CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Tham nhũng là một trongnhững trở ngại lớn nhất đối với sự ổn địnhvàphát triểncủamỗi quốc gia, làm suy giảm nghiêm trọng các nguồn lựcphát triểncủađất nước. Ởbình diện quốctế,nhiềunướcphảiđốiphó vớithách thứccủasựgia tăng các hoạt độngtộiphạm vàsựche giấu,tẩután tài sản tham nhũng với phương thức ngày càng tinh vi, phức tạp và mang tính xuyên quốc gia. Vì vậy, các nước đều thể hiện sự quyết tâm, đồng thuận, chung tay đối phó vớinhững thách thức của tham nhũng trên cơ sở Côngước củaLiên Hợp Quốc về chống tham nhũng (Việt Nam phê chuẩn ngày 03/7/2009), thậm chí nhiều nước coi chống tham nhũng là ưu tiên hàng đầu trong nhữngnỗ lực

tăng cường liêm chính và trách nhiệm giải trình toàn cầu….Tuy nhiên, thực tế

PCTN ởnhiềunướccũng gặp những khó khăn, rào cảnnhấtđịnh cảvềthểchế, thiết chế và hoạt động thực tiễn.

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây tình hình tham nhũng nói chung và tình hình cáctộiphạmvềtham nhũng nói riêng có những diễn biến phức tạp ởnhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vựcvà gây hậuquảxấu vềnhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, bởi vậy Đảng Cộng sản Việt Nam đãcó nhiềuchủtrương, giải pháp đấutranh phòng, chốngtệnạntham nhũng cũng nhưtộiphạmvềtham nhũng, trong đó gầnđâynhất tạiĐạihộiXII,Đảngta xácđịnh:Đẩymạnhđấutranh PCTN, lãng phí là nhiệmvụthường xuyên, quan trọngđồngthời là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài. Các cấp ủyđảng,trướchết làngườiđứngđầucấp ủy,chính quyền và toànhệthống chínhtrịphải kiên quyết PCTN, lãng phí;xửlý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí [67, tr.50].

Ởgócđộthểchế, trên cơsởcác quanđiểm,chủtrươngcủaĐảng vàchính sách hình sựcủaNhànướcvềPCTN, các cơ quan có thẩm quyềnđãkhông ngừng hoàn thiện các quyđịnhpháp luật, tạo cơsởpháp lý cho việc phòng, chống các hành vi tham nhũng, trong đó cóthểkểđếnnhư: BLHS năm 1999 (sửađổi,bổsung năm 2009); Luật PCTN năm 2005 (sửađổi,bổsung năm 2007 và năm 2012); Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009 của Chính phủban hành Chiến lượcquốc gia PCTN đếnnăm 2020; Luật Thanh tra năm 2010; Luật Phòng, chống rửatiền năm 2012; Luật Kiểm toán Nhànước năm 2015, BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có hiệu lực từngày 01/01/2018); Luật PCTN năm 2018…

Trên cơ sở pháp lý nêu trên, công tác PCTN ở nước ta thời gian qua đãđạt đượcnhững kết quảnhất định,tuy nhiên, bên cạnh những kết quảđạt được, tình hình tham nhũng, trong đó có các tội phạm về tham nhũng, nhưđãnhấn mạnh còn diễn biến phức tạp và công tác PCTN cũng còn những hạn chế, bất cập nhất định.Cụthểnhư: có sựthểhiệnlợiích nhómởcác doanh nghiệp nhà nước trong các hành vi và tội phạm về tham nhũng do cơ chế xin- cho trongđầu tư từvốn Nhà nước; tình trạng tham nhũng quyềnlực dẫn đến làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước; làm tha hóa một bộ phận cán bộ, công chức và gây thất thoát, thiệt hại tài sản rất lớn cho nhànước vànhân dân. Qua tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN cho thấy thiệt hại do các vụ án, vụ việc tham nhũng được phát hiện là gần 60.000 tỉ đồng vàtrên 400 ha đất nhưngchỉthuhồiđượcgần 5.000 tỉ đồng và hơn 200 ha đất; cả nước có 918 người đứng đầuvà cấp phó đãbịxửlý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng [48]. Chỉ riêng từ ngày 01/10/2016 đến 31/7/2017, Tòaán nhân dân các cấp đãxét xửsơ thẩm 145 vụ,328 bịcáo vềcáctộidanh tham nhũng, trongđó tỷlệtộiphạm nghiêm trọng,rấtnghiêm trọng vàđặc biệt nghiêm trọng chiếm 50% (tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2016); số bị cáo đượchưởngán treo,cảitạo không giamgiữchiếm 14,6% (tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2016). Có 07 bị cáo bị tuyên phạt mức án tử hình, tù chung thân (tăng 40% so vớicùng kỳnăm 2016) [11]. Qua công tácđấu tranh PCTN cũng cho thấy có nhiều đối tượng phạm tội tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạnnênsốtiền/tàisảndo tham nhũng khálớnnhưngtỷlệthuhồitài sản tham nhũng còn thấp.

Việc đánh giáởmứcđộkhái quát chung cho thấy công tác PCTN ởnước ta chưa thực sự có sự chuyển biến mang tínhđột phávà vẫn còn nhiều thách thức. Đáng chú ý là năm 2017, Việt Nam vẫn là nước nằm trong nhóm các nước mà tham nhũng được cho là nghiêm trọng trong khu vực công, đứng thứ107/180 trên bảng xếp hạng toàn cầu vềChỉsốcảmnhận tham nhũng (CPI) theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International – TI). Đến ngày 29 tháng 1 năm 2019, Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2018, xếp hạng 180 quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên cảm nhận của các doanh nhân và chuyên gia vềtham nhũng trong khu vựccông. Theo đó,năm 2018, Việt Namđạt33/100điểm,xếp hạng 117/180 toàn cầu, giảm nhẹ 2 điểm so với năm 2017.Điểm sốCPI 2018 củaViệt Namđượctínhdựatrên cơsở8 nguồndữliệu là những khảo sát quốc tế độc lập.Vềmặt thống kê, việc giảmđiểmnày đượcxem là

không đáng kể. Tuy nhiên, xét trên thang điểm từ 0 – 100 của CPI, trong đó 0 là rất tham nhũng và 100 là rất trong sạch, tham nhũng trong khu vực côngởViệt Namvẫnđượccho làrấtnghiêm trọng và đang tiếptụctụthạng trên bảng xếp hạng toàn cầu.

Nguyên nhâncủathực trạng trên là do lý luậnvềphòng, chống tham nhũng chưa thật sự mang tính hệ thống, thậm chí chưa thật thống nhất; pháp luật hiện hành ởnướcta còn nhiều quyđịnh chưa rõ ràng, không khảthi vàchưa tương thích với các tiêu chí của Côngước củaLiên hợp quốc về chống tham nhũng.Đồng thời, việc xây dựng vàtổchức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng chưa thật sựhiệu quả, chưa có sựphối hợp tốt trong công tác phòng, chống tham nhũng giữa các cơ quan có thẩm quyền; các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho công tác phòng, chống tham nhũng chưađược đảm bảo một cách đầy đủ, cònnhiều hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu, nhiệmvụPCTN và vẫn đang làlựccảnlớncho công cuộcđổimới ởnước ta.

Ở thànhphố ĐàNẵng, với vị thế là đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, là trung tâm chính trị, kinhtế,văn hóacủamiền Trung – Tây Nguyên, trong những năm qua, công tác PCTN đã đạt được nhiều kết quả tích cực, trongđóđáng chú ý là hệ thống TAND ở thànhphố ĐàNẵngđãđưa ra xét xử nghiêm minh nhiều vụán lớnđối vớicác tội phạmvềtham nhũng, quađó đãgóp phần tích cực cho hoạt động phòng, chống tội phạm, bước đầu nâng cao được hiệulực của bộmáy nhà nước cũng như hiệu quảhoạt độngcủa các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quảđạt đượcthì công tác PCTN ởthành phốĐàNẵng cũng còn những hạn chếnhất định,làm cho tình hình tham nhũng nói chung và tình hình các tội phạm về tham nhũng nói riêng diễn biễn phức tạp, nhất là liên quan đếnnhà,đất công sản. Trong sốnhững nguyên nhân của thực trạngđó,nhưđãnhấn mạnh, có một số quyđịnhpháp luật hình sự chưa thật phù hợp, chưa thật đồngbộ vàchưa thật khả thidẫn đến việc xétxửmột sốvụánđốivớicáctộiphạmvềtham nhũng chưa thậtbảođảm tính thuyết phục, bị Tòa án cấp trên sửa án hoặc bị VKSND kháng nghị.

Việc nghiên cứu nhữngvấn đề lýluận về các tội phạm về tham nhũng;đánh giá thực trạng thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách hình sự của Nhà nước vào các quyđịnhcủa pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng, thực tiễn áp dụng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, các yếu tố tác động đến việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự, cụ thể làđến việc xét xử các tội phạm về tham nhũng trên địa bàn này, từ đó đề xuất các giải pháp, nhất là giải pháp pháp luật nhằm bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng trên địa bàn thành phốĐàNẵng là việc làm có tính cấpthiết, có ý nghĩa lớn vềmặtlýluận và thực tiễn.

Bởinhữnglậpluận khái quát và lý do nêu trên, nghiên cứu sinh chọn đềtài “Cáctộiphạmvềtham nhũng theo pháp luật hìnhsựViệt Namtừthực tiễn thành phố Đà Nẵng” để làm luận án tiến sĩ luật học chuyên ngành luật hình sựvàtốtụng hìnhsựvớimong muốn góp phần vào công cuộc phòng, chống các tội phạm về tham nhũng ở nước ta hiện nay, xây dựng thành côngchủnghĩa xãhộivà bảo vệvững chắcTổquốc Việt Nam xãhộichủnghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnhđạo.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấnđềlý luận về các tội phạmvềtham nhũng; thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về cáctộiphạm về tham nhũng; thực tiễn áp dụng quyđịnhcủa pháp luật hình sự Việt Nam vềcáctộiphạmvềtham nhũngtạithànhphốĐàNẵng trong thời giantừnăm 2007 đến năm 2017; những ưu điểm, hạn chế, bất cập trong các quyđịnhcủa pháp luật hình sự cũng như trong thực tiễn xét xử các tội phạm về tham nhũng trênđịabàn thànhphốĐàNẵng và nguyên nhâncủachúng, luận ánđềxuất giải pháp hoàn thiện các quyđịnhcủa pháp luật hình sự Việt Nam và các giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng các quyđịnhcủa pháp luật hình sự nước ta về các tội phạm về tham nhũng ở nước ta trong tình hình mới.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đãđặt ra trên đây, luận án thực hiện các nhiệm vụchủ yếu sau đây:

– Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của cáctộiphạm về tham nhũng; phân biệt các tội phạm về tham nhũng với một số tội phạm khác.

– Phân tích, đánh giá thực trạnglậppháp hìnhsựViệt Namvềcác tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

– Phân tích nội dung các quy định của BLHS Việt Nam hiện hành về các tội phạm về tham nhũng.

– Phân tích, đánh giá thực tiễn định tội danh và quyếtđịnhhình phạt đối với các tội phạm về tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng.

– Đề xuất hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng các quyđịnhcủapháp luật hìnhsựViệt Namvềcáctộiphạmvềtham nhũng trong tình hình mới.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận ánlấycác quanđiểmkhoa học; các vănbảnthểhiệnchủtrương,đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng;các Công ước, điều ước quốc tế vềtham nhũng và PCTN; thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt của Tòaán đối với các tội phạm về tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của mình.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Luận án nghiêncứuđềtàicủamìnhdướigócđộchuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hìnhsự.

– Ởkhía cạnh lý luận và lịchsửlậppháp hìnhsự,luận ánchỉđềcập nghiên cứu khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về tham nhũng; phân biệt các tội phạm về tham nhũng với một số tội phạm khác; khái quát quátrình quy định và hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các

tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

– Ở khía cạnh thực tiễn, luận án chủ yếu tập trung phân tích các quy định của BLHS Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về các tội phạm vềtham nhũng; thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam vềcác tội phạm về tham nhũng trong định tội danh và quyết định hình phạt của Tòaán trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đối với các tội phạm về tham nhũng.

– Ởkhía cạnh không gian(địabàn) nghiên cứu, luận án, nhưđãnhấn mạnh giới hạn nghiên cứu tại thành phố Đà Nẵng.

– Ởkhía cạnh thời gian nghiên cứu, luận án giớihạnnghiêncứutrong thời gian 10 năm, từ năm 2007 đến năm 2017.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận nghiên cứu

Luận ánđược thựchiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duyvậtbiện chứng vàchủnghĩa duyvậtlịchsửcủachủnghĩa Mác-Lênin; tư tưởngHồChí Minh; quanđiểm,đườnglối,chủtrươngcủaĐảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Namvềtộiphạm,vềhình phạt,vềcảicách tư pháp,vềPCTN. Luận án cònđượcthực hiệndựatrên các cách tiếp cậnđa ngành, liên ngành luật học, nhất là các cách tiếp cận của khoa học luật hình sự, xãhộihọcluật

hìnhsự, tội phạm học…

7

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án cònsử dụngtrong một tổng thểcác phương pháp nghiên cứu cụthểnhư phương pháp lịch sửcụthể,

phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, so sánh, thống kê…., trongđó:

– Các phương pháp lịch sử cụ thể, phân tích, quy nạp, hệ thống hóa, so sánh được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu các vấn đề tại chương 2 nhằm làm rõ nhữngvấnđềlý luận như khái niệm và các dấu hiệu pháp lý củacác tội phạmvềtham nhũng, phân biệt cáctộiphạmvềtham nhũng vớimột sốtội phạm khác, khái quát quá trình quy định và hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hànhBộluật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

– Các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,điềutra xãhội học được áp dụng đểnghiên cứu cácvấn đề tại chương3 nhằm đánh giáthực trạng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và thực tiễn áp dụng quyđịnhpháp luật hình sự trong định tội danh và quyết địnhhình phạt của Tòaán đốivới các tội phạm về tham nhũng tại thànhphốĐàNẵng, quađó rút ra những ưuđiểm,nhữnghạnchếvà nguyên nhân của hạn chế để làm tiền đề cho việc đề xuất các giải pháp ở chương 4 của luận án.

– Các phương pháp phân tích, hệthốngđượcsửdụngchủyếutại chương 4 để làm rõ những quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng phù hợp với yêu cầuđấu tranh PCTN; yêu cầu cảicách tư pháp và xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Sovớicác công trình nghiêncứukhoahọcvềcáctộiphạmvềtham nhũng đã được công bố, luận án có những đóng góp mới như sau:

Thứ nhất, luận án làm rõ mối liên hệ giữa các quy định của pháp luật hình sự nước ta về các tội phạm về tham nhũng với chính sách hình sự nói chung vàchính sách pháp luật hình sự nói riêng về các tội phạm này, theo đó các quy định củapháp luật hìnhsựlà phương tiện chuyểntảichính sách hìnhsựcũng nhưchính sách pháp luật hình sự và chính sách hình sự và chính sách pháp luật hình sự, đến lượt mình thể hiện (hiện thực hóa) chủ trương, đường lối của Đảng đối với các tội phạm về tham nhũng, qua đó luận án làm sáng tỏ tính quyết định về mặt xãhội của các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng.

Thứhai, luận án làm rõnộihạmcủakhái niệm và cácdấuhiệu pháp lýcủa các tội phạm về tham nhũng, những điểm giống nhau và khác nhau giữa các

tội phạm về tham nhũng và một số tội phạm khác, tính kế thừa và phát triển của các quy định pháp luật về các tội phạm về tham nhũng ở nước ta.

Thứba, luận án làm rõ thực trạng quyđịnhcủapháp luật hìnhsựViệt Nam hiện hành về các tội phạm về tham nhũng và thực tiễn áp dụng trong định tội danh và quyết định hình phạt tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, những thành tựu, khó khăn, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của chúng.

Thứtư,luận án đềxuất được cácgiải phápbảo đảm áp dụngđúng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng ở nước ta hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

-Ýnghĩavềmặtlý luận:Kếtquảnghiêncứucủaluận án góp phần làm giàu thêm lý luậnvềPCTN nói chung, cáctộiphạmvềtham nhũng nói riêng; đồng thời, góp phần luận giải tính phổ biến và tính đặc thù của các hành vi tham nhũng, xử lý hành vi tham nhũng ở mỗi nước.

– Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nhận diện thực tiễn nhận thức, thực tiễn quy định của pháp luật hìnhsựvà thực tiễn xétxửcáctộiphạmvềtham nhũngtạithànhphốĐàNẵng trong thời gian 10 năm từ năm 2007 đến năm 2017, qua đó trang bị kiến thức thực tiễn cho các cơ quan có thẩm quyền, nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của việc xét xử các tội phạm về tham nhũng ở nước ta nói chung và tại thành phố Đà Nẵng nói riêng.

Với những kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn nêu trên, luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo giảng dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam vềcác tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Chương 3: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về các tội phạm về tham nhũng và thực tiễn áp dụng tại thành phố Đà Nẵng

Chương 4: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quyđịnhcủa pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng.

CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Tham nhũng nói chung và tội phạm về tham nhũng nói riêng là những hiện tượng xã hội tiêu cực, gây nguy hại đặc biệt lớn cho mọi xã hội. Vì vậy, là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Kết quả làđãcó khá nhiều công trình nghiên cứu các tội phạm vềtham nhũng đãđượccôngbốởnướcngoài cũng nhưởtrongnước.Một điềuđãđượcthừa nhận chung là kết quảnghiêncứucáctộiphạmvềtham nhũng dưới gócđộluật hìnhsựvà tố tụng hình sự tùy thuộc rất lớnvào việc tham khảo những công trình khoahọcđãđượccôngbốđó.Việc tham khảo các công trình khoahọccó nghiêncứucáctộiphạmvềtham nhũng không những cho phép người nghiên cứunhận diện mộtcách tổng quan tình hình nghiên cứu ởtrong nướcvàởngoàinước,nhận diện đượcnhững vấnđềlý luận và thực tiễn nào đã được nghiên cứu, nghiên cứu đến đâu, vấn đề gì về lý luận và thực tiễn đã được làm sángtỏ, vấn đề gìcần được nghiên cứu bổ sung sâu hơn, toàn diện hơn?Vấn đề gìchưa được nghiên cứu mà trong công trình nghiêncứucủamình, người nghiêncứucầnphải tiếp tụcnghiên cứu hay nghiên cứu mới?… Bởi lý do đó, trong chương 1 của luận án, nghiên cứu sinh tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và ở trongnước.

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc

21

1.2.2. Nhóm các công trình nghiêncứuvềgiải pháp áp dụng đúng các quy định pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng và nâng cao hiệu quả đấu tranh với các tội phạm về tham nhũng

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *