CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
TừĐại hộiĐảngtoàn quốc lần VI cho đến nay, Đảng và Nhà nuớc ta luôn kiên định theo chủ trương chuyển đổi co chế quản lý kinhtế từquan liêu bao cấp sang co chế thị truờng. Bằng các quy định pháp luạt, Nhà nuớc ta đã thừa nhạn vàbảo vệ sựtồn tại củanhiều thành phần kinh tế. Bên cạnh đó, thừa hưởng giá trịtrong việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của nước ta thực sự có những bước phát triển mạnh mẽ.
Một trong những đặc điểmcủa nền kinh tế thị truờng là đa dạng hóa các thành phần kinh tế, xuất nhạp khẩu hàng hóa đuợc mở rộng tự do hon… Chính vìlẽđó, thị trường hàng hoá tại Việt Nam diễn ra vô cùng sôi động với nguồn sản phẩm không chỉ ở trong nước mà còn nhập khẩu từ nước ngoài, đem lại sự đa dạng trong lựa chọn cho người tiêu dùng.
Bên cạnh những thay đổi tích cực từ hành động “mở cửa” giúp thay màu áo
mới một phần đếntoàn diện các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, chính trị,… thì không thể không thẳng thắn nhìn nhận những bất cập, hệ luỵ khi ồ ạt nhiều nguồn du nhập vào Việt Nam, trong khi chúng ta chưa có sự chuẩn bị vững chắc về pháp lý. Một trong những bất cập nằm ở sự phức tạp trong tình hình tội phạm, nó không chỉ dừng lại ở sự gia tăng về số lượng tội phạm mà còn nằm ở mức độ tinh vi, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc biệt là các tội xâm phạm trật tựquản lý kinh tế, trong đó có tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong những tội phạm kinh tế đã gây nên tác hại to lớn trên nhiều mặt kinh tế, xã hội của đất nuớc. Truớc hết, nó gây nên những thiẹt hại về kinh tế cho Nhà nuớc, cho các đon vị sản xuất, kinh doanh vàcho cả nguời tiêu dùng. Tội phạm này còn tác động xấu đến môi truờng cạnh tranh và phát triển lành mạnh của nền kinh tế, làm giảm sút lòng tin của nguời tiêu dùng đối vớicác cosở sản xuất kinh doanh. Và điều đólàm cho các nhà đầu tu trong nuớc thiếu an tâm khi đầu tu, phát triển sản xuất, kinh doanh. Hiẹn nay, hàng giả tại Việt Nam xuất hiẹn hầu nhu trong mọi lĩnh vực và bao gồm nhiều chủng loại hàng hóa, từnhữngmặthàng cao cấp, đắttiền nhu vàng bạc, đá quý; hàng xa xỉ phẩm nhu nuớc hoa, mỹphẩm, ruợu ngoại hay trong cảcác mạt hàng chuyên dùng nhu thuốc tân duợc, thuốc trừ sâu, phân bón, chăn nuôi… Hàng giả có mạt từ mặt hàng ngoại nhập nhu điẹn tử, các mặt hàng công nghiẹp, cho đến các mạt hàng sản xuất trong nuớc nhu giày dép, vạt liẹu xây dựng.
Theo đánh giá của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) tổng giá trịhàng giả được mua bán hàng năm trên thế giới khoảng 500 tỷ Euro – gấp đôi ngân sách nước Đức. Hiện nay hàng giả chiếm lĩnh 1/10 thương mại thế giới, trong đó các loại hàng được làm giả nhiều nhất phải kể đến như: cứ 3 chiếc đĩa CD thì có 1 chiếc đượcsao chép trái phép; các mặt hàng quần áo,phụkiện may mặc, mỹ phẩm và nước hoa chiếm khoảng 1/3 tổng số hàng giả thế giới; phần mềmmáy tính là35%; video, DVD và CD là 25%; đồng hồ ThụySỹgiả mạo được bán nhiều hơn hàng thật: 40 triệu chiếc giả so với 26 triệu chiếc đồng hồ thật [140]. Và trong tình hình kinh tế hiện nay, khi nước ta đang ra sức thực hiện những hoạt động, sứ mệnh khi là thành viên của WTO thì tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả không những làmảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tưnước ngoài vào nước ta, làm giảm uy tín tiêu dùng hàng hoá thật trong lòng người tiêu dùng, gây thiệt hạicho các doanh nghiệp sản xuất hàng thật, mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ của con người.
Theo số liệu thống kê từ năm 2012 đến năm 2015 tại Việt Nam, hành vi sản xuất buôn bán hàng giảlà lương thực, thực phẩm thường chiếm tỷtrọnglớnnhất trong số các vụ án về hàng giả, cụ thể, năm 2012 chiếm 41/60 vụ – khoảng 68,3%. BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017đãchia tách Điều 157 thành hai tội danhcụthểtheo Điều 193 và 194, đó là: Tội sản xuất, buôn bán hàng giảlà lương thực, thực phẩm, phụ gia gia thực phẩm (Điều 193) và Tội sản xuất, buôn bán hàng giảlà thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều194). Bên cạnh đó, những điểmmới của BLHS 2015 sửa đổi, bổsung năm 2017 vềtội phạmvềhàng giả(Điều 192 –
Điều 194) thực sự đem lại những thay đổi rõ nét trong tư duy lập pháp, trong việc thực hiện và áp dụng các quyđịnhcủa pháp luật vềloại tội này. Cụthể, việc quyđịnh trách nhiệm hình sự đối với “Pháp nhân thương mại” thực sự là một điểm đáng chú ý, một chi tiết mà hiện nay vẫn còn rất nhiều quan điểmtrái chiều trong việc hiểu và áp dụng, kéo theo nhữnghệ luỵ, ảnhhưởng trong việc áp dụng luật đối với tội danh trên. Như vậy, rất cần có một cách hiểu đúng, một cách áp dụng chuẩn mực trong việc thi hành pháp luật hình sựđối với việc xét xửcác vụán. Tuy nhiên, chuẩn mực như thế nào, hợp lý ra làm sao, hiện nay chúng ta vẫn cần phải nghiên cứu. Bên cạnh đó, việc quy định thêm đối tượng “phụ gia thực phẩm” tại Điều 193 cũng gây nhiều tranh cãi, vậy “phụ gia thực phẩm” là gì và tại sao đối tượng này lại được quy định thêm vào trong điều luật? Chính vì những điểm mới trong việc quyđịnh và áp dụng luật, nên không thể tránh khỏi những hiểu biết chưa trọn vẹn dẫn đến hiểu sai, hiểu lầm và áp dụng chưa đúng, chưa đầyđủ đối với các trường hợp xảy ra trong thực tế, dẫn đến hậu quả là bỏ lọt các hành vi phạm tội, hoặc hình phạt chưa đủ sức răn đe đối với những người manh nha có ý định vi phạm.
Tóm lại, việc nghiên cứu những quyđịnhcủa pháp luật hiện hành gắn với phân tích thực tiễn đấu tranh chống tội phạm về sản xuất, buôn bánhàng giả để từđó có kiến nghị phù hợp là một yêu cầu cần thiết. Việc nghiên cứu một cách có hệthống, giải quyết các vấn đề lý luận mới đặt ra, phân tích đánh giá các quy định của BLHS đốivới tội phạmvềhàng giả, từđó đưa ra giải phápđểgiải quyết những vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, theo quan điểm của tác giả, là một điều kịp thời và đúng lúc. Tiếc rằng, trong nhiều năm kể từ lần sửa đổi BLHS năm 2009 đến nay chưa có một luận án tiến sỹ nào nghiên cứu vấn đề này.
Vì thế, việc nghiên cứu thành công những vấn đề trên có ý nghĩa quan trọng không những về mặt thực tiễn mà cả về lý luận trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu toàn diện đối với các tội phạm về hàng giả theo pháp luật hình sự của Việt Nam. Bên cạnh đó, luận án mong muốn góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận đối với các tội phạm về hàng giả.
Mục đích đósẽđược thểhiện trên cơ sởnghiên cứu các quan điểm lý luận khác nhau, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật đối với các tội phạm vềhàng giả được quy định trong Mục 1 – Chương XVIII BLHS hiện hành và thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS; đồng thời qua việc đề xuất giải pháp và kiến nghịhoàn thiện quy định của pháp luật, giải thích pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quyđịnhđó trong thời gian tới, góp phần đấu tranh phòng và chống cóhiệu quả loại tội phạm này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đểđạt được mụcđích nghiên cứu trên, trong Luận án những nhiệm vụsauđược tập trung giải quyết:
– Về mặt lý luận:
+ Nghiên cứu những quan điểm lý luận khác nhau về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của pháp luật hình sự và sự thể chế hóa tội danh này trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
+ Làm rõ những nội dung khoahọc về định tội, địnhkhung hình phạt của tội sản xuất, buôn bán hàng giả; những mặt khách quan, mặt chủquan của tội này. Phân tích về thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với sản xuất, buôn bán hàng giả, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá tính hợp lý của các quy định đối với tội danh này trong BLHS.
+ Phân tích, so sánh sự phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự trong nước với nước ngoài đối với tội phạm về hàng giả để tìm ra định hướng phát triển, xác định các nội dung hợp lý, khoa học cần được tiếp thu trong xây dựng pháp luật hình sự ở nước ta.
– Về mặt thực tiễn:
+ Đánh giá một cách khái quát tình hình của tội sản xuất, buôn bán hàng giảtrong vòng 10 năm (từ năm 2007 – 2017), từ đó xác định những vấn đề về định tội danh, quyết định hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Kết quả nghiên cứu thực tế này là cơ sở để xem xét, đánh giá hiệu quả chính sách hình sự của Nhà nước đối với tội này.
+ Làm sáng tỏ những vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
+ Từ sự đánh giá thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả, đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với tội phạm này.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 3.1. Phạm vi nghiên cứu
-Vềchuyên ngành nghiên cứu: Luận án được nghiên cứu, phân tích, đánh giá dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự.
– Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2007 đến năm 2017. – Về địa bàn nghiên cứu: trên phạm vi cả nước.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
– Luận án nghiêncứucáctộiphạmvềhànggiảtheo pháp luật hìnhsựViệt Nam.
– Từ góc độ lý luận: Luận án nghiên cứu những vấn đề như: khái niệm các tội phạm về hàng giả, cấu thành tội phạm (mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) của các tội phạm về hàng giả; các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam cũng như quy định trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới đối với tội phạm về hàng giả.
– Từ góc độ thực tiễn: Luận án phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS trong việc địnhtội danh, quyết định hình phạt trong xét xửđối với các tội phạm về hàng giả từ thực tiễn các tỉnh, thành phố trên Việt Nam. Luận án lựa chọn nghiên cứu phân tích khoàng 100 bản án đểtừđó làm sáng tỏnhững bất cập của pháp luật hình sự, những hạn chế trong thực tiễn và nguyên nhân của những hạn chếđó… để đưa ra những kiến nghị khoa học cần thiết.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận ánlấychủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tội phạm và hình phạt, về đấu tranh phòng, chống tội phạm làm phương pháp luận nghiên cứu.
Luận án cònsửdụng các phương pháp nghiêncứukhác như: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh,lậpbảng biểu,…đểhoàn thiện từng phầncủa luận án, cụ thể là:
– Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, chủyếu sửdụng các phương pháp cơ bản như: phân tích, tổng hợp, so sánh để khái quát hóa các vấn đề liên quanđến đề tài đã được nghiên cứu trong các công trình khoa học đã được công bố trước đó, những nội dung có thể kế thừa cũng như những vấn đề mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
– Chương 2: Tác giả sử dụng các phương pháp: tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa để làm rõ các khái niệm liên quan đến các tội phạm về hàng giả và lịch sử các tội phạm về hàng giả.
– Chương 3: Tác giảsửdụng các phương pháp: tổng hợp, phân tích, logic học, tiếp cận đa ngành – liên ngành để làm rõ các quy định của BLHS hiện hành đối với các tội phạm về hàng giả.
– Chương 4: Tác giảsửdụng các phương pháp: tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, logic học, tiếp cận đa ngành – liên ngànhđểnghiên cứu thực tiễn áp dụng và đưa ra một số biện pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về hàng giả.
Để hoàn thiện luận án, tác giả kết hợp sử dụng một số phương phápđặc thùcủa lĩnh vực luật học như: phương pháp tiếp cận quy phạm để hệ thống hóa và giải thích các quyđịnh củapháp luật liên quan đến các tội phạmvềhàng giả; phương pháp nghiên cứu lịch sửpháp luậtđểthểhiện sựkếthừa và phát huy của những quy định pháp luật qua thời gian; phương pháp nghiên cứu luật pháp để nhìn nhận thực tiễn áp dụng pháp luật đặt trong mối quan hệ với chính trị hoặc trong mối quan
hệ với xã hội học…
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Nhưđã đềcập tại mục1 (tính cấp thiết của đềtài), từlần sửa đổi, bổsung BLHS năm 2009 đến nay chưa có đề tài luận án tiến sỹ nào nghiên cứu chuyên sâu về những quy định của pháp luật hình sự gắn với thực tiễn đấu tranh chống tội phạm về sản xuất, buôn bán hàng giả. Nghiên cứu sinh hy vọng kết quả của đề tài này sẽgóp phần bảo đảm cách hiểu và áp dụng đúng các quy định của pháp luật về nhóm các tội phạm về hàng giả, và cao hơn nữa là góp tiếng nói hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sựđối với tội phạmvềhàng giả, từđó ngăn chặn vàxửlý hiệu quảvấn nạn sản xuất, buôn bán hàng giả đang ngày càng hủy hoại nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Về quan điểm tiếp cận: Dựa vào phép biện chứng của triết học Mác-xít, luận án nghiên cứu các tội phạm về hàng giả dưới nhiều hướng tiếp cận khác nhau nhưng trọng tâm là hướng tiếp cận liên ngành, xã hội học pháp luật.
Về phương pháp: Các phương pháp được sử dụng trong luận án này nhưđãnêu tại mục 4 phần mở đầu luận án này vừa có tính bổ trợ cho nhau, vừa có tính độc lập cho phép nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về các tội phạm về hàng giả. Những phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật vềcác tội phạmvềhànggiảđểtừđó luận án đềxuất những biện pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định này trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
– Luận án tập trung làm rõ vấn đềlý luận vềcác tội phạmvềhàng giả, hệthống hóa các quy định của pháp luật hình sự đối với loại tội phạm này, đưa ra nhận định về tính hợp lý hoặc chưa hợp lý của các quy định pháp luật trên cơ sở phân tích các bản án thực tế. Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực luật hình sự và những lĩnh vực có liên quan.

– Luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các cơ quan lập pháp, các tổchức xã hội trong việc tham gia đóng góp ý kiến, tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quyđịnh trong BLHS Việt Nam.
– Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng để thống nhất về cách hiểu các quy định của pháp luật về các tội phạm về hàng giả, góp phần khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, qua đó giúp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm nói chung, các tội phạm về hàng giả nói riêng.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận đối với các tội phạm về hàng giả.
Chương 3: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm vềhàng giả.
Chương 4: Thực tiễn áp dụng và các biện pháp bảo đảmáp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về hàng giả.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, tội phạm về hàng giả nói riêng là vấn đềmang tính thời sự, đã và đang được nhiều nhà khoa họctrong và ngoài nuớc quan tâm nghiên cứu. Các nhà tội phạm học, luật học đã có những công trình nghiên cứu về các đề tài thuộc lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và các tội phạm cụ thể có liên quan đã được công bố.
Quá trình nghiên cứu các tài liệu trong nước, ngoài nước có liênquan đến đềtài nghiên cứu, tác giả hệ thống các công trình nghiên cứu dưới các góc độ như sau:
1.1. Những công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận về sản xuất, buôn bán hàng giả
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2. Những công trình nghiên cứu khác có liên quan
1.2.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước
1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Tổng hợp vấn đề nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả rút ramột sốnhận xét như sau:
Thứ nhất, Về khái niệm hàng giả; tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Trong Luật Hình sựthì không quyđịnh khái niệm Hàng giả, mà khái niệm này được thể hiện trong các văn bản hướng dẫn như các Nghị định. Và cho đến hiện nay, theo sựphát triển từthực tiễn, khái niệm này chưa một lần dược tổng kết đểđem lại một quy chuẩn áp dụng chung.
Thứ hai, về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự
Quy định tại BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 đã liệt kê vào danh sách chủthể một đối tượng mới “Pháp nhân thương mại” cũng là một trong những đối tượng chịu trách nhiệm hìnhsựcủa tội này. Hiện nay, chưa có tài liệu hay công trình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các
tội vềsản xuất, buôn bán hàng giả. Ngaycảchính những quyđịnh trong BLHS cũng chỉdừng lạiliệt kê đối tượng vào trong Điều 192-195 và dựa trên cơsởlà nguyên tắc cơ bản áp dụng tại các Điều 74, 75, 76 tại chương XI BLHS 2015, sửa đổi bổsung 2017 chứcũng chưa có văn bản hướng dẫn cụthểvềđối tượng này trong tội về sản xuất, buôn bán hàng giả..
Thứ ba, về dấu hiệu pháp lý hình sự
Các giáo trình, sách chuyên khảo va các công trình nghiên cứu nói trên đã đi sâu phân tích được các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội sản xuất, buôn bán hàng giảnhư dấu hiệu giá trị hàng giả, số lượng hàng giả, dấu hiệu lỗi trong mặt chủ quan, chủ thể phạm tội… Có thể nói đây là những tài liệu cơ bản làm nền tảng để tácgiảtiếp cận các nghiên cứu trong luận án của mình.
Các công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên tạp chí cũng như sách chuyên khảo, giáo trình vềtộisản xuất, buôn bán hàng giảcó sốlượng không phải là ít nhưng hầu hết, đường hướng của các nghiên cứu trước đó, đã cũ về mặt thời gian, sốliệu, bên cạnh đó, các đềtài chưa cập nhật được tính mới khi đãtăng dấu hiệu định khung. Như vậy, việc quyđịnh các điềukhoản này theo hướng nghiêm khắc hơn liệu có phù hợp với xu hướng pháp luật hiện nay và thểhiện được tính nhânđạo trong pháp luật hình sự? Hay việc quy định nhưvậythì thực tiễn thực hiện sẽcó những mặt phải, trái như thế nào? Đây đều là những vấn đề mà tác giả cho rằng là quan trọng và sẽ trình bày, giải quyết trong khuôn khổ luận án này.
1.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu về
tội sản xuất, buôn bán hàng giả từ trước đến nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam mà tác giả tiếp cận được, tác giả xin sơ bộ nêu ra một số đánh giá chung sau đây:
(1) Đối với các công trình nghiên cứu ở nước ngoài, chủ yếu là các bản báo cáo, các bản khảo sát, nghiên cứu về thực trạng của tội sản xuất, buôn bán hàng giảthể hiện những vấn đề lý luận chung của tội sản xuất, buôn bán hàng giả thông qua phân tích sâu rộng khái niệm “hànggiả” được hiểu tại quốc gia sởtại vàthếgiới; dấu hiệu pháp lý thì pháp luật mỗi nước lại có những quyđịnh khác nhau vềtội phạm và hình phạt. Tuy nhiên, giá trịđểlại khi nghiên cứu các sản phẩmnước ngoài đối với kết quả luận án chính là được hiểu rõ và rộng trong tư duy của các nhàlàm luật, các nhà kinh tế, các nhà chính sách về tội sản xuất, buôn bán hàng giả; từđó, thực sựđểlại những bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự để ngăn ngừa tội phạm này.
(2) Các công trình nghiên cứu trong nước liên quanđến luận án, những kết quả nghiên cứu của các tác giả mà chúng tôi tham khảo cho thấy, đã có khá nhiều công trình lớn, nhỏ nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Đã từng không ít một tác giảthừa nhận rằng đềtài này không mới nhưng thểhiện tính thời sự, do vậy, các công trình nghiên cứu vẫn được ra đời và đểlại những giá trịsâu sắc vềmặt khoa học. Tuy nhiên, các giai đoạn mà các tác giả nghiên cứu là từ trước năm 2015, hay nói cách cụ thể, thời điểm nghiên cứu trước khi BLHS 1999 sửa đổi, các công trình đều cách đâyđến hàng chục năm. Đến nay năm 2017, khi BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực pháp lý, thì những thay đổi cơ bản vềcác phương diện, như: Chủthểchịu trách nhiệm hình sự(Pháp nhân thương mại), thay đổi dấu hiệu định tội, tách một số tội phạm thành những tội danh độc lập (Điều 157 đến Điều 193, 194), cụ thể hoá một số tình tiết định tính, định lượng làm căn cứđịnhtội hoặc định khung hình phạt.Đặc biệt hơn, tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giảngày càng tinh vi, hàng giảtràn lan trên thịtrường và mức độthiệt hại cho cá nhân, tổ chức và nhà nước ngày càng sâu sắc. Điều đó cho thấy rằng, trong giai đoạn hiện nay, nghiên cứu tội sản xuất, buôn bán hàng giả một cách tổng thể, toàn diện, thể hiện tính mới là điều cần thiết cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
(3) Qua đánh giá tình hình nghiên cứu, tác giả rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án là:
Một là, Tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở phân tích, so sánh để làm sáng tỏ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự các tội phạm về hàng giả;
Hai là, Phân tích, đánh giá vấn đề trong việc định tội danh, quyết định hình phạt từ đó, cần làm rõ nguyên nhân của những sai sót trong việc trên đối với các tội phạm về hàng giả;
Ba là, Đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về hàng giả.
Tiểu kết chương 1
Các tội phạmvềhànggiảlà một trong những nhóm tội xảyra tương phối phổbiến trong thực tiễn. Trên thếgiới đã có nhiều nhà khoa học với nhiều công trình nghiên cứu những vấn đềliên quan đến các tội phạmvềhàng giảtrên nhiều phương diện khoa họcnhư: luật học, xã hội học pháp luật, tâm lý học, tội phạm học… Sự xuất hiện của các công trình nghiên cứu khoa học nói trên vừa có nhữngđóng góp to lớn vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, vừa có ý nghĩa to lớn cho thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Ở Việt Nam, cũng cókhông ít các công trình nghiên cứu vềnhóm tội này. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy các tội phạmvềhàng giảđã được nhiều tác giảnghiên cứu từnhững phương diện khác nha; tuy nhiên, những công trình này mới chỉ nghiên cứu ở những mức độ khác nhau, thiếu tính toàn diện và tổng thể.
Kết quả nghiên cứu của Chương 1 cho thấy, việc nghiên cứu các tội phạm vềhàng giảtheo pháp luật hình sựViệt Nam một cách đầyđủvà sâu sắc với cấp độcủa một luận án tiến sĩ tại thời điểm này là rất cần thiết.
Với số lượng các công trình nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới vềnhững vấn đề có liên quan đến đề tài luận án, mặc dù vẫn còn những điểm hạn chế, những vấn đề chưa được giải quyết triệt để nhưng có thể nói đó chính là nguồn tưliệu vô cùng quý giá để tác giả nghiên cứu tiếp cận và tiếp thu những thành quả từcác công trình đưa vào luận án để góp phần vào sự thành công của luận án.
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀLÝ LUẬN ĐỐI VỚI
CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, hàng hóa trở nên đa dạng, phong phú vềchủng loại, mẫu mã và không ngừngđược nâng cao vềchất lượng. Song, bên cạnh đó, một sốđối tượng vì mong muốn thu lợi bất chính mà sẵn sàng sản xuất, buôn bán các loại hàng giảkhông những gây thiệt hại vềtiền của, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng của con người mà còn gây rối loạn trật tự kinh tế thị trường, giá cả, kìm hãm sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Hàng giả trực tiếp gây thiệt hại cho người tiêu dùng và làm điêu đứng các nhà sản xuất kinh doanh chân chính. Đối với sản xuất và tiêu dùng nội địa, hàng giả ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và danh tiếng của các doanh nghiệp chân chính muốn phát triển bằng conđường cạnhtranh lành mạnh. Việc nghiên cứu và làm sángtỏ một số vấn đề lý luận và lịch sử về các tội phạm về hàng giả sẽ góp phần tích cực trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa đối với tội phạm nói chung và các tội phạm về hàng giả nói riêng
2.1. Khái niệm các tội phạm về hàng giả2.1.1. Khái niệm hàng giả
Với chủtrương phát triển nềnkinhtếthịtrường địnhhướngxã hội chủnghĩa, sốlượng hàng hóa có chất lượng cao được sản xuất và lưu thông trên thịtrường ngày càng nhiều và đa dạng thìsốlượng hàng giảcũng tràn lan với nhiều hình thức tinh vi. Tình trạng hàng giảxuất hiện tràn lan trên thịtrường sẽgây tác hại về nhiều mặt cho kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng cũng như gây tác hại cho người tiêu dùng, ảnh hưởng đến tiến trình hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về hàng giả. Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp và Từ điển giải thích thuật ngữ luật học – Luật hình sự, Luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì hàng giảđược định nghĩa như sau: “Hànggiảlà thứkhông có giá trịsửdụng của loại hàng mà nó mang tên (hàng giả về nội dung) hoặc tuy có giá trị sử dụng của loại
hàng mang tên nhưng mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác nhằm lừa dối khách hàng (giả về hình thức)” [123], [127]. Như vậy, theo hai tử điển này, hàng giả gồm hai loại là hàng giả về nội dung và hàng giả về hình thức. Trong đó hàng giả về nội dung là thứ không có giá trị sử dụng của loại hàng mà nó mang tên, còn hànggiả vềhình thức là hàng hóa tuy có giá trị sử dụng của loại hàng mang tên nhưng lại mang nhãn hiệu của cơ sởsản xuất khác nhằm lừa dối khách hàng. Theo từđiển Bách khoa toàn thư: “Hàng giảlà hàng làm bắt chước theo mẫu mã của loại hàng thật nào đó đang được lưu hành, nhưng không bảo đảmđủtiêu chuẩnvềphẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụngđầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn. Về hình thức, các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi. Người làm hàng giả cũng cókhi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem nhãn của hàngthật để lừa gạt người mua”. Khái niệm này thực ra chỉ là giải thích về mặt ngôn ngữ, mà chưa phải là khái niệm mang tính pháp lý, thể hiện bản chất của hàng giả [146].
Dưới góc độ pháp lý,kể từ khi đất nước được thống nhất,thuật ngữ hàng giả
lần đầu tiên được sử dụng trong Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 [11]. Điều 5 của Pháp lệnh này quy địnhvề tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả. Tuy nhiên khái niệm hàng giả vẫn chưa được làm rõ trong pháp lệnh này. Có thể nói , văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra khái niệm hàng giả là Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc kiểm tra, xử lý hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả. Điều 3 của Nghị định quy định: “Hàng giảtheo Nghịđịnh này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhànước cho phépsảnxuất, nhập khẩu và tiêuthụtrênthịtrường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trịsửdụng đúng với nguồn gốc, bảnchất tựnhiên, tên gọi và công dụng của nó”.
Điều 4 của Nghị định 140/HĐBT nêu cụ thể 6 trường hợp được coi là hàng giả, bao gồm: 1) Sản phẩm có nhãngiảmạo; 2) Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng ký, bảo hộ; 3) Sản phẩm,
hàng hóa mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩmđã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng; 4) Sản phẩm hàng hóa ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam; 5) Sản phẩm, hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ quan Tiêu chuẩn đo lượng chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức tối thiểu cho phép; 6) Sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất, tựnhiên, tên gọi và công dụng của nó.
Kểtừsau Nghịđịnh 140/HĐBT, khái niệm hànggiảtiếp tục được đềcập trong nhiều văn bản pháp luật, từ các văn bản về xử lý vi phạm hành chính, hình sựđến các văn bản vềkinh doanh, thương mại; bảo hộsởhữutrí tuệ; hải quan bao gồm cả các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ [1, tr.45]. Tùy trong từng bối cảnh, phù hợp với nhu cầu đấu tranh chống hàng giảtrong từng lĩnh vực mà khái niệm hàng giả có thể được hiểu theo nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung, khái niệm hàng giảtrong pháp luật Việt Nam cũng đãcó sựphát triển, hoàn thiện đáng kể
[128]. Theo các văn bản trong giai đoạn này, hàng giảbao gồmhàng giảvềchất lượng hoặc công dụng, giảvềnhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứhàng hóa,giảvềnhãn hàng hóa, các loại ấn phẩmđã in sửdụng vào việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa hay hàng có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của hàng hóa. Tuy nhiên, những văn bản này không quy định rõ tiêu chuẩn định mức cho phép là bao nhiêu thì được xem là hàng giả.
Thời gian sau đó, Chính phủban hành Nghịđịnh số08/2013/NĐ-CP ngày 10/01/2013 quyđịnh xửphạt vi phạm hành chính đốivới hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả; Nghịđịnh số185/2013/NĐ ngày 15/11/2013 quyđịnh xửphạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng và Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 vềsửa đổi bổsung một sốnội dung của Nghịđịnh 185đã có những quyđịnhchi tiết hơn vềhàng giả. Theo các văn bản này thì khái niệm hàng giảbao gồmbốn trường hợp: trường hợp giảvềnội dung; trường hợp giảvềhình thức; trường hợp
giảmạo vềsởhữu trítuệvà trường hợp các sản phẩm là tem, nhãn, bao bì giả. Trong đó, hàng giả về nội dung và giả về hình thức được quan tâm đặc biệt.
Trường hợp giảvềnội dung là trường hợp hàng hóa không có giá trịsửdụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hoá; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹthuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất, có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký, không đủloại dược chất đã đăng ký, códược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá; thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất, có hàm lượng hoạt chất chỉđạt từ70% trởxuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng, không đủ loại hoạt chất đã đăng ký, có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa.
Trường hợp giả về hình thức (giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa), bao gồm: hàng hóa có nhãn hàng hoá, bao bì hàng hoá giả mạo tên thương nhân, địa chỉcủa thương nhân khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hoá, mã sốđăng ký lưu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hoá của thương nhân khác; Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hoá, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa.
Về nguyên tắc, mọi hàng giả đều gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Bảo vệngười tiêu dùng là một trong những mục đích cao nhất của công cuộc chống hàng giả. Tuy nhiên, có một số hàng giả mà việc sử dụng có thể gây hại hoặc đe dọa gây hại trực tiếp cho sức khỏe, thậm chí tính mạng của người tiêu dùng như một số loại hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh… Đối với những loại hàng giả này, các quy định của pháp luật vềđấu tranh chống, phòng ngừa có những đặc thù riêng.
Khái niệm hàng giảhiện nayởhầu hết các văn bản ởViệt Namđều được xây dựng dưới dạng liệt kê đặc điểm của các loại hàng giả. Qua thời gian, hànggiảđược xác định gồm nhiều dạng khác nhau nhưng có thểnói xuyên suốt trong sựphát triển của khái niệm hàng giảtrong pháp luật Việt Nam luôn có sựphân biệt giữa hàng giảvềnội dung và hàng giảvềhình thức, sau đó là sựphân định giữa hàng giả và hàng xâm hại quyền sở hữu trí tuệ, hàng giả thông thường và hàng giảgây hại cho sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng
Dưới góc độ bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, hàng giả về nội dung hay hàng giảvềhình thức đều ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng nói riêng và nền kinh tế- xã hội nói chung nhưng hàng giảvềnộidung là những loại hàng hóa gây hại trực tiếp đếnngười tiêu dùng. Đâylà những loại hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa. Nếu mua phải loại hàng giảnày, người tiêu dùng bịthiệt hại vềkinh tế, thậm chí hại vềtính mạng, sức khỏe. Trong khi đó, đối với những loại hàng giả về hình thức (đây là những hàng hóa giảmạo về bao bì, nhãn hàng hóa) sự thiệt hại lại chủ yếu và trước hết thuộc về những thương nhân có hang hóa thật bịlàm nhái, làm giả. Trong trường hợp này, người tiêu dung cũng có thểlà nạn nhân nếu chất lượng của hàng hóa cũng bịgiảmạo. Nhưng trái lại, trong một số trường hợp, người tiêu dung lại chấp nhận chất lượng hang hóa có thể thấp hơn với giá rẻ và gắn nhãn, bao bì của thương hiệu có uy tín
[1, tr.46-47].
Thực tiễn công tác đấu tranh chống hàng giả, cácsốliệu thống kê cả về hành chính và về hình sự cho thấy, chủ yếu các vụ việc bị xử lý đều tập trung vào loại hàng giả về nội dung hoặc vừa giả về nội dung và đồng thời giả về hình thức [1, tr.47].
2.1.2. Khái niệm các tội phạm về hàng giả
Nhà nước ta luôn luôn nhất quán tôn trọng và bảo vệ quyền con người nói chung và quyềnlợicủangườitiêu dùng nói riêng thông qua nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có việc bảo vệ bằng các quy phạm pháp luật hình sự. Đã cónhiều vănbảnpháp luật quy địnhcáctộiphạmvềhànggiảdướinhiều gócđộ
khác nhau nhưng tựu chung lại lợi ích của người tiêu dùng luôn được Nhà nước đặc biệt quam tâm.
Việc quyđịnh các tội phạmvềhàng giảtrong BLHS năm 2015 tạo cơ sởpháp lý cho cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa hàng giả. BLHS không đưa ra khái niệm các tội phạm vềhàng giảnhưng thông qua quyđịnhvềkhái niệm tội phạm nói chung, khái niệm các tội phạm về hàng giả sẽ được làm rõ. Điều 8 BLHS năm 2015 đã đưa ra khái niệmvềtội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổchức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợppháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quyđịnh của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.
Có thể nói khái niệm tội phạm này là khái niệm có tính khoa học đã thể hiện tập trung nhất quanđiểmcủa Nhànước ta vềtội phạm. Nó không những là cơ sởkhoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạmcụthểtrong phần các
tội phạmcủaBLHS mà nó còn là cơ sởcho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể.
Nghiên cứu các tội phạmvềhàng giả, ta có thểnhận thấy chúng có một sốđặc điểm khái quát sau:
Thứ nhất, các tội phạm về hàng giả là những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giảkhôngchỉgây thiệt hại cho những doanh nghiệp chân chính, gây mất ổn định thị trường; hành vi này còn gây ra những thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe và lợi ích vật chất của người tiêu dùng. Thực trạng hàng giả hiện nay đang tràn ngập thị trường và gần như xuất hiện ở hầu hết các mặt hàng trên thị trường đã khiến những nhà sản xuất chân chính bị thiệt hại không hềnhỏ. Hàng giả được làm ngày càng tinh vi và thường đánh vào tâm lý ham của giẻcủa người tiêu dùng nên khiến cho hàng thật điêu đứng, gây mất ổn định thị trường,
gây thiệt hại cho doanh nghiệp và gây xáo trộn trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Hơn thế nữa, hành vi sản xuất buôn bán hàng giả có thể gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe và lợi ích vật chất của người tiêu dùng nếu họ không biết loại hàng mình đang sử dụng là hàng giả. Hơn thế nữa, nhiều loại hàng giả có tác động trực tiếp đến tính mạng sức khỏe của người tiêu dùng như: lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thuốc phòng bệnh, thuốc chữa bệnh.
Thứ hai, các tội phạm này là những hành vi đã được quy định trong luật hình sự. Trong BLHS năm 2015, các tội phạmvềhàng giảđược quyđịnh tại Chương XVIII trong nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bao gồm 04 điều luật:
Tội sản xuất buốn bán hàng giả(Điều 192); Tội sản xuất, buôn bán hàng giảlàlương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); Tội sản xuất, buôn bán hàng giảlà thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194) và Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú ý, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi (Điều 195). Bốn điều luật này được phân định bởi đối tượng tác động của tội phạm còn hành vi khách quan của tội phạm đều được xácđịnh với hai dạng hành vi cơ bản: hành vi sản xuất và hành vi buôn bán. Trong đósản xuấtđượchiểu là hành vi làm ra hànggiảdưới mọi hình thức, còn buôn bánđược hiểu là hành vi dùng tiền hoặc các phương tiện thanh toán khác đểtrao đổi hàng giả qua lại nhằm thu lợi bất chính.
Thứba, hành visảnxuất buôn bán hàng giảphải do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện. Tất cả các tội phạm được quy định trong luật hình sự thì chủ thể thực hiện đều có thể là con người – người có năng lực TNHS và đạt độtuổi theo luật định (trừ những tội phạm yêu cầu chủthểđặc biệt thì chủthểcủa tội phạm phải có thêm những dấu hiệu khác). Có năng lực TNHS được hiểu là có khảnăng nhận thức và khảnăng điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Mặt khác, dựa trên sựnghiên cứu về tâm sinh lý và yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, pháp luật quy định độ tuổi phải chịu TNHS và xác định một người khi đạt độ tuổi này thì mới có năng lực TNHS. Đối với các tội phạm về hàng giả, theo quy định tại
Điều 12 của BLHS thì người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không thể là chủ thể của các
tội phạm này, nên độtuổi của chủthểđểcóthểphải chịu TNHS đối với các tội phạm về hàng giả là từ đủ 16 tuổi trở lên.
Ngoài ra,mộtđiểm mới quan trọng trong BLHS năm 2015, đó là xác định pháp nhân thương mại cũng có thể là chủ thể của tội phạm.
Thứtư, các tộiphạm vềhàng giảđượcthực hiện với lỗicốý. Do hiện nay các loại hàng được làm giả khá tinh vi đang tràn lan trên thị trường, hàng giả đã len lỏi vào từng ngóc ngách trongđời sống sinh hoạt. Nhiều khi những đơnvịkinh doanh nhỏlẻbuôn bán hàng giảmà không biết mình đang thực hiện hành vi này. Trong những trường hợp như vậy, người có hành vi buôn bán hàng giảsẽkhông phải chịu trách nhiệm hình sự. Chủ thể thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng
giả chỉ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu khi thực hiện hành vi họ nhận thức rõ loại hàng hóa mà mình đang sản xuất, buôn bán là hàng giảmà thôi. Đối với pháp nhân thương mại, vấn đềxem xét hành vi và lỗicủa pháp nhân thương mại được thực hiện thông qua việc nghiên cứu hành vi và lỗi của các cá nhân.
Từ khái niệm chung về tội phạm, qua việc nghiên cứu các đặc điểm của các
tội phamvềhàng giảnhư trên, các tội phạm vềhàng giảtrong Luận án nàyđược định nghĩa như sau: “Các tội phạm về hàng giả là những hành vi nguy hiểm cho xãhội được quy định trong BLHS, do người từđủ16 tuổi trởlên có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý, xâm phạm trật tự quản lý Nhànước về sản xuất, lưu thông, phân phối, kinh doanh hàng hóa; hoạt động quản lý thịtrường và lợi ích của người tiêu dùng”.
2.2. Cơ sở của việc quy định các tội phạm về hàng giả trong luật hình sựViệt Nam
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM


