GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỚI THƯƠNG NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong bối cảnh hoạt độngtraođổi hàng hóa, dịch vụ ngày càng phát triển không chỉ giới hạn bởi biên giới quốc gia mà mở rộng ra khuvựcvà toàn thế giới thì pháp luật điều chỉnh các hoạt động này, đặc biệt là quan hệ tiêu dùng đãđược mở rộng ở cả bacấp độ: quốc gia, khuvựcvà quốc tế. Nhiều quốc gia ở khắp Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ đã sớm xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệtiêu dùng như Luật Bảovệngười tiêu dùng (Consumer Protection Act) củaAnh
năm 1987, Luật Bảo vệ người tiêu dùng củaẤnĐộ năm 1986…Hệthống pháp luật điều chỉnh quan hệ tiêu dùng nhanh chóng phát triển với nhiều nguyên tắc và chế địnhmới mà thông qua đó vị thếcủa người tiêu dùng trong mối quan hệ với bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ trở nên cân bằng hơn. Tuy vậy, tranh chấp về quyền và
lợi ích giữa hai chủ thể bao gồm thương nhân cung ứng hàng hóa, dịch vụ và một bên là cộng đồng người tiêu dùng vẫn luôn tồn tại và phát sinh như một tất yếu. Khi mốiquan hệ này càng mở rộng ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia về địa lý, mở
rộng về quy mô và phạm vi thị trường tiếp nhận hàng hóa, hay tính chất phức tạp của chuỗi cung ứng hàng hóa cũng đồng nghĩa với sự gia tăng về lượng và tính chất phức tạp của các tranh chấp tiêu dùng, đòi hỏi những nghiên cứu thấu đáo và đầy đủvề nội hàm quan hệ tiêu dùng đểtừđó có cách thức lập pháp phùhợp đểbảo đảm quyền lợi của hai bên khi tranh chấp phát sinh.
Trướcnhững tiền đềđó,kế thừakinh nghiệm lập pháp trong hoạt động bảo vệ người tiêu dùng, Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng từ năm 2010 cùng các văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi pháp luật vàthực tiễn nghiên cứu vềquan hệpháp luật tiêu dùng, các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng hiện nay ở Việt Nam còn rất hạn chế, trong khi hoạt động xây dựng luật còn cứng nhắc và chưa tính tới những đặc thù riêng có trong môi trường pháp lý Việt Nam. Nhiều vấn đề pháp lý đụng chạm tới các ngành luật khác như
pháp luật dân sự, tố tụng dân sự… khiến giớihọc giảvà các nhà lập pháp chưathể giải quyết trong bối cảnh yêu cầu đặt ra đối với hoạt động lập pháp, lập quy ngày càng cao. Nhiều quy phạmđượcban hành với mụcđích điều chỉnhtốthơn mối quan hệ tiêu dùng, tuy nhiên lại không thiếu hướng dẫn nên mất tính thực tiễn như:
khởi kiện tập thể; tố tụngrút gọn…
Trướcyêu cầu đó, tácgiảđãnhìn nhận nội dung nghiên cứu quan hệ pháp luật tiêu dùng nói chung và các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng nói riêng một cách có hệ thống với cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng sẽ là căn cứ quan trọng nhằm hình thành những nhận thức đúng đắn về phạm vi điều chỉnh của pháp luật, giátrị chuẩn mực về vị thếcủa các chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
khi tham gia.…Điều này sẽgóp phần xây dựng nên chân giátrị của “sự côngbằng” trong mối quan hệ giữa người tiêu dùng và người cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Vìvậy, tác giảlựachọn “Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận án.
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu
(i) Các quanđiểm,nghiên cứu,họcthuyếtvềquanhệpháp luật tiêu dùng, phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng và cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
(ii)Hệthống các văn bản pháp luật của Việt Nam cũng như thếgiới vềbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
(iii) Thực tiễn tại Việt Nam.
(iv)Kinh nghiệm pháp lý nước ngoài trong việc xây dựng cơ chế GQTC NTD 2.2. Mục đích nghiên cứu
Mụcđích nghiên cứu của luận án là làm sángtỏnhững vấn đềlý luận về giải quyết tranh chấp tiêu dùng; phân tích, đánh giá các nội dung lí luận liên quan tới quan hệ pháp luật tiêu dùng, các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng của Việt Nam và kinh nghiệm một số quốc gia trênthếgiới về giải quyết tranh chấp tiêu dùng, đồng thời luận án đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Formatted: Vietnamese
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc những khía cạnh pháp lý của từng thành tố trong quan hệ pháp luật tiêu dùng như chủ thể, khách thể, nội dung, giải quyết tranh chấp tiêu dùng theo các phương thức hành chính, thay thếvà Tòa án. Luận án sử dụng căn cứ pháp luật, cơ chế Việt Nam hiện hành và kinh nghiệm thiết lập cơ chếcủa cácnước nhằmđảmbảovị thếngườitiêu dùng khi phát sinh tranh chấp với thương nhân. Nghiên cứu còn sử dụng thực tiễn giải quyết tranh chấp tiêu dùng ở Việt Nam cũng như pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của mộtsố quốc gia phát triển nhằm đánh giá về quy định pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam và đưa ra những quan điểm hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh
chấp tiêu dùng…. tại Việt Nam hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hoá các công trình khoa học của các tác giả đi trước có liên quan đến đề tài luận án, tácgiảkế thừacó chọn lọc và phát triển ýtưởng khoa học, từ đóđưara những luận điểmcủamình vềvấn đềnghiên cứu. Nhiệm vụ nghiên cứu mà luận án hướng tới là:
– Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quan hệ pháp luật tiêu dùng, pháp luật về giải quyết tranh chấp tiêu dùng, các thành tố liên quan cũng như thực tiễn pháp luật điều chỉnh những nội dung này một cách rõ ràng nhất;
-Phân tích, đánh giá các nội dung lí luận liên quan tới quan hệ pháp luật tiêu dùng, các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùngcủaViệt Nam và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về giải quyết tranh chấp tiêu dùng;
– Nghiên cứu so sánh về mô hình giải quyết tranh chấp tiêu dùng tại mộtsố quốc gia tiêu biểu để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm;
Đềxuất những kiến nghị về quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật vềgiải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân
Bên cạnh những nội dungđãnghiên cứu, tácgiảnhận thấy còn tồn tại một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và tìm giải pháp, cụ thể:
– Về phạm vi khái niệm “người tiêu dùng” và “thương nhân” là các chủ thểtham gia vào mối quan hệ pháp luật tiêu dùng, pháp luật các nước và các học giả hiện nay còn nhiều quan điểm trái chiều như: liệu khái niệm “người tiêu dùng” có bao hàm tổchức? khái niệm “thươngnhân” mở rộngtới đâu? Pháp luật Việt Nam tuy đã có
những quy định riêng về các vấn đề này, nhưnghạnchế trong thực tiễn áp dụng chưa chứng minhđược tính đúng đắncủa các quy định liên quan.
– Việc gia tăng quyền của người tiêu dùng cũng đồng nghĩa với việc gia tăng
rủi ro cho thương nhân khi tham gia quan hệ trao đổi, mua bán với người tiêu dùng. Thực tiễn pháp lý cho thấy việc hài hòa mối quan hệ này không đơn giản, đòi hỏi tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.
– Thực tiễnvề giảiquyết tranh chấp thay thế đối với các tranh chấp tiêu dùngđặtra vấnđề giảiquyết các tranh chấp tiêu dùng cần cơsựhợptác giữa các quốc gia hoặc thông qua các tổ chức quốc tế.TạiChâu Âu, vấn đề này còn nhiều quan điểm và đề xuấtkhác nhau về cách thức giải quyết các tranh chấp tiêu dùng như vậy. Người tiêu dùng khi thực hiện hành vi tiêu dùngtạimột quốc gia khác có thể thực hiện quyền của mình tạitổchức nào? Phạm vi thẩm quyềncủa tổchức này tới đâu?
– Tại Việt Nam, thực tiễn hiện nay cho thấy người tiêu dùng dường như có tâm lý chấp nhận và từ bỏ quyền thương lượng với bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ khi có phát sinh cácvấn đềliên quan tới sản phẩm. Ở phía bên kia, thương nhân cung cấp hàng hóa cũng có tâm lý tìm mọi cách đểbán đượchàng, đẩy toàn bộ rủi ro và khuyết tật hàng hóa chongườitiêu dùng đồng thờilạm dụng vị thếcủamình nhằm đạt ưu thếtrong quá trình thương lượng. Mối quan hệ qua lại này khiến cho hoạt động bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng thông qua ADR không đạt đượckết quảnhư mong đợi. Các giải pháp khắc phục tình trạng này chưa thựcsựgiải quyết triệt để được vấn đề.
– Hiện nay, trong các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, nếu nhưphán quyết của trọng tài được thừa nhận và hỗ trợ thi hành bởi hệ thống tư pháp thì các thoả thuận hòagiải chỉ đượccoi là căn cứ, bằng chứng để tòa án đưa ra phán quyết nếu có phát sinh tranh chấp liên quan tới nội dung hòa giải. Pháp luật Việt
Nam hiện còn thiếu các quy định điều chỉnh tố tụng hòa giải và đảm bảo thi hành thỏa thuận hòa giải giữa các bên.
– Việc áp dụng những trình tự tố tụng mới hoặc thựchiện đềxuất xây dựng thểchế tư pháp mới chuyên giải quyết tranh chấp tiêu dùng đòi hỏi những sửa đổi cơ bản về hệ thống tư pháp, hệ thống quy định về tố tụng dân sự hoặc thậm chí bổ sung đáng kể các quy địnhmớivề tốtụng tiêu dùng. Điều này cần được cân nhắc trên cơ sở thực tiễn đặc thù của Việt Nam so với các quốc gia khác.
5. Những đóng góp của Luận án
Từ quá trình khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quan hệ pháp luật tiêu dùng, tác giả nhận thấy hoạt động nghiên cứu đạtđượcmột số kết quả cơ bản sau:
Đối với quan hệ tiêu dùng:
–Thứnhất, có rất nhiều cách tiếp cận ở các gócđộkhác nhau từ góc độ kinh tế, góc độ pháp lý, góc độ chính trị về quan hệ pháp luật tiêu dùng. Song nhìn chung các tácgiảđều khẳng địnhtồntại sựbất cân xứng trong quan hệpháp luật tiêu dùng, dẫn tới vị thế yếu của người tiêu dùng trong mối quan hệ cung ứng hàng hóa.
–Thứhai, quyền lợi củangười tiêu dùngđượcbảovệtrước, trong và sau giao dịch hàng hóa, dịch vụ với thương nhân. Ngoài ra, quyền lợi đó còn được bảo vệkhi có tranh chấp phát sinh, trong và sau khi tranh chấp tiêu dùngđượcgiải quyết. Nhà nước luôn đóng vai trò can thiệp bằng pháp luật vào cáchoạt động có sựtham gia của người tiêu dùng để đảm bảo sự công bằng.
– Thứ ba, pháp luật các nước đưa vào mối quan hệ pháp luật tiêu dùng những cơ chế đặc thù theo hướng củng cố quyền của người tiêu dùng nhưng hạn chếkhảnăng lạm dụng quyền gây phương hại hoạt động kinh doanh,đồngthời xây dựng các quyđịnh vềcơ chếgiải quyết tranh chấp theo hướng đơn giản vềthủ tụcvà khuyến khích tự thỏa thuận.
Vềcác phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng giữa thương nhân vàngười tiêu dùng:
–Thứnhất, nghiên cứu đưa ranhận địnhrằng pháp luật Việt Namvềgiải quyết tranh chấp tiêu dùng còn nhiều bất cập. Hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng chưa hình thành đượccác chuẩn mựcvềkỹthuật và trìnhtựthực hiện, hệthống thiết chế hỗ trợ yếu, niềm tin của người tiêu dùng vào các phương thức giải quyết tranh chấp chưa cao.
– Thứ hai, cơ chếbảo đảm thựcthi thỏa thuận thương lượng, hòa giải thông qua hoạt động công nhận của tòa án và cơ quan thi hành án dân sự chưađượcxây dựng khiến việc áp dụng thương lượng, hòa giải mang tính rủi ro cao so với cơ chếgiải quyết tranh chấp tiêu dùng thông qua trọng tài và tòa án.
– Thứ ba, khác với các tranh chấp thương mại thông thường, tranh chấp tiêu dùng có đặcthù bởi tính bất cân xứng vềvịthếgiữa người tiêu dùng và thương nhân. Do vậy, quá trình áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp cũng đặt ra những yêu cầu đặc biệt nhằm hạn chếsựbất cân xứng nói trên, đảm bảo công bằng cho người tiêu dùng trong quá trình giải quyết tranh chấp. Mức độ can thiệp của Nhà nước vào hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng cần đượccân nhắc để đảm bảo quyền của người tiêu dùng.
– Thứ tư, ở nhiều quốc gia trên thế giới, hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng thông qua phương thức thaythếđượccoi là một hoạt động “phi nhànước” không chỉ được thực hiện bởi các thiết chế côngmà còn đượcmở rộngrahệthống các thiếtchếtư, tổchức chuyên nghiệp hoạtđộngvì cộngđồngngười tiêu dùng. Thậm chí, ở nhiều quốc gia, sốlượng vụ việc đượcgiải quyết thông qua cơ chế tư còn nhiều hơn rất nhiều so với cơ chếcông. Do vậy, các quyđịnhpháp luật liên quan tới tranh chấp tiêudùng cần đượccân nhắc về phạm vi tác độngđểđảm bảo nguyên tắc tự thỏa thuận đối với loại quan hệ này.
– Thứ năm, giải quyết tranh chấp tiêu dùng cần thiết phải mở rộng ra các quan hệ tiêu dùng vượt qua biên giới lãnh thổ, hay nói cách kháccầnxây dựng cơ chế hợp tác song phương, khu vực và quốc tế trong hoạtđộng giảiquyết tranh chấp tiêu dùng.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
– Ý nghĩa khoa học:Đề tàigóp phầnbổsung các lí luận cơbảnvề quanhệ tiêu dùng, tranh chấp tiêu dùng và các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng trong các lí luận về quan hệ dânsự, đồngthờibổsung các khái niệm, quan điểm lí luậnmớiliên quantới “tính bấtcân xứng” trong quan hệ tiêu dùng và xử lý, điều hòa nguyêntắcđặcthù này thông qua các quy phạm pháp luật có liên quan trên cơsởkếthừa các kết quả nghiên cứu, lí luận và thực tiễn thành công trên thế giới.Đồngthời, đề tàicũng làm rõ tính tươngđồngvà đặcthù giữa pháp luật dân sự chung với pháp luậtđiềuchỉnh quan hệ tiêu dùng, thông qua việc so sánh và đối chiếu các lí luận, quy phạm pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp tiêu dùng, góp phần bổ sung vào kho tàng nghiên cứu về pháp luật tiêu dùng hiện nay ở Việt Nam.
– Ý nghĩa thực tiễn:Đề tàikhai thác tính cấp thiết của việc hoàn thiện các quyđịnh pháp luật liên quantớigiải quyết tranh chấp tiêu dùng trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu hơn với thế giới, người tiêu dùng đòi hỏi cao hơn việcđược bảovệ các quyền và lợi ích chính đáng trước những xâm hại lợi íchtừphía thương nhân cung ứnghàng hóa,đồngthời vai tròmờ nhạtcủa các tổ chức xã hội, cơ quan quản lý Nhà nước trong hoạtđộngbảo vệ người tiêu dùng khi phát sinh tranh chấp. Nhiều vụ việc trở nên nhức nhối và có xu hướng gia tăng cả về quy mô kinh tế và tácđộngxã hội trong khi hệ thống pháp lývẫnđangmớitrong giaiđoạnthíđiểm, định hướngmàthiếucụthể.Thực tế này đặtra yêu cầu cấp bách cầnsớmcó những nghiên cứu một cách tổngthể về hoạtđộnggiải quyết tranh chấp tiêu dùng nhằm góp phần làm kim chỉ nam để áp dụng trong công tác xây dựng và áp dụng pháp luật.
Kết quả nghiên cứu luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy về pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; đồng thời, là nguồn tham khảo đối với việc ban hành các văn bản hướng dẫn Luật BVQLNTD năm 2010 cũng như quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật liên quan.
7. Kết cấu Luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm 04 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân
Chương 3: Thực trạng giải quyết tranh chấp giữangườitiêu dùng với thương nhân tại Việt Nam
Chương 4: Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1. Những kết quả đạt được của hoạt động nghiên cứu
Từ quá trình khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quan hệ pháp luật tiêu dùng, tác giả nhận thấy hoạt động nghiên cứu đạtđượcmột số kết quả cơ bản sau:
Về quan hệ tiêu dùng:
– Thứ nhất, có rất nhiều cách tiếp cận ở các gócđộkhác nhau từ gócđộkinh tế, góc độ pháp lý, góc độ chính trị về quan hệ pháp luật tiêu dùng. Song nhìn chung các tácgiảđều khẳng địnhtồntại sựbất cân xứng trong quan hệpháp luật tiêu dùng, dẫn tới vị thế yếu của người tiêu dùng trong mối quan hệ cung ứng hàng hóa.
– Thứ hai, quyền lợi củangười tiêu dùngđượcbảovệtrước, trong và sau giao dịch hàng hóa, dịch vụ với thương nhân. Ngoài ra, quyền lợi đó còn được bảo vệkhi có tranh chấp phát sinh, trong và sau khi tranh chấp tiêu dùngđượcgiải quyết. Nhà nước luôn đóng vai trò can thiệp bằng pháp luật vào cáchoạt động có sựtham gia của người tiêu dùng để đảm bảo sự công bằng.
– Thứ ba, pháp luật các nướcđưavào mối quan hệ pháp luật tiêu dùng những cơ chế đặc thù theo hướng củng cố quyền của người tiêu dùng nhưng hạn chếkhảnăng lạm dụng quyền gây phương hại hoạt động kinh doanh,đồngthời xây dựng các quyđịnh vềcơ chếgiải quyết tranh chấp theo hướng đơn giản vềthủ tụcvà khuyến khích tự thỏa thuận.
Vềcác phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng giữa thương nhân vàngười tiêu dùng:
– Thứ nhất, nghiên cứu đưara nhận địnhrằng pháp luật Việt Namvềgiải quyết tranh chấp tiêu dùng còn nhiều bất cập. Hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng chưa hình thành đượccác chuẩn mựcvềkỹthuật và trìnhtựthực hiện, hệthống thiết chế hỗ trợ yếu, niềm tin của người tiêu dùng vào các phương thức giải quyết tranh chấp chưa cao.
– Thứ hai, khác với các tranh chấp thương mại thông thường, tranh chấp tiêu dùng có đặcthù bởi tính bất cân xứng vềvịthếgiữa người tiêu dùng và thương nhân. Do vậy, quá trình áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp cũng đặt ra những yêu cầu đặc biệt nhằm hạn chếsựbất cân xứng nói trên, đảm bảo công bằng cho người tiêu dùng trong quá trình giải quyết tranh chấp. Mức độ can thiệp của Nhà nước vào hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng cần đượccân nhắc để đảm bảo quyền của người tiêu dùng.
–Thứba, ở nhiều quốc gia trên thế giới, hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng thông qua phương thức thaythếđượccoi là một hoạt động “phi nhànước” không chỉ được thực hiện bởi các thiết chế côngmà còn đượcmở rộngrahệthống các thiếtchếtư, tổchức chuyên nghiệp hoạtđộngvì cộngđồngngười tiêu dùng. Thậm chí, ở nhiều quốc gia, sốlượng vụ việc đượcgiải quyết thông qua cơ chế tư còn nhiều hơn rất nhiều so với cơ chếcông. Do vậy, các quyđịnhpháp luật liên quan tới tranh chấp tiêudùng cần đượccân nhắc về phạm vi tác độngđểđảm bảo nguyên tắc tự thỏa thuận đối với loại quan hệ này.
–Thứtư, giải quyết tranh chấp tiêu dùng cần thiết phải mở rộng ra các quan hệtiêu dùngvượtqua biên giới lãnh thổ, hay nói cách khác cần xây dựng cơ chế hợp tác song phương, khu vực và quốc tế trong hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng.
1.2.2. Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, tìm giải pháp
– Dựa trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hoá các công trình khoa học, nghiên cứu củacác tácgiảđitrướccó liên quan đến đề tài luận án, tácgiảkếthừa có chọn
lọc và phát triển ý tưởng khoa học, từ đó đưa ra những luận điểm của mình về vấn đềnghiên cứu. Mục tiêu mà luận án hướng tới là nắm bắt các lý luận về quan hệpháp luật tiêu dùng, các thành tố liên quan cũng như thực tiễn pháp luật điều chỉnh mốiquan hệ này một cách rõ ràng nhất. Qua đó rút ra những nhận xét, đánh giávềnhững khó khăn, phức tạp, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị về quan điểm, giải pháp hoàn thiện các chế định pháp luật.
– Ngoài ra luận án cũng chú trọng nghiên cứu việc xây dựng và triển khai các mô hình GQTC NTD tại một số quốc gia tiêu biểu, từ đó tổng kết đánh giáđểrút kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học hỏi trong quá trình xây dựng pháp luật và cơ chế GQTC NTD.
– Bên cạnh những nội dung đã nghiên cứu, tác giả nhận thấy còn tồn tại một sốvấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và tìm giải pháp, cụ thể:
+Vềphạm vi khái niệm“người tiêudùng” và“thươngnhân”là các chủ thể tham gia vào mối quan hệ pháp luật tiêu dùng, pháp luật các nước và các học giả hiện nay còn nhiều quan điểm trái chiều như: liệu khái niệm “người tiêu dùng” có bao hàm
tổchức? khái niệm“thươngnhân”mởrộngtớiđâu? Pháp luật Việt Nam tuyđãcónhững quy định riêng về các vấn đề này, nhưng hạn chế trong thực tiễn áp dụng chưa chứng minh được tính đúng đắn của các quy định liên quan.
+ Việc gia tăng quyền của người tiêu dùng cũng đồng nghĩa với việc gia tăng rủi ro cho thương nhân khi tham gia quan hệ trao đổi, mua bán với người tiêu dùng. Thực tiễn pháp lý cho thấy việc hài hòa mối quan hệ này không đơn giản, đòi hỏi tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.
+ Thực tiễnvề giảiquyết tranh chấp thay thế đối với các tranh chấp tiêu dùngđặtra vấnđề giảiquyết các tranh chấp tiêu dùng cần cơsựhợptác giữa các quốc gia hoặc thông qua các tổ chức Quốc tế. Tại Châu Âu, vấn đề này còn nhiều quanđiểm và đề xuất khác nhauvề cách thức giải quyết các tranh chấp tiêu dùng như vậy. Người tiêu dùng khi thực hiện hành vi tiêu dùngtạimột quốc gia khác có thể thực hiện quyền của mìnhtại tổchức nào? Phạm vi thẩm quyềncủa tổchức này tới đâu?
+ Tại Việt Nam, thực tiễn hiện nay cho thấy người tiêu dùng dường như cótâm lý chấp nhận và từ bỏ quyền thương lượng với bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ khi có phát sinh cácvấn đềliên quan tới sản phẩm. Ở phía bên kia, thương nhân cung cấp hàng hóa cũng có tâm lý tìm mọi cách đểbán đượchàng, đẩy toàn bộ rủi ro và khuyết tật hàng hóa chongườitiêu dùng đồng thờilạm dụng vị thếcủamình nhằm đạt ưu thếtrong quá trình thương lượng. Mối quan hệ qua lại này khiến cho hoạt động bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng thông qua ADR không đạt đượckết quảnhư mong đợi. Các giải pháp khắc phục tình trạng này chưa thực sựgiải quyết triệt để được vấn đề.
+ Hiện nay, trong các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, nếu nhưphán quyết của trọng tài được thừa nhận và hỗ trợ thi hành bởi hệ thống tư pháp thì các thoả thuận hòagiải chỉ đượccoi là căn cứ, bằng chứng để tòa án đưa ra phán quyết nếu có phát sinh tranh chấp liên quan tới nội dung hòa giải. Pháp luật Việt Nam hiện còn thiếu các quy định điều chỉnh tố tụng hòa giải và đảm bảo thi hành thỏa thuận hòa giải giữa các bên
+ Việc áp dụng những trình tự tố tụng mới hoặc thực hiện đề xuất xây dựng thểchế tư pháp mới chuyên giải quyết tranh chấp tiêu dùng đòi hỏi những sửa đổi cơ bản về hệ thống tư pháp, hệ thống quy định về tố tụng dân sự hoặc thậm chí bổ sung đáng kể các quy địnhmớivề tốtụng tiêu dùng. Điều này cần được cân nhắc trên cơ sở thực tiễn đặc thù của Việt Nam so với các quốc gia khác.
1.3. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 1.3.1. Cơ sở lý thuyết
– Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
– Lý luận và thực tiễn pháp lý vềtừng phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng (gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án) và mối quan hệ giữa các bên trong quá trình giải quyết theo từng phương thức;
– Lý luận và thực tiễn pháp lý về quan hệ pháp luật tiêu dùng và tranh chấp phát sinh trong quan hệ tiêu dùng;
– Lý luận về vai trò của Nhà nước trong hoạt động xây dựng pháp luật;
– Lý luận về bất đối xứng về thông tin trong quan hệ tiêu dùng, về quyền lực
Nhà nước và vai trò của xã hội dân sự… 1.3.2. Phương pháp nghiên cứu
Đểnghiên cứu có hiệu quảnhững vấn đềdo đềtài đặt ra, luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đâylàphương pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu củaluận án, đểđưa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm tính khách quan, chân thực. Từ phương pháp chung đó, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, đó là phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành, liên ngành (kinh tế, luật học, chính trị); phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp luật học so sánh; phương pháp xã hội học pháp luật. Để thực hiện có hiệu quảmụcđích nghiên cứu, luận án kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp trong suốt quá trình nghiên cứu của toàn bộ nội dung luận án. Tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu của từng chương, mục trong luận án, tácgiảvận dụng, chú trọng các phương pháp khác nhau cho phù hợp.
Chương 2
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
GIỮA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỚI THƯƠNG NHÂN
Dẫn nhập:
Vốndĩ, giao dịch là thương lượng và thỏa thuậnvềlợiích, tuy nhiên, thỏa thuận này trong quanhệ mua bán giữangườitiêu dùng và thương nhân thực tếkhông dựa trênsự bình đẳng vềvịthế. Tổng thể các vấn đề lí luận liên quan tới giải quyết tranh chấp tiêu dùng cho thấy tranh chấp khôngtựnhiên phát sinh mà do nội hàm quan hệ tiêu dùng ẩn chứa những rủi ro về sự bất bình đẳng dẫn tới tranh chấp.
2.1. Quan hệ pháp luật tiêu dùng
Quan hệ pháp luật tiêu dùng là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội (traođổi hàng hóa, dịch vụ) giữa người bán và người mua đối với hàng hóa, giữa bên cung
ứngdịch vụ và bênthụ hưởngdịchvụ…Quan hệ pháp luật tiêu dùng hình thành trên cơ sở các quy phạm pháp luậtđiềuchỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ với những mục đíchcụthể,được ápdụng khi phát sinhsự kiệnpháp lý. Quy phạm pháp luậtvề bảo vệ quyềnlợingười tiêu dùng được coi là trọng tâm trong nội dung quan hệ pháp luật tiêu dùng, các quy phạm pháp luật chuyên ngành khác cóýnghĩa bổtrợtrong từng mối quan hệ tương ứng.
Quan hệ pháp luật tiêu dùng được hình thành bởi ba thànhtốcơ bản: (i) Chủ thể, (ii) Khách thể và (iii) Nội dung.
2.1.1. Chủ thể trong quan hệ pháp luật tiêu dùng
Tham gia vào quan hệ pháp luật tiêu dùng, chủ thể bao hàm hai đối tượng cơbản làđối tượngthụ hưởnghàng hóa, dịch vụ (sau đâygọi chung là“Người tiêu dùng”) và đối tượng cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Luật BVQLNTD năm 2010 của Việt Nam định nghĩa trên cơ sở đặc thù quản lý hoạt động thương mại, cụ thểTổchức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trìnhđầutư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cungứngdịch vụ trên thị trường nhằm mụcđích sinh lợi, bao gồm:
thương nhân theo quyđịnhcủa Luật thương mại và cá nhân hoạt động thươngmạiđộclập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh [61]. Trong phạm vi nghiên cứu của Luận án này, chủ thểchỉ đượcgiới hạn trong phạm vi quan hệ giữa người tiêu dùng với thương nhân. Sáu nhóm đối tượng là cá nhân thực hiện các hoạt động thương mạisau đây: buôn bán rong (buôn bán dạo), buôn bán vặt; bán quà vặt; buôn chuyến và các hoạt động thương mại dịch vụ nhỏ lẻ khác ghi nhận tại Nghị định số 39/2007/NĐ-CP [9] được loại trừ trong phạm vi nghiên cứu này.
Khái niệm Người tiêu dùng:
Hướng dẫn củaLiên HợpQuốcvềbảovệngườitiêu dùng ban hành năm 1985, sửa đổi năm 1999 dù không đưa ra một khái niệm rõ ràng, tuy nhiên, trên cơsở diễn giải của CI (Consumers International), khái niệm người tiêu dùng được cáthể hóa bởi 8 quyền năng cơ bản bao gồm:
(i) Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; (ii) Quyền được an toàn;
(iii) Quyền được thông tin; (iv) Quyền được lựa chọn;
(v) Quyền được lắng nghe;
(vi) Quyền được khiếu nại và bồi thường;
(vii) Quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng; và
(viii) Quyền được có môi trường sống lành mạnh bền vững [14, tr. 33].
Pháp luật nội địa của các quốc gia cũngcó sựkhác nhau trong quy định khái niệm “Người tiêu dùng”, tuy nhiên có thể xác định theo các trường phái quy định sau đây:
(i) Quy định theo đối tượng: Điều 1(e) Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Bang Quebec, Điều 1 Luật Bảo vệ người tiêu dùng và các hành vi kinh doanh của Bang British Columbia quy định rõ “người tiêu dùng là tự nhiên nhân (thể nhân)” không có quan hệ mua hàng theo hợp đồng với nhà sản xuất, kinh doanh mà chỉ làngười sử dụng và thụ hưởng hàng hóa dịch vụ. Khác với luật pháp các quốc gia, nộihàm khái niệm người tiêu dùng lại được làm rõ trong một phán quyết của Tòa
án Công lý Châu Âu năm 1991, trong đó cùng với việc bác bỏ đề nghị ghi nhận doanh nghiệp muasảnphẩm, dịchvụvìmụcđích philợinhuận làmộtdạng “ngườitiêu dùng”, khẳng địnhrõ “ngườitiêu dùng là bất cứ tựnhiên nhân (thể
nhân) nào…” tại Chỉ thị số 1999/44/EC về mua bán hàng hóa tiêu dùng và các bảođảm có liên quan [97, tr.539].
(ii) Quy định theo mục tiêu: Luật bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan ban hành ngày 11/01/1994, bổ sung năm 2005 ghi nhận Người tiêu dùnglà “người tham gia vào các giao dịch, sửdụng hàng hóa hoặc dịchvụvì mục đích tiêu dùng”,không phân biệt thể nhân hay pháp nhân. Tương tự, Luật Bảo vệ người tiêudùng của Ấn Độnăm 1986 cũng có quy định gần tươngtựtạiĐiều 2(1d): Người tiêu dùng là bất cứ
người nào mua … hàng hóa… mà không có mục đích để bán lại hoặc vì mục đích thươngmạikhácvà Điều2(1m) giải thíchchữ “người” (nhân) ở đâyđược hiểubao gồm: hãng (doanh nghiệp), cá nhân, hộ gia đình,hợptác xã,tổchức xã hội [122]. Một cáchcụthể hơn, Luật bảo vệ người tiêu dùng Malaysia năm 1999 ghi nhận cácđối tượnglà người tiêu dùng khi tiếp nhận hàng hóa dịchvụvì mục đích sử dụng cánhân, hộ gia đình, không vì mục đích thương mại, sản xuất. Pháp luật Việt Nam cũng
lựa chọn phươngthức này để điềuchỉnh khái niệm người tiêu dùng. Cụ thể,Điều3.1 Luật BVQLNTD năm 2010 quy định: Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịchvụcho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình,tổchức.
Như vậy về cơ bản, “Người tiêu dùng” trong quan hệ pháp luật tiêu dùng tuy khác nhau về chủ thể là pháp nhân hay thể nhân, nhưngđềuthống nhất về quanđiểm là đối tượng thụ hưởng hàng hóa, dịchvụcuối cùng vì nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt riêng, không vì mục tiêu thương mại. Người tiêu dùng không nhất thiết phải là người mua hàng trực tiếp để sử dụng vào mục đích sinh hoạt cá nhân mà có thể là người thụ hưởnggián tiếp hàng hóa, dịch vụ do người khác mua [5, tr.4]. Vídụ:người sửdụng hàng hóa, dịch vụ do người trong gia đình mua sắm cũng được coi là người tiêu dùng. Quan điểm này tách người tiêu dùng ra khỏi chuỗi phân phối hàng hóa, dịchvụ,chỉđóng vai trò là điểm cuối cùng và mục tiêu của chuỗi phân phối, đồng thờitạocơsở phân biệt quan hệ pháp luật tiêu dùng với các quan hệ pháp luật thương mại khác.
Khái niệm Thương nhân:
Giới hạn phạm vi của khái niệm thương nhân tham gia quan hệ tiêu dùng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi xem xét tới phạm vi đối tương tham gia quá trình giải quyết tranh chấp tiêu dùng.
Hướngdẫncủa Liên Hợp Quốc về bảovệ người tiêu dùng ban hành năm 1985, hiệu chỉnh vào năm 1999 chỉ ghi nhận chủ thể này là “tổ chức kinh doanh”, “những người cótrách nhiệmđưasảnphẩm ra thịtrường đặc biệtlà những người cung cấp, xuất nhập khẩu, nhữngngườibuôn bán lẻ và tươngtự”[38],“nhàsản xuất”và “nhà bánlẻ”. Trong hệ thống pháp luật quốc gia, bên cạnhmộtsốđiểm tươngđồngvà thống nhất, nhìn chung pháp luật mỗi nước cũng đưa ra các khái niệm thương nhân tham gia quan hệ tiêu dùng với những điểm khác biệt riêng. Cụ thể:
– Luật Bảo vệ ngườitiêu dùng Đài Loan mở rộng đối tượng cung cấp hàng hóa, dịch vụ cả tới những doanh nghiệp tham gia vào quá trình đặt kế hoạch, chế tạo, sản xuất, nhập khẩu hay phân phối hàng hóa, hoặc cung cấp dịch vụ [21].
– Luật Bảo vệ người tiêu dùng Malaysiađưara khái niệm “nhà cungcấp” làngười tham gia vào hoạt động thương mại (gồm: cung cấp hàng hóa cho người tiêu dùng thông quahợp đồngbán, trao đổi, cho thuê (động sản và bất động sản), thuê
mua, cung cấp dịch vụ để người tiêu dùng…) [40].
– Luật bảo vệngười tiêu dùng Ấn Độ đề cập tới hai khái niệm là “nhà sản xuất”và “thương nhân” trong đó nhà sản xuất là đối tượng tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm bao gồm: (i) sản xuất toàn bộ hoặc từng bộ phần; (ii) lắp ráp để
tạo ra sản phẩm cuối cùng hoặc (iii) dán nhãn lên sản phẩm sản xuất [2]. Thương nhân đượcđềcập trong Luật này mang nghĩa rộng là người bán và phân phối hàng hóa trong đó bao gồm cả nhà sản xuất và nhà đóng gói.
Theo Luật BVQLNTD của Việt Nam, “thương nhân” và “cá nhân, tổ chức kinh doanh độc lập không đăng ký kinh doanh” là hai đối tượng cung ứng hàng hóa, dịch vụtới tay người tiêu dùng. Trong đó, thương nhân được định nghĩa tại Luật Thương mại “bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” [59]. Định nghĩa này tại
Luật Thương mạiđược kế thừa từ quan điểmtại Bộ luật Thương mại Pháp “Thương nhân là những người thực hiện các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình”, với quan điểm hành vi thương mại và hoạt động thương mại là tiêu chí xác định thương nhân [113].
Làm rõ hơn nội hàm khái niệm này, Điều 1 của Luật mẫu UNCITRAL vềtrọng tài thương mạiđượcỦyban LiênhợpquốcvềLuật thương mạiquốctếthông qua ngày 21/6/1958 có quyđịnhcácmốiquanhệmang tính chất thương mại, bao gồm, nhưng không giới hạn, các giao dịch sau đây: Mọi giao dịch thương mạivềviệc cungcấphay traođổi hàng hóa hoặc dịch vụ;thỏa thuậnvềphân
phối;Đạidiện thương mại; hóa đơn chứngtừ;bán–cho thuê; Xây dựng nhàmáy; Dịch vụ tư vấn; Đề án thiết kế tổng hợp; Giấy phép; Đầu tư; Cấp chi phí; Giao dịch ngân hàng; Bảo hiểm; Các thỏa thuận về khai thác hay chuyển nhượng; Hợp tác giữa các xí nghiệp và các hình thức về hợp tác công nghiệp hay thương mại; Vậnchuyển hành khách hay hàng hóa bằng đường không, đường biển,đường sắt, đường bộ.Cũng với khái niệm này, pháp luật Việt Nam ghi nhận hoạt động thương mại gồm nhiều hành vi thương mại nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác, theo đó phân chia các hoạt động thương mại của thương nhân thành 03 nhóm bao gồm:
(i) Hoạt động thương mại quy định trong Luật thương mại và pháp luật liên quan: nhóm này bao gồm 15 hoạt động thương mại cụ thể: mua bán hàng hóa, cungứng dịch vụ(Điều 3); kinh doanh dịch vụ khuyến mại (Điều 89); kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại (Điều 104); kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ (Điều 119); kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại (Điều 130); môi giới thương mại
(Điều 150); ủythác mua bán hàng hóa (Điều 155); đại lý thương mại (Điều 166); gia công thương mại (Điều 178); đấu thầu hàng hóa, dịch vụ(Điều 214); dịch vụ logistics (Điều 233); dịch vụ quá cảnh hàng hóa
(Điều 249); dịch vụ giámđịnh(Điều 254); cho thuê hàng hóa (Điều 269); nhượng quyền thương mại (Điều 284).
(ii) Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật chuyên ngành khác;
(iii) Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và luật
chuyên ngành, được hiểu là các giao dịch dân sự với mục đích sinh lời khác. Mở rộngphạm vi hơn so với Luật Thươngmại, BộluậtTố tụngdân sự năm
2004 và Nghị quyết số01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/03/2005 của Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao [31] ghi nhận hoạtđộngkinh doanh, thươngmạicómục đích lợi nhuận bao gồm 14 loại hoạt động: mua bán hàng hóa; cungứngdịch vụ; phânphối; đạidiện, đạilý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹthuật; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đườngsắt, đườngbộ, đườngthủy nộiđịa;vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổphiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; giao dịchvề sở hữu trítuệ, chuyển giao công nghệ(với điềukiện nhất định) và các hoạtđộngkhác theo pháp luật thương mại. Nhìn chung, các hoạtđộngnày mở rộng tới các hoạtđộngkhông còn thuần túy “thươngmại”, mà cảcác
hoạtđộngmangbảnchất dânsựnhư ký gửi, thuê, chothuê…Không những vậy, hướng dẫncủa Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP còn chỉ rõ “hoạt độngkinh doanh, thươngmạikhông chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng kýkinh doanh, thươngmạimà còn baogồm cảcác hoạt động khác phụcvụthúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động, kinh doanh thương mại. Ví dụ: Mua nguyên vật liệuvề
để sản xuất,xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiếtbị…”.
Nhưvậycó thểthấy, dựatrên phạm vi hoạt động kinh doanh thương mại, khái niệm thương nhân là tương đối rộng, không bịhạn chếtrong quan hệ thương mại truyền thống mà còn mở rộng ra các hoạt động dân sự vì mục đích lợi nhuận hay các hoạt độnghỗtrợ hoạt độngkinh doanh thương mại. Trong quan hệpháp luật tiêu dùng, khái niệm thương nhân được loại trừ các hoạt động thương mại giữa thương nhân với nhau.
2.1.2. Khách thể của quan hệ pháp luật tiêu dùng
C.Mác có đưa ra luận điểm “con người trước hết phải ăn uống ở và mặc rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật”, và các nhu cầu thiết yếu này được
thỏa mãn thông qua các giao dịch dân sự. Trong quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thểtham giahướngtới đểxáclậpquyền và nghĩavụ chính là những lợi ích đạtđược, còn gọi là khách thể của quan hệ pháp luật. Các quan hệ dân sự gắn bó mật thiết với lợi ích và là định hướng cho hoạt độngcủacon người trong các mối quan hệvới cộng đồng, xã hội. Trong nhiều loại lợi ích khác nhau, thì lợi ích cá nhân luôn là quan trọng nhất và dễ nhận biết nhất, cũng là động lực mạnh mẽ nhất thúcđẩy các bên tham gia quan hệ pháp luật.
Đượcxem làmụctiêu cao nhất hướng tới, khách thể của quan hệ pháp luật tiêu dùng được hiểu là mục tiêu thụ hưởng của người tiêu dùng (làsựthỏa mãn về vật chất và tinh thần khi tham gia vào quan hệ tiêu dùng) và lợi nhuận, doanh thu củathương nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ.Xácđịnhđượckhách thểcủatừng quan hệ tiêu dùng là cơ sở xây dựng nội dung quy phạm pháp luật điều chỉnh phùhợp nhằm đảm bảo hiệu quả áp dụng pháp luật.
2.1.3. Nội dung và đặc điểm của quan hệ pháp luật tiêu dùng
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2/ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỚI THƯƠNG NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỚI THƯƠNG NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỚI THƯƠNG NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỚI THƯƠNG NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

