điều 57).Mặcdù chưa có sựtách bạch rõ ràng, nhưng các quy định này đã thểhiện được các bước tiến hành phiên tòa như: Các yêu cầu chung về phiên tòa;thủ tụcbắt đầu phiên tòa; thủ tục xéthỏi tạiphiên tòa; tranh luận tại phiên tòa; nghị án và mộtsố thủ tục tiến hành sau phiên tòa. Giaiđoạn này còn có các văn bản tố tụng khác như: PLTTGQCVAKT, PLTTGQCtcLĐ, PLTTGQCVAHC có các quy định về phiên tòa sơ thẩm. Ngoài ra, trong giai đoạn này còn có một số văn bản giải thích,hướngdẫn quy định về phiên tòa sơ thẩm như: Thông tư 09/TTLN ngày 1/10/1990 của TANDTC – Viện kiểm sát nhân dân tối cao -Bộ Tưpháp hướng dẫn thi hành một sốquy định của PLTTGQCVADSvề sựtham gia phiên tòa của kiểm sát viên; Nghị quyết 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán TADNTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của PLTTGQCVADSvề việc cấp trích
lục bản án, quyết địnhhoặc cấp bản sao bảnán, quyết định; Công văn số 309/NCPL ngày 22/12/1990 của TANDTC giảithích một số vấn đề về thủtục TTDS về tạm ngưng việc tiến hành phiên tòa, tạm hoãn việc tuyên án; Công văn số 81/KHXX ngày 21/7/1997 củaTANDTC hướngdẫnvề quyếtđịnh công nhận sựthỏa thuận tạiphiên tòa; Công văn số 43/KHXX ngày 21/4/1998 của TANDTC trả lời về hiệu lực của quyếtđịnh côngnhận sựthỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm.
Nhìn chung, trong giai đoạn này các quy định về phiên tòa sơ thẩm đã phát triển thành một chế định độc lập và là bộ phận quan trọng của một văn bản pháp luật chuyên ngành có tính ổn định cao như PLTTGQCVADS năm 1989. Các quy định này là cơ sởpháp lý giúp cho hoạt độngxét xửcủa tòa án đạt được những kết quả nhất định.Tuy nhiên, chế định phiên tòa sơ thẩm nói chung còn bộc lộ nhữnghạn chế về mặt kỹ thuật
lập pháp, sơ sài về nội dung điều luật, “chỉ bao hàm được các quy định chung nhất vừa cô đọng,vừa chưa điều chỉnh hết được những hoạt động trong tố tụng dân sựcụ thể, nhất là vào thời kỳ hiện nay, khi mà đời sống dân sựđã thực sựcó những chuyển độngđa dạng, phức tạp do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường” [27, tr. 45]. Văn bản này còn thể hiện những hạn chế có tính cố hữu khác xuất phát từ việc Đảng và Nhà nước ta chưa cósựquan tâm, đánh giá đúng mứcvai trò củahoạtđộngtư pháp nói chung vàhoạt động xét xử của Tòa án nói riêng trong thời kỳ đổi mới. Sự ra đời của Nghị quyết 08 với những quan điểm chỉ đạo có tính đột phá về cải cách tư pháp đã mở đường cho việc sửa đổi bổ sung chế định phiên tòa sơ thẩm dân sựtheo hướngngày càng hoàn thiện và tiến bộ hơn.
1.3.4. Giai đoạn từ 2005 đến nay
Sau gần hai mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước đã có sự thay đổi về căn bản. Quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã thoát khỏi những nguyên lý, tư tưởng của các giai đoạn trước không còn phù hợp với mục tiêu phát triển đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.Sựra đời của BLTTDS 2004 là kết quả của quá trình xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật tố
tụng và nhu cầu đổi mới hoạt động tư pháp.
Kể từkhi ra đời,BLTTDS 2004 đóng vai trò là côngcụ pháp lý quan trọng phục vụ cho hoạt động xét xử của tòa án. Đây là lần đầu tiên pháp luật TTDS được quyđịnh trong một văn bản thống nhất và có giá trị pháp lý cao với các quy định tươngđối hoàn thiện,đồngbộ,đầy đủ và chi tiết. Là thủ tục chung giải quyết tất cả các vụ án dân sự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động.So với các giai đoạn
trước, BLTTDS 2004 đã thể hiện sự tiến bộ rõ nét cả về kỹ thuật lập pháp cũng như nội dung các quy định,đồngthời khắc phục được tình trạng manh mún, phân tán, vừa thiếu lại vừa thừa của các văn bản tố tụng thời kỳ trước.
Ra đời trong bối cảnh nền kinh tế – xã hội đang bước vào giai đoạn phát triển và đáp ứng nhu cầu cấp thiết của công cuộc cải cách tư pháp, BLTTDS 2004 nói chung cũng như các quyđịnhvề phiên tòa sơ thẩm dân sự nói riêng đã thể hiệnsựtiến bộ cótính đột phá và địnhhướngvề lâu dài. Ngoài những điểm mới nêu trên,sựđổi mới cótính bao trùm được thể hiện trong từng điều luật đó là xu hướng hạn chế vai trò của loại hình tố tụng thẩm vấn, đề cao vai trò của loại hình tố tụng tranh tụng trên cơ sở kết hợp hài hoà vấnvà phát huy đối đa những ưuđiểmcủa hai loại hình tố tụng trên. Các quyđịnh về phiên tòa sơ thẩm dân sự trong giai đoạn này cũng hạn chế tối đa sự can thiệp của yếu tố nhà nước vào “việc của hai bên”, khắc phục tính mệnh lệnh, hành chính các hoạt độngcủa tòa án trong quan hệ tố tụngđối với những người tham gia tố tụng.Đềcao và tôn trọng vai trò, vị trí, quyền tựđịnh đoạt của các đươngsự trong quá trình xét xử.
Các quy định của BLTTDS nói chung và về phiên tòa sơ thẩm dân sự nói riêngđã cơ bản đápứngđược yêu cầucủa tiến trình cải cách tư pháp. Trong thời gian tới, trên cơ sở nhữngkết quả đã đạt được,việc sửa đổi,bổ sung chế định này là rất cần thiết, góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật TTDS.
Nhìn chung, sự hình thành và phát triển của pháp luật TTDS Việt Nam về phiên tòa sơ thẩmtừkhi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời năm 1945 đã tạo nên bức tranh lịch sử của chế định phiên tòa sơ thẩm dân sự. Các quy định của pháp luật TTDS về phiên tòa sơ thẩm là sự kế thừa và phát triển có tính biện chứng của các quyđịnhởgiai đoạn sau so với giai đoạn trước.Từsựra đời của Sắc lệnh 13 ngày 24/1/1946 là văn bản đầu tiênchứa đựng mộtvài quyđịnh về xét xửsơ thẩm cho đến BLTTDS 2004 cho thấy các quy định về phiên tòa sơ thẩmdân sự bắt đầu bằngcác quy định đơn lẻ và phân tán sau đó phát triển thành một chế định thống nhất và hoàn chỉnh,từquy định có giá trịpháp lý thấp và không ổn định cho đến các quy định với tư cách là một chế định quan
trọng của BLTTDS – văn bản có giá trị pháp lý và tính ổn định cao.Từsự giản đơn vềmặt hình thức cho đến một chế định pháp lý thể hiện trình độ kỹ thuật lập pháp tiên tiến. Nội dung các quy định ngày càngđược sửa đổi,bổ sung theo hướngđầy đủ,tách bạch, cụ thể và rõ ràng hơn.
Tóm lại, các vấn đề lý luận về phiên tòa sơ thẩm dân sự nhằm giải quyết một sốnội dung như: Làm rõ khái niệm vụ án dân sự – cơ sở làm phát sinh phiên tòa sơ thẩm dân sự, cơ chế giải quyết vụ án dân sự từ đó đưa ra khái niệm về phiên tòa sơ thẩm dân sự đồngthời nêu lên đặc điểm, vị trí, ý nghĩa cũng như các nguyên tắc điều chỉnh phiên tòa sơ thẩm dânsự.Ngoài ra, phần lý luận còn trình bày một số nét khái quát lịch sửhình thành và phát triển các quy định của pháp luật TTDS về phiên tòa sơ thẩm. Từ đólàm cơ sở cho việc trình bày, phân tích bản chất pháp lý các quy định của pháp luật hiện hành và phương hướng hoàn thiện các quy định về phiên tòa sơ thẩmdân sự.
Chương 2
các quy định về Phiên tòa sơ thẩm
trong Bộ luật tố tụng dân sự
2.1. Quy định chung về phiên tòa sơ thẩm 2.1.1. Yêucầuđối với phiên tòa sơ thẩm
Bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động xét xửcủatòa án, phiên tòa sơ thẩm dân sự còn phải đảm bảo những yêu cầu sau đây:
Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ ánra xét xửhoặc trong giấy báo mở lại phiên tòa trong trường hợp hoãn phiên tòa. Đây là quy định mới của BLTTDS 2004 (Điều 196) nhằm đảm bảo cho những người tham gia tố tụng có mặt đầy đủ tại phiên tòa, tránh phải đi lại nhiều lần đồngthời nâng cao chất lượng giải quyết vụ án.
Theo Điều 197 BLTTDS thì phiên tòa sơ thẩm xét xử trực tiếp, bằng lời nói vàliên tục. Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của nguyên đơn,bị đơn,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađươngsựvànhững người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứngcứđã thu thậpđược; nghe kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án trong trường hợp có kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiên tòa và các chứngcứđã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa.
Việc xét xửbằng lời nói phải được tiến hành liên tục,trừthời gian nghỉ. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải xét xửvụ án từkhi bắt đầu cho đến khi kết thúc trừtrường hợp phải thay thế thành viên Hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt.
Xét xửtrực tiếp, bằng lời nói và liên tụcđảm bảo cho “Hội đồng xét xửthẩmđịnh và xác minh đầy đủ, chính xác các tài liệu chứng cứ của vụ án và đánh giá chúng
một cách toàn diện” [34, tr. 267], những người tham gia tố tụng có thể theo dõi được toàn bộ diễnbiến của phiên tòa một cách xuyên suốt, làm cho lời trình bày và tranh luận của các bên được tập trung và lôgic,đảmbảo giải quyết dứt điểm vụ án này rồi mới chuyển sang giải quyết vụ án khác.
Trong trườnghợp đặc biệt,việc xét xử có thểtạmngừng không quá năm ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xửvụ án được tiếp tục.
2.1.2. Các chủ thể trong phiên tòa sơ thẩm
2.1.2.1. Thành phần Hội đồng xétxửsơ thẩm
Thành phần Hội đồng xét xử phiên tòa sơ thẩm dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Đối với một số trườnghợp đặc biệt, Hội đồngxét xử sơ thẩm có thể gồm hai thẩm phán và bahộithẩm nhân dân(Điều52 BLTTDS). Đây là điểmmới của BLTTDS 2004 trên cơsởkế thừa PLTTGQCVADS và các văn bản tố tụng khác nhưPLTTGQCVAKT, PLTTGQCVALĐ. Việc quy định thành phần Hội đồngxét xửsơthẩm vụ án dân sự gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân trong trườnghợp đặc biệt theo quy định của BLTTDS 2004 nhằm đáp ứng việc giải quyết những vụ án dân sự cótính chất phức tạp, tài sản tranh chấp có giá trị lớn hay những vụ án còn chưa thống nhất về đườnglối xét xử, khó khăn trong việc áp dụng pháp luật.Từđó nâng cao chất lượng của bản án được tuyên tại phiên tòa sơ thẩm.
Ngoài ra, BLTTDS mới còn quyđịnh về thẩm phán và hội thẩm nhân dândựkhuyết. Trong quá trình xét xử, nếu có thành viên nào của Hội đồng xét xử vì lý do bất khả kháng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa được nữa thì việc thay thế thành viênđó như sau:
– Trong trường hợp có thẩm phán, hội thẩm nhân dân không thể tiếp tục tham gia xét xửvụ án nhưng có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dựkhuyết và họ có mặt tại phiên tòa ngay từ đầu thì những người này được tham gia xét xử tiếp vụ án.
– Trong trường hợp Hội đồng xét xử có hai thẩm phán, nếu thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tiếp tục tham gia xét xử được thì thẩm phán là thành viên Hội đồng xét
xửlàm chủ tọa phiên tòa và thẩm phán dựkhuyết được bổ sung làm thành viên Hộiđồngxét xử.
Nếu không có thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không có thẩm phán đểthay thế thì vụ án phải được xét xửlại từđầu (Điều 198). “Quy định việc thay thế thành viên trong trường hợp đặc biệt này nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng vụ án, tránh việc phải hoãn phiên tòa. Việc xác định trong trường hợp nào cần có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết do Chánh án tòa án quyết định” [13, tr. 50].
Trong trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm phải thay đổi thành phần Hội đồng xét xử do có căn cứ tại các điều 46 – 47, theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLTTDS thì Hộiđồngxét xửthảo luận và quyết định việc thay đổi đồngthời ra quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa, Thư ký phiên tòa giúp việc cho Hội đồngxét xửchuẩn bị công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên tòa và tiến hành các hoạt động tố tụng trong quá trình xét xử theo quy định của BLTTDS
2.1.2.2. Những người tham gia phiên tòa sơ thẩm
Để phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự được tiến hành, Tòa án phải triệu tập các đương sự và những người tham gia tố tụng khác. Theo quy định tại các điều, từ Điều 199 đến Điều 207 BLTTDS, nhữngngườitham giatốtụngtạiphiên tòagồmcó: Nguyên đơn,bịđơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và kiểm sát viên (nếu có).
Đươngsự là thành phần quan trọng của vụ án, họ phải có mặt tại phiên tòa khi Tòa án xét xử. Theo Điều 202 BLTTDS, Tòa án chỉ xét xử vắng mặt đương sự trong các trường hợp sau:
– Nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;
– Nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa;
– Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đươngsự đã được triệu tậphợp lệ đến lần thứhai mà vẫn vắng mặt.
Trong trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lầnthứhai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từbỏviệc khởi kiện, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án mà khôngcầncó sựđồngý của những người tham gia tố tụng khác. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn (khoản 2 Điều 199 BLTTDS).
Tòa án cũng ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêucầuđộc lậpcủa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập khi họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứhai mà vẫn vắng mặt nếu nguyên đơn và bị đơn đồng ý. Trường hợp này họ có thể khởi kiện lại đối vớiphần yêu cầuđộc lập của mình nếu thời hiệu vẫn còn
(Điều 201 BLTTDS).
Để tiến hành phiên tòa sơ thẩm dânsự,sựcó mặt của những người tham gia phiên tòa là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, trên thực tế không phải vụ án nào cũng có mặtđầy đủ thành phần thamdựphiên tòa. Vì có nhiều nguyên nhân khách quan mà họ cóthể không có mặt tại phiên tòa. Tùy từng trường hợp Tòa án vẫn tiến hành việc xét xử, hoặc phải hoãn phiên tòa khi vắng mặt người tham gia phiên tòa sơ thẩm.
2.1.3. Các trường hợp hoãn phiên tòa sơ thẩm
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đươngsựvà việc xét xửđược tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. BLTTDS quy định các trường hợp hoãn phiên tòa sơ thẩm như sau:
– Nguyên đơn,bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảovệquyền và lợiích hợp pháp củađươngsựvắng mặt lầnthứnhất có lý do chính đáng (Điều 199, 200, 201, 203 BLTTDS).
– Trường hợp phải thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư kí tòa án theo khoản 2 Điều 51 BLTTDS.
– Trường hợp phải thay đổi người giámđịnhmà không có người thay thế như quyđịnh tại khoản 2 Điều 72 hoặc khi Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại theo quy định tại khoản 4 Điều 230 BLTTDS.
– Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế,trừtrườnghợp đươngsự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử (khoản 2 Điều 206).
– Nếu người làm chứng, người giámđịnh vắng mặt mà không có người khác thay thế thì tùy từng trường hợp cụ thể,Hội đồngxét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành việc xét xử (Điều 204, 205 BLTTDS).
– Vắng mặt kiểm sát viên trong trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa hoặc trong trườnghợpkiểm sát viên bị thayđổi hoặckhông thể tiếp tục tham gia phiên tòa màkhông có kiểm sát viên dự khuyết để thay thế (Điều 207 BLTTDS).
– Ngoài ra,Điều 215 BLTTDS quy định nếu có người tham gia tố tụng vắng mặttại phiên tòa mà không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa,nếucó người đề nghịthì Hội đồng xét xử có thể chấp nhận hay không chấp nhận việc hoãn phiên tòa.
Trong trường hợp Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa thì thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá 30 ngày kể từngày ra quyết định hoãn phiên tòa. Quyếtđịnh hoãn phiên tòa phải được thông báo cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu sau khi hoãn phiên tòa mà tòa án không thể mởlại phiên tòađúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa thì tòa án phải thông báo lại cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng biếtvềthời gian,địa điểmmở lại phiên tòa (Điều 208 BLTTDS).
2.1.4. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
Trước khi khai mạc phiên tòa xét xửsơ thấm, Thư ký phiên tòa tiến hành các công việc chuẩn bị khai mạc phiên tòa theo quy định tại Điều 212 BLTTDSnhư sau:
– Phổ biến nội quy phiên tòa;
– Kiểm tra, xácđịnh sự cómặt, vắngmặt củanhững người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của tòa án; nếu có người vắng mặt thì cần phải làm rõ lýdo;
– ổn định trật tựtrong phòngxửán;
– Yêu cầu mọi người trong phòngxửán đứng dậy khi Hội đồng xét xửvào phòng xử án.
Việc thực hiện các công việc trong bước chuẩn bị khai mạc phiên tòa là nhiệm vụ củathư ký tòa án. “Đây là thủtục bắt buộc đảm bảo cho phiên tòa diễn ra có sựtham dự đầy đủ của những người tham gia tố tụng, kiểm tra lại xem có trường hợp nào phải hoãn phiên tòa không đồng thời còn nhằm xác lập lại trật tự tại phiên tòa trước khi khai mạc” [34, tr. 274].
Ngoài những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm nêu trên, BLTTDS còn cócác quy định về nội quy phiên tòa sơ thẩm (Điều 209), yêu cầu đối với biên bản phiên tòa (Điều 211),thủtục ra bản án và quyết định của Tòa án tại phiên tòa (Điều 210). Các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm dânsựlà tiền đề quan trọng để Hội đồng xétxửgiải quyết tốtphần nộidungcủavụ án đượctiến hành ởcác giai đoạntiếp theo của phiên tòa sơ thẩm, giúp cho việc ra bản án được thấu tìnhđạt lý,công bằng, khách quan và đúng luật.
2.2. Thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm 2.2.1. Thủ tục bắt đầu phiên tòa
2.2.1.1. Khai mạc phiên tòa
Sau khi các bước chuẩn bị khai mạc phiên tòa được tiến hành. Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa tiến hành thủ tục khai mạc phiên tòa. “Đây là thủ tục mang tính chất hành chính nhưng bắt buộc phải thực hiện trước khi Hội đồng xét xử tiến hành xétxửvụ án”
[42, tr. 97]. Việc khai mạc phiên tòa được thực hiện như sau (Điều 213 BLTTDS):
– Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử.
– Thư ký phiên tòa báo cáo với Hội đồng xétxửvềsựcó mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt.
– Chủ tọa phiên tòa kiểm tralại sự cómặt củanhững người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra và kiểm tra căn cước của đươngsự.
– Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụcủa các đươngsựvà của những người tham gia tố tụng khác.
– Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ,tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch.
– Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giámđịnh,người phiên dịch xemhọ có yêu cầu thay đổi ai không.
2.2.1.2 Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
Trong trường hợp có người yêu cầu thay đổingười tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết định sau khi ngheý kiến của người bị yêu cầu thay đổi.Hội đồngxét xửthảo luận tại phòng nghị án vàquyết định theo đa số.Trong trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định,ngườiphiên dịch thì Hội đồngxétxửra quyếtđịnh hoãn phiên tòa. Quyếtđịnh hoãn phiêntòa được chủtọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xửký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết. Trường hợp không chấp nhận thìphải nêu lý do (Điều 214 BLTTDS).
2.2.1.3. Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt
Theo quy định tại Điều 215 BLTTDS, khi có người tham gia tố tụng vắngmặt
tại phiên tòa mà thuộc trường hợp Tòa án phải hoãn phiên tòa thì Hội đồng xét xử xem xét và quyết định hoãn phiên tòa.
Nếu những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án buộc phải hoãn phiên tòa (như vắng mặt người làm chứng, người phiên dịch, người giám định) thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghịthì Hội đồng xét xử xem xét quyết định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do. Quyếtđịnhhoãn phiên tòa phảiđược Hội đồngxétxửthảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản.
Ngoài ra, trước khi bắt đầu thủ tục hỏi tại phiên tòa. Trong trường hợp cần thiết, chủ tọa phiên tòa có thể cách ly những người làm chứng với nhau hoặc người làm chứng với các bên đương sựđể đảm bảotính khách quan trong quá trình xét xử (Điều 216 BLTTDS).
2.2.2. Thủ tục hỏi tại phiên tòa
Thủ tục hỏi tại phiên tòa là thủ tục chính thức đi vào giải quyết phần nội dung của vụ án. Thủ tục hỏi được quy định tại cácđiều,từĐiều 217 đến Điều 231 BLTTD.
Việc hỏi tại phiên tòa là để xem xét các chứng cứ trong vụ án thông qua việc hỏi những người tham gia tố tụng. Vì vậy, Hội đồngxét xửphải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án bằng cách nghe lời trình bày của các đươngsự.
* Thủ tục hỏi được bắt đầu bằng việc chủ tọa phiên tòa hỏi đương sự các vấn đềsau đây:
– Hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay không;
– Hỏi bị đơn có thay đổi,bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tốhay không;
– Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập hay không (Điều 217 BLTTDS).
Việc chủ tọa phiên tòa hỏiđươngsụ các vấn đề như trên trước khi hỏivề nội dung vụ án nhằm khẳng định quyền tựđịnh đoạt của đươngsự trong việc giải quyết vụán. Tòa án chỉ tiếp tục giải quyết vụ án khi đươngsựvẫn tiếp tục yêu cầu. Trong quátrình tố tụng các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi, bổ sung các yêu cầu của mình; có quyền thỏa thuận với nhau về các vấn đề tranh chấp mà không trái pháp luật và đạođức xã hội.
Nếu các bên đươngsự đề nghị được thay đổi,bổ sung hoặc rút yêu cầu thì Hộiđồngxét xử sẽ xem xét vấn đề này như sau (Điều 218 BLTTDS):
– Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu.
– Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình vàviệc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồngxét xử chấp nhận và đình chỉ xét xửđối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêucầu đươngsự đã rút.
Khi Hội đồng xét xử đã xem xét chấp nhận cho các bên đương sự được quyền thay đổi,bổ sung một phần hay toàn bộ yêu cầu thì sẽ dẫn đến việc thay đổi địa vị tốtụng của các đương sự. Điều 219 BLTTDS đã quy định việc thay đổi đó như sau:
– Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữnguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trởthành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.
– Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện,bịđơn rút toàn bộ yêu cầuphản tốnhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quantrởthành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.
Sau khi xác nhận lại yêu cầuvà tư cáchtố tụng của những người tham giatốtụng. Chủ tọa phiên tòa phải hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Trong trườnghợpcác đươngsựthỏa thuận được với nhauvề
việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện và không trái pháp luật hoặc đạođức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự vềviệc giải quyết vụ án. Quyết định công nhận sựthỏa thuận của đươngsựvề việc giải quyết vụ án phải được lập thành văn bản và có hiệu lực pháp luật (Điều 220 BLTTDS).
* Nghe lời trình bày của đươngsự:
Trong trườnghợpcácđươngsựvẫncó yêucầucủamình và khôngtựthỏa thuậnđược với nhau về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử bắt đầu việc xét xử vụ án bằng việc nghe lời trình bày của các đương sự về các yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ liên quan đếnvụ án. Các bên đương sự trình bày tại phiên tòa như sau:
– Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày yêu cầu của nguyên đơn và chứngcứ để chứngminh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến. Trong trường hợp cơ quan,tổ chức khởi kiện vụ án thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày về yêu cầu khởi kiện và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.
– Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu phản tố,đề nghị của bị đơn và chứngcứđểchứng minh cho đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến.
– Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ýkiến củangườicó quyền lợi, nghĩavụ liên quanđối vớiyêu cầuđềnghị của nguyên đơn,bị đơn;yêu cầu độclập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan và chứng cứ để chứng minh cho đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Người có quyền lợi. nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.
Trong trường hợp nguyên đơn,bị đơn,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày về yêu cầu, đề nghị của mình và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu,đề nghị đó là có căn cứvà hợp pháp.
Quy định về thủ tục hỏi tại phiên tòa dân sựđã thể hiện chủ trươngđổi mới trong hoạt động tư pháp của Đảng và Nhà nước ta. Đó là việc mở rộng hơn nữa quyền dân chủ và vai trò của đươngsự,những người tham gia tố tụng khác trong việc cung cấp chứng cứ, thực hiện nghĩa vụ chứng minh tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Xu hướng tiến tới nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa, đặc biệt là trong thủ tục hỏi được thể hiện cụ thể trong một số quy định mới so với PLTTGQCVADS. BLTTDS quy định trong trường hợp nguyên đơn,bịđơn,ngườicó quyền lợi, nghĩavụliên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày về yêu cầu,đề nghị của mình và chứngcứ để chứngminh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Tại phiên tòa, đươngsự, người bảovệ quyền và lợi ích hợp pháp củađươngsựcóquyền bổ sung chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình.
* Trình tựhỏi tạiphiên tòa sơ thẩm (Điều 222, 223, 224, 225, 226, 230 BLTTDS):
Sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự, việc hỏi được tiến hành theo thứtựChủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến hội thẩm nhân dân, sau đó đến người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đươngsự,đươngsựvà những người tham gia tố tụng khác; trường hợp có kiểm sát viên tham gia phiên tòa thì kiểm sát viên hỏi sau đương sự. Việc hỏi được thực hiện đối với từng người và từng vấn đề một,các đương sự có thể
tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trả lời thay cho đương sự và sau đó đương sự có thể trả lời bổ sung.
Đối với các đương sự, việchỏi chỉxoay quanh nhữngvấn đềmà đương sựvàngười bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củahọ trình bày chưa rõ hay mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn giữa các phần trình bày của các đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này. “Mục đích của tố tụng hỏi tại phiên tòa là đểxem xét, thẩm tra các tài liệu, chứng cứ của vụ án, thông qua đó làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án mà các bên đương sự còn có các ý kiến khác nhau” [34, tr. 282].
Đối với người làm chứng, trước khi hỏi, chủ tọa phiên tòa phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ với các đương sự trong vụ án; nếu người làm chứng là người chưa thành niên
thì chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám hộ hoặc thầy giáo, cô giáo giúpđỡđể hỏi.Nếucó nhiều người làm chứng thì phải hỏiriêng từng người một. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng trình bày rõ những tình tiết củavụ án mà họ biết. Sau khi người làm chứng trình bày xong thì chỉ hỏi thêm người làm chứng những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó,mâu thuẫn với lời trình bày của đươngsự, người bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của đương sự. Trong trường hợp cần thiết phải đảm bảo an toàn cho người làm chứng và những người thân thích của họ,Hội đồngxét xửkhông tiết lộ những thông tin về nhân thân của người làm chứng và không để những người trong phiên tòa nhìn thấy họ.
Đối với người giám định,họ phải trình bày nội dung kết luận giámđịnh của mình về vấn đề được giao giám định. Người giám định có quyền giải thích, bổ sungvềkếtluận giám định,phân tích các căncứđểđưa ra kết luận giámđịnh trong khi trình bày. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền nhận xét về kết luận giám định. Người giám định phải trả lời các câuhỏi củangười tham gia
tố tụng(hay kiểm sát viên) về những vấn đề còn chưa rõ, hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giámđịnh hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác trongvụ án. Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kết luận giámđịnh được công bố tạiphiên tòa và cóyêu cầu giám định bổsung hoặc giámđịnh lại, nếu xét thấy việc giám định bổsung, giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung, giám định lại và quyết định hoãn phiên tòa. Trong trường hợp người giám định không tham gia phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa công bố kết luận giám định
Trong khi tiến hành việc hỏi tại phiên tòa, vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vậtchứngđược đưa rađể xem xét. Điều này giúp Hội đồng xét xử xem xét các chứngcứđược đầy đủ, khách quan, đồng thời giúp cho cácđươngsự thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh cũng như quyền bảo vệ trên cơ sở các chứngcứ được đưa ra để qua đó làm sángtỏ sựthật khách quancủavụ ánđược bộc lộ qua việc hỏi và trình bày của các đươngsự. Để bảo đảmcác chứng cứ được xem xét một cáchđầyđủ, toàn diện trongvụ
án, BLTTDS đã có quy định mới đó là khi cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với các đươngsự đến xem xéttạichỗnhữngvậtchứng khôngthểđưa đến phiên tòađược.Theo yêu cầu của kiểm sát viên, người tham gia tố tụng hoặc khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xửcho nghe băng,đĩaghi âm ghi hìnhtạiphiên tòa,trừtrườnghợpcầngiữbímậtnhà nước, giữ gìn thuần phongmỹ tụccủa dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư củacá nhân theo yêu cầu của đươngsự.
Ngoài các hoạt độngnêu trên,để giúp cho việc xem xét vụ án một cách toàn diện,đầy đủ,Hội đồng xét xửkhi thấy cần thiết có thể công bố các tài liệu của vụ án. Hội đồngxét xử công bố các tài liệu của vụ án trong các trường hợp sau:
– Người tham gia tố tụng không có mặt tại phiên tòa mà trong giai đoạn chuẩn bị xét xửđã có lời khai;
– Những lời khai của người tham gia tố tụng tại phiên tòa mâu thuẫn với những lời khai trước đó;
– Trong các trường hợp khác mà Tòa án thấy cần thiết hoặc có yêu cầu của kiểm sát viên, người tham gia tố tụng.
– Trong trườnghợp đặc biệt cần giữbí mật nhà nước,giữgìn thuần phongmỹtục của dân tộc,giữgìn bí mật nghề nghiệp, bí mậtkinh doanh, bí mật đời tư của cá
nhân theo yêu cầu của đương sự thì Hội đồng xét xử không công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên tòa hỏi kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xemhọcó yêu cầu vấn đề gì nữa không; trường hợp có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc hỏi. Nếu không có ai nêu ra vấn đề gì nữa thì chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc việc hỏi vàchuyển sang phần tranh luận.
2.2.3. Tranh luận tại phiên tòa
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM


