Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu

Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu

Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong xu hướng toàn cầu hóa, các công cụ Internet, trong đó đặc biệt làtên miền và trang web ngày càng đóng vai trò quan trong đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Không chỉ là một địa chỉ định danh trên Internet, tên miền đã trở thành một công cụ quảng bá cho hoạt động kinh doanh và là một tài sản giátrịcủadoanh nghiệp. Trong môi trường số hóa như hiện nay, một tên miền độc đáo,dễ nhớ sẽ giúp cho người tiêu dùngtìm đếndoanh nghiệp một cách dễ dàng hơn. Xuất phát từ tính năng vượt trội của tên miền là côngcụ đểquảng bá trên internet về các hìnhảnhvà các sản phẩm, dịch vụ, các doanh nghiệpsẽ gặpnhiều nguy cơ phát sinh tranh chấp tên miền với các chủthểkhác. Với các doanh nghiệp ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nơi mà các quy định pháp luật về tên miền còn chưa hoàn thiện, việc tiệm cận giữa yêu cầu thực tế với các quy định pháp luật giải quyết tranh chấp tên miền luôn là một thách thức lớn.

Tên miền hiện nay chưa phải là đối tượngbảo hộcủaLuậtSở hữu trí tuệmà chỉ được coi là các địa chỉ được định danh trên mạng Internet. Tuy nhiên, nó có mối quan hệ mật thiếtvới đối tượng bảo vệ của LuậtSở hữu trí tuệ mà cụ thể là nhãn hiệu. Pháp luật Việt Nam đã có nhiều văn bản quy định về tên miền và biện pháp giải quyết tranh chấp tên miền, trongđócó thể kểđếnLuật Sởhữu trí tuệ 2005; Luật công nghệ thông tin 2007; Thông tư10/2008/TT-BTTTT ngày 24/12/2008củaBộ thông tin và truyền thông quyđịnh về giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia “.vn”; Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 quyđịnh về quản lý, cung cấp,sửdụng dịchvụ Internet và thông tin trên mạng, Thông tư 19/2014/TT-BTTTT về quản lý tài nguyên trên internet chuẩn bị có hiệulựcvào ngày 20/01/2015…

Tuy nhiên, dường như những quy định phápluật này chỉ đáp ứng được về mặt hình thức mà chưa giải quyết được các vấn đề phát sinh trong thực tiễn xã hội. Hiện nay, vấnđềtên miền liên quan đếnnhãn hiệu đang bịquyđịnh rải rác trong các vănbảnkhác nhau, chưa nhận được sựđồngthuận và thống nhất củacác bộ, ngành gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết.

Khi Internet ngày càng phát triển, tình trạng“chiếm dụng,đầucơ” tên miền càng trở nên phổ biến và khó kiểm soát. Lợi dụng chính sách đăng ký tên miền dễ dàng và nguyên tắc đăng ký tên miền là “duy nhất”, “đăng ký trước,sửdụngtrước”,nhiềuchủthểđãđăng ký tên miền trùng hoặc tươngtựvớicácchỉdẫnthươngmạicủachủthểkhác,đặcbiệt là những nhãn hiệu nổi tiếng, để sau đó bán lại với giá cao. Tình trạng này không chỉxâm phạm nghiêm trọngtớiquyềnsởhữutrítuệmà còncảntrởsựphát triểncủathươngmạithếgiới nói chung vàsựphát triểncủahoạtđộng thương mại trên Internet nói riêng.

Có thểkểtớimộtsốvụviệc tranh chấp tên miền xảy ra trong thời gian vừa qua như ebay.com.vn, anz.com.vn,… và gần đây là mhb.vn, nxbgd.com.vn, samsungmobile.vn, samsungmobile.com.vn…

Cùng với sựgia tăng vềsốlượng tên miềnđược đăng ký mới và cấp phát theo nguyêntắc “đăng ký trước, xét cấp trước”như hiện nay, các vụ việc tranh chấp về tên miền docó sự trùng hợp với các đối tượng được bảo hộ sởhữutrí tuệ sẽ ngày càng xảy ra nhiều hơn và là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển.

Nhìn vào con sốdoanh nghiệp tại Việt Nam đang hoạt độngvới sốlượng tên miềnđã được cácdoanh nghiệp đăng ký thì chúng ta có thể thấy rõnguy cơ tranh chấp về tên miền là rất cao và đồng thời cũng thấy được nhận thức chung của doanh nghiệp trong việc bảo hộ nhãn hiệu của mình trên Internet với tên miền vẫn còn hạn chế.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên trong đó có nguyên nhân chính từ việc các quy phạm pháp luật về tên miền có liên quan đến nhãn hiệu chưa thực sự đầy đủ và hiệu quả. Xu hướng gia tăng các tranh chấp tên miền trong thời gian vừa qua đã chứng minh tínhhạnchế, thiếu hiệu quả của các quy phạm pháp luật này. Muốn giải quyết triệt để các vấn đề tranh chấp tên miền liên quan đến nhãn hiệu, chúng ta phải giải quyết được vấn đề cốt lõiđó làđổimớicác cơ sở pháp lý quy định về tên miền liên quan đến nhãn hiệu.

Xuất phát từ thực tế nói trên, việc nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật Việt Namvề tên miền liên quan đếnnhãn hiệu từ đókhắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này là cần thiết, góp phần ngăn chặn tình trạng vi phạm quyềnsở hữu trí tuệ đang gia tăng. Với những lý do đó, tác giả đã lựachọn đềtài“Phápluật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu”.

2. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn củaviệc nghiên cứu 2.1. Ý nghĩa lý luậncủa đề tài

Đề tài nghiên cứu nhằm sáng tỏ các những các quy định pháp luật Việt Nam có về tên miềncụ thểlà các quy định pháp luật về xác lập, sử dụng, địnhđoạt và giải quyết tranh chấp tên miền liên quan đến nhãn hiệu; thực tiễn áp dụng pháp luật về tên miền liên quanđến nhãn hiệu.Đồng thời, đề tàicũng chỉ ra những vấn đề còn bất cập của pháp luật Việt Nam về tên miền liên quanđếnnhãn hiệu, những nguyên nhân của các bất cập này vàđề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan.

2.2. Ý nghĩa thực tiễncủađề tài

Qua việc phân tích các quy định pháp luật Việc Nam về tên miền cóliên quanđếnnhãn hiệu,đềtàiđưara các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đềcòn tồn tại. Các giải pháp này được xây dựng dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật nên sẽ góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luậtvềtên miền có liên quan đến nhãn hiệu hiện nay.

Đề tài còn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo của những người nghiên cứu về các vấn đề có liên quan.

3. Mục đích và nhiệmvụnghiêncứu đề tài 3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội dung cơ bản của các quy định pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu. Bên cạnh đó, đề tài cũng xác định những bất cậptrong thực tiễn áp dụng pháp luật và đề xuất những giải pháp tiếp tục hoàn thiện quyđịnhpháp luật trong thời gian tới và nâng cao hiệu quả việc thực hiện, bảo vệ quyền của các tổ chức, cá nhân đối với tên miền liên quan đến nhãn hiệu.

3.2. Nhiệm vụ nghiêncứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, trong đề tài cần phải thực hiện các nhiệm vụ như sau:

– Tìm hiểu một số vấn đề lýluận chung về tên miền nói chung và tên miền liên quan đến nhãn hiệu nói riêng, cụ thể là việc cấp phát, sử dụng, định đoạtvà giải quyết tranh chấp tên miền liên quan đến nhãn hiệu.

– Làm rõ mối liênhệgiữa tên miền và nhãn hiệu, chỉ ra các quyđịnh giao thoa giữa haivấn đề này.

– Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về tên miền liên quan đến nhãn hiệu ở nướcta hiện nay.

– Phân tích được những hạn chế và những vướng mắc của việc áp dụng pháp luật tên miền liên quan đến nhãn hiệu.

-Đề xuất một số giải pháp cụthể nhằm góp phần hoàn thiện các quy địnhcủa pháp luật về tên miền liên quanđến nhãn hiệutừđó,giúp các nhà làm luật, cơ quan chức năng nhìn nhận rõ nét hơn về thực trạng và những bất cậpcủavấn đề này và có những hành động hợp lý.

4. Lịch sử nghiêncứu

5. Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu được nghiên cứu trong luận văn này bao gồm các quy định pháp luật về tên miền nói chung và tên miền liên quanđếnnhãn hiệu nói riêng. Trong phạm vi luận văn, tác giả tập trung vào việc phân tích các quy định pháp luật Việt Nam về việc xác

lập,sửdụng,địnhđoạtgiải quyết tranh chấp tên miền liên quan đếnnhãn hiệu; thực tiễn áp dụng pháp luật và hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật này. Trong đó,Luận văn cũng tập trung phân tích sâuvềcác quyđịnh pháp luật Việt Nam về tên miền quốc gia liên quan đến nhãn hiệu. Luận văn chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về cácthủtục liên quan đến tên miền quốc tế tại Việt Nam mà chỉ nêu ra nhằmtạora một cái nhìn tổng quan về vấn đềtên miền.Đối với vấnđề giải quyết tranh chấp tên miền, tác giả chỉ đề cập đến thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự của tên miền liên quan đến nhãn hiệu mà không đề cập đến các tranh chấp mang tính chất hành chính.

6. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để hoàn thành luận văn này tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó đặc biệt coi trọng các phương pháp sau:

– Phương pháp phân tích, tổnghợpđượcsửdụng khi phân tích các vấn đề về tên miền nói chung và tên miền liên quan đến nhãn hiệu nói riêng và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong luận văn;

– Phương pháp so sánhđược thực hiện nhằm tìm hiểu quyđịnh của pháp luật Việt Nam với phápluật của một số nướctrên thế giới. Qua đó, phân tích nét tươngđồngvàđặc thù của pháp luật Việt Nam và rút ra các kinh nghiệm áp dụng;

– Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu qua các thời kỳ ở Việt Nam;

– Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn về đăng ký tên miền nói chung và tên miền liên quan đến nhãn hiệu nói riêng.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận vănđược cơ cấu thành 03 chương với các nội dung cụ thể như sau:

Chương 1: Một sốvấn đềlý luận chung về tên miền và tên miền liên

quan đến nhãn hiệu.

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu. Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một sốkiến nghị nhằm hoàn thiện

các quyđịnh pháp luật Việt Namvề tên miền liên quanđến nhãn hiệu.

Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu
Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀLÝ LUẬN CHUNG VỀ TÊN MIỀN

VÀ TÊN MIỀN LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU

1.1. Những vấn đề lý luận về tên miền 1.1.1. Khái quát chung về tên miền

* Khái niệm tên miền

Định nghĩa tên miền

Tên miền (domain name) với chức năng banđầuchỉ là một cái tên dễnhớ và dễnhận biết giúp người sử dụngđịnh danh một địa chỉ trên Internet một cách dễdàng. Ngày nay tên miền đãtrởthành một công cụ quan trọng góp phần nhận biết về nguồn gốc thương mại của một doanh nghiệp hoặc một sảnphẩm và là một công cụ giúp doanh nghiệp thực hiện việc mua bán, giới thiệu sản phẩm của mình.

Để kết nốiđược với mạng Internetđòihỏi mỗi một máy tính phải cómột địa chỉ cụ thểđể các máy tính có thể tìm và nhìn thấy nhau trên mạng. Và hệ thống địachỉ IP ra đời nhằm thực hiện chức năng đó(ngôn ngữ kỹthuật gọiđó là chức năng định tuyến các thiết bị).

Với hàng tỷ thiết bị trên mạng và mỗi thiết bị có một địa chỉ dưới dạng số thì các số này là rất lớn, phứctạpvà khó nhớ, vì vậy, hệ thống tên miềnđược tạo ra nhằm giải quyết những yếu tố bất lợi đó. Mỗi mộtđịachỉ IP của thiết bị sẽ được gánvớimột têndưới dạng chữ, đólà tên miền và tên miền được sửdụng để nhận dạngmột máy tínhtừhàng triệu máy tính khác kết nối vào Internet, cho phép sử dụng các dịch vụtrên mạng như email, web vàtruyền các tệp dữ liệu (files).

“Tênmiền” (Domain name) là một tên dễnhớđể gánchomộtđịa chỉ

Internet như: google.com, yahoo.com, ebay.com… Nó thaythếcho một dải

8

những consố khó nhớ (gọi là Internet Protocol numbers). Ví dụ: tên miền www.google.com có địa chỉ IP tương ứng là 207.238.252.88; tên miền www.facebook.com có địa chỉ IP tương ứng là 66.220.152.19; tên miền

www.vnnic.vn có địa chỉ IP tương ứng là 203.119.8.93…

Như vậy, thực chất tên miền ban đầu chỉ là là sựnhận dạngvịtrí của một máy tính trên mạng Internet, nói cách khác tên miền là tên của các mạng lưới, tên của các máy chủ trên mạng Internet. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, tên miền không đơn thuần chỉ là địa chỉ định danh của các máy chủ trên mạng internet mà đã trởthành một công cụkinh doanhđắc lực cho doanh nghiệp.Tên miền được các tổ chức và cá nhân đăng ký sử dụng vào mục đích quảng bá về tổ chức, sản phẩm, dịch vụ của mình và tiến hành các hoạt động thương mại trong môi trường Internet toàn cầu.

Theo định nghĩa RFC 1034, được cập nhật bằng RFC 1123 thì:

Tên miền được tạothành từ các nhãn không rỗng phân cách nhau bằng dấu chấm (.); những nhãn này giới hạn ở các chữ cái ASCII từ a đến z (không phân biệt hoa thường), chữ số từ 0 đến9, và dấugạch ngang (-), kèm theo những giới hạn về chiều dài tên và vị trídấugạch ngang. Đó là dấu gạch ngang không được xuất hiện ở đầu hoặc cuối của nhãn, và chiều dài của nhãn nên trong khoảng từ 1 đến 63 và tổng chiều dài của một tên miền không được vượt quá 255 [20].

Cách định nghĩa nàycủaRFC có ưuđiểmlà chỉ rađược yếutốkỹthuật của tên miền nhưng lại không thể chỉ ra được bản chất của tên miền hiện đại trong môi trường internet toàn cầu là công cụ quảng bá cho doanh nghiệp.

Theo WIPO, tên miền (Domain Name) được định nghĩa là: “Domain names are the human-friendly forms of Internet addresses, and are commonly used to find web sites.” [21]. Định nghĩa trên của WIPO cóthể được tạm dịch là: “Tên miền là tên thân thiện của cácđịa chỉInternet và thườngđược sử

9

dụng để tìm các website”. Khái niệm này đã chỉ ra được bản chất của tên miền là sự định danh các địa chỉ internet nhưng chưa chỉ rađượcbảnchất của khái niệm tên miền cũng như sự liên quan của tên miền nói chung và các đối tượng sở hữutrí tuệ nói riêng.

Khái niệm về tên miền Internet Việt Nam được quy định tương tự nhưtên miền quốc tế và hầu như theo một chuẩn chung vì yếu tố kỹ thuật đã xácđịnh. TạiThông tư 09/2008/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, tên miền được định nghĩa là:

Tên được sử dụng đểđịnh danh địa chỉ Internet của máy chủ gồmcác dãy kýtự cách nhau bằng dấu chấm“.”” và sử dụng tên miền là việc gắn tên miền đóvới địa chỉInternet(địa chỉ IP) của máy chủ đang hoạt động phục vụ các ứng dụng trên mạnghoặc để bảo vệ thương hiệu, nhãn hiệu, tên dịchvụ,têntổ chức khỏibị chiếm dụng [1, mục 2.2].

Như vậy, cũng giống với cách định nghĩa của RFC và WIPO, Thông tư 09/2008/TT-BTTTTđãcoi tên miềnđơngiản làmộttêngọiđịnhdanh các địa chỉ internet và chỉ ra các tiêu chí kỹ thuật của tên miền. Tuy nhiên,định nghĩa này cũng chỉ ra được vấn đề liên quan giữa tên miền với các đối tượngsởhữutrítuệkháccủaDoanh nghiệp màcụthểtrong trường hợp này là nhãn hiệu.

Trong phạm vi của đề tài,dướigócđộ tìmhiểu về tên miền liên quan đếnnhãn hiệu, có thể coi Tên miền là tên gọi để định danh các địa chỉ trên Internet của các tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, cần phải làm rõ thêm mối liên hệ giữa tên miền và nhãn hiệu nói chung cũng nhưcác chỉ dẫn thương mại khác mới có thể thấy hết được bản chất là một tài sản trí tuệ của tên miền.

Cấu trúc của tên miền

10

Tên miền bao gồmnhiều thành phần cấu tạonên, cách nhau bởi dấu chấm (.) nhưng cấu trúc tên miền tốithiểu phải có hai cấp: cấpcao nhất vàcấp 2. Ngoài ra, tên miền còn có thể có các cấp khác như cấp 3, cấp 4, cấp

5…. đến cấp n.

Ví dụ: home.vnn.vn là tên miền máychủWebsite của Công tyĐiện toán và Truyềnsốliệu VDC, bao gồm các thành phần sau: (1) Thành phần thứnhất “home” là tên của máy chủ; (2) Thành phần thứ hai “vnn” là tên miền cấp hai (second domain name level); (3)Thành phần cuối cùng “vn” là tên miền cấpcao nhất (top level domain name).

Việc phân tíchcấutrúc của tên miền như dưới đâysẽ thấyđược các thành phần cấu tạonên tên miền, từ đóthấyđược nhãn hiệusẽ nằmở vị trínào của tên miền.

– Tên miền cao cấp nhất

Mọitên miềnđềukếtthúc bằngmộttên miềncấpcao nhất (TLD: Top Level Domain). Tên miền cao cấp nhất đôi khi còn được gọi là tên miền cấp 1.

Tổ chức cấp phát số hiệu Internet (Internet Assigned Numbers Authority – IANA) hiện chia tên miền cấp cao nhất thành 3 loại: [22].

+ Tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD): Được sử dụng bởi mộtquốc gia hoặc lãnh thổ phụ thuộc. Nó có hai ký tự, ví dụ: “ .vn” cho Việt Nam, “.cn” cho Trung Quốc, “.us” cho Hoa Kỳ, “.uk” cho Vương quốc Anh…

+ Tên miền cấp cao nhất dùng chung (gTLD): bao gồm các tên miền sau: .COM; .NET; .EDU; .ORG; .INT; .BIZ; .INFO; .NAME; .PRO;

.AERO; .MUSEUM; .COOP và những tên miền chungcấpcao nhất khác theo quy định của IANA.

Về mặt lýthuyết, tên miền cấp cao nhất dùng chung được sử dụng bởi một kiểu tổ chức nào đó (ví dụ: “.com” cho những tổ chức thương mại, “.int” cho các tổ chức quốc tế…). Nó có ba ký tự trở lên. Tên miền dùng chung được

11

chia nhỏthành các tên miền cấp cao nhất có tài trợ (sTLD), như “.aero”, “.coop”và “.museum”, và tên miềncấpcao nhất không có tài trợ (uTLD), như “.biz”, “.info”, “.name” và“.pro”.

+ Tên miền cấp cao nhất hạ tầng (iTLD): Tên miền cấp cao nhất .arpa là tên miền duy nhất đượcxácđịnhthuộc loại này. Tên miền này thường không mang tính phổ biến và ítđược cáctổ chức, cá nhân sử dụng.

– Tên miền cấp hai

Trong phân cấp tên miền – domain, phía dưới tên miền cấp cao nhất là tên miền cấp hai (SLD). Ví dụ, trong tên miền vi.wikipedia.org, wikipedia làtên miền cấp hai.

Tại Việt Nam, VNNIC định nghĩa các tên miềncấp2 bao gồm các tên miền: .com.vn, .net.vn, .org.vn…

– Các cấp tên miền khác dưới tên miền cấp 2

Tiếp sau tên miền cấp 2 là các tên miền cấp dưới được viết ngay bên trái tên miền cấp hai. Có thể có tên miền cấp 3, cấp 4, cấp 5, v.v., không cógiới hạn.

Ví dụ vềmột tên miền hiện đang tồn tại với bốncấp tên miền làwww.sos.state.oh.us.

Đối với tên miền “.vn”:Tên miền “.vn” là tên miền quốc gia cấp cao nhất dành cho Việt Nam. Các tên miềncấpdưới“.vn”đềucó giátrịsửdụng nhưnhau để định danh địa chỉ Internet cho các máy chủ đăng ký tại Việt Nam.

Dưới là tên miền “.vn” là tên miền cấp 2 .vn bao gồm tên miền cấp 2 không phân theo lĩnh vực và tên miền cấp 2 dùng chung (gSLD) phân theo lĩnh vực. Vídụ như như sau: “.com.vn” dành cho các tổ chức hoạt động thương mại, “.edu.vn” dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực đào tạo, “.gov.vn” dành cho các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương…

Ngoài ra, còn có các tên miền cấp2 theo địa giới hành chính: là tên

12

miền Internet được đặttheo tên các tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương. Tên miền cấp 2 theo địa giới hành chính được viết theo tiếng Việt hoặc tiếng Việt không dấu. Cấu trúc là Tên.tên tỉnh thành.vn. Ví dụ: khachsan.hanoi.vn hay khachsan.hànội.vn

Trong hệ thống tên miền quốc gia còn có tên miền tiếng Việt trong đó các ký tự tạonên tên miền là các ký tự được quyđịnh trong bảng mã tiếng Việt theo tiêu chuẩn TCVN 6909:2001 và các kýtự nằmtrong bảng mã mởrộng của tiếng Việt theo tiêu chuẩn nói trên. Ví dụ: kháchsạn.com.vn. Tên miền tiếng Việt gồm có tên miền cấp 2 và tên miền cấp 3 dưới tên miền cấp 2 theođịa giới hành chính viết theo tiếng Việt. Tên miền phải rõ nghĩa trong ngôn ngữ tiếng Việt, không viết tắt toàn bộ tên miền. Tuy nhiên, do thói quen và tậpquán sử dụngtên miền internet củangười dùng Việt Nam và thế giới mà tên miền tiếng Việt chưa nhận được sự quan từ phía người đăng ký.

Như vậy, có thể nói, các quan niệm về tên miền của Việt Nam khá phùhợp và có sự tương thích với các quy định quốc tế. Điều nàyđã mang lại sự hòa nhập cho Việt Nam với nên kinh tế số của thế giới. Tuy nhiên, nếu không có sự vận dụng linh hoạt vào tình hình nước ta thì chỉ riêng sự hòa nhập này sẽ không giải quyết đượchếtcácvấn đề phátsinh liên quan đến tên miền nói chung và tên miền liên quanđếnnhãn hiệu nói riêng như đề cập tại các phần tiếp theo của đề tài.

* Đặc điểmtên miền

Thứ nhất: Tên miềnphải được đăng ký

Quyền đối với tên miền không được tựđộngxác lậpnhư mộtsốđối tượng sở hữu trí tuệ khác (ví dụ như: Quyền tác giả, nhãn hiệu nổi tiếng, tên

thương mại….). Muốnđược sử dụng tên miền, tổ chức, cá nhân phải tiến hành việc đăng ký. Tại Việt Nam, mọi tên miền quốc gia (trừ các tên miền quốc tế) phải được đăng ký tại VNNIC thông qua các Nhà đăng ký tên miền.

13

Việc đăng ký tên miền hiện nay không đặt ra nhiều điều kiện quá khắt khe với các chủ thể xin đăng ký nhưng phải đáp ứng các trình tự, thủ tục nhất định vàngười đăng ký phải có các cam kết với tên miền.

Sau khi được đăng ký, tổ chức cá nhân mới được coi là có quyềnsử dụng đối với tên miền.

Thứ hai, tên miền mang tính duy nhất trên hệ thống internet toàn cầu. Khi một tên miền đã được đăng ký và sử dụng trên Internet bởi một chủ

thể nào đó thì không ai có thểsử dụng tên miền đótrên mạng Internet nữa.Đây là một đặc tính vốn có mang tính kỹ thuật của tên miền. Khác với nhãn hiệu, các chủ thể khác nhau có thể đăng ký nhãn hiệu trùng hoặc tương tự cho các lĩnh vực và quốc gia khác nhau thì tên miền chỉ đượcđăng ký nếu đảm bảo không trùng với tên miền đã được đăng ký trong mọi trường hợp.

Tuy nhiên, tính duy nhất của tên miền lại chỉ mang tính tương đối. Thực tiễnvề xác lập tên miền cho thấy, tính duy nhất của một tên miềnchỉđượccông nhận nếu xét trên tổng thể các yếu tố của tên miền (tức là khi xét đến tất cả các cấpcủa tên miền) đó mà không xét đến các yếu tốriêng lẻ có tính phân biệt trong tên miền (thường là xét đếncácyếutố từcấp 2trởxuống). Cụ thể, tên miềnchỉ bịcoi là trùng nhau nếu giống nhau ở tất cả các cấp. Còn nếu các yếu tố cấp 2, cấp 3, cấp n trùng hoặc tương tự với nhau thìdù chủ sử dụng tên miền có hoạt động cùng lĩnh vực, cùng quốc gia cũng không bị từ chối. Trên thựctếchính các yếu tố này mới làm nên sự nhận diện cho tên gọi củamột website nhưnglạikhôngđượccoi là thànhtốchính khiđánh giá tính duy nhất của tên miền. Các yếu tố còn lại trên thực tế không thểlà yếutốquyết địnhsự duy nhất cho tên miềnđó.Đâylà một trong những nguyên nhân chủ yếu của các tranh chấp tên miền hiện nay.

Ví dụ: tên miền abc.com.vn chỉ được là duy nhất khi đem ra so sánh với chính tên miền đó. Và chắc chắn trong trường hợp nàysẽ không thể có

14

một chủ thể thứ hai đăng ký tên miền abc.com.vn. Tuy nhiên, nếu có một chủthể khác đăng ký tên miền abc.edu.vnthì vẫn được chấpnhận cho dù hai chủ thể này có thể cùng hoạt động trong lĩnh vực giáo dục trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ ba, khả năng tìm thấy trên internet của tên miền

Đâylà mộtđặc tínhphổthông trên mạng, khả năng này xuất phát từ tính năng và vai trò của Internet là tìm kiếm thông tin. Khi gõ tên miền vào thanh công cụ trên internet, người đọc sẽ được dẫn đến các website và từ đó có thể tìm thấy các thông tin về tổ chức, cá nhân đó hoặc các sản phẩm, dịch vụ của họ. Như vậy, thay vì phải nhớ các địa chỉ IP dài dòng, người dùng chỉ cần nhớ tên miền là có thể tìm ra website của doanh nghiệp. Ngày nay, với sựhỗ trợhiệu quả của các công cụ tìm kiếm trực tuyển như google thì khả năng tìm kiếm thấy trên internet của tên miền ngày càng phát huy vai trò quan trọng.

Thứ tư, tên miền không bị giới hạn bởi phạm vi lãnh thổ quốc gia vàlĩnh vựchoạt động

Với tư cách là một têngọiđịnhdanh địachỉ website của tổchức, cá nhân trên internet, tên miềncó thể được sử dụngtrong phạm vi toàn cầu. Khi một tên miềnđượcđăng ký thì trên khắp thể giới không thể xuất hiện một tên miền thứ hai trùng với tên miền đó nữa. Ngoài ra, khi đăng ký tên miền, chủ thể đăng ký cũng không phải chỉ ra mình sẽ sử dụng tên miền đó cho lĩnh vực nào. Khi được cấp, tênmiền đósẽ được sửdụng trong mọi lĩnh vực mà chủ sửthể đăng ký tên miền mong muốn phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan. Điều này khác với nhãn hiệu vì nhãn hiệu bị giới hạn bởi phạm vi quốc gia và nhómsảnphẩm/dịchvụđăng ký. Tức là tổ chức, cá nhân được đăng ký nhãn hiệu cho nhóm ngành nghề nào và quốc gia nàothì chỉ đượcsởhữu nhãn hiệu đó trong lĩnh vực tương ứng. Đây là môt trong các đặc điểmcơbản của tên miền đồng thời cũng là một nguyên nhân dẫn đến các vướng mắc

15

trong quá trình áp dụng pháp luật về tên miền liên quan đến nhãn hiệu.

Thứnăm, tên miền là côngcụđể thực hiện chức năng quảng bá vàkinh doanh

Với chức năng như là một chỉ dẫnthương mại có thể kết nối đếncác website giới thiệuvềsảnphẩm/ dịchvụ củacác tổchức, cá nhân. Trong xu thế lên ngôi của thương mại điện tử hiện nay, tên miền còn thực hiện cả chức năng kinh doanh cho doanh nghiệp. Tên miềnđã trởthành tài sảncó giá trịthương mại, tương tự như các đối tượng sở hữu trí tuệ.

Tên miền được cho là có chức năng quảng bá và kinh doanh vì những lý do sau [17]:

– Định vị được trang web mà tại đó hoạt động thương mại được tiến hành;

– Cung cấp một loại nội dung liên quan tới hàng hóa, dịch vụ mà người dùng mong muốn tìm thấy trên website;

– Khả năngđịnh hướng, thu hút thị trườngnhờtính dễ nhớ và chứađựng nhiều thông tin;

– Tên miền là tiềnđề cho các dịch vụ trên Internet như web, email… phục vụ cho thương mại điện tử đang rất phát triển;

– Tên miền thường đượcđặttheo tên các đối tượng sở hữu trí tuệ (tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý…), góp phần cho quảng bá công việc.

Các đặc tính này giải thích sự gia tăng đột biến của số lượng tên miềnđượcđăng k í trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Số lượngtên miền tại Việt Nam đang ngày càng tăng và trở nên rất phổ biến. Cho đến tháng mười năm 2013, đã có 261.256 tên miền “.vn” được đăng ký. Từ năm 2011, tên miền quốc gia “.vn” luôn luôn đứng đầu vềsố lượng đăng k í trong khu vựcĐông Nam Á, với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 172% [23].

16

Biểu đồ 1.1: Số lượng tên miền đăng ký từ năm 2009 đến năm 2013

(Nguồn: http://www.vnnic.vn/tenmien/thongke).

* Nội dung quyền đối với tên miền

Theo quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam, tên miền là tài nguyên quốc gia, chính vì vậy, tổ chức cá nhân chỉ có quyền sử dụng, không có quyền sởhữu. Quyền sử dụng này phụ thuộc vào việc nộp phí gia hạn của các chủ thế. Khi tên miền hết hạn mà chủ sử dụng tên miền không tiến hành gia hạn, sẽ có thêm 3 ngày để tên miền được hoạt động bình thường. Quá 3 ngày kể từ ngày hếthạn, tên miềnsẽ được chuyển sang trạng tháitạmngưng trong vòng 17 ngày tiếp theo. Quá 20 ngày kể từ ngày tên miền hết hạn, tên miềnđượcthu hồi và được chuyển sang trạng thái tự do. Các tổ chức, cá nhân khác được đăng ký tên miềnmộtcách thông thường.

Sử dụng tên miền xét về mặt kỹ thuật là việc tổ chức, cá nhân gắn tên miền đó với địa chỉ IP của máy chủ đang hoạt động phục vụ các ứng dụng trên mạng. Bên cạnhđó,việcsửdụng tên miền còn chính là hoạtđộng dùng tên miềnđóđểquảng bá (trongđóbaogồmcảquảng bá nhãn hiệu) cho các sản phẩm, dịch vụ của mình.

17

Ngoài các quyền trên, tổ chức, cá nhân khi được cấp quyềnsửdụng tên miền còn được chuyển nhượng tên miền cho tổ chức, cá nhân khác, trả lại tên miền khi không có nhu cầu sử dụng. Tại Việt Nam trước đây, do quan niệm tên miền là tài nguyên quốc gia nên quyền chuyển nhượng tên miềncủatổchức, cá nhân bịhạn chế. Tuy nhiên, quan điểmnày hiện nayđã được thayđổi. Tên miền đã được tự do chuyển nhượng trừ các tên miền được ưu tiên vàcác tên miền phải được chuyển nhượng thông qua hình thức đấu giá.

Tên miền cũng có thể bị tạm dừng hoặc bị thu hồi trong một số trường hợp nhất định như: vì lợi ích quốc gia công cộng; theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan công an; theo quyết định, bản án đã có hiệu lực. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật có liên quan đều không nhắc đến việc trong trường hợp chủ sử dụng tên miền là cá nhân qua đời, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc trường hợp chủ sử dụng tên miền là tổ chức bị giải thể, chấm dứt hoạt độngthì có được coi là căn cứ để tên miền bị thu hồi hay không. Nếu không thì tên miền có được coi là tài sản thừa kế của cá nhân khi cá nhân đó qua đời hay không. Trên thực tế hiện nay thì nếu các trường hợp trên xảy ra, nếu tên miền vẫn được nộp phí duy trì thì sẽ không bị thu hồi nhưng lại không được coi là tài sản thừa kế của cá nhân khi cá nhân đóqua đời.Đâylà mộtđiểmhạn chế của quy định pháp luật về tên miền nói chung và tên miền liên quan đến nhãn hiệu nói riêng.

Như vậy, có thể thấy, các quyềncủangười sử dụng tên miền hiện nay chỉ mang tính tương đối vì tên miền hiện tại vẫn là tài nguyên quốc gia.Điều này đã dẫnđếnnhiều hạn chế quyền trong quá trìnhsử dụngtên miềncủa tổ chức, cá nhân. Tuy tại Việt Nam hiện nay, các nhà làm luật đã có nhiều nố lựcđiều chỉnh để việcsử dụng tên miền phù hợp hơn với thông lệ chung thế giới nhưng vẫn chưa giải quyết được nhiều vấn đề bất cập liên quan đến việc sử

18

dụng, định đoạt đối với tênmiền.

1.1.2. Nguyên tắc, thủ tục đăng ký tên miền * Nguyên tắc cấp phát và đăng ký tên miền

Hiện nay, tên miền đang đượccấpphát theo nguyên tắc“first come,

first served” – tức là tổ chức, cá nhân nào đăng ký trước được xét cấp trước. Theo nguyên tắc này thì khi một chủ thểxin đăng ký tên miền, chỉcầntên miền này chưađược cấpcho ai thì sẽ được cấp chochủthể đó. Nguyên tắc nàyvề cơ bản đã tạo sự thông thoáng cho các tổ chức, cá nhân trong việcđăng ký tên miền. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra một hệ quả đó là càng ngày càng có nhiều chủ thể lạmdụng nguyên tắc nàyđể đăng ký hàng loạt tên miền, (trong đó chủ yếu nhất là đăng ký tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý của các chủ thể khác) nhằm mục đích trục lợi, kiếm lời. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sựtranh chấp giữa chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại,chỉ dẫn địa lývới chủsở hữu tên miền.

Tại Việt Nam, Nhà nước khuyến khích sử dụng rộng rãi tên miền quốc gia “.vn”. Cá nhân,tổ chức Việt Nam và nước ngoài đều có quyền đăng ký tên miền .vnbấtkểhọ có cư trú trên lãnh thổ Việt Nam hay không. Tuy nhiên, đối với những tên miền được ưu tiên và tổ chức, cá nhân xin đăng kýtên miền phải giải thích rõ mối liên quan của tên miền xin đăng ký với hoạtđộng của mình, hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật vềmục đíchsửdụng và tính chính xác về thông tin trong quá trình đăng ký.

Hiện nay, việc cấp phát tên miền thuộc quyền thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông mà cụ thể là VNNIC trên cơ sở các quy định của Luật Công nghệ thông tin ngày 29/6/2006, Thông tư 10/2008/TT-BTTTT ngày 24/12/2008, Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 và sắp tới sẽ là thông tư 19/2014/TT-

19

BTTTT có hiệu lực kể từ ngày 20/01/2014. Việc đăng ký tên miền được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

– Bình đẳng, không phân biệtđối xử;

– Đăng ký trước được quyền sử dụng trước, trừ các tên miền được dành cho đấu giá theo quy định của pháp luật;

– Tuân thủ các quy định về bảo vệ tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”.

TạiNghị định72/2013/NĐ-CP cũng quyđịnh về việc mọi tổchức cánhân (bao gồmcả các tổchức, cá nhân trong nước và tổ chức cá nhânnước ngoài) đều có quyền đăng ký tên miền (bao gồm cả tên miền quốc gia và tên miền quốc tế).

Như vậy, các quy định pháp luật hiện tại hầu như không có bất cứ giới hạnnàovềchủthể đăng ký tên miền. Các tổ chức, cá nhân khi đăng ký tên miền chỉ phải nộp phí và tuân thủ các quy định pháp luật Việt Nam trong quátrìnhsử dụng tên miền.Nếuviệc sửdụng không phù hợp với các quyđịnh pháp luật có thể sẽ bị thu hồi tên miền. Giống với thông lệ chung trên thế giới, việc cấp phát tên miền tại Việt Namđược thực hiệntheo nguyên tắc Đăng ký trước được quyền sử dụng trước. Tại tất cả các văn bản điều chỉnh về việc cấp phát tên miền nêu trênđềukhẳngđịnhnguyên tắc này như một nguyên tắc nền tảng.

* Trình tự, thủ tục đăng ký tên miền

Hiện nay, việc đăng ký tên miềnđược thực hiện theo trình tự, thủ tục như sau:

– Đối với tên miền quốc tế, việc đăng ký được thực hiện theo các bước như sau:

+ Bước 1: Kiểm tra sự tồn tại của tên miền: Người đăng ký cóthểtruy cập một website có tính năng tracứutên miền tùy ý như: http://whois.net, www.matbao.net… để kiểm tra sự tồn tại của tên miền. Sau khi đãtìmđược

20

tên miền hợp lý, Người đăng ký sẽ chuyển sang bước 2.

+Bước2: Khai báo các thông tincầnthiết và thanh toán phí đăng ký: Người đăng ký sẽ khai báo các thông tin cần thiết về việc đăng ký tên miền và thanh toán phí khởi tạo tên miền quốc tế thông qua một Nhà đăng ký tên miền quốc tế.

+ Bước 3: Nhà đăng ký sau khi nhận bản khai đăng ký và chi phí sẽ tiến hành đăng ký tên miền và gửi thông tin quản trị tên miền về cho Người đăng ký.

+ Bước 4: Người đăng ký tên miền truy cập địa chỉ www.thongbaotenmien.vnđể thông báo cho Bộ Thông tin và Truyền thông về việc sử dụng tên miền quốc tế.

-Đối với tên miền quốc gia, VNNIC trực thuộcBộBưu chính viễn thông là cơ quan đầu quản lý và quyết định cuối cùng việc cấp phát tên miền quốc gia tại Việt Nam.

Hiện nay, việc đăng ký tên miền tại Việt Namđược thực hiện thông qua các Nhà đăng ký tên miền. Nhà đăng ký tên miền là tổchức cung cấp dịch vụ phát triển, đăng ký, duy trì hoạt động tên miền các cấp dưới tên miền cấpcao mã quốc gia“.vn”VNNIC công nhận và kýkếthợpđồngNhà đăng ký tên miền “.vn”.

Trình tự, thủ tục đăng ký tên miền quốc gia tại Việt Nam như sau:

+ Hồsơ đăng ký tên miền bao gồm:Đơnxin đăng ký tên miền theo mẫu do VNNIC phát hành, được ký, đóng dấu; và chứng minh thư nhân dânđối với cá nhân; hoặc hộ chiếu đối với cá nhân là người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

+ Quy trình đăng ký tên miền quốc giatạiViệt Nam:Đểđăng k íthành công mộttên miền, cá nhân tổ chức cần thực hiện theo cácbước,cụthể như sau [24]:

21

Sơ đồ 1.1: Quy trình đăng ký tên miền quốc gia tại Việt Nam

(Nguồn: http://www.vnnic.vn/tenmien/chinhsach/quy-tr%C3%ACnh- %C4%91%C4%83ng-k%C3%BD-t%C3%AAn-mi%E1%BB%81n-vn).

Như vậy, cóthểthấy, quy trình đăng ký tên miền quốc giatạiViệt Nam hiện nay khá là đơn giản. Trừ khi tên miền đó đã bị trùng hoặc chứa cácyếutốvi phạmđạođức,xã hội, thuần phongmỹtụchoặc thuộcđối tượng tên miền không được cấp phát (mà phải thông qua đấu giá) hoặc cấp

phát có điều kiện (tên của tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước….) thì hầu như

22

Ngườiđăng ký không phảiđápứngthêmbấtcứđiềukiện nào khácđểđược cấp phát tên miền.

1.1.3. Các dạng tranh chấp tên miền và giải quyết tranh chấp tên miền Tên miền được các tổ chức và cá nhân đăng ký sử dụng nhằm góp phần

quảng bá về tổ chức, sản phẩm, dịch vụ, tiến hành các hoạt động thương mại và phi thương mại trong môi trường Internet toàn cầu. Các tên miền hoạt động trên mạng phải đáp ứng được một số yêu cầu trong đó quan trọng nhất là tính duy nhất của tên miền. Do tính duy nhất này mà hiện nay, tình trạng tranh chấp tên miền diễn ra ngày càng phổbiến và trở thành một nội dung chính yếucầnphải quan tâm khi xây dựng các quyđịnh pháp luật về bảohộtên miền. Có hai lý do cho tình trạng này:

-Thứnhất, trong khi pháp luật của các nước công nhận sự cùng tồn tạicủacác nhãn hiệu giống nhau giữa các quốc gia thìhệthống tên miền trênthếgiới cũng nhưtạimỗiquốc giachỉchấp nhận tính duy nhất của một tên miền cụ thể. Do đó, khả năng nhiều chủ thể cùng xin đăng ký một tên miền ở những thời điểm khác nhau là vì tên miền là duy nhất nhưng sựcùng tồn tại của nhiều nhãn hiệu lại là điều rất có thể xảy ra.

-Thứhai, do tính đa dạng và cạnh tranh cao của môi trường thương mại, nhiều chủ thể kinh doanh đã tiến hành đăng ký trước những tên miền màtheosự tính toán củahọ, trong tương lai sẽ cóchủthể đăng ký. Khi có đối tượng cầnđăng ký, chủ thể kinh doanh này sẽ bán lại để thu lợi. Có một dạng khác là các chủ thể kinh doanh đăng ký trước tên miền của cácđối thủcạnh tranh trên thương trường của mình nhằm gây khó khăn cho công việc kinh doanh và công tác tiếp thị của họ.

Các tranh chấp tên miền mang nhiều đặc điểmnhư một tranhchấp sởhữu trí tuệ, và trong nhiều trường hợp khi tên miền chứa đựng nhãn hiệu thìcác tranh chấp tên miền được coi như một tranh chấp sở hữu trí tuệ đặcbiệt.

Ngoài ra, bên cạnh các đặc điểmgiống tranh chấpsở hữu trí tuệ, các

23

tranh chấp liên quan đến tên miền còn có những nét đặc thù, trong đó nổi bật nhất là hai đặc điểm như sau:

Một là, tranh chấp tên miền thường có nội dung tươngđối phức tạp, gắn liền với cácyếu tố kỹ thuậtcủa Internet.

Hai là, tên miền có tính “duy nhất” trên toàn cầu, do vậy tranh chấp vềtên miền có bản chất “đa quốc gia”. Các tranh chấp loại này có thể phát sinh từ các mối quan hệ trải rộng trên nhiều quốc gia khác nhau, do các chủ thể có quốc tịch khác nhau, địa điểm xảy ra tranh chấp có thể cùng một lúc tại nhiều vùng trên thế giới. Phán quyết đối với các tranh chấp này cũng đòi hỏi sựcông nhận quốc tế để có thể thi hành trên thực tế [25].

* Các dạng tranh chấp tên miền

Có thể nhận thấy, các tranh chấp tên miền được xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau và hướng tới nhiềuđối tượng. Do vậy, tranh chấp tên miền được biểu hiện khá đa dạng trên thực tế. Việc nghiên cứu các dạng tranh chấp tên miền sẽ giúp cho các nhà quản lý có các quy định phù hợp hơn nhằm điều chỉnh các tranh chấp về tên miền.

Các dạng tranh chấp tên miền xét theo mục đích đăng ký

Nếucăn cứ theo mục đích đăng kí tên miền thìsẽbaogồmcác loại tranh chấp sau:

– “Đầu cơ tên miền”(domain name speculation). Đây là dạng tranh chấp biểu hiện ở việc mộtchủthểkinh doanh đã tiến hành đăng ký trước những tên miền mà theo sự tính toán của họ, trong tương lai sẽ có chủ thể đăng ký. Các chủ thểnày hầu như không có nhu cầu sử dụng các tên miền này trên thực tế. Khi có đối tượng cần đăng ký, chủ thể kinh doanh này sẽ bán lại để thu lợi.

-“Chiếm dụngtên miền”(domain name cyberquatting). Chủthểkinh doanh đăng ký trước tên miền của các đối thủ cạnh tranh trên thương trường của mình nhằm ngănchặn họđược sửdụng các tên miền này và gây khó khăn

24

cho công việc kinh doanh và công tác tiếp thị của họ.

-“Gâynhầmlẫn”(Typosquatting). Mộtsố đốitượngđăng ký sử dụng tên miền tương tự với một tên miền của chủ thể khác hoặc tương tự với nhãn hiệu, tên thươngmại củatổ chức, cá nhân khác nhằm mục đích cố tình tạo sựlầmtưởng của ngườitiêu dùng rằng đây là tên miền của tổ chức, cá nhân khác.

Các dạng tranh chấp tên miền xét theo đối tượng bị tranh chấp:

Nếucăn cứ theo đối tượng bị tranh chấp thì tranh chấp tên miền sẽ bao gồm những dạng sau:

– Tranh chấp liên quan tới tên tổ chức, doanh nghiệp: Tranh chấp liên quan tới tên tổ chức, doanh nghiệp là tranh chấp xảy ra giữa chủ sở hữu tên tổ chức, doanh nghiệp và chủ sở hữu tên miền mà chủ sở hữu tên tổ chức, doanh nghiệp cho rằng tên miềnđótrùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên gọi của mình và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp phápcủamình.

– Tranh chấp liên quantớitên cá nhânnổitiếng: Tranh chấp này thường được biểu hiện ở việc một chủ thể sử dụng tên của những người nổi tiếng làmmộtyếu tố để đăng ký tênmiền. Mục đích của việc đăng ký tên miền này thường là yêucầunhữngngườinổitiếng mualạitên miền này với một mức chi phí rất cao. Có thể kể đến các vụ việc điển hình trong thời gian qua như tên miền: damvinhhung.com được rao bán với mức giá 2.000 USD, trandinhlong.com và phamnhatvuong.com cùng đượcrao bánvới

mức giá 100.000 USD….

– Tranh chấp liên quan đến nhãn hiệu: Tranh chấp liên quan đến nhãn hiệu là tranh chấp xảy ra giữa chủ sở hữu nhãn hiệu đang được bảo hộ với chủ sở hữutên miền mà chủ sở hữunhãn hiệu cho rằng tên miền đótrùng hoặc tương tự đến mức gây nhầmlẫnvới nhãn hiệu của mình, làm ảnh hưởngđến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Đâylà loại tranh chấp phổ biến trong thời gian qua và cũng là đối tượng chínhmà đề tàitập trung nghiên cứu.

25

* Khái quát chung về việc giải quyết tranh chấp tên miền.

Chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp.

Các chủ thể tham gia vào giải quyết tranh chấp tên miền gồm có:

– Cơ quan giải quyết tranh chấp: Tùy thuộc vào cách thức giải quyết tranh chấp do các bên lựa chọn mà cơ quan giải quyết tranh chấp trong trường hợp này có thể là Tòa án hoặc Trọng tài. Các cơ quan này tham gia với tưcách là người đưa ra các phán quyết về tính đúng sai của mỗi bên. Phát quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp là căn cứ để các bên và Cơ quan quản lýtên miền Internet phải tuân theo.

– Cơ quan quản lý tên miền Internet: Đối với các tên miền gTLD thì cơ quan này là ICANN và các nhà đăng ký tên miền (cấp phát tên miền trực tiếp

– Register). Đối với tên miền “.vn” thì cơ quan quản lý tên miền là VNNIC–BộThông tin và Truyền thông. Việc tham gia của các Cơ quan quản lý tên miền Internet trong các cuộc tranh chấp thường chỉ mang tính“liênquan” hoặc có trách nhiệm thực thi các quyết địnhcủa cơ quan giải quyết tranh chấp. Tương tự như vai trò của các Cơ quan quản lý tên miền Internet trên thếgiới, VNNIC thường xuất hiện với vai trò hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân về thủ tục và thực thi các quyết định của Cơ quan giải quyết tranh chấp trong các vụ tranh chấp tên miền.

– Các Bên tham gia vào tranh chấp tên miền (Hay cònđượcgọilàNgườikhiếu kiệnvà Người bịkhiếu kiện): Đây chính là chủ thể chính trong các tranh chấp tên miền và thường có các quyền vàlợiíchđốilậpnhau. Trongđó,Ngườikhiếu kiệnsẽlàngườicho rằng các quyền và lợi ích của mình có liên quan trực tiếp hoặc giám tiếpđếntên miềnbịxâm phạm. Ngườibịkhiếu kiện thường là người đang sử dụng/ sở hữu tên miền nhưng bị Người khiếu kiện khởi kiện hoặc khiếu nại nhằm đòi lại quyền sở hữuđối với tên miền đó.

26

Thủ tục giải quyết tranh chấp tên miền theo ICANN

Đối với cáctranh chấp tên miền quốc tế gTLD thì được căn cứ trên cơsởlà Chính sách giải quyết tranh chấp tên miền thống nhất (UDRP) và Quy tắc giải quyết tranh chấp do ICANN thông quavà ủyquyền cho WIPO thực hiện.

Trong chính sách giải quyết tranh chấp tên miền của ICANN các thủ tục bắt buộc đối với vụ kiện tranh chấp bao gồm [26]:

– Điều kiện giải quyết tranh chấp:

Người bị khiếu kiện được yêu cầu tham gia tố tụng khi liên quan tới 3 trường hợp sau:

+ Tên miềncủaNgười bịkhiếu kiện trùng hoặc giốngđếnmứcnhầm lẫn với nhãn hiệu mà Người khiếu kiện là người có quyền; và

+ Ngườibị khiếu kiện không có quyền hoặc lợi íchhợppháp đối với tên miền đó; và

+ Tên miền mà Người bị khiếu kiệnđã đăng ký và đangsử dụng với mục đích xấu.

Người khiếu kiện phải đưa ra đượcđồngthời cả 3 điều kiện nêu trên trong đơn khiếu kiện.

– Chứng cớ cho việc đăng ký và sử dụng với mục đíchxấutrong (nhưng không giới hạn) các trường hợp sau:

+ Người bị khiếu kiện đã đăng ký hoặc đã cóđược tênmiền chỉ vì mục đích bán, cho thuê hoặc nếukhông thì chuyển đăng ký tên miền cho người khiếu kiện, người chủ nhãn hiệu dịch vụ hoặc chuyển cho đối thủ cạnh tranh của ngườikhiếu kiện với số tiền lớn vượt quá chi phí mà người bị khiếu kiện chi trực tiếp cho tên miền đó.

+ Người bịkhiếu kiện đăng ký tên miềnđểngăn cản người chủcủa nhãn hiệ sử dụng nhãn hiệu đó vào trong tên miền tương ứng hoặc là người bị

27

khiếu kiện đã hành động với mục đích như vậy; hoặc

+ Người bị khiếu kiện đăng ký tên miền nhằm mục đích ngăn cản công việc kinh doanh của đối thủ cạnh tranh; hoặc

+ Người bị khiếu kiện sử dụng tên miền để cố tình lôi kéo sự chú ý của người sử dụng Internet vì mục đích thương mại vào website của mình hoặc vào địa chỉ trực tuyến khác, bằng cách tạo ra một cái tên tương tự gây nhầm lẫn nhãn hiệu của người khiếu kiện làm cho người sử dụng Internet nhầm lẫn.

– Nghĩa vụ chứng minh được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong tên miền của Người khiếu kiện:

Ngườibị khiếu kiện có thể tự bảo vệ mình dựa trên các căn cứ sau:

+ Trước khi nhận được thông báo có tranh chấp, người bị khiếu kiệnđãsử dụng hoặc chứng minh được là chuẩn bị sử dụng tên miền hoặc tên tương ứng với tên miền liên quan tới việc cung cấp hàng hóa hay dịch vụ một cách thực sự; hoặc

+ Người bị khiếu kiện được công chúng biết đến thông qua tên miềnđó mà thậm chí người bị khiếu kiện chưa có các quyền đối với nhãn hiệu; hoặc

+ Người bị khiếu kiện đang sử dụng tên miền hợppháp không liên quan đến thương mại hay đang sửdụng tên miềnmộtcách đúng đắnngay thẳng, không có ý định thương mại để đánh lạc hướng người tiêu dùng hay đểlàm ảnh hưởng tới hình ảnh hay nhãn hiệu của người khiếu kiện kiện.

– Sau khi phê chuẩn UDRP, ICANNchỉđịnh4tổchức sau đâylàm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp tên miền:

+ Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) + Diễn đàn trọng tài quốc gia (NAF)

+ Công ty CPR

+ Công ty eResolution

Căn cứ vào tính hiệu quả của chính sách giải quyết tranh chấp tên miền

28

thống nhất đã ban hành, ICANN đã khuyến dụ tất cả các tổ chức quản lý tên miền cấpcao áp dụng hoặc xây dựng chính sách giải quyết khiếu nại liên quan đếntranh chấp tên miền theo thônglệ thống nhất nhằm tạo nên sựhài hoà, thống nhất về mặt thông lệtrong quá trình giải quyết các khiếu nại vềtranh chấp tên miền.

Thủ tục giải quyết tranh chấp tên miền tại Việt Nam

Đối với tên miền quốc gia, căncứ chính để giải quyết được các tranh chấp là các quy định pháp luật trongnước vì đa số đốitượngvềchủ thể cũng như khách thể đều ở trên một lãnh thổ nhất định. Ở Việt Nam, hệ thống pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp là khá đầy đủ trong các lĩnh vực dân sự, thương mại và hành chính. Tuy nhiên những quyđịnhvề mặt luật nội dung đối với các tranh chấp tên miền còn thiếu và các cơ quan có thẩm quyền rất khó đánh giá nguồn pháp lý để xử lý vụviệc và căncứ để giải quyết tranh chấp tên miền “.vn”.

Việc giải quyết tranh chấp tên miền tại Việt Nam hiện nay được căn cứvào điều 76 – Luật Công nghệ Thông tin số; điều 16 – Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp,sửdụng dịchvụInternet và thông tin trên mạng; Thông tư số10/2008/TT-BTTTT vàThông tư số 19/2014/TT-BTTTT sắp có hiệu lực vào ngày 20/01/2015.

Theo quyđịnhcủa VNNIC, việc giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia được thực hiện như sau [27]:

– Căn cứ, điều kiện giải quyết tranh chấp tên miền:

Ngoài các yêu cầu về điều kiện khởi kiện và yêu cầu về nội dung đơn khởi kiện theo quyđịnhcủa pháp luật nói chung, nộidung đơnkhởi kiện tranh chấp tên miền của Người khiếu kiện còn phải đảmbảođầyđủba điều kiện sau:

+ Tên miền tranh chấp trùng hoặc giống đến mức nhầm lẫn với tên của

29

Người khiếu kiện; trùng hoặc giống đến mức nhầm lẫn với nhãn hiệu thương mại hay nhãn hiệu dịch vụ mà Người khiếu kiện là người có quyền hoặc lợiích hợp pháp.

+ Người bị khiếu kiện không có quyền hoặc lợi ích hợp pháp liên quanđến tên miềnđó.

+ Tên miềnđãđượcNgườibịkhiếu kiệnsửdụngvớiýđồxấuđốivới Người khiếu kiện. Theo đó, các hành vi sử dụng tên miền với ý đồ xấu bao gồm:

Cho thuê hay chuyển giao tên miền cho Người khiếu kiện là người chủ của tên, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu dịch vụ trùng hoặc giống đến mức gây nhầm lẫn với tên miền đó; Cho thuê hay chuyển giao cho đối thủcạnh tranhcủaNgườikhiếu kiện vìlợiích riêng hoặcđểkiếmlờibất chính; hoặc

Chiếm dụng, ngăn không cho người chủcủa tên, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu dịch vụ đăng ký tên miền tương ứng với tên, nhãn hiệu thương mại hay nhãn hiệu dịchvụ đó; hoặc

Hủyhoại danh tiếng của Người khiếu kiện, cảntrở hoạtđộngkinh doanh của Người khiếu kiện hoặc gây sự nhầm lẫn, gây mất lòng tin cho công chúng đối với tên, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu dịch vụcủa Ngườikhiếu kiện; hoặc

Các trườnghợpkhác chứng minh được việc sử dụng tên miền với ýđồ xấu.

– Các hình thức giải quyết tranh chấp tên miền:

+ Thông qua thương lượng, hòa giải:

Các bên có thể thực hiện việc hòa giải trước hoặc trong quá trìnhtố tụng. Thủ tục hòa giải trước hoặc trong quá trình tố tụng được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết

30

tranh chấp, các bên phải lập Biên bản hòa giải thành theo quy định của pháp luật và Biên bản này phảiđượcgửi đến Nhà đăng ký tên miền “.vn” liên quan hoặc VNNIC để làm cơ sở xử lý tên miền tranh chấp.

+ Thông qua Trọng tài

Các bên có thể lựa chọn hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp tên miền phát sinh trong hoạt động thương mại.Thủtục giải quyết tranh chấp tên miền phát sinh trong hoạt động thương mại tại các Trung tâm trọng tàiđược thực hiện theo quy định của pháp luật.

+ Khởi kiện tại Tòa án

Các bên có thể yêucầutòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp tên miền trong quan hệ dân sự và hoạt động thương mại.Thủtục giải quyết các tranh chấp tên miền trong quan hệ dân sự hay hoạt động thương mại tại tòa án nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Theo các quy định nêu trên thì VNNIC không có thẩm quyền giải quyết các trường hợp phát sinh tranh chấp tên miền. Các bên liên quan phải thống nhấtđể lựa chọn cáchình thức giải quyết tranh chấp tên miền phù hợp.

– Xử lý tên miền có tranh chấp:

Sau khi có kết quả giải quyết tranh chấp, VNNIC và Nhà đăng ký tên miền “.vn” căn cứ vào biên bản hòa giải thành của các bên; quyết định đã có hiệu lực của trọng tài; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa ánđể xử lý tên miền có tranh chấp theo một trong các cách như sau:

+ Thu hồi tên miền, hoặc

+ Giữ nguyên hiện trạng của tên miền.

Trường hợp biên bản hòa giải thành; quyết định đã có hiệu lực của trọng tài; bảnán, quyết địnhđã có hiệu lực pháp luật của tòa án nêu rõ tên miền tranh chấp bị thu hồi cho phép nguyên đơn đăng ký sử dụng thì nguyênđơn được ưu tiên đăng ký trong vòngmười ngàykể từ khi biên bản, quyết

31

định,bảnán có hiệu lực pháp luật. Hết thời hạnnày mà nguyên đơnkhông đăng ký thì tên miền sẽ được cho đăng ký tự do.

1.2 . Khái quát về nhãn hiệu và mối liên hệ giữa tên miền với nhãn hiệu 1.2.1. Khái quát chung về nhãn hiệu

* Định nghĩa nhãn hiệu

Khái niệm Nhãn hiệu (tiếng Anh là Trade mark)được sử dụngrộng rãi từ lâu trên thế giới và tại Việt Nam. Đây là khái niệm được chuẩn hoá trong luật Việt Nam và quốc tế. Theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thì nhãn hiệu là “A trademark is a sign capable of distinguishing the goods or services of one enterprise from those of other enterprises” [28]. Khái niệm nàyđược tạmdịch là “Nhãnhiệu là các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau”. Khởi thủy của nhãn hiệu đã cótừ hàng ngàn năm trước, khi những người thợ hoặc công trườngthủcông dùng những dấu hiệu riêng

trên đồ gốm, đồ trang sức, vũkhí… đểphân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm của người khác khi thực hiện việc trao đổi, buôn bán các sản phẩm đó. Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế thị trường tiền tư bản, nhãn hiệu chuyển thành một công cụ quan trọng hơn là giúp người mua, người tiêu dùng dễ dàng phân biệt hàng hóa của một nhà sản xuất nàyvớinhà sản xuất khác, giúphọdễ dàng chọn lựa hàng hóa theo nhu cầu và sở thích. Nhãn hiệu do đó dần trở thành một đối tượng có giátrị, và cụ thể hơn là một tài sản vô hình quan trọng của nhà sản xuất, giúp làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa mang nhãn hiệu.

Các quyđịnhđầutiên vềđăng ký và bảohộnhãn hiệu ra đời tạiHoa Kỳ khoảng nửa cuối thế kỷ 18. Luật Nhãn hiệu đầu tiên của Pháp có hiệu lực năm 1857 và sauđó là của Anh năm 1862. Chođến nay với sựphát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, hầu hết các nước trên thế giới đều có luật

32

hoặc các quy định pháp lý bảo hộ nhãn hiệu. Các hiệp ước quốc tế quy định các nguyên tắc chung về đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu trên phạm vi toàn cầu cũng được ký kết, điển hình là Công ước Paris về bảo hộ Sở hữu công nghiệp,

Hiệp định TRIPS của WTO…

Điều 15 Hiệp định TRIPs quy định về nhãn hiệu như sau:

Bất kỳmột dấu hiệu hoặc tổhợpcác dấuhiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụcủa một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịchvụ của các doanh nghiệp khác đều có thểlàm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số,các yếu tố hình học vàtổhợpcác mầusắccũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năngđược đăng ký làm nhãn hiệu.

Tại Việt Nam, Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung năm 2009địnhnghĩa về nhãn hiệu: “Nhãn hiệu làdấuhiệu dùng đểphân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” [11, Điều 4, Khoản 16].

Từ định nghĩa về nhãn hiệu được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ, cóthể thấy nhãn hiệu bao gồm hai đặc điểm chính sau:

– Thứ nhất,đó phảilà một dấu hiệu hoặctổhợp các dấu hiệu. Các dấu hiệu đó có thể là cáctừ,kểcả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó. Các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được, dễ nhận biết, dễ ghi nhớ.

Các dấu hiệu tạothành nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hỉnhảnhhoặc kết hợp của các yếu tố này. Cụ thể:

+ Nhãn hiệu có thể bao gồm tập hợp các chữ cái có thể ghép lại thành từ hoặc ngữ có nghĩa hoàn chỉnh. Nhãn hiệuđược côngnhận là có khả năng phân biệt nếu những dấu hiệu là chữhoặctừ,ngữ làm nhãn hiệu phải thuộc các ngôn ngữ thông dụng, có khả năng phát âm được và không phải là tên gọi

33

thông thường của chính hàng hóa, dịch vụ đó cũng như không mang tính môtả công dụng, thành phần, tính chất của sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu.

+ Nhãn hiệu cũng có thể là những dấu hiệu hình ảnh, bao gồm cả hình

vẽ hoặc ảnhchụp. Trên thực tế, dấuhiệu hình khối –là hình ảnh được thểhiện trong không gian ba chiều cũng có thể đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Ví dụ: Hãng coca- co la đã được Cục Sở hữu trí tuệ chấp nhận bảo hộ cho nhãn hiệu là hình khối chai nước ngọt Coca- cola. Dấu hiệu kết hợpđược sử dụng làm nhãn hiệu nếu là sự kết hợp cả dấu hiệu chữ và dấu hiệu hình tạo thành một tổngthể độcđáo, dễ nhận biết, có khả năng phân biệt.

+ Nhãn hiệu cũng có thể là sự kết hợp giữa các yếu tố trên để làm nên tính phân biệt cho các hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.

– Thứ hai: Nhãn hiệu được dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chứ,cá nhân khác nhau.

Khả năng phân biệt của nhãn hiệu đã tạo nên sự khác biệt của hàng hóa, dịchvụmang nhãn hiệu của chủthể nàyvớihàng hóa, dịchvụ mang nhãn hiệu của chủthế khác.Điều nàyđã khiến cho nhãn hiệu trở thành tênđịnh danh của các sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu giúp cho nhãn hiệu thực hiện được chức năng chính của mình là phân biệt giữa chủ thế kinh doanh này và chủthể kinh doanh khác và chỉ ra nguồn gốc của sảnphẩm, dịchvụ.Đặc điểmnày khá giống với tên miền do tên miền là tên định danh một địa chỉ IP trên Internet. Do đó, các chủ thể kinh doanh thường có xuhướngđồng bộ giữa nhãn hiệu và tên miền do hai yếu tố này cùngchỉdẫncho người tiêu dùng về chủ thế kinh doanhđó.

Bên cạnh các đặc điểmcơbảntrên, một trong nhữngđặc điểmcủa nhãn hiệu cần phải được lưu ý đó là nhãn hiệu chỉ được giới hạn bảo hộ trong phạm vi quốc gia/lãnh thổ và phạm vi nhóm sản phẩm/dịch vụ đăng ký cho nhãn hiệu. Cụ thể,khi đăng ký nhãn hiệu, người nộp đơn phải chỉ ra mìnhdự

34

địnhxin bảo hộ nhãn hiệu cho các sản phẩm, dịch vụ nào. Người nộp đơn xin bảohộnhãn hiệu cho lĩnh vực nào thì chỉ được sở hữunhãn hiệu trong lĩnh vực đó (trừ trường hợp nhãn hiệunổitiếng). Đồngthời, người nộpđơn xin bảo hộ nhãn hiệu cho quốc gia nào thì việcbảo hộchỉ có hiệu lực trong phạm vi quốc gia đó. Nếu muốn được bảo hộ trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ khác, người nộp đơn phải mở rộng đăng ký sang các quốc gia, vùng lãnh thổ dưới hình thức nộp đơn riêng lẻ hoặc nộp đơn quốc tế theo các công ước quốc

tếvề sở hữutrí tuệ hiện nay.Điềunày khác với tên miền vì tên miền mang tính chất toàn cầu. Khi một tên miền xuất hiện trên hệ thống Internet, nó có thể lan truyển một cách nhanh chóng trên toàn thế giới mà khôngbị bất cứmột giới hạn về mặt địalý nào.

* Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu

Cũng giống như đối với tên miền, nhãn hiệu khôngđược tựđộng bảo hộ. Việc xác lậpquyềnsở hữuđối với nhãn hiệu phảiđược thực hiện thông qua quá trình đăng ký.Để nhãnhiệu được bảo hộ phải đạt được nhưngđiều kiện nhất định. Điều kiện bảohộ đối với nhãn hiệu được quy định tại từ điều 72 đến điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ.

Theo Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ, nhãn hiệuđượcbảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

– Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái,từ ngữ,hình vẽ, hìnhảnh, kểcả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếutốđó, đượcthể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc.

Một dấu hiệu sẽ không được bảo hộ dưới danh nghĩa là nhãn hiệu nếu dấu hiệu đó trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với:

+ Hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

+ Biểu tượng,cờ,huy hiệu, tên viết tắt, tên đầyđủ của cơ quan nhànước, tổchức chính trị,tổ chức chính trị – xã hội, tổchức chính trị xã hội –

35

nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

+ Tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

+ Dấu chứng nhận, dấu kiểm tra,dấubảo hành của tổ chức quốc tế màtổ chứcđócó yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức nàyđăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

+ Dấuhiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầmlẫnhoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giátrị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ.

– Bên cạnh đó, nhãn hiệu muốnđược bảo hộ còn phải đápứngđiều kiện là có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Việt Nam hiện không bảohộ các nhãn hiệu dạng âm thanh hoặc mùi hương do không nhìn thấyđược, ngaycả khiâm thanh hoặc mùi hương đó có khả năng phân biệt cao. Khả năng phân biệt luôn luôn làđặc điểmcơ bản nhất và cũng được coi là chức năng nổi trội nhất của nhãn hiệu.

+ Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệtnếu được tạo thànhtừmột hoặc một sốyếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếutố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ.

+ Tại điều 74, Luật Sở hữu trí tuệ cũng chỉ ra một sốdấuhiệu bị coi là không có khả năng phân biệt. Theo đó, có thể chia ra làm 2 nhóm các dấu hiệu sẽkhông được bảo hộ là nhãn hiệu do không cókhảnăng phân biệt,cụthể:

Nhóm thứ nhất: Nhóm các dấuhiệu không có khả năng phân biệttựthân nên không được coi là có khả năng phân biệt như: các biểu tượng, hình vẽ,tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ; các dấu hiệu chỉ địađiểm,

36

nguồn gốc địa lý, phương pháp sảnxuất hoặc các đặc tính môtả hàng hoá,

dịch vụ; các hình đơn giản, chữsố, chữ cái…

Tuy nhiên, LuậtSởhữutrí tuệcũng thừa nhận khả năng một số dấu hiệu nêu trên có thể dầndầnđạt được khả năng phân biệt nhờ quá trìnhsửdụng rộng rãi trước thời điểm nộp đơn. Thí dụ, nhãn hiệu TCL (chỉ gồm các chữ cái) của một công ty điện tử Trung quốc, nhãn hiệu thuốc lá 555 (chỉ gồm các chữ số), hay các nhãn hiệu “Bia Sài Gòn” hoặc “VangĐà Lạt”(là tên

hàng hóa vàđịa điểmsảnxuất)…đã đạt được khả năng phân biệt qua một quá trìnhsử dụngđếntrước thời điểmnộp đơnđăng ký và do vậy, sẽ được chấp nhận bảo hộ.

Nhóm thứ hai: Nhóm các dấu hiệu không cókhảnăng phân biệt do trùng hoặc tươngtự gây nhầm lẫn với: nhãn hiệuđã được đăng ký,sử dụng rộng rãi hoặc được coi là nhãn hiệunổitiếng trước có ngàynộpđơnhoặc ngày ưu tiên sớm hơn; tên thương mại đang được sử dụng của người khác; chỉ dẫnđịa lý, kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ hoặc có ngày nộp đơn,

ngày ưu tiên sớm hơn…

Như vậy, mặc dù không trực tiếp giải thích vềkhải niệm“khả năng phân biệt của nhãn hiệu” nhưng với các liệt kê nêu trên, Luật Sở hữutrí tuệ Việt Nam đã mô tả khá đầy đủ về khái niệm này.

Với các khải quát về nhãn hiệu như đã đề cập ở trên, có thể nói, nhãn hiệu với tư cách là một tài sản trí tuệ có chức năng lớn nhất là phân biệt giữa hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Khi được cấp quyền sởhữutrí tuệ đối với nhãn hiệu, trong phạm vi bảo hộ của mình, các chủsở hữu hoàn toàn có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạtđối với nhãn hiệu. Do đó, các chủ sởhữuthườngđầutư khá nhiều chi phí vào việc xây dựng và quảng bá nhãn hiệu. Vì thế, nếu như không giải quyết được sự xung đột pháp lý giữa bảo hộ tên miền và bảo hộ nhãn hiệu thì các quyền này của

37

chủ sở hữu sẽkhó có thể đượcđảm bảo trên thực tế.

1.2.2. Mối liên hệ giữa tên miền và nhãn hiệu

Tên miền không phải là đối tượngđiều chỉnh của Luật Sở hữutrí tuệViệt Nam. Do đó, việc đăng ký, cấp phát tên miền không được quy định trong Luật Sở hữutrí tuệ. Tuy nhiên, giữa hai đối tượngnày có mối quan hệ mật thiết, qua lại với nhau. Có thể khái quát về mối liên hệ giữa tên miền và nhãn hiệu như sau:

Thứ nhất, nhãn hiệu có thể là một bộ phận cấu thành của tên miền

Tênmiền được cấu tạobởi nhiều thành phần và cách nhau bởi dấu“.”. Như đã phân tích tại phần cấu trúc của tên miền, tên miền có thể bao gồm các

thành phần tên miền cấp 1, cấp 2, cấp 3… cấp n nhưng ít nhất trong các cấp này phải có một cấp(trừcấpcao nhất) có khả năng phân biệt. Và để tạora khả năng phân biệt của tên miền, đảmbảođược tính duy nhất của tên miền trong môi trường internet, các doanh nghiệp thường có xuthếlấynhãn hiệu làm thành phần có tính phân biệt của tên miền. có thể lấy ví dụ tên miền coca- cola.comlấynhãn hiệu coca-cola làm một bộ phậncấuthành, tên miền

ibm.com lấy nhãn hiệu ibm làm một bộ phận cấu thành…

Việc lấynhãn hiệu làm một thành phần của tên miền có tác dụng làm cho tên miền trở nên dễ nhớ,dễ nhận biết dobảnchất củanhãn hiệu là các dấuhiệudễ nhớ, dễ nhận biết. Thói quen của người dùng internet là thường truy cập vào website thông qua tên miền tương ứng với nhãn hiệu của doanh nghiệpđể tìmkiếm sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đó. Do đó, việc lấy nhãn hiệu làm một thành cấu tạo của tên miền sẽ làm cho khả năng tìm kiếm tênmiền được dễ dànghơn.

Tuy nhiên, mối quan hệ trên thường dẫn đếnhiệntượngcác chủthểthường lấytên miền của tổ chức, cá nhân khác đăng ký làm tên miền của mình. Tên miền có thành phần là nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu

38

của chủthể khác sẽlàm cho ngườitruy cập nhầmlẫnrằng chủ sở hữutên miền và chủ sởhữunhãn hiệu là một. Do đó,cầnphải có các biện phápđểkhắc phục các hệ quả này.

Thứhai, tên miền là côngcụđể quảng bá nhãn hiệu và phát triển kinh doanh

Theo quyđịnhcủa LuậtSở hữu trí tuệ Việt Nam thì nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Chức năng chính của nhãn hiệu là nhằm định danh và định vị hàng hóa/dịch vụcủa một doanh nghiệp này với hàng hóa/dịchvụcủa doanh nghiệp khác. Giữa muôn vàn các sảnphẩm/dịch vụ cùng loại, nhăn hiệu giúp người tiêu dùng nhận ra sản phẩm/dịch vụ mà mình thấy có uy tín. Và do đó, quảng bávề sản phẩm/dịch vụ của một doanh nghiệp thực chất chính là là quảng bá cho nhãn hiệu của sản phẩm/dịch vụ đó.

Hiện nay tên miền chưa phải là mộtđối tượng được Luật sở hữu trí tuệbảo hộ, tuy nhiên tên miềnlạicó một ý nghĩa rất quan trọngđối với việc bảo hộvà phát triển nhãn hiệu củadoanh nghiệp. Nếu ở ngoài đời thường một doanh nghiệp có tên, có địa chỉthì tên miền chính là thể hiện thậm chí còn nhiều hơn các thông tin này cho doanh nghiệp ở trong thế giớisố.

Ngày nay, với sự phát triển của thương mại điện tử thì Internet là một kênh rất quan trọng để các doanh nghiệp giới thiệu, quảng básảnphẩm dịch vụ cũng như thương hiệu của mình trên thị trường. Việc công ty có lấy được một tên miền trùng với nhãn hiệu của mình hay không sẽ ảnh hưởngrất lớn đếnhoạt độngkinh doanhcủacông ty.Nếucông ty xây dựng thương hiệu dựa trên một tên gọi nhưng lại không sở hữu tên miền mang tên gọi đó, điềuđócóthể dẫnđến việc lượngngười dùng sẽ đổ sang một trang của người chủ tên miền khác. Nếu đó là một đối thủ cạnh tranh thì bất lợi sẽ càng lớn. Việc quảng bá đểphát triển một thương hiệu lớn hiện nay liên quan chặt chẽ tới

39

khả năng đồng bộ nhãn hiệu với tên miền. Bất kỳ một sự nhầm lẫn nào cũng có thể dẫn đến việc mất đi lượng truy cập và số lượng khách hàng tiềm năng vào tay của đối thủ cạnh tranh.

Nhãn hiệu, tên thương mại, tên miền là ba yếu tốrất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn tồn tại được thì phải có cho riêng mình một tên thương mại, cùngvới đólà việc gắn cho các sản phẩm, dịch vụ của mình những nhãn hiệu riêng biệt. Đồngthời đểphát triển, quảng bá thương hiệu và xây dựng uy tín trong lòng khách hàng cũng như đối với các đối tác thì việc đăng kývà bảo hộtên miền có chứa tên thương mại hay nhãn hiệu của doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết. Do đó, cần phải đăng ký tên miền song song với việc bảo hộ nhãn hiệu. Việc xây dựng và bảo hộ tốtcácđối tượng nàysẽ giúp cho doanh nghiệp khẳngđịnhđược uy tín của mình trên thị trường.

Tuy nhiên, trong khi tên miền–vớitư cách làđịachỉđịnhdanh của các website nên mang tính duy nhất thì nhãn hiệulạirấtđa dạng do bị giới hạnbởiphạm vi hàng hóa/dịchvụvà phạm vi quốc gia.Đâycũng làđiểm mấuchốt khởi nguồn của các vụ tranh chấp tên miền trên Internet. Theo quyđịnh của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thì nhãn hiệuđược bảohộ tạiquốc gia này có thể khôngđược bảohộởquốc gia khác trừ trường hợp chủ nhãn hiệu cóthể lựachọn cách thức bảo vệ khu vực hoặc quốc tế thông qua Hiệp ướcquốc tế. Đồngthời, khi chủ sở hữu nhãn hiệu xin đăng ký bảo hộnhãn hiệu trong nhóm ngành nghề nào thì chỉ được sở hữunhãn hiệu trong phạm vi nhóm ngành nghềđó.Bảnchấtcủabảovệcác đốitượngsởhữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng là bảo hộ theo phạm vi lãnh thổ biên giới các quốc gia. Điều này khác với việcbảovệ tên miền – làđạidiện thay thế địachỉIPđể địnhdanh máy tính trên Internet toàncầuvới phạm vi quốctếvà không bị giớihạnbởi bấtcứlĩnhvựchoạt động nào. Với thông lệ

40

quốctế thì tên miền sẽ khôngđượcđiềuchỉnh theo các quyđịnh liên quanđếnSở hữu trítuệmà tuân thủ theo quy định của ICANN, Nhà quản lý tên miền và Nhà đăng ký tên miền,hợpđồngđăng ký tên miền vàmộtsốquyđịnh liên quan. Điềunàyđã dẫn đếnsựxungđộtpháp lý giữa tên miền vànhãn hiệu và dẫnđếnhệ quả là hai đối tượng này thay vì hỗ trợ nhau trong hoạt động quảng bá cho doanh nghiệp thì nhiều khilạihạn chế lẫn nhau. Do đó, việc giải quyết sự xung đột pháp lý giữa việc bảo vệ tên miền và bảo hộnhãn hiệu là rất quan trọng.

1.3. Kinh nghiệm bảo hộ tên miền tại một số nước trên thế giới Trong lĩnh vực bảohộvà giải quyết tranh chấp liên quan đến tên miền,

trên bình diện quốc tế hiện nay, nhiều quốc gia đã có những bước tiến đột phá trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình, chủ yếu dựa trên “Chính sách giải quyết tranh chấp thống nhất” – UDRP do ICANN phối hợp vớiWIPO ban hành năm 1999.

Về việc đăng ký và xác lậpquyền sử dụng đốivớitên miền, hiện nay,đasốcác quốc gia trênthếgiớiđềuhoạtđộngtheo nguyêntắcĐăng kýtrước, cấp phát trước. Khi có tranh chấp phát sinh thì cácchủthểphải có nghĩa vụ chứng minh mối liên quan của mình đối với tênmiền đóvà chứng

minh đối thủđã cóđộng cơ không thực – unfaith khi đăng ký tên miền. Do đó, sự khác nhau trong việc đăng ký và xác lập quyền đối với tên miền giữa các quốc gia là không nhiều mà chủyếu tậptrung trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp. Và chínhởlĩnhvựcgiải quyết tranh chấp,sựkhác biệt nhau trong quan niệm về việc bảo hộ tênmiền đặcbiệt là tên miền liên quanđến nhãnhiệu mới được thể hiệnmột cách rõ ràng. Do đó, trong các phân tích tại tiểu mục này, người viết đi sâu vào kinh nghiệm về giải quyết tranh chấp tên miềntạimộtsốnướctrênthếgiớiđểtừđóvậndụng vào việc so sánh với các quy định pháp luật Việt Nam.

41

* Giải quyết tranh chấp theo UDRP

UDRP là một quy trình giải quyết tranh chấp được tạo ra bởi ICANN. Chính sách nàyđượcáp dụng cho các tên miền cấp cao nhất và một vài tên miền quốc gia cấp cao nhất. Giải quyết tranh chấp theo UDRP gồmcó 5 bước chính:

Thứ nhất, nguyênđơn nộp đơnkhởi kiện. Nguyên đơnđược quyềnlựa chọn nộpđơnkhởi kiện tới một trong bốnTCGQTC do ICANN ủynhiệm. Hiện nay, danh sách các tổ chức này bao gồm: Trung tâm hòa giải và trọng tài WIPO, Trung tâm giải quyết tranh chấp tên miền châuÁ(Asian Domain

Name Dispute Resolution Center–ADNDRC), Diễn đàn trọng tài quốc gia

(National Forum–NAF), Trung tâm trọng tài Cộng hòa Séc vềgiải quyết tranh chấp Internet (The Czech Arbitration Court Arbitration Center foer

Internet Disputr – CAC) [29].

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TÊN MIỀN LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU

Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *