Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục Đại học công lập ở nước ta hiện nay

Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục Đại học công lập ở nước ta hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, đảng ta phát huy đến mức cao nhất

nguồn lực con người, trong đó Giáo dục –đàotạolà đ nbẩyquan trọng nhất, nhân tố con người có tầm quan trọng đặc biệt quyết định sự thành công trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với ý nghĩa đó, tại Đại hội Đảng lần thứ XI khẳng định “Phát triển Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Trong đó thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế và thực hiện đổi mới cơ chế giáo

dục…”. “Giáodục vàđàotạocầntậptrung vào việc phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”. Giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Nhiều quốc gia trênthếgiớiđã đạtđược những thànhtựutolớntrong quá trình phát triển nhờ sớm coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo như Nhật Bản với quan điểmcoi“Giáodục đàotạo là quốc sách hàngđầu; cầnkếthợphài hoà giữa bảnsắc văn hóa lâuđờiphương Đôngvớinhững tri thức Phương Tây hiện đại”; hay Singapore vớiphương châm“Thắngtrong cuộc đuavềgiáo dục sẽthắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế”.

Ở nước ta, tưtưởngxuyên suốt của Đảnglà không ngừngđổimớiGiáo

dục – đào tạo nhằmbồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đápứngkịpthời yêucầucủa xã hội. Trước tình hìnhcầntạochuyển biếnmớicho Giáodục Đạihọc phát triển tại Việt Nam, năm 2003 Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg: “…Trường đại học được quyền tựchủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động đào tạo, khoa học, công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chứcvà nhân sự”, tháng 7/2005 Luật Giáodục được ban hành đã đề cậpđến“Việc thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục,tăngcườngquyềntựchủ, tự chịu trách nhiệmcủacơsởgiáo dục (Điều14)” [49] và Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của ChínhPhủban hành“Về đổimớicơbản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020”, nâng cao tầmquan trọng của việc hoàn thiện chính sách phát triển giáodục đạihọc theo hướng bảođảmquyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục Đại học, sựquản lý của Nhà nước và vai tr giám sát, đánh giá củaxãhộiđốivớigiáo dục đạihọc, theo đó đổi mới cơ chế quản lý cần chuyển các cơ sở giáo dục đại học công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, có pháp nhân đầyđủ, cóquyền quyếtđịnh vàchịu trách nhiệmvề đàotạo, nghiên cứu, tổchức, nhân sự và tài chính; xóa bỏcơ chếbộchủquản, xây dựng cơ chế đạidiệnsở hữunhà nướcđối với các cơsở giáo dục đạihọc công lập. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: “Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo phát huy vai tr của ội đồng trường”và Luật giáo dụcđạihọc năm 2012 đã qui định giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáodục Đạihọc.

Hiện nay, giáo dục đại học nước ta đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạngvềloại hình trường và hình thức đàotạo, nguồn lực xã hộiđược huyđộngnhiều hơn vàđạtđược nhiềukếtquảtích cực, cungcấpnguồn laođộng chủ yếu cótrình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập kinh tế quốc tế.

Bên cạnh những thành quả đạtđược, giáo dục đạihọc Việt Nam đangđứng trước thách thức rất to lớn: Cơ chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học chậm được thay đổi, mang tính cứng nhắc, không đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống, chưa phát huy mạnh mẽ được sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lý và sinh viên. Số lượng giáo viên còn thiếu ở nhiều nới, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, chất lượng nguồn nhân lực đang còn yếu kém. Đời sống kinh tế người dân tuy có thay đổi khá hơn nhưng vẫn còn ởmức thấp, khó khănvềkinhtếvẫnlà đang nặng, cùngvớiýthức ngườidân chưa cao nên việc đầu tư vào học tập cho con, cháu chưa được chú trọng. Sự mở rộng qui mô đào tạo ở các trường đại học Việt Nam chưa theo một định hướng chung, chưa thống nhất giữa các trường nên khó cóthểkiểm soátđược chất lượnggiáo dục, và dẫnđếntình trạngyếukémvềchất lượng, cùngvớisựmởmang nhiều trườngĐạihọc tràn lan nhưng khôngđảmbảođược các điềukiện tối thiểu cho hoạt động như cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, chương trình đào tạo, tài chính… đã gây nên bức xúc trong xã hội.

Tuy Đảng, Nhà nước, Chínhphủvà BộGiáo dục và Đàotạođã hếtsức chú trọng vấn đề tự chủ và đã cố gắng tạo ra hành lang pháp lý cho quyềntự chủcủa các cơ sở giáo dục đại học, nhưng các quyền tự chủ đó vẫn chưa thật sự phát huy hết tác dụng vì tính chất chưa triệtđể và sự thiếu nhấtquán, đồng bộ trong các chủ trương chính sách của Nhà nước. Các cơ sở giáo dục Đại học dường nhưvẫn hếtsức mong muốn được tăng cường quyềntự chủ, đặc biệttrong các lĩnh vực quản lý tài chính, bộmáy, nhân sự, tuyển sinh, trang thiết bị, cơ sở vật chất…Cơ chếquản lý nhà nước đốivớicác trườngĐạihọc mộtmặtc n tập trung, chưa có quy chế phốihợpvớicác bộ, ngành, chưa phâncấpcho chính quyền địa phương, chưa tạođủ điều kiện để các cơ sở đào tạothực hiện quyền và trách nhiệmtựchủ, mặtkhác khôngđủkhả năng đánh giá thực chất hoạtđộngvà sựchấp hành luật pháp của tấtcả các trườngĐạihọc không cókhảnăng đánh giá chất lượng giáo dục của toàn bộ hệ thống. Công tác quản lý ở các trường chưa phát huy được trách nhiệm và sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lý và sinh viên. Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tạo ra những cơ hội cũng như hình thành hành lang pháp lý để các trường Đại học thực hiện tự chủcủa mình, nhưng thực tế các trường chưa sử dụng triệt để quyền tự chủ của mình dưới góc độ pháp luật hành chính, thậm chí là thực hiện chưa có sự thống nhất và đồng bộ giữa các trường trong hệ thống giáo dục đại học.

Tự chủ và tự chịu trách nhiệm là thuộc tính cơ bản của các trường Đại học trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường hiện nay, tự chủ Đại học là yếutố cơbản trong quản trị đại học, tạo ra sự linh hoạt, năng động của các cơ sở giáodụcđạihọc trong quá trình sáng tạo ra tri thức dẫn dắt xã hội phát triển. Đồng thời, tự chủ đạihọc c n làm tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạođại học. Xuất pháttừnhucầuphát triển của xã hộivà nhucầuthực tế nhằm nâng cao chất lượng của lao động trí thức và trí tuệ con người nói chung để phục vụ xây dựng và phát triển đất nước. Thế nhưng, có thể nói ở Việt Nam trong nhiều năm qua, mô hình về quyền tự chủ hay một cái nhìn mang tính hệ thống và quy chuẩn về quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta chưa có. Điều này dẫn đến việc hiểu vể quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ởnước ta cóthểchưa toàn diện thậm chínhỏlẻ. Hơnthếnữa, việc nhìn nhận quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta chưa toàn diện cũng như việc chưa cómộtmô hình mang tínhhệthốngvềQuyềntựchủcủa các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta cũng như những luận điểm hoặc luật hóa hay khung chuẩn về quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta sẽ dẫn đến những khó khăn trong khi triển khai quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta.

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài“Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục Đại học công lập ở nước ta hiện nay”là điều rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận, thực tiễn, nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo đại học ở nước ta hiện nay ngang tầm với các nước khác trên thế giới.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1. Mục đích nghiên cứu

Trình bày những vấn đề lý luận về tự chủ, quyền tự chủ, bản chất, vai trò, nộidung quyềntựchủcủa các trườngđạihọc, đặc biệt là các trườngđạihọc công lập.

Phân tích đánh giá thực trạng thực hiện quyềntựchủcủa các trường đại học theo quy định của pháp luật hiện hành. Từ đó rút ra những nguyên nhân, bất cập, nhữngyếukém,tồntạitrong việc thực hiện quyềntựchủ, tựchịu trách nhiệm ở các trường đại học.

Đưa ra các giải pháp, kiến nghị có cơ sở lý luận, thực tiễn và có tính khảthi nhằm thực hiện quyền tự chủ của các trường đại học công lập ở Việt Nam.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án có một số nhiệm vụ cụ thể:

– Tổng quan tình hình nghiêncứucác công trình trong và ngoài nướcvềvấn đề quyềntự chủ của các cơ sở giáodục đạihọc; đánh giá khái quát phạm vi và mức độ nghiên cứu của các công trình này, xác định những kiến thức kế thừa và làm rõ những vấn đề cần được tiếp tục làm rõ trong luận án.

– Hệ thống hoá cơ sở lý luận về tự chủ, quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập, vai tr , nội dung, điều kiện thực hiện quyền tự chủ của các trường đạihọc công lập ở nước ta.

– Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học.

– Kiến nghị, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tự chủ của các trường đại học ở Việt Nam.

Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục Đại học công lập ở nước ta hiện nay
Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục Đại học công lập ở nước ta hiện nay

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Việc triển khai thực hiện quyềntựchủ, tựchịu trách nhiệm ởcác cơ sởđào tạo công lập.

Các trườngđạihọc đã và đang thực hiện cơ chế tựchủ, tựchịu trách nhiệm trong việc Giáo dục và đào tạo.

3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về nội dung: luận án nghiên cứu về Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta hiện nay dưới góc độ pháp luật, đặc biệt là pháp luật hành chính thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật hành chính

Phạm vi về không gian: Một số trường đại học trên phạm vi cả nước, đặc biệt là các trường đang thực hiện cơ chế thí điểm tự chủ.

Phạm vi về thời gian: số liệu được thu thập nghiên cứu trong 10 năm, từ năm 2008 – 2017.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp luận

Luận án sử dụng phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, dựa

trên quanđiểmcủa Chủnghĩa Mác –Lênin và tưtưởngHồChí Minhvề giáo dục đào tạo.

Nghiên cứu việc thực hiện quyền tự chủ Đại học một cách toàn diện, trên nhiều mặt.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, nghiên cứu sinh đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

– Phương pháp phân tích để phân tích các nội dung cơ bản của tài liệu, các văn bản pháp luật hành chính có liên quan, các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạpchí, chính sách Nhà nước, chiếnlược giáo dục, các tài liệu cũng như luận giải những vấn đề lý luận cơ bản của xã hội học về thực hiện quyềntự chủ Đại học trong các cơ sở công lập ở Việt Nam.

– Phương pháp hệ thống được sử dụng để hệ thống hoá các tài liệu, công trình, bài viết về thực hiện quyềntự chủ Đạihọc trong các cơ sở công lậpở Việt Nam và sắp xếp, phân loại, bố cục có chủ ý nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu và đưa ra những dự kiến thiết kế cấu trúc luận án. Phương pháp nàyđược tác giả sử dụng ở phầntổng quan tình hình nghiên cứu trong chương 1 và phần lý luận thuộc chương 2.

– Phương pháp tổng hợp và thống kê được kết hợp hài hoà nhằm mục đích tổng hợp các kết quả thu thập được từ thực tiễn qua các số liệu, báo cáo công tác năm của các trường Đạihọc và xửlýmộtcách hợp lý, có hiệu quả các số liệu thực tiễn đểlàm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu của luận án. Phương pháp nàyđược sử dụng chủ yếu ở chương 3.

– Phương pháp lịch sử dùng để tìm hiểu lịch sử hình thành, phát triển vàquá trình chuyển biến việc thực hiện quyềntựchủđạihọccủa các trườngĐại học công lập ở Việt Nam.

– Phương pháp điều tra xã hội dùng để phỏng vấn, lấy ý kiến của một sốtrường Đại học đã và đang thực hiện quyền tự chủ đại học trong các cơ sở công lập ở Việt Nam. Từ đó rút ra những kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề cần nghiên cứu. Sử dụng bảng hỏi khảo sát thực trạng thực hiện tự chủ đại học dưới góc độ pháp luật hành chính.

+ Mẫu1:Mẫukhảo sát dành cho Ban giám hiệu và lãnh đạo các trường đại học.

+ Mẫu 2: Mẫu khảo sát dành cho giảng viên các trường đại học.

Phương pháp này được tác giả sử dụng trong phần thực trạng của chương 3.

– Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia, được sử dụng để tham khảo xinýkiến của mộtsốchuyên gia Luật, Nhà quản lý Giáo dục các trườngĐại học có kinh nghiệm đưa ra giải pháp có tính khả thi liên quan đến việc thực hiện quyền tự chủ đại học.

Ngoài ra, luận án c n sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như so sánh, qui nạp, diễn dịch.

5. Những điểm mới của luận án

Luận án sẽ có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

Thứ nhất, luận án làm rõcơ sở lý luận về tự chủ đại học, quyền tự chủ đại học, điều kiện, vai trò của quyền tự chủ đại học.

Thứ hai, luận án cũng phân tích và làm rõ thực trạng việc thực hiện quyền tựchủđạihọc của các cơ sởgiáo dục đạihọc công lập ởViệt Nam hiện nay;đánh giá những ưuđiểmcũng như nhữngtồntạibấtcập; làm sángtỏnhững nguyên nhân của hạn chế bất cập nói trên.

Thứ ba, luận án sẽ đưa ra những kiến nghị, giải pháp, khuyến nghị về việc hoàn thiện pháp luật và các côngcụquản lý khác đểtăngcườngquyềntựchủcho các cơ sở giáo dục đại học công lập hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận

Luận án góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và pháp lý về quyền tựchủ đại học ở nước ta hiện nay, do đó công trình này hoàn toàn có thể sử dụng làm tài liệu tại các trường đại học và học viện đào tạo luật.

Luận án cũng đã phân tích, đánh giá và chỉ rađược nhữnghạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luậtvềquyềntựchủđạihọc, từđóđưa ra các kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật. Luận án cũng có nhiều đóng góp cho việc kiến nghị sửa luật giáo dục đại học.

6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Luận án là công trình nghiêncứucóthểđược sửdụng, tham khảo trong hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục đại học và quản trị trường đại học hiện nay, là tài liệu tham khảo cho các cán bộ quản lý giáo dục đại học.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. Luận án được kết cấu thành 4 Chương. Cụ thể:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập

Chương 3: Thực trạng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam hiện nay

Chương 4: Các giải pháp tăng cường quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam hiện nay

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

QUYỀN TỰ CHỦ ĐẠI HỌC

Quyềntự chủ đại học là một vấnđề khá mớimẻ ở ViệtNam, trong những năm vừa qua cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viêt về vấn đề này. Tuy nhiên, mỗi công trình, mỗi bài viết lại đề cập đến một góc độ khác nhau vàđềucóýnghĩa đóng góp vào quá trình nghiêncứuvà hoàn thiện các quyđịnh pháp luật và góp phần nâng cao quyềntựchủcủa các cơ sở giáo dục đạihọc công lập hiện nay.

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.3. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn ở các nhóm như sau:

Thứ nhất, chính sách hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, cải cáchhệthống thi cử, đào tạo, cấp phát văn bằng của giáo dục đại học, chính sách nhằm mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp quản lýgiáo dục đại học, chính sách đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục

Thứhai, các công trìnhtậptrung vào phân tích nhữngvấnđềlý luậnvềquyềntựchủđạihọcnhư triết lý giáo dục, khái niệm,bảnchất, vai trò và cácđiều kiện thực hiện quyền tự chủ đại học.

Thứ ba, nhóm các công trình tập trung phân tích các nội dung về quản lýnhà nước và quản trị trường đại học trong điều kiện thực hiện quyền tự chủ.

Thứ tư, nhóm các công trình tập trung phân tích các nội dung cụ thể của quyền tự chủ đại học như quyền tự chủ về học thuật, quyền tự chủ về tài chính và quyền tự chủ về tổ chức, nhân sự.

Thứnăm, nhóm các công trìnhtậptrung phân tíchvềhệthống giáo dục đại học trong bối cảnh thực hiện quyền tự chủ hiện nay.

Tuy nhiên hiệnvẫnchưa chưa có công trình nghiêncứunàomộtcách toàn diện, có hệ thống về tính tự chủ của đại học dưới góc độ pháp luật ở Việt Nam hiện nay hay nói cách khác là quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học hiện nay.

1.4. Những vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu 1.4.1. Những vấn đề cần nghiên cứu

Luận án sẽ tiếp thu những ưu điểm, những điểm phù hợp của các công trình nghiên cứu đã nêu, đồng thời tác giả cũng tiếp tục làm rõ nhưng vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc đã nghiên cứu nhưng chỉ ở mức độ tổng quát, cụ thể:

Thứnhất, trên cơ sởtổnghợpnhữngvấnđềlý luậnvềtựchủđạihọc, luận án sẽ xây dựng cơ sở lý luận về tự chủ đại học, quyền tự chủ đại học bao gồm các vấn đề khái niệm về quyền tự chủ đại học, vai trò, nội hàm của quyền tự chủ đại học. Ngoài ra luận án cũng sẽ nêu rõ vấn đề điều kiện cũng như giới hạn giaoquyền tự chủ đại học.

Thứ hai, luận án sẽ làm rõ thực trạng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta hiện nay. Thực trạng trên bao gồm thực trạng các quyđịnhpháp luậtvềquyềntựchủ đạihọc, thực trạng thực hiện quyềntựchủcủa các cơ sở giáo dục đại học công lập. Thông qua thực trạng, luận án sẽ thể hiện tình hình thực hiện quyềntựchủcủacác cơ sởgiáodụcđạihọc cônglậpgiai đoạn2008–2017, giaiđoạnthíđiểm2014–2017 của các cơ sởgiáo dục đại học thíđiểmtựchủ. Luận ánsẽđánh giá những ưu điểm, hạnchếtrong việc thực hiện quyền tự chủ và phân tích các nguyên nhân cụ thể.

Thứba,từnhữngvấnđềlý luận và thực tiễnđã nêu, luận ánsẽđềxuất những giải pháp nhằm tăng cường quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta hiện nay.

1.4.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Nhữngvấnđềcầnnghiêncứunêu trên chính là những câuhỏilớnmàluận án đặt ra cần được trả lời, cụ thể:

– Lý luận tổngthểvềtựchủđạihọcvà quyềntựchủđạihọc cầnđược hiểu như thế nào? Có những đặc điểm, bản chất nào? Vai trò của nó ra sao trong giáo dục đại học? Giới hạn quyền tự chủ đại học đến đâu?

– Quyềntựchủđạihọc cómốiliênhệnhưthếnàovớiđổimớiquản lýnhà nước vềgiáo dục đạihọc? Cóýnghĩa thếnào trong việc nâng cao chất lượng đàotạo nguồn nhân lực?

– Các điều kiện để thực hiện quyền tự chủ đại học là gì? Mối quan hệ với chế độ kinh tế, xã hội của các quốc gia như thế nào?

– Pháp luật sẽ điều chỉnh những nội dung nàocủa tự chủ đại học? Mức độđiều chỉnh đến đâu? Nội dung điều chỉnh ra sao?

– Thực trạng thực hiện quyềntựchủđạihọc của các cơ sởgiáo dục đại học công lập hiện nay ra sao? Kết quả thực hiện thí điểm quyền tự chủ đại học của 23 cơ sở giáo dục đại học công lập hiện nay ra sao? Đặt ra câu chuyện gì?

– Từ thực trạng đó đặt ra yêu cầu phải đề ra các giải pháp thực hiện quyền tự chủ đại học cho các cơ sở giáo dục đại học công lập: vì sao phải đề ra các giải pháp? Quan điểm và nguyên tắc đề ra các giải pháp thực hiện quyền tự chủ đại học là gì? Các giải pháp thực hiện quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học công lập hiện nay gồm những gì?

Các giải thuyết nghiên cứu của luận án.

– Các nghiên cứu về tự chủ đại học chưa sâu sắc, triệt để, đặc biệt là chưa có nghiên cứu nào ở góc độ pháp luật.

– Các vấn đề lý luận về tự chủ đại học và quyền tự chủ đại học chưa được phân tích sâu sắc, rõ ràng; các nộidung của quyềntựchủđạihọc chưa được phân tích toàn diện, hệ thống.

– Thực trạng xây dựng pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luậtvềquyềntựchủđạihọccủa các cơ sởgiáo dục đạihọc cônglậpchưa được tổng kết và đánh giá ở mức độ khái quátvà mức độ cụ thể.

– Cần phải xây dựng một mô hình đại học tự chủ trong đó tính đến các vấn đề thể chế pháp luật, điều kiện năng lực của các cơ sở giáo dục đại học và điều kiện kinh tế xã hội của đất nước.

Kết luận chương 1

Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập là một trong những vấn đề có tính cấp bách nhất hiện nay của giáo dục đại học Việt Nam, giải quyếtđược vấn đề nàysẽ giúp đổi mớiquản trị đạihọc, đổi mớiphương thức quản lýcủa Nhà nước đối với giáo dục đại học hiện nay.

Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu liên quanđến tự chủ đại học và quyềntự chủ đạihọc, tác giả chia làm hai phần trong nội dung chương 1 này là: tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và tình hình nghiên cứu trong nước.

Phần tình hình nghiêncứuở nước ngoài, tác giả đã nêu ra mộtsốcông trình có liên quan đếntựchủđạihọc, hìnhthức tựchủ, nội hàm của tựchủđểlàm căn cứ cho việc xây dựng khung lý luận ở chương sau.

Phần tình hình nghiêncứutrong nước, tác giả chia theo các cấpđộkhác nhau như công trình khoa học các cấp, các luận án, luận văn, các kỷ yếu hội thảo và đặcbiệt chủ yếu là các bài viết của cáctạpchí có liên quan đếnvấn đề tự chủđạihọc ở Việt Nam.Điềunày cho thấyvấnđề nàycầnđượcnghiêncứumột cách sâu sắc hơn.

Các tài liệu tiếp cận ở các góc độ khác nhau, chủ yếu về các quyềncụthểcủa tự chủ đạihọc. Tuy nhiên việc tiếp cận chuyên sâu dưới góc độ một luận án về quyềntựchủđạihọc, cácđiềukiện, quy trình giao quyềntựchủ, giới hạn giao quyềntựchủ, các quyđịnhpháp luậtvề quyềntựchủđạihọc. Từthực trạng như vậy, việc nghiên cứu đề tài“Quyềntự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta hiện nay” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn góp phần cung cấpcác luận chứng khoa họccho việc kiến nghị hoàn thiện các quyđịnhpháp luật về tăng cường quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học công lập.

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ CHỦ

CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

2.1. Khái niệm,bảnchất, vai trò vàđiều kiện thực hiện qyền tự chủcủa các cơ sở giáo dục đại học công lập

2.1.1. Các khái niệm

Theo từ điển tiếng Việt: “Đại học là bậc học trên trung học, dưới cao học” [102]. Vớiýnghĩa này cóthểhiểuđạihọc là mộtcấphọc cao cósựthu nhận kiến thức, luyện tập kĩ năng được truyền tải bởi người thầy hoặc từ sách vở.

Trên cơ sở thực tiễn của Hoa Kỳvà châu Âu, trườngđạihọcnói chungđược hiểu là cộngđồngcủa nhữngngườitheođuổitri thức, tức giảng viên vàsinh viên. Nóđược xem là“nơicungcấpkiếnthức”, “ngôiđềncủatrithức”, “trung tâm của quyền lực trítuệ”, “nơibảo vệ quyền lực của mọi loại tri thức”, và là một “trung tâm sáng tạo tri thức, xem xét lại mọi tri thức, phổ biến tri thức, chuyển giao và ứng dụng tri thức”. [43]

Còn theo Luật Giáo dục Đạihọc 2012địnhnghĩa đạihọc là cơ sở giáo dục đạihọc baogồmtổhợpcác trường cao đẳng, trườngđạihọc, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo haicấp, để đàotạo các trình độ của giáo dục đại học [51].

Giáo dục đại học (tiếng Anh: higher education – giáo dục bậc cao) [116] là giai đoạn giáo dục thường diễn ra ở các trường đại học, viện đại học, đại học, trường cao đẳng, họcviện và viện công nghệ. Giáo dục đạihọc nói chung bao gồm các bậc sau trung học như cao đẳng, đại học và sau đại học, gồm cả một sốcơ sởgiáo dục bậcđạihọc hay caođẳngnhư các trường huấn nghệ và trường kinh doanh có trao văn bằng học thuật hay cấp chứng chỉ chuyên nghiệp.

Về khái niệmđại họccông lập: Theo bách khoa toàn thư của Việt Nam thìĐạihọc cônglậplà trườngđạihọc do nhà nước (trung ương hoặc địa phương)

22

đầutưvề kinh phí và cơ sở vậtchất(đấtđai, nhà cửa) và hoạtđộngchủyếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi,được quản lý toàn diệnmọihoạtđộngbởicơ quan quản lý của Nhà nước. Đại học công lập khác với đại học tư thục hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng và các khoản hiến tặng và được thành lập, quản lý hoạtđộng bởi các cá nhân là chủ đầu tư của trường.

Ởmộtgóc độ khác, Trường đại học cônglập được địnhnghĩa là mộtcơsởgiáodụcvà nghiên cứu, công nhận bằngcấphọc thuật ởtấtcảcác trìnhđộ(cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) ở nhiều chuyên ngành khác nhau. Đặc điểm phổ biến để phân biệt trường đại học công lập với các cơ sở giáo dục, đào tạo phổ cập làsự tự do học tập cho sinh và sự tự do giảng dạy cho giảng viên [73]. Trường đại học cônglậpđược nhà nước, baogồmtrung ương và địaphươngcấpkinh phíhoạt động. Nó thườngđược quản lý bằngmộthộiđồnggiáo dục đạihọc hoạt động theo quy định của chính phủ.

Tự chủ được hiểu theo nghĩa đời thường là khả năng tự làm chủ bản thân của một sự vật hiện tượng trong cuộc sống. Hay nói cách khác, tự chủ là tự mình có quyền và có thể kiểm soát được những công việc của mình.

Theo từ điển tiếng Việt thì: “Tự chủ là tự điều hành, quản lí mọi công việc của mình, không bị ai chi phối” [103]. Như vậy, tự chủ là khả năng tự điều hành, quản lý công việc của mộtcá nhân haymộtnhómngườitrongtổchứcđểđạt được hiệu quả trong công việc.

Nói tóm lại, tự chủ là khả năng tự điều hành và quản lý mọi công việc của một cá nhân hay một tổ chức nhằm thực hiện nhiệm vụ được giaođạt hiệu quảcao nhất có thể.

Theo hai tác giả Anderson and Johnson, Tự chủ đại học (university autonomy) được địnhnghĩa là sựtựdo của mộtcơ sởgiáo dục đạihọc trong việc điều hành các công việc của trường mà không cósự chỉ đạo hoặc tácđộng từbấtcứcấpchính quyền nào [120]. C n theo báo cáođề dẫncủa Debreczeni (2002) trong Hội thảo quốc tế “Tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức” thì tựchủ thể chế (institutional autonomy) là điều kiện cho phép một tổ chức giáo dục đại học điều hành hoạt động của tổ chức mà không có sự can thiệp từ bên ngoài. Tự chủ của cơ sở giáo dục đại học hoàn toàn không có nghĩa là nó nằm ngoàisựchi phối của luật pháp. Nó là tự chủ có điều kiện và các điều kiện nàyđược xácđịnh bởi mối quan hệ giữa Nhà nước, xã hội và cơ sở giáo dục đại học.

Tự chủ được phân loại như sau:

-Tựchủthực chất (substantive autonomy): trườngđạihọc có quyền xácđịnh các chương trình học tập và mục đích của những chương trình này.

– Tự chủ thủ tục (Procedural autonomy): trường đại học có quyền xác định các phương tiện cần thiếtđể hoànthành các ưu tiênđápứng vớicác nhiệmvụnằm trong chính sách quốc gia.

-Tựchủtổchức (Organic autonomy): trườngđạihọc có quyền xác định các tổchức học thuật của mình, nên dựa vào các Khoa và Phòng/Ban hay các trường, các viện nghiên cứu,…

Các lĩnh vực mà Nhà nước cóvẻnhư đang giảmdầnsựkiểm soát quátrình tập trung vào các mảng như phân bố chương trình, hồ sơ chuyên ngành đào tạo, phân bố sinh viên giữa các chuyên ngành, các điều kiện, các phương tiện vàcác nguồn lực tham gia vào quá trình đào tạo. Tuy nhiên các hình thức cấp kinh phí sau thẩm định, giám sát thực hiện và thực hiện đánh giá chất lượng được sửdụng nhiều hơn lại thể hiện rằng có sự gia tăng kiểm soát sản phẩm.

Như đã trình bày thì tự chủ đại học không phải là một sản phẩm tự thân mà nógắnliềnvớicác chếđộxã hộikhác nhau. Các nghiêncứuvềcác mô hình quảntrịđạihọc trênthếgiới nói chung và ởViệt Nam nói riêng thường tập trung vào mối quan hệ giữa Nhà nước (cơ quan chủ quản) và cơ sở giáo dục đại học cho thấy mức độ tự chủ dựa trên mức độ kiểm soát của Nhà nước đối với cơsởgiáo dục đạihọc đó. Tạicác quốc giarấtkhác nhau, giáo dục đạihọc chịu ảnh hưởng của thể chế chính trị, hình thái lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau nên tính tự chủ đại học cũng sẽ khác nhau. Điển hình trong báo cáo tổng quan về xu thế quản trị đại học trên thế giới của World Bank 2008, báo cáo đã khái quát bốn mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn (state control) như ở Malaysia, đến các mô hình bántự chủ(semi-autonomous) nhưởPháp và New Zealand, mô hình bánđộc lập(semi- independent) ởSingapore, và mô hìnhđộc lập(independent)ởAnh, Úc. Tuy nhiên, trong mô hình do Nhànước kiểm soát thì cơ sởgiáo dục đạihọcvẫn được hưởng một mức độ tự chủ nhất định vì những lý do tài chính và thực tiễn và điềuquan trọng nữa là Nhà nước khôngthểkiểm soátđượctấtcảcác hoạt độngcủa cơ sởgiáo dục đạihọc. Trong khi đó, mô hìnhđộc lậpthìvẫncónhững mặc định ngầm về quyền của Nhà nước nắm giữ một số kiểm soát về mặt chiến lược và có quyền yêu cầu tính giải trình cao ở các cơ sở giáo dục đại học.

Tại Việt Nam, Nghị định số 16/2015/ND-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 có nêu rõ: “Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công là các quy định về quyền tựchủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sựvà tài chính của đơn vị sự nghiệp công”. Theo đó, các trường đại học công lập làmột đơn vị sự nghiệp công lập thì đồng nghĩa với việc các trường cũng có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính.

Tự chủ đại học được quy định tại Khoản 1, Điều 32 của Luật Giáo dục đại học năm 2012 như sau: “Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủyếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản,đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục” [51].

Còn theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết tại diễn đàn giáo dục quốc gia năm 2017 thì tự chủ đại học là quyền của cơ sở giáo dục đại học quyết định sứ mạng và chương trình hoạtđộngcủa mình, cách thức và phương tiện thực hiệnsứmạng và chương trình hoạtđộngđó, đồngthờitựchịu trách nhiệm trước công chúng và pháp luật về mọi quyết định cũng như hoạt động của mình.

Mộtkhái niệm khác cho rằng:“Tựchủlàmộthệgiải pháp cócấutrúc chặtchẽnhắmđếnviệc cảithiện môi trường giáo dục đểnâng cao chất lượng dạyvà học. Hạtnhâncủakhái niệmtựchủ là văn hoá quản lý phân quyền.Sựphâncấpvềtrách nhiệm công việc và trách nhiệm giải trình trong học thuật cũng như là trong các chức năng quản lý được tiến hành đồng thời là điều thiết yếu để đảm bảo sự thành công trong tự chủ”[32]. Trong thực tế của giáodục đại học thếgiới, chúng ta đã nhìn thấy những cơ sởgiáo dục đạihọc tựchủhóa thành công nhờ vào năng lực lãnh đạo, thiết lập được các nền tảng vững chắc vàhoạch định được lộ trình, trong khi một số trường khác không dám dấn thân vào cuộc thử nghiệm.

Như chúng ta đã biết, các yếu tố cần thiết để đảm bảo chất lượng giáo dục là năng lực, tháiđộhọc tậpcủasinh viên;tầmnhìn và tính năngđộngcủa hệthống quản lý, đồng thời là sự tín nhiệm của xã hội đối với sản phẩm đào tạo sau khi tốt nghiệp. Bản thân sự tự chủ không phải là một bảo đảm về chất lượng cao vàkhông tự chủ không có nghĩa là ngăn trở các cải cách. Tự chủ với một ý nghĩa làcho phép và tạo ra một nền tảng để phát triển những năng lực của cá nhân và tập thể nhà trường hơn là một hệ thống phụ thuộc lẫn nhau với tất cả những điều kiện mâu thuẫn làm kéo giảm chất lượng giáo dục đại học. Như vậy,tự chủ làmột hệgiải pháp có cấu trúc chặt chẽ nhằm đến việc cải thiện môi trường giáo dục để nâng cao chất lượng dạy và học trên cơ sở năng lực của từng trường.

Như vậy, có nhiều quan điểm xung quanh về vấn đề tự chủ đại học để cóthể giúp chúng ta hiểu thêm về tự chủ đại học. Từ những quan niệm đó, có thểchốt lại tự chủ đại học có những điểm mấu chốt như sau:

– Tiến trình tự chủ đặt dưới sự kiểm soát nội bộ của các trường đại học.

– Tự chủ bao gồm tự chủ trong học thuật, trong quản lý tài chính và trong quản trị. Lẽ đương nhiên, mọi sự giới hạn về tự chủ có nghĩa là sự giới hạn hoạt động của trường đại học.

-Sựcan thiệp của chính quyền vào nhữngvấnđề quan trọng như là bầu chọn phó hiệu trưởng, chức năng của ban quản trị và hội đồng khoa học.

– Tự chủ trong việc thực hiện quyền hạn theo luật định của Hiệu trưởng. – Tự chủ để bầu chọn các vị trí, chức vụ trong trường đại học.

– Tự chủ trong việc quy định về việc tổ chức các dịch vụ trong trường đại học. – Tài chính có vai tr thúc đẩy tự chủ đại học.

-Sựcan thiệp thường xuyên của các quan quản lý vào những công việc liên quan đến các công việc của trường đại học.

Trước hết, chúng ta cần thiết phải hiểu tự chủ xuất hiện cùng với sự ra đời của các trường đại học trên thế giới. Với lịch sử phát triển như thế thì rất khó đểtìm ra được một khái niệm cơ bản về tự chủ đại học nói chung và quyền tự chủcủa các cơ sởgiáo dục đạihọccônglậpnói riêng. Giao quyềntựchủcho các trường đại học công lập là xu thế tất yếu để phát triển giáo dục và hội nhập với quốc tế. Giao quyền cho các trường đại học công lập là một xu thế tất yếu bởi 3 lý do chính sauđây[69] :

Thứ nhất, vì phải đáp ứng các quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường.

Thứ hai, để có sản phẩm đa dạng, có phổ chất lượng phù hợp, nhằm đápứng với mọi nhu cầu của thị trường.

Thứ ba, vì không c n được bao cấp nguồn lực hoàn toàn.

Thứ tư, để các cơ sở giáo dục chủ động trong việc nâng cao không ngừng chất lượng, hiệu quả và hiệu suất của mình.

Tuy nhiên cũng cần nhìn nhận rằng, giáo dục đại học được hiểu đó là một dịch vụ công phục vụ cho lợi ích cộng đồng mà trước hết là quyền lợi người học và người dạy. Đồng thời cơ chế tự chủ đại học vẫn đặt dưới sự giámsát của nhà nước thông qua việc cấp ngân sách, tàitrợhọc bổng, chính sách mục tiêu phát triển giáo dục đại học cũng như công tác kiểm định chất lượng giáo dục. Do đóvề nguyên tắc quản lý nhà nước đối với các trường đại học công lập và tư thục lànhư nhau. Điểm khác biệt rõ nét nhất đó chính là gốc sở hữu của trường đại học công lập là cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan chủ quan), do đó việc thực hiện quyềntựchủcủa các trường này có nhiều ràocảnmang tínhthủtục hơn các trường đại học tư thục.

Các vấnđềkhác nhau có liên quanđếnkhái niệmtựchủđã được thảo luận trong hộithảo được tổchức tại trườngđạihọc Madras ở Chennai, ẤnĐộngày 30 tháng 11 và ngày 1 tháng 12 năm 2004. Hội thảo có sự thamdự của Ủy ban CABE và dưới sự chủ tọa của giáo sư S.P. Thyagarajan – Phó hiệu trưởng trường đại học Madras [32]. Vấn đề thiết yếu là tự chủ nên được xem như là một con đường để tìm kiếm phương cách thúc đẩy sự xuất sắc trong học thuật, trong quản lý tài chính, và trong quản trị của các cơ sở giáo dục. Đi chệch ra khỏi quỹđạođó, cóthểkếtluậnmộtcách chắc chắn rằngtựchủđã được sửdụng một cách sai lầm. Tự chủ trong học thuật là sự tự do của cơ sở giáo dục đại học trong việc quyếtđịnhnhữngvấnđềthuộc vềhọc thuật như là chương trình, tài liệu giảng dạy, phương pháp sư phạm, kỹ thuật đánh giá thành quả học tập của sinh viên. Tự chủ trong quản trị là sự tự do của cơ sở đào tạo trong việc sắp xếp và tổchức các sự kiện, các mối quan hệ liên quan đến công việc lập kế hoạch, tổ chức và điều phối. Sự tự do trong công việc như vậy sẽ thúc đẩy sự năng động và sựphát triển của từng cá nhân và kéo theo đó là sự vững mạnh của cơ sở giáo dục đại học. Sự tự chủ về tàichính là sự tự do của cơ sở đào tạo trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính theo chiến lược ưu tiên mà mình lựa chọn. Tự chủ và tựchịu trách nhiệm là haimặtcủa mộtvấnđềduy nhất. Trách nhiệm giải trình khiến các cơ sở giáo dục đại học phải điều chỉnh sự tự do đã được trao cho họtheo con đường của sự tự chủ.

Từ các kháiniệm về tự chủ và tự chủ đại học cóthể thấy quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học được hiểu theo nghĩa phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan, các bộ phận cấu thành nên một hệ thống. Ở góc độ nhà trường nó được hiểu là khả năng tự ra các quyết định về quản lý của nhà trường trong khuôn khổcác quy định cho phép. Ở góc độ quốc gia, quyền tự chủ phản ánh mối quan hệgiữa nhà trường với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu hoạt độngcủa mình. Xétvềmặtthực chứng, Quyềntựchủđạihọc được hiểu là các quy định của pháp luật phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước với các cơ sởgiáo dục đạihọc trong việc thực hiện mục tiêutựdo học thuật, tựchủquản trị và các điều kiện giải trình bắt buộc để thực hiện quyền tự chủ của mình.

Nhưvậycóthểthấy quyềntựchủkhông có mục đíchtựthân mà nó làmột công cụ quản lý do nhà nước giao cho các trường với niềm tin rằng một khi nhà trường đã được tự quyết định các vấn đề cóliên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của mình thì chất lượng và hiệu quả đào tạo sẽ được nâng cao. Vấn đề ở đâylà các trường sẽ thực hiện quyền tự chủ đó như thế nào. Việc thực hiện quyềntựchủcủa các trường thông thườngsẽtheomộtvònglặpphảnhồicho nhà trường có thông tincầnthiết trong việc đưa ra các quyếtđịnhcủa mình. Vònglặpnày thông thườnggồmTựchủ(Autonomy), Đánh giá (Assessment), Giải trình (Accountability), thường được gọilà mô hình 3A trong quản lý giáo dục hiện nay. [98]

2.1.2. Bản chất của quyền tự chủ đại học

Bảnchất của quyền tự chủ đại học thể hiện mối quan hệ giữa nhà và nhàtrường thông qua mối quan hệ kiểm soátvà mức độ kiểmsoát thể hiện mức độtựchủcủa nhà trường. Bảnchất của quyềntựchủđạihọc được thể hiện qua những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, thể hiện tính độc lập của nhà trường trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến vận mệnh của mình. Như đã trình bày phần trên thì đại học vốn là “ngôi đềncủa tri thức”, là nơi tập hợp tự nguyện của các nhà khoa học, giáo viên và sinh viên cùng nhau sáng tạo ra tri thức dẫn dắt sự phát triển của xãhội. Tuy nhiên,sựrađờicủa các trườngđạihọc đầutiên trên thế giớitừthời trung cổ đến phong kiếnđềugắn chặt với sự ảnh hưởng, kiểm soát bởi giáo hội, nhà thờ và nhà nướcđểphục vụcho các mục tiêu xây dựng, phát triểnlợiích của giáo hội và nhà nước. Do đó, để thực hiện được mục tiêu ban đầu của mình là “sáng tạo ra tri thức” phục vụ cộng đồng và dẫn dắt xã hội thì các trường đại học phải có tính độc lập cao trong mối quanhệ vớinhà nước, đó chính là thực thi quyền tự chủ của mình.

Thứ hai, quyềntựchủcủa các trường đại học gắnliềnvớiquá trình hạn chế sựcan thiệpcủanhà nước vào các công việc của trường. Xuhướngphát triển chung của giáo dục đạihọctrên thế giới là tăngcườngquyềntựchủgắn vớiđổimớiphương thức quản lý của nhànước đốivớigiáo dục đạihọc. Các Nhà nước trên thế giới có xuhướnggiảm can thiệp sâu vào các công việc của nhà trường, mà chủ yếu kiểm soát hoạt động của trường thông qua việc cấp ngân sách, tài trợ học bổng, định hướng chiến lược phát triển giáodục đại học và hoạtđộng kiểm soát chất lượng đào tạo.

Thứ ba, quyềntự chủ đại học gắn liềnvớitự do học thuật của nhà trường. Các trườngđạihọc thường có giớihạncủa quyềntựchủtrong các hoạtđộng như: tự chủ quyết định mục tiêu, phương hướng phát triển của trường và tự chủtrong triển khai, vận hành các hoạt động của trường.

Thứ tư, quyềntựchủđạihọc gắnliềnvớitựchịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của các trường đại học. Nhà nước có xu hướng mở rộng quyền tự chủ cho các trường đại học, bên cạnh đó họ cũng đ i hỏi các trường đại học phải chịu trách nhiệm giải trìnhvề các hoạtđộngcủa mình. Trách nhiệm giải trìnhđược thực hiệnvớicác bên liên quan như các bêncấpngân sáchđàotạo (nhà nước, sinh viên) và các thực thể xã hội có liên quan. Mức độ tự chủ của các trường càng cao thì vấn đề tự chịu trách nhiệm và giải trình trách nhiệm của các trường càng cao, chính điều này sẽ thúc đẩy các trường trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của mình để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện thực hiện quyềntự chủ.

Thứnăm, quyềntựchủđạihọckhông có nghĩa là các trườngtựlo việc tồn tại mà không có sự hỗ trợ của nhà nước. Ngược lại nhà nước vẫn đầu tư vềkinh phí, nguồn lực cho mọi hoạt động của trường căn cứ vào chất lượng kết quảđàotạođầura củanhà trường. Nếucác trường thực hiệntốtquyềntựchủvàtrách nhiệm giải trình của mình thì sẽ được nhà nước tập trung đầu tư tốt hơn.

Thứ sáu, quyềntự chủ đạihoc gắn liền với quá trình xã hội hóa giáodụcđạihọc. Giáo dục đạihọc là mộtdịchvụcôngvớisảnphẩmđặc thù là nguồn nhân lực chất lượng, quyếtđịnhthành công của nềnkinhtế xã hội. Dođóđểgiáo dục đại học phát triểncầncó sự tham gia của các nguồn lực xã hội vào quátrình thực hiện nhiệmvụcủa các trường. Chỉ khi nàođể các trường đại học cóđược quyềntự chủ rộng rãi thì việc huy động các nguồn lực xã hội mới hiệuquảvà thiết thực. Đây chính là bản chất xã hội của quyền tự chủ đại học.

2.1.3. Vai trò củaquyền tự chủ đại học

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUYỀN TỰ CHỦ CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *