Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng chống tội phạm luôn là nhiệm vụ quan trong của bất kỳ nhà nước nào. Để công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt được hiểu quả cao thì việc phân loại, phân hóa tội phạm một cách khoa học, chính xác có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về định nghĩa tội phạm thì tính phải bị xử lý hình sự là nội hàm của định nghĩa tội phạm, tuy nhiên trên thực tế, không phải tất cả những người phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự như là một phần của quá trình xử lý hình sự. Trong một số trường hợp, khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định, thì một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, lịch sử đã minh chứng dân tộc ta là dân tộc có bản chất khoan dung, nhân đạo. Bản chất nhân đạo của dân tộc ta được thể hiện qua từng gia đoạn lịch sử khác nhau nhưng rõ nét nhất, tiêu biểu nhất ở thời đại Hồ Chí Minh. Tính khoan hồng, nhân đạo được thể hiện trong chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam và pháp luật của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà đặc biệt là chính sách hình sự. So với các thời đại trước, thời đại Hồ Chí Minh ghi nhận pháp luật hình sự phát triển rực rỡ. Những chế định pháp luật hình sự thể hiện sự khoan hồng, nhận đạo của Đảng và Nhà nước ngày càng rộng về phạm vi và hoàn thiện về quy phạm. Tiêu biểu có thể nói đến là chế định miễn trách nhiệm hình sự.
Trước năm 1985, dù chưa được quy định thành một chế định độc lập, tuy nhiên trong thực tiễn một số văn bản mang tính pháp lý đã quy định về miễn trách nhiệm hình sự với các tên gọi khác nhau như “miễn nghị “, “miễn tố“, “xá miễn”, “tha bổng”, “miễn hết các tội “, “tha miễn trách nhiệm hình sự“… Điều này thể hiện tại các văn bản thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 nhưng rõ nét và tiêu biểu là: Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 xá miễn cho một số tội phạm trước ngày 19/08/1945; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970; Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 10/7/1982…;
Nếu Bộ luật Hình sự năm 1985 là lần pháp điển hóa luật hình sự lần thứ nhất, thì với việc Quốc hội thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999 là lần pháp điển hóa thứ hai luật hình sự Việt Nam. Tại Bộ luật Hình sự năm 1999, các quy định về miễn trách nhiệm hình sự được sửa đổi hoàn thiện hơn. Dù đã được nghiên cứu sâu, tuy nhiên qua thực tiễn áp dụng, chế định miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999 vẫn có những tồn tại nhất định như chưa có định nghĩa pháp lý về miễn trách nhiệm hình sự cũng như hậu quả pháp lý của việc miễn trách nhiệm hình sự.
Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đã có những quy định về miễn trách nhiệm hình sự theo hướng nhân đạo hơn về mặt chính sách và hoàn thiện, tiến bộ hơn về mặt quy phạm. Tuy nhiên qua nghiên cứu và thực tiễn áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 vẫn bộc lộ một số điểm chưa đạt về mặt kỹ thuật lập pháp cũng như chưa chính xác về mặt khoa học. Do đó công tác nghiên cứu theo hướng vừa sâu vừa rộng để có được nhận thức đúng đắn khi áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về miễn trách nhiệm hình sự trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương cũng như có những đóng góp mang tích khoa học pháp lý nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của chế định này. Việc nghiên cứu các quy định về “Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” vừa có ý nghĩa lý luận – thực tiễn và pháp lý quan trọng. Vì sự cấp thiết đó nên chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài này làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc các quy định của pháp luật hiện hành về miễn trách nhiệm hình sự. Từ những nghiên cứu mang tính lý luận đó, trên cơ sở thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất hướng hoàn thiện của quy định về miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu như đã đề cập ở trên, luận văn phải giải quyết được những nhiệm vụ như sau:
Nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc các quy định của pháp luật hiện hành về miễn trách nhiệm hình sự. Từ đó tìm ra những điểm mới, so sánh những điểm khác và những điểm kế thừa các quy định của pháp luật hình sự trước đó về miễn trách nhiệm hình sự.
Từ những nghiên cứu mang tính lý luận đó, trên cơ sở thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đặc biệt là thực tiễn các vụ án mà các cơ quan tiến hành tố tụng thành phố Đà Nẵng, luận văn phân tích để làm sáng tỏ tính đúng đắn khi các cơ quan tiền hành tố tụng trong vụ án đó áp dụng hoặc không áp dụng quy định về miễn trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở các phân tích đó, luận văn phải đề xuất hướng hoàn thiện của quy định về miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành cũng như các giải pháp để các các cơ quan tiến hành tố tụng thành phố Đà Nẵng áp dụng chính xác các quy định về miễn trách nhiệm hình sự.
4. Đối tượng và p hạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ mục đích, nhiệm vụ, đối tượng mà luận văn nghiên cứu là các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm hình sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của miễn miễn trách nhiệm hình sự. Từ những hiểu biết về lý luận, thông qua các số liệu thống kê từ thực tiễn áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự tại thành phố Đà Nẵng để đưa ra các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định cũng như hướng hoàn thiện chế định này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Ở cấp độ luận văn thạc sĩ, tác giả nghiên cứu định miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam năm 2015 và nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2017 cũng như từ khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật cho đến nay.
5. Cơ sở luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, các thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lý luận về pháp luật, xã hội học pháp luật, lịch sử pháp luật, tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự cung như triết học cũng là cơ sở lý luận của luận.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp đánh giá, so sánh, tổng hợp, hệ thống, lịch sử, lôgic, phân tích …là các phương pháp nghiên cứu trong luận văn. Các phương pháp này được thực hiện trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Xây dựng định nghĩa khoa học của khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của miễn trách nhiệm hình sự. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt và loại trừ trách nhiệm hình sự.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu việc áp dụng các quy phạm pháp luật của chế định miễn trách nhiệm hình sự trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự tại thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở phân tích, đánh giá những số liệu thống kê trên thực tế, từ đó rút ra những thiếu sót, hiểu biết nhầm lẫn, những khuyết điểm và những vướng mắc trong việc áp dụng quy phạm pháp luật của chế định miễn miễn trách nhiệm hình sự, từ đó tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp phần tạo sự nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất cũng như bổ sung một số trường hợp miễn trách nhiệm hình sự cần phải được nhà làm luật ghi nhận trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử phát triển các quy định pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự.
Chương 2: Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Các yêu cầu và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự.
Bên cạnh đó, luận văn còn có phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của trách nhiệm hình sự.
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự
Trong khoa học luật hình sự, khi nêu vấn đề liên quan đến khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, chúng ta ngay lập tức gắn nó với khái niệm trách nhiệm hình sự. Hay nói cách khác, khái niệm miễn trách nhiệm hình sự xuất phát từ khái niệm trách nhiệm hình sự. Tùy từng giai đoạn phát triển của khoa học luật hình sự cũng như quan điểm pháp lý của các nhà khoa học luật hình sự mà khái niệm trách nhiệm hình sự có nội hàm khác nhau. Chẳng hạn:
Theo quan điểm của GS.TSKH Đào Trí Úc thì “trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước” [65, tr.41];
Tuy nhiên theo TSKH Lê Cảm thì “trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định” [8, tr.122];
Bên cạnh quan điểm của GS.TSKH Đào Trí Úc và TSKH Lê Cảm thì một nhà khoa học khác là GS.TS Đỗ Ngọc Quang thì định nghĩa: “Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện” [49, tr.14];
Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự, Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 quy định chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại bên cạnh con người là chủ thể như trước đây. Như vậy, do có sự thay đổi trong khái niệm tội phạm mà khái niệm trách nhiệm hình sự cũng có thay đổi căn bản.
Trên cơ sở tổng kết, kế thừa các định nghĩa về trách nhiệm hình sự của các nhà khoa học đi trước cũng như quan điểm về khái niệm trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành thì chúng tôi mạnh dạn đưa ra khái niệm trách nhiệm hình sự dưới góc độ khoa học luật hình sự như sau: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước do luật hình sự quy định đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội.
Thông qua khái niệm về trách nhiệm hình sự, chúng ta dễ dang nhận ra được cơ sở và những điều kiện của của trách nhiệm hình sự. Hay nói cách khác, trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra khi có người, pháp nhân thương mại phạm một tôi đã được Bộ luật Hình sự quy định.
1.1.2. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự
Trên cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, chúng ta có thể hiểu rằng, khi một chủ thể thỏa mãn các cơ sở, điều kiện pháp lý ấy thì chủ thể đó phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn, không phải lúc nào cũng vậy. Chính các chủ thể ấy, trong những điều kiện nhất định dựa trên những căn cứ luật định có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự. Khi nghiên cứu khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, chúng ta dễ dàng nhận thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa cơ sở và điều kiện của trách nhiệm hình sự với cơ sở và điều kiện của miễn trách nhiệm hình sự. Hay nói cách khác, khái niệm miễn trách nhiệm hình sự đi ra từ và có liên hệ mật thiết với khái niệm trách nhiệm hình sự.
Với tư cách chế định tiêu biểu thể hiện sự cụ thể hóa bản chất khoan hồng, nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, miễn trách nhiệm hình sự là chế định được đặc ra từ rất sớm, khi Đảng lãnh đạo nhân dân giành được độc lập. Trước năm 1985, miễn trách nhiệm hình sự chưa được quy định thành một chế định trong Bộ luật Hình sự, tuy nhiên nội dung miễn trách nhiệm hình sự đã tồn tại trong các khái niệm như “miễn nghị “, “miễn tố“, “xá miễn”, “tha bổng”, “miễn hết cảc tội “, “ tha miễn trách nhiệm hình sự” nằm rãi rác trong các văn bản mang tính quy phạm pháp luật của chính quyền lúc bấy giờ. Sau năm 1985 ( lần đâu tiên Nhà nước ta pháp điển hóa luật hình sự bằng Bộ luật Hình sự 1985). Pháp luật hình sự nước ta mà cụ thể là Bộ luật Hình sự đã tập hợp các quy phạm quy định về cơ sở và điều kiện miễn trách nhiệm hình sự thành một chế định luật pháp hoàn thiện. Trãi qua thời gian, khái niệm miễn trách nhiệm hình sự được các nhà khoa học luật hình sự dần hoàn thiện nhưng vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể là:
Theo GS-TSKH Đào Trí Úc thì Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định” [65, tr. 269];
Trong tác phẩm của mình, TSKH Lê Cảm thể hiện quan điểm của mình khi nêu khái niệm Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó” [11, tr.7];
Chi tiết hơn, tác giả Lê Thị Sơn, trong tác phẩm “Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự”, tác giả nêu khái niệm: Miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội có nghĩa là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo cả miễn phải chịu các hậu quả tiếp theo do việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước đem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn bị mang án tích. Trong trường hợp này, miễn trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm miễn chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn mang án tích” [55, tr. 19-20]…
Các khái niệm trên dù dài ngắn khác nhau, tuy nhiên nội hàm của nó chứa đựng đầy đủ các nội dung, các dấu hiệu nhận biết. Hơn thế nữa các khái niệm đó đều thống nhất khẳng định khái niệm miễn trách nhiệm hình sự phải trả lời được các câu hỏi sau đây:
Bản chất pháp lý của nó là gì;
Hình thức thể hiện của nó như thế nào;
Cơ quan Nhà nước nào có thẩm quyền nào áp dụng;
Đối tượng được áp dụng là ai;
Phải đáp ứng căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể nào.
Đối chiếu các khái niệm trên đây với quy định của pháp luật hình sự hiện hành, chúng ta dễ dàng thấy các khái niệm trên không còn đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể là các khái niệm trên chưa nêu ra được ngoài con người với tư cách là chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự thì pháp nhân thương mại cũng là chủ thể.
Bổ sung đặc điểm về chủ thể là pháp nhân thương mại, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm miễn trách nhiệm hình sự có thể được định nghĩa như sau: Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam mà nội dung thể hiện sự hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi, pháp nhân thương mại trong việc thực hiện hành vi đó, do các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định.
1.1.3. Các đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự
Sau khi đưa ra được khái niệm, chúng tôi có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự như sau:
Thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định minh chứng cho bản chất nhân đạo, khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta thông qua chính sách hình sự nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Nó phản ánh mục đích của quá trình xử lý hình sự theo quan điểm của Đảng và Nhà nước là nhằm giáo dục người phạm tội trở thành người tốt. có ích cho xã hội. Phản ánh chủ trương đúng đắn rằng việc nghiêm trị phải kết hợp với khoan hồng”, trừng trị phải kết hợp với giáo dục, cải tạo.
Thứ hai, khi được miễn trách nhiệm hình thì chủ thể được miễn không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi phạm tội đã đã thực hiện. Hay nói cách khác, trong những giai đoạn tố tụng nhất định, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thấy rằng việc áp dụng các chế tài hình sự đối với chủ thể là không còn thiết mà vẫn đảm đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm. Tất nhiên việc đánh giá như thế nào là không còn cần thiết áp dụng chế tài hình sự phải dựa trên căn cứ pháp lý và những điều kiện nghiêm ngặt do luật định.
Thứ ba, chỉ những người, pháp nhân thương mại mà hành vi của họ đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm mới là đối tượng được xem xét miễn trách nhiệm hình sự. Nếu hành vi không cấu thành tội phạm thì phải được xem là không phạm tội chứ không được miễn trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ tình trạng pháp lý của chủ thể thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự và không phạm tội là hoàn toàn khác biệt. Đặc điểm này của khái niệm miễn trách nhiệm hình sự cũng là đặc điểm tiêu biểu để phân biệt giữa miễn trách nhiệm hình sự và hành vi không cấu thành tội phạm.
Thứ tư, khi thỏa mãn các căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định, việc miễn trách nhiệm hình sự phải được cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền quyết định và thể hiện bằng hình thức văn bản. Cụ thể chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong từng giai đoạn tố tụng gắn liền với các cơ quan đó mới có thẩm quyền quyết định rằng người, pháp nhân thương mại được miễn trách nhiệm hình sự.
Thứ năm, người, pháp nhân thương mại được miễn trách nhiệm hình sự không có nghĩa là họ không phải chịu những hậu quả pháp lý phi hình sự khác. Cụ thể, những hậu quả pháp lý phi hình sự như bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Thậm chí người được miễn trách nhiệm hình sự còn có khả năng trước đó họ đã bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn mang tính tước bỏ hoặc hạn chế quyền tự do đi lại trong quá trình tiến hành tố tụng.
1.1.4. Ý nghĩa của miễn trách nhiệm hình sự
Trừng phạt người, pháp nhân thương mại phạm tội chưa bao giờ là mục đích cuối cùng của việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều này không chỉ đúng ở quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước mà nó còn phù hợp với tôn chỉ, mục đích trong chính sách hình sự của hầu hết các quốc gia khác trên thế giới. Có thể nói mục đích cuối cùng quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự một chủ thể nào đó là giúp họ trở thành con người, pháp nhân thương mại tốt, có ích cho xã hội, gia đình và chính bản thân họ. Từ khi Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, sự nhân đạo, khoan hồng trong đường lối của Đảng đã thể hiện cụ thể qua nhiều chính sách khác nhau, đặc biệt là chính sách hình sự. Nghiên cứu chế định miễn trách nhiệm hình sự ta có thể nhìn thấy ý nghĩa của nó dưới nhiều góc độ khác nhau. Tựu trung lại, có thể thấy miễn trách nhiệm hình sự có các ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, dưới góc độ nhân đạo và bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Là chế định phản ánh rõ nét tính nhân đạo, khoan hồng trong chính sách hình sự, miễn trách nhiệm hình sự là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nước để thực hiện chính sách phân hóa và thể hiện phương châm ấy.
Thứ hai, dưới góc độ chính trị-xã hội, việc quy định những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng xác định đúng đắn sự không còn tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do người, pháp nhân thương mại thực hiện. Từ đó đưa ra các giải pháp mang tính chuyển hưởng xử lý mà vẫn đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đấu tranh, phòng, chống tội phạm. Ngoài ra, việc quy định cơ sở và các trường hợp miễn trách nhiệm một cách cụ thể, rõ ràng, đầy đủ cũng làm giảm đến mức thấp nhất tình trạng tuy tiện trong các quyết định miễn trách nhiệm hình sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền. Bên cạnh ý nghĩa trực tiếp mang tính chính trị pháp lý đó thì ở một nghĩa nào đó, các quy định miễn trách nhiệm hình sự còn là một sự xã hội quá quá trình cải tạo chủ thể phạm tội. Tức là cá nhân người phạm tội, gia đình và tổ chức nơi họ làm việc được tạo điều kiện cùng tham gia vào quá trình cải tạo, giáo dục người phạm tội, giúp đỡ đưa họ trở lại con đường lương thiện, lao động chân chính và có ích cho xã hội.
Thứ hai, miễn trách nhiệm hình sự chỉ có thể được đặt ra đối với người, pháp nhân thương mại nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật quy định là tội phạm. Hay nói cách khác, chỉ khi nào hành vi đã cấu thành tội phạm thì khi đó vấn đề các hay không miễn trách nhiệm hình sự mới được đặc ra. Tuy nhiên miễn trách nhiệm hình sự vừa mang tính tùy nghi, vừa mang tính bắt buộc tương ứng với từng trường hợp cụ thể khác nhau. Do đó dù được loại trừ hậu quả pháp lý hình sự thì chủ thể thực hiện hành vi phạm tội cũng có thể phải chịu những hậu quả pháp lý phi hình sự khác. Có như vậy mới đảm bảo nguyên tắc công bằng trong xã hội mà pháp luật hình sự Việt Nam tuyên bố và bảo vệ.
1.2. Phân loại miễn trách nhiệm hình sự
Phân loại theo từ điển tiếng Việt được hiểu là chia ra làm nhiều loại. Phân loại miễn trách nhiệm hình sự là chia các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự thành nhiều nhóm khác nhau, việc chia nhóm đó dựa trên những tiêu chí, căn cứ khác nhau nhất định để phục vụ việc nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn và cũng như hoàn thiện pháp luật. Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự xếp thành một nhóm nhất thiết phải có cùng những tiêu chí, căn cứ.
Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự được chia thành các nhóm như sau:
1.2.1. Căn cứ vào vi trí sắp xếp trong Bộ luật hình sự
Dựa vào vị trí sắp các quy định của Bộ luật Hình sự 2015, chúng ta có thể chia các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại
Phần chung và Phần các tội phạm của riêng Bộ luật Hình sự.
Tám trường hợp miễn trách nhiệm hình sự quy định tại điều 16, điều 29 và điều 91 Phần chung Bộ luật Hình sự. Đây là là những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự chung nhất, áp dụng cho tất cả người phạm tội. Phạm vi điều chỉnh các của quy định miễn trách nhiệm hình sự trong Phần chung Bộ luật Hình sự bao trùm lên toàn bộ các quy định miễn trách miễn hình sự mang tính cá biệt khác.
Bốn trường hợp miễn trách nhiệm hình sự quy định tại các khoản 4 điều 110 là tội gián điệp, đoạn 2 khoản 7 điều 364 là tội đưa hối lộ, khoản 6 điều 365 là tội môi giới hối lộ và khoản 2 điều 390 là tội không tố giác tội phạm Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự.
1.2.2. Căn cứ tính chất bắt buộc hay tùy nghi của quy định về miễn trách nhiệm hình sự
Khi quy định các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự , Bộ luật hình sự 2015 quy định theo hướng nhóm các trường hợp “ được miễn” và nhóm các trường hợp “có thể được miễn”. Cụ thể:
Bốn trường hợp có tính chất bắt buộc quy định tại các điều 16, khoản 1 điều 29 và khoản 4 điều 110 Bộ luật hình sự. Khi có các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp này, cơ quan tiến hành tốt tụng hình sự mà cụ thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong từng giai đoạn tố tụng tương ứng với thẩm quyền của mình bắt buộc phải ban hành quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án và quyết định miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Mười trường hợp có tính chất tùy nghị ( có thể được miễn trách nhiệm hình sự ) quy định tại khoản 2, khoản 3 điều 29, khoản 2 điều 91, đoạn 2 khoản 7 điều 364, khoản 6 điều 365 và khoản 2 điều 390. Khi có các căn cứ quy định tại các điều luật này, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể miễn hoặc không miễn trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào đánh giá tính chất, mức đôh nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong gia đoạn đó.
1.2.3. Căn cứ vào nội dung và phạm vi áp dụng
Dựa vào nội dung và phạm vi áp dụng các quy định miễn trách nhiệm hình sự, chúng ta có thể chia miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 thành các nhóm sau:
Ba trường hợp miễn trách nhiệm hình sự quy định tại các khoản 1-3 điều 29 được áp dụng cho tất cả các tội phạm. Đây là trường hợp miễn trách nhiệm có phạm vi áp dung rộng nhất, không loại trừ, không hạn chế đối với các loại tội phạm.
Một trường hợp áp dụng cho trường hợp người phạm tội với lỗi cố ý quy định tại tại điều 16 Bộ luật Hình sự. Đây là trương hợp người phạm tội nữa chừng chấm dứt tội phạm. Tuy nhiên trường hợp này chỉ được áp dụng khi hành vi đã thực hiện không cấu thành tội phạm khác.
Một trường hợp áp dụng đối với người dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 2 điều 91. Tuy nhiên trường hợp này gắn liền với điều kiện loại tội phạm mà họ đã thực hiện là tội ít nghiệm trọng hoặc nghiêm trọng. Hành vi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã khắc phục phần lớn hậu quả.
Bốn trường hợp miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng trong phạm vi hẹp, gắn liền với các tội danh cụ thể. Đó là các tội gián điệp, tội đưa hối lộ, tội môi giới hối lộ và tội không tố giác tội phạm.
1.2.4. Căn cứ vào chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự
Với sự ra đời của Bộ luật Hình sự năm 2015, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, pháp nhân thương mại trở thành chủ thể của tội phạm. Pháp luật Việt Nam nói chung và Pháp luật hình sự nói riêng luôn tuyên bố và bảo vệ nguyên tắc mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật. Trên cơ sở nguyên tắc này, chúng ta có thể hiểu, nếu con người là chủ thể của tội phạm có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có căn cứ theo quy định của pháp luật thì pháp nhân thương mại vậy. Tuy nhiên khi xây dựng chế định miễn trách nhiệm hình sự, tại Phần chung mà cụ thể là tại các điều 16, điều 29 và điều 91 Bộ luật Hình sự, nhà làm luật chỉ quy định chủ thể là con người. Nhưng không vì vậy mà chúng ta có thể hiểu pháp nhân thương mại không được miễn trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ, theo quy định tại điều 74 Bộ luật Hình sự thì ngoài việc chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại chương XI, pháp nhân thương mại còn chịu trách nhiệm hình sự theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật Hình sự không trái với quy định chương XI trong đó có quy định về miễn trách nhiệm hình sự. Như vậy dựa vào chủ thể được sự ta có thể có người phạm tội và nhóm quy định về miễn trách nhiệm hình đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
1.3. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt và loại trừ trách nhiệm hình sự
1.3.1. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt
Bên cạnh khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, thì pháp luật hình sự còn có khái niệm miễn hình phạt. Thực tiễn áp dụng pháp luật, đã có sự nhận thức không chính xác các khái niệm này dẫn đến sai sót trong quá trình xử lý hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng. Các quy định về miễn hình phạt được nhắc đến trong các điều 59 và 390 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bên cạnh nhưng điểm giống nhau, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt có những điểm khác nhau rõ rệt. Do đó việc phân biệt chúng là rất cần thiết cho quá trình nghiên cứu nói chung cũng như hoạt động thực tiễn nói riêng.
Thông qua các quy định về miễn hình phạt trong Bộ luật hình sự hiện hành, định nghĩa pháp lý của khái niệm miễn hình phạt có thể cô đọng lại như sau: miễn hình phạt là không buộc người, pháp nhân tương mại phạm tội phải chịu hình phạt về tội mà họ đã thực hiện. Điều 59 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 54 của Bộ luật nayg mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự“. Các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 54 là a) Có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; b) Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Khi thỏa mãn các điều kiện cần như nêu trên theo quy định của pháp luật thì điều kiện đủ là Đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự.
Qua phân tích khái niệm miễn hình phạt, chúng ta có thể nhận thấy miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt có nhưng điểu giống nhau như sau:
Thứ nhất, các quy định này thể hiện rõ tính nhân đạo, khoan hồng trong chính sách hình sự nói riêng và pháp luật Việt Nam nói riêng đã tuyên bố và thực hiện.
Thứ hai, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với chủ thể mà hành vi của họ đã cấu thành tội phạm.
Thứ ba, cũng như chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự, người được miễn hình phạt không phải chịu hậu quả pháp lý hình sự bất lợi cho họ
Bên cạnh những điểm giống nhau, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt cũng có một số điểm khác nhau cơ bản dưới đây.
Thứ nhất, các quy định về miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt nằm trong các điều luật khác nhau trong Bộ luật hình sự năm 2015. Cụ thể miễn trách nhiệm hình sự quy định trong các điều 16, điều 29, điều 91, khoản 4 điều 110, đoạn 2 khoản 7 điều 364, khoản 6 điều 365 và khoản 2 điều 390. Còn miễn hình phạt được quy định tại điều 59 và và 390 Bộ luật hình sự năm 2015.
Thứ hai, miễn trách nhiệm hình sự khi hành vi dù đã cấu thành tội phạm nhưng không bị tuyên bố là có tội và hệ quả là đương nhiên miễn hình phạt. Còn miễn hình phạt thì hành vi của chủ thực thực hiện hành vi phạm tội đã bị tuyên bố nhưng vì chủ thể đó đáp ứng được có yêu cầu pháp lý mà Bộ luật hình sự quy định nên được miễn hình phạt tức là miễn biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước.
Thứ ba, nếu các quy định liên quan đến miễn trách nhiệm hình sự được thiết kế rất chặc chẽ, rõ ràng thì điều kiện được miễn hình phạt áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể không được quy định chặc chẽ, rõ ràng như miễn trách nhiệm hình sự. Điều này chứng minh, trong trường hợp miễn trách nhiệm hình sự nhân thân người phạm tội tốt hơn, hành vi của chủ thể thực hiện tội phạm ít nguy hiểm cho xã hội hơn là trong trường hợp miễn hình phạt.
Thứ tư, miễn trách nhiệm hình sự có thể được quyết định bởi các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thì miễn hình phạt lại duy nhất thuộc thẩm quyền của Tòa án. Hay nói cách khác, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền miễn hình phạt, còn miễn trách nhiệm hình sự thì các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đều có thẩm quyền tương ứng với từng giai đoạn tố tụng.
1.3.1. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với loại trừ trách nhiệm hình sự
Loại trừ trách nhiệm hình sự là khái niệm pháp lý hình sự. Khi nghiên cứu chế định loại trừ trách nhiệm hình sự, các nhà hoạt động thực tiễn và các nhà lý luận bên cạnh những quan điểm đồng nhất cũng còn ít nhiều những nội dung không đồng nhất. Các nhà hoạt động thực tiễn quan niệm về loại trừ trách nhiệm hình sự tương đối khác với bản chất pháp lý của nó. Nhà hoạt động thực tiễn là ThS Đinh Văn Quế, nguyên Chánh tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao quan niệm rằng “ loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội nhưng theo pháp luật họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Nghiên cứu về loại trừ trách nhiệm theo quan điểm này ta có thể thấy nó quá rộng và bao gồm các trường hợp khác nhau trong đó miễn trách nhiệm hình sự cũng là một nhóm thuộc loại trừ trách nhiệm hình sự. Sở dĩ các nhà hoạt động thực tiễn quan niệm như vậy bởi lẽ họ cho rằng hậu quả pháp lý cuối cùng của các trường hợp này là giống nhau và đều không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Dưới góc độ khoa học Luật hình sự, một người được loại trừ trách nhiệm hình sự khi hành vi họ thực hiện nguy hiểm cho xã hội đã có dấu hiệu của tội phạm nhưng lại thiếu một trong các dấu hiệu cầu thành tội phạm nên tích chất tội phạm của hành vi đó bị loại trừ. Những trường hợp đó được pháp luật thực định quy định như sự kiện bất ngờ (điều 20), phòng vệ chính đáng ( điều 22), tình thế cấp thiết ( điều 23 ), chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự ( điều 12) v.v. Như vậy loại trừ trách nhiệm hình sự được hiểu là việc một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa đưa đến hậu quả pháp lý là phải chịu trách nhiệm hình sự tùy theo từng trường hợp tương ứng cụ thể khi đáp ứng những điều kiện nhất định. Để thấy được sự giống và khác nhau giữa miễn trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự, ta có thể dùng bảng so sánh sau:
| Tiêu chí | Miễn trách nhiệm hình sự | Loại trừ trách nhiệm hình sự |
| Mục đích và ý nghĩa áp dụng | – Việc buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự là không cần thiết mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chông tội phạm. – Thể hiện chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội cũng như nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật Việt Nam | – Xác định ranh giới giữa tội phạm và không phải tôi phạm, bảo đảm nguyên tắc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội. – Một số trường hợp Nhà nước và xã hội khuyến khích, khen thưởng (phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết). |
| Hành vi đã thực hiện | Đã cấu thành tội phạm, thỏa mãn đầy đủ các đặc điểm cơ bản của tội phạm và người thực hiện nó lẽ ra phải chịu trách nhiệm hình sự | Không thỏa mãn ít nhất một trong các đặc điểm cơ bản của tội phạm nên người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự |
| Đối tượng bị áp dụng | Bị can, bị cáo | Người mà hành vi không cấu thành tội phạm |
| Hậu quả pháp lý | Không bị coi là có án tích nhưng vẫn bị áp dụng một số biện pháp cưỡng chế thuộc các ngành luật khác như hành chính, dân sự… | Không phải chịu trách nhiệm hình sự trên nhưng cơ sở chung |
1.4. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự
1.4.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1999
Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Pháp luật hình sự từ đó cho đến trước khi Bộ luật Hình sự năm 1985 được Quốc hội thông qua chưa ghi nhận chính thức chế định miễn trách nhiệm hình sự. Những quy định về miễn trách nhiệm hình sự nằm rãi rác trong các văn bản mang tính quy phạm thời bấy giờ nhưng chủ yếu mang tính tha miễn chứ không phải là một chế định về miễn trách nhiệm hình sự hoàn thiện như bây giờ. Có thể liệt kê đến một số văn bản như sau: Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 xá miễn cho một số tội phạm trước ngày 19/08/1945; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970; Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 10/7/1982…;
Khái quát các giai đoạn phát triển của chế định miễn trách nhiệm hình sự thì không thể không nói đến của quy định về miễn trách nhiệm hình sự ở miền Nam sau khi đất nước thống nhất. Do yêu cầu xây dựng và bảo vệ chính quyền miền Nam còn non trẻ lúc bấy giờ cũng như công cuộc đấu tranh đấu tranh và phòng chồng tội phạm, mà đặc biệt là các loại tội phạm đặc trưng của xã hội miền Nam trước 1975, ngày 20 tháng 05 năm 1981, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ. Mặc dù là quy định mang tính điều chỉnh các tội phạm liên quan đến hành vi đưa và nhận hối lộ. Pháp lệnh đã ghi nhận ba trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt.
Bộ luật Hình sự năm 1985, là Bộ luật hình sự hoàn chỉnh đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời. Bộ luật này quy định miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại một số điều của Phần chung và Phần các tội phạm. Quá trình áp dụng, Bộ luật Hình sự năm 1985 đã sửa đổi, bổ sung nhiều, tuy nhiên các quy định về miễn trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên.
Bên cạnh Bộ luật Hình sự năm 1985 thì các quy định về miễn trách nhiệm hình sự còn nằm rãi rác trong các văn bản dưới luật mang tính hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự cũng như các văn bản mang tính tổng kết công tác điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Điển hình như Thông tư số 03-BTP/TT tháng 4/1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Sắc luật quy định về các tội phạm và hình phạt; Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 10/7/1982; Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 19/04/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự; Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2/6/1990 của Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú; Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 05/01/1986, trong đó có hướng dẫn cụ thể về việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành tội phạm; Thông tư liên ngành số 05/TTLN của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội ra tự thú đã nêu rõ căn cứ để miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trốn khỏi nơi giam.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 9\HINH SU\PHAM KHAC TUONG\SAU BAO VE


