Cơ quan Cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam

Cơ quan Cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Tốtụng hìnhsự làmộthoạtđộngrấtquan trọng vì nó liên quan, ảnh hưởng đến cácquyền và lợi ích cơ bản của công dân. Chính vì vậy, Đảng vàNhà nước ta đã có nhiều văn bản,chủtrươngvềcảicách tư pháp như: văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI, Nghị quyết số08/2002/NQ/TW-BCT và Nghị quyết số 49/2005/NQ/TW-BCT của Bộ Chính trị nhằm từng bước hoàn thiện các cơ quan tư pháp.

Cơ quan CSĐT là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng, có nhiệm vụ phòng ngừa, phát hiện, điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền. Trong những năm qua, đặc biệt từ khi Bộ luật TTHS và Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 2004 có hiệu lực, Cơ quan CSĐT trên toàn quốc đã được bố trí sắp xếp lại vàhoàn thiện không ngừng về tổ chức và hoạt động, mọi hoạt động cơ bản đã đi vào nề nếp. Kết quả công tác điều tra, xử lý tội phạm theo Pháp lệnh tổ chức ĐTHSđượcnâng lên rõrệtvà có nhiều tiếnbộ.Theo tổnghợpcác báo cáo

tổng kết của Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an, tính từ năm 2005 đến hết năm 2013, Cơ quan CSĐT trên toàn quốcđãđiềutra tổngsố741.316vụán, 1.161.085 bị can (chiếm 98% tổng số án thụ lý điều tra của CQĐT trong Công an nhân dân). Trong đó, khởi tố mới 695.428 vụ án (chiếm 93,81 %,), 1.094.787bịcan (chiếm 94,29%). Trong tổngsố741.316vụán, 1.161.085bịcan thì Cơ quan CSĐT cáccấpđãkếtthúcđiềutrađược526.508vụán, với 927.555bịcan. Trongđó,kếtluậnđiềutrađềnghị truytố512.896vụ(đạt 97,41%), 897.292 bị can (đạt 96,73%) [phụ lục, bảng 2]. Mặt khác, do công tác chuẩn bị tốt ngay từ đầu nên Cơ quan CSĐT cấp huyện được tăng thẩm quyền đãhoàn thành nhiệmvụđượcgiao; chấtlượngđiềutra, khám phá cácvụán hình sự được đảm bảo và nâng cao hơn trước, số vụ oan sai giảm đáng kể; các

2

trường hợp VKS trả hồ sơ để điều tra bổ sung không đáng kể so với tổng số các vụ án thuộc thẩm quyền mới đã giải quyết. Bên cạnh đó, việc phối hợp giữa Cơquan CSĐT Công an các cấp với các cơ quan tư pháp cùng cấp trong bắt, tạm

giữ,tạmgiam, truytố,xétxử….đãcó hiệuquảhơn. Điềuđó,chứngtỏhoạt độngcủaCơ quan CSĐT và các cơ quan khácđượcgiao nhiệmvụtiến hành một số hoạt động điều tra theo Pháp lệnh tổ chức ĐTHS đã có nhiều ưu điểm và phát huy tác dụng, góp phần hiện thực hóa quanđiểmcủaĐảngvà Nhànước về cải cách tư pháp.

Tuy nhiên, saumộtthời gian thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChínhtrịvềchiếnlượccải cách tư phápđếnnăm 2020 và đặc biệt sau 10 năm thực hiện mô hình Cơquan CSĐTmớitheo Pháp lệnhtổchức ĐTHS và chủtrương tăng thẩm quyền cho Cơ quan CSĐT Công ancấphuyện thì hoạtđộngcủa Cơ quan CSĐT cũngđã bộc lộnhữnghạnchế, vướngmắc như: việc phânđịnhthẩm quyền điều tra giữa các lực lượng điều tra trong Cơ quan CSĐT chưa rõ ràng, hợp lý; việc thực hiện quyền năng chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động điều tra của Thủtrưởng, PhóThủtrưởng Cơ quan CSĐT hiện nay còn chồng chéo, bất cập giữa chức năng về quản lý nhà nước trong lĩnh vực được phân công với quyền năng về tố tụng; quy định và thực tiễn công tác bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT và ĐTV còn nảy sinh một số bất cập và hạn chế; lực lượnglàm công tác điềutra còn thiếu sovớiyêucầu củatình hình; kinh phí, trang thiếtbịphục vụcho công tácđiềutra còn thiếu và lạc hậu… Những hạn chế, vướng mắc trên ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác điềutratộiphạm nói riêng và công tác phòng ngừa, đấutranh chống tội phạm nói chung.

Từ những phân tích trênđâycho thấy, việc nghiêncứu một cách đầy đủcác quy định của pháp luật TTHS về Cơ quan CSĐT là một yêu cầu cần thiết.

3

Trên cơ sởchỉra nhữngbấtcập, hạnchếtrong quyđịnhvà thực tiễn hoạt độngcủa Cơ quan CSĐT; nghiên cứu đề xuất những giải pháp, kiến nghị đểhoàn thiện Cơ quan CSĐT là một công việc có ý nghĩa cả trên phương diện lýluận và thực tiễn. Chính vì lẽ đó, nghiên cứu sinh chọn nghiên cứu đề tài“Cơ quan Cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam”

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1. Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu luận án nhằm chỉ ra những bất cập của pháp luật TTHS vềCơ quan CSĐT, nhữnghạnchếtrong hoạtđộngcủaCơ quan CSĐT trên toàn quốc và những nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó để làm cơ sởđề xuất hệ thống các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan Cảnh sát điều tra.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau:

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, các quy định của pháp luật TTHS về hoạt động của Cơ quan CSĐT. Từ đó, chỉ ra những điểm bất hợp lýtrong quy định của pháp luật TTHS hiện hành về Cơ quan Cảnh sát điều tra.

– Khảo sát thực trạng hoạt động của Cơ quan CSĐT; làm rõ những hạn chế trong hoạt động của Cơ quan CSĐT và những nguyên nhân của những hạn chế đó.

– Đưa ra hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS về Cơ quan CSĐT và nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này.

3.

3.1. Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật TTHS và thực tiễn áp dụng quyđịnhcủa pháp luật TTHS vềCơ quan Cảnh sát điều tra.

4

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi về nội dung: luận án nghiên cứu về Cơ quan CSĐT trên các mặt: mô hình tổ chức Cơ quan CSĐT; thẩm quyền điều tra; người tiến hành tốtụng trong Cơ quan CSĐT (Thủ trưởng, PhóThủtrưởng Cơ quan CSĐT vàĐTV); chế độ đảm bảo cho hoạt động điều tra của Cơ quan CSĐT Bộ Công an, Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh, Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện.

– Phạm vi về địa bàn: Để thực hiện luận án này, nghiên cứu sinh tiến hành nghiên cứu về hoạt động của Cơ quan CSĐT các cấp trên địa bàn cả nước.

– Phạm vivềthời gian: Luận án tiến hành nghiên cứu, khảo sátvềtổchức và hoạt động của Cơ quan CSĐT trong thời gian từ năm 2005 đến 2013. 4. Những điểm mới của luận án

Một là, luận án đã trình bày, phân tích khá tổng quát những vấn đề chung nhấtvềCơ quan CSĐT như:vịtrí, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt

động, mốiquan hệ, lịchsửhình thành và phát triển…Qua đó, nộidung luận ánđã xây dựng lênmộtbức tranh tươngđốitổngthểvềCơ quan CSĐT. Trong thực tế, đã có nhiều công trình khoa học nghiêncứucơ sởlý luận vềCơ quan CSĐT như: sách tổng kết lịch sử, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ,

luận văn thạc sĩ, bài báo…Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình này cho thấy, các tác giả chỉ tập trung làm rõ một hoặc một số vấn đề có liên quan đến Cơ quan CSĐT mà chưa có công trình nào nghiên cứu, làm rõ một cách tổng thể về Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Hai là, chương 2 luận án đã nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật TTHS vềCơ quan CSĐT trên các mặt: mô hình, tổchức bộmáy; thẩm quyềnđiềutra;ngườitiến hànhtốtụng trong Cơ quan CSĐT. Đồngthời, phân tích, chỉra nhữngđiểmbấtcậptronghệthống pháp luật TTHS vềCơquan CSĐT nhằm để đề xuất những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện.

Các quy định của pháp luật TTHS về Cơ quan CSĐT gồm rất nhiều các văn bản có giá trị pháp lý khác nhau như:Bộluật TTHS, Pháplệnh tổchức

5

điều tra hình sự, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư…Do đó, việc nghiên cứu, hệthống hóa và phân tích các văn bản có liên quan là một công việc cần thiết khi nghiên cứu về chủ thể này. Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy chưa có một tài liệu nào nghiên cứu, hệ thống hóa các văn bản pháp luật tố tụng về Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Ba là, luận án đã khảo sát toàn diện và sử dụng hầu hết các số liệu thống kê về Cơ quan CSĐT trên toàn quốc từ năm 2005 đến 2013. Kết quả khảo sát này khôngchỉphục vụcho việc nghiêncứuluận án mà còn cóthểsửdụng cho các công trình khoa học khác sau này.

Bốnlà, luận ánđã đưa ra hệthống các giải pháp, kiến nghịmộtcách đồngbộ, những giải pháp, kiến nghị này không những có giá trịvềmặtlập pháp mà còn có giá trị trong việc nâng cao hiệu quả hoạtđộngcủa Cơ quan CSĐT. Do đó, có thể nói đây là một đóng góp mới của luận án khi hướng vào những giải pháp thiết thực.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận án “Cơ quan Cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam” là công trình khoa học nghiêncứumộtcách cóhệthống, toàn diệnvềCơquan CSĐT với vị trí là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng và các giải pháp nhằm hoàn thiện các mặt hoạt động của cơ quan này.

Luận án với những trình bày, phân tích sâu sắc về nhận thức chung, pháp luật TTHS thựcđịnhvà nhữngđịnhhướnghoàn thiệnvềCơ quan CSĐTsẽđóng góp không nhỏ cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến Cơ quan CSĐT, trước hết là pháp luật TTHS và dự thảo luật tổ chức điều tra hình sự. Những định hướng hoàn thiện Bộ luật TTHS và một số đề xuất trong dự thảo Luật tổ chức điều tra hình sự sẽ là những gợi ý có giá trị mà các nhà

lập pháp có thể nghiên cứu, xem xétđể xâydựng và hoàn thiện các đạo luật có liên quan, bao gồm cả những văn bản dưới luật về TTHS ban hành sau này.

Luận án cũngsẽlà tài liệu nghiên cứu, tham khảohữuích cho các nhàkhoa học, các giảng viên và các nhà lập pháp, đặc biệt trong lĩnh vực hình sự.

6

Phần 2

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1. Tình hình nghiên cứu nƣớc ngoài liên quan đến Cơ quan Cảnh sátđiều tra

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc liên quan đến Cơ quan Cảnh sátđiều tra trong TTHS Việt Nam

1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu vềCơ quan Cảnh sátđiều tra và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

1.3.1. Những vấn đề liên quan đến đề tài đã được giải quyết

1.3.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến luận án.

Qua nghiên cứu một số công trình và quy định về Cơ quan CSĐT trong pháp luật TTHSmộtsố nước cho thấy các công trình đó đã nghiên cứu về môhình TTHS nói chung và Cơ quan Cảnh sát hoặc CSĐT nói riêng. Tuy nhiên, trong các công trình đó hoặc chỉ nghiên cứu về một nội dung cụ thể hoặc nghiên cứu mộtsốnộidung nhưng chưa đi sâu phân tích, đánh giá những ưu, nhược

điểm của các mô hình tố tụng, các quy định về người tiến hành tố tụng…. Riêng

đốivớicác Luật TTHScủamộtsốnướcthì việc nghiêncứucũngchỉcó tính chất tham khảo, so sánh chứ không thấy được sự phân tích, đánh giá, bình luận…

Bên cạnh đó, nghiên cứu tổng quan cho thấy, các công trình ít đưa ra hệthống những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS vềCơquan Cảnh sát điều tra.

2.3.1.2. Những nghiêncứutrongnước vềCơ quan Cảnh sátđiềutra trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Qua đánh giá tổng quan tình hình nghiêncứuvềCơ quan CSĐT trong pháp luật TTHS Việt Nam cho thấy các công trìnhđãnghiêncứuđềcậpđến các vấn đề sau:

Một số công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Cơ quan CSĐT vàcác cơ quan khác trong quá trìnhtốtụng như VKS, TA và đềxuất phương hướng hoàn thiện các mối quan hệ này, điển hình như luận án tiến sĩ luật học “Mối quan hệ giữa Cơ quan CSĐT và Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự”của NCS Đào Hữu Dân, bảo vệ năm 2006).

Ngoài ra, cómộtsố công trình, bài báo khoa học nghiêncứutrực tiếp

17

về thẩm quyền Cơ quan CSĐT, ĐTV. Tuy nhiên, những bài báo này hoặc chỉnghiên cứu chung, hoặc đề cập một khía cạnh của vấn đề hoặc chỉ nghiên cứu mộtcấpCơ quan CSĐT như Cơ quan CSĐT Công ancấphuyện…Chính vìvậy, những công trình này chưa thể hiện sự nghiên cứu tổng thể về Cơ quan CSĐT trong lực lượng CAND, điểnhình như sách chuyên khảo“Cơ quanđiều tra, Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên trong Công an nhân dân“của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang, bài viết“Nhữngvấnđềlý luận vàthực tiễn mô hình tổ chức và thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân, khó khăn, vướngmắc và kiến nghị hoànthiện” của TS Triệu VănĐạt, luận văn thạc sĩ luậthọc“Tăng thẩm quyềnđiềutra cho Cơ

quan Cảnh sát điều tra cấp huyện – Nhữngvấnđềlý luận và thực tiễn” của

tác giảPhạm QuangThắng…Nói tóm lại, các công trình khoa học nghiên cứu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến Cơ quan CSĐT đã tạo ra sự đa dạng về quan điểm trong nhận thức về cơ quan này. Chính vì vậy, thông tin, quanđiểm trong các công trình trên rất có ý nghĩa cho nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ của đề tài luận án.

Tuy nhiên, các công trình khoa học trên hoặc chỉ đề cập một cách rất cơbản về Cơ quan CSĐT, chưa có sự nghiên cứu, phân tích cụ thể các mặt có liên quan hoặc chỉ đi sâu vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể như tổ chức, thẩm quyền

haymốiquanhệ…màchưa cósựđầutư nghiêncứumộtcách tổngthểvềCơquan CSĐT. Chính vì vậy, các công trình khoa học đó chưa thể đưa ra được một hệ thống các giải pháp, kiến nghị đồng bộ nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Cơ quan Cảnh sát điều tra.

1.3.2. Những vấn đề luận án tiếp tục cần nghiên cứu và tập trung giải quyết

Để tiếp tục nghiên cứu những vấn đề mà các công trình nghiên cứu chưa giải quyết được hoặc đã giải quyết nhưng chưa giải quyết một cách thấu đáo thìluận án phải đi sâu vào nghiên cứu và tiếp tục giải quyết các vấn đề sau:

Một là, tiếp cận dưới góc độ mô hình tố tụng, chúng tôi cho rằng việc

18

hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam phải dựa trên cơ sở mô hình tố tụng đang tồn tại, tức là mô hình tố tụng thẩm vấn có tăng cường yếu tố tranh tụng theo tinh thầncảicách tư pháp và trên cơ sởcủa Hiến pháp năm 2013 mà không làm thay đổi yếu tố cơ bản của mô hình tố tụng thẩm vấn, vì mô hình nàyđã

được ápdụng ở nước ta và nhiều nước trên thế giới đang chứng tỏ tính hiệu quả của nó. Với điều kiện đặc thù của Việt Nam thì chức năng, nhiệm vụ, vịtrí, vai tròcủacơ quan tiến hànhtốtụng nói chung và Cơ quan CSĐT nói riêng không cần thiết phải có những thayđổi lớnmàchỉ cần điềuchỉnh một cách phù hợp bảo đảm cân bằng giữa các yếu tố thẩm vấn và tranh tụng [42]. Do vậy, luận án tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở cụ thể hóa quan điểm, phát huy những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn đã được thể hiện trong Bộ luật TTHS năm 2003, đồngthời tiếp thu có chọn lọc các yếutốhợplý của môhình tố tụng tranh tụng để sửa đổi, bổ sung những quy định liên quanđến Cơquan CSĐT trong tố tụng hình sự.

Hai là, hiện nay cònmộtsốvấnđềcóýkiến khác nhaucầntiếp tục nghiên cứu như:tổchức và hoạtđộngcủaCơ quan CSĐT; nhiệmvụ,quyền hạn điềutracủaCơ quan CSĐT và nhữngngườitiến hànhtốtụng trong Cơquan CSĐT… Trong khi đó, các công trình đã được công bố mới chỉ dừng lại ởviệc đề xuất định hướng mà chưa có những đề xuất cụ thể. Do đó, luận án của nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu để đưa ra những kiến nghị cụ thể.

Ba là, về thẩm quyền điều tra và người tiến hành tố tụng trong Cơ quan CSĐT: Hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau về sự phân định thẩm quyền điều tra trong Cơ quan CSĐT theosựviệctứclà phân công và phâncấpđiềutra. Cầnphânđịnhrõ thẩm quyền quản lý hành chínhcủaThủtrưởng, PhóThủtrưởng Cơ quan CSĐT và thẩm quyền tố tụng của ĐTV trong Cơ quan CSĐT. Đâylà những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau cần được tiếp tục nghiên cứu để đưa ra giải pháp cụ thể với những luận giải khoa học [37].

19

2 của đề tài

2

Đểgiải quyếtđược các nhiệmvụcủa luận án, trong quá trình nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau đây:

2

– Cơ quan CSĐT có vị trí, chức năng, nhiệm vụ gì? lịch sử hình thành và phát triển như thế nào?

– Hoạtđộng của Cơ quan CSĐT tuân theo những nguyên tắc gì? Cơ quan CSĐT có mối quan hệ như thế nào đối với các cơ quan tiến hành tố tụng khác và vớinhững cơ quanđược giao nhiệmvụtiến hànhmộtsố hoạtđộngđiều tra?

– Pháp luật TTHSvềCơ quan CSĐT hiện nayđượcquyđịnhnhưthếnào? có những ưu điểm, bất cập gì? nguyên nhân của những bất cập đó?

– Thực tếhoạtđộngcủa Cơ quan CSĐT trong CAND có những ưu, nhược điểm gì? nguyên nhân của những nhược điểm đó?

-Đểhoàn thiện pháp luật TTHS và hoạtđộngcủaCơ quan CSĐT thìcần có những giải pháp, kiến nghị gì?

2

Luận án được tiến hành nghiên cứu dựa trênhệthống lý luận của chủnghĩa Mác – Lênin, tưtưởngHồChí Minh và những quanđiểmcủa Đảng, Nhà nước ta về cải cách tư pháp.

Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật về hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Cơ quan CSĐT nói riêng cũng là những cơsởquan trọng để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu.

2

Với đề tài trên, nghiên cứu sinh đưa ra các giả thuyết nghiên cứu sau:

– Cơ quan CSĐT cóvịtrí, vai trò quan trọng tronghệthống các cơquan tư pháp; là cơ quan chủ công, nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng

20

chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

-Đểđảmbảohiệuquảtrong hoạtđộng thì Cơ quan CSĐT phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Đồng thời, là một trong những Cơ quan tiến hành tố tụng nên Cơ quan CSĐT có mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng khác như TA, Viện kiểm sát.

-Hệthống pháp luật TTHSvềCơ quan CSĐTvềcơ bảnlà phù hợp. Tuy nhiên, do tình hình thực tiễn luôn biến đổi,bên cạnh nhữngđiểmphùhợp, phát huy hiệuquảhoạtđộngcủa Cơ quan CSĐT thì cũngđãbộclộnhững điểmhạnchế,bấtcậpcầnkhắc phục, hoàn thiện, nhất là đốivớicác văn bản dưới luật.

-Đểhoàn thiện nhữngbấtcậptronghệthống pháp luật TTHSvềCơquan CSĐT thì cần thiết phải có sự nghiên cứu cả ở góc độ quy định pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật của cơ quan nàyđể từ đó cónhững giải pháp, kiến nghị phù hợp.

2

– Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung lý luận về hoạt động của Cơquan Cảnh sát điều tra.

– Luận án đã làm rõ các quy định của pháp luật TTHS và chỉ ra những bất cập, hạn chế cần hoàn thiện về Cơ quan Cảnh sát điều tra.

– Kết quả nghiên cứu của luận án, đặc biệt là các giải pháp, kiến nghị cógiá trị giúp cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét để từng bước hoàn thiện pháp luật TTHS và sẽ là những gợi ý để các cơ quan có liên quan từng bước hoàn thiện và nâng cao hiệuquảcác mặthoạtđộngcủaCơ quan Cảnh sátđiều tra.

– Nhữngsốliệu, luậncứtrong luận án cònđược sửdụng làm tài liệu tham khảohữuích cho công tác nghiên cứu, giảngdạytrong các trường CAND nói riêng và các trường giảng dạy về luật nói chung.

Cơ quan Cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam
Cơ quan Cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam

21

2

Luận ánđược tiến hành nghiêncứudựa trên cơ sởphương pháp luận

2

biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin.

2

Đểgiải quyết các nhiệmvụcủa luận án, tác giảsửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

– Phương pháp khảo sát thực tiễn: Để làm rõ tình hình, thực trạng hoạt động của Cơ quan CSĐT cũng như các nội dung khác liên quan đến Cơ quan CSĐT thì tác giảluận án phải tiến hành khảo sát tình hình thực tiễn có liên quan để đánh giá đúng thực trạng.

– Phương pháp thống kê hình sự: Thông qua khảo sát thực tiễn, tác giảsẽ có những số liệu và để có thể đánh giá được thực trạng thì cần thiết phải sửdụng phương pháp thống kê hình sự

– Phương pháp tổngkếtkinh nghiệm: Kinh nghiệm, lịch sử, quá trình hoạt động của Cơ quan CSĐT là nguồn tư liệu quý giá và hết sức quan trọng cho việc giải quyết các nhiệmvụcủa luận án. Do đó, việc sửdụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm sẽ góp phần làm cho luận án gắn kết với thực tiễn và có giá trị khoa học cao hơn.

– Phương pháp tọa đàmtraođổivớicác chuyên gia: trong quá trình thực hiện luận án, đểgóp phần đưa ra được những nhận xét, đánh giá khoa học, toàn diện và các giải pháp có giá trị thì cần thiết phải có sự tham khảo tri thức, kinh nghiệm của các chuyên gia lý luận và thực tiễn về TTHS. Do đó, tác giả luận án đã sử dụng phương pháp tọa đàm, trao đổi với các chuyên gia nhằm củng cố thêm các căn cứ cho các luận giải trong luận án.

– Phương pháplựachọnđiểnhình: Trong luận án, có nhữngnộidung tác giảkhông cóđiềukiệnđiềutra, khảo sát trong phạm vicảnước.Do đó, tác giả đã sử dụng phương pháp lựa chọn những địa bàn, đối tượng điển hình

22

để khảo sát, từ đó có thể phân tích, kết luận các nội dung có liên quan.

– Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh: Để cóthể sử dụng được sốliệu, tài liệuđã thu thậpđược thìcầnthiết phải sửdụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánhsốliệu nhằmsửdụngkếtquảđóchứng minh cho những luận giải, kết luận trong luận án.

3. Kết cấu của luận án

Kết cấu nội dung chính của luận án bao gồm:

– Phần 1: Mở đầu;

– Phần 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu.

– Phần 3: Nội dung, kết quả nghiên cứu, gồm 3 chương:

+ Chương 1: Nhận thức chung về Cơ quan Cảnh sát điều tra.

+ Chương 2: Pháp luật TTHSvềCơ quan Cảnh sátđiềutra và thực trạng hoạt động của Cơ quan Cảnh sát điều tra.

+ Chương 3: Nhận xét, đánh giá và những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquảhoạtđộngcủaCơ quan Cảnh sátđiều tra.

– Danh mục tài liệu tham khảo.

23

Phần 3

NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chƣơng 1

NHẬN THỨC CHUNG VỀ CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA

1.1. Khái niệm, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra

1.1.1. Khái niệm, vị trí pháp lý tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra

1.1.1.1. Khái niệm Cơ quan Cảnh sát điều tra

Quá trình giải quyếtvụán hìnhsựở nước ta được chia thành các giaiđoạn: Giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xétxửvà giai đoạn thi hành án. Trong đó, giaiđoạnkhởi tố và điềutra vụ án hình sựđược giao cho Cơ quan điều tra.

Để xác định những nội dung liên quan đến Cơ quan CSĐT thì cần làm rõ một sốvấn đề sau:

Mộtlà, Khoản 1Điều33Bộluật TTHS quyđịnh:Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án.

Theo Pháp lệnhtổchức ĐTHS thì CQĐT gồmcó: Cơ quanđiềutra trong CAND, Cơ quanđiềutra trong Quânđộinhân dân, CQĐTở VKSND tối cao. Đối với Cơ quan điều tra trong CAND gồm có: Cơ quan An ninh điều tra và Cơ quan CSĐT.

Như vậy,về địa vịpháp lý thì Cơ quan CSĐT là mộttrong những cơquan tiến hành tố tụng được quy định trong Luật TTHS.

Hai là,Điều1 Pháp lệnhtổchức ĐTHS quyđịnh,trong CAND có các CQĐT sau:

– Cơ quan CSĐT Bộ Công an; Cơ quan CSĐT CA tỉnh, thànhphốtrực thuộc trung ương (sauđâygọichung là Cơ quan CSĐT CAcấptỉnh); Cơ

24

quan CSĐT CA huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Cơ quan CSĐT CA cấp huyện);

– Cơ quan An ninhđiềutra BCA; Cơ quan An ninhđiềutra CA tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan An ninh điều tra CA cấp tỉnh).

Như vậy, về vịtrí thì Cơ quan CSĐT là mộttrong những CQĐT trong CAND và trongtổchức củaCơ quan CSĐTgồmcó: Cơ quan CSĐTBộCông an; Cơ quan CSĐT Công an tỉnh và Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện. Ba là, theoĐiều3 Pháp lệnhtổchức ĐTHS năm 2004 quyđịnh:Cơ

quan điều tra tiến hành điều tra tất cả tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộluật TTHS quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Như vậy, cũng như các CQĐT khác, Cơ quan CSĐT được pháp luật TTHS xácđịnhvịtrí pháp lý là Cơ quan tiến hànhtốtụng, là cơ quanđầutiên tiếp cận thông tin về tội phạm. Do đó Cơ quan CSĐT có nhiệm vụ thực hiện những biện pháp theo quy định của pháp luật để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm vànhững vấn đề cần phải chứng minh khác trong một vụ án hình sự.

Bốn là, pháp luật TTHS (Luật TTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành

như pháp lệnhtổchức ĐTHS, Thông tư 28/2014/TT-BCA…) quyđịnhrõvềthẩm quyềnđiềutra theo từngcấptổchứccủaCơ quan CSĐT. Theođó,Cơquan CSĐT Công an các cấp huyện tiến hành điều tra cácvụ ánhình sự về các tộiphạm quyđịnhtạicác chươngtừChương XII đếnChương XXII của Bộluật hìnhsựnăm 1999 khi các tộiphạmđóthuộc thẩm quyền xétxửcủa TANDcấphuyện (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyềnđiềutra của CQĐT của VKSND tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong CAND); Cơ quan CSĐT CAcấptỉnh tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định từChương XII đếnChương XXII của Bộluật hìnhsựnăm 1999 khi các tội

25

phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT của VKSND tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong CAND); các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT cấphuyện nhưng xét thấycầntrực tiếpđiềutra; Cơ quan CSĐT Bộ Công an tiến hànhđiềutra các vụán hìnhsựvề các tộiphạmđặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quanđếnnhiềuđịa phương hoặc cóyếutốnước ngoài thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếpđiềutra (nội dungvề thẩm quyềnsẽ được phân tích rõ hơn trong Chương 2).

Trên cơ sở phân tích như trên có thể hiểu: Cơ quan Cảnh sát điều tra làmột trong những cơ quan tiến hành tố tụng được tổ chức trong hệ thống Cơquanđiềutra trong Công an nhân dân, được tổchức từ cấpBộđếncấp huyện, có trách nhiệm điều tra tất cả những tội phạm theo thẩm quyền, đượcáp dụng các biện phápđiềutra theo quyđịnhcủaBộluậttốtụng hìnhsựnhằm xácđịnhtộiphạm vàngườithực hiện hành vi phạm tội,lậphồsơ,đềnghị truy tố trước pháp luật.

1.1.1.2. Vị trí pháp lý của Cơ quan CSĐT

Vị trí pháp lý tố tụng của Cơ quan CSĐT là địa vị pháp lý của Cơ quan CSĐT trong hệ thống các Cơ quan tiến hành tố tụng.

Theo Điều 33 Bộ luật TTHS thì CQĐT là một trong những cơ quan tiến hànhtốtụng. Điều1 Pháp lệnhtổchức ĐTHScụthể hóa Điều33Bộluật TTHS đã chỉ ra:

Trong Công an nhân dân có các Cơ quan điều tra sau đây:

+ Cơ quan Cảnh sátđiềutra Bộ Công an; Cơ quan Cảnh sátđiềutra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan Cảnh sátđiềutra Công ancấptỉnh); Cơ quan Cảnh sátđiềutra Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sauđâygọi chung là Cơ quan Cảnh sátđiềutra Công an cấp huyện);

26

+ Cơ quan An ninhđiềutra Bộ Công an; Cơ quan An ninhđiềutra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh).

Trong Quân đội nhân dân có các Cơ quan điều tra sau đây:

+ Cơ quanđiềutra hìnhsựBộQuốc phòng; Cơ quanđiềutra hìnhsựquân khu và tương đương; Cơ quanđiềutra hình sự khu vực;

+ Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương.

Trong Viện kiểm sát nhân dân tối cao có các Cơ quan điều tra sau đây:

+ Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

+ Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Như vậy, theo quy định như trên thì Cơ quan CSĐT là một trong những Cơ quan nằm trong hệ thống các CQĐT. Xét theo khía cạnh bộ máy nhà nước thì Cơ quan CSĐT là một trong những Cơ quan thuộc lực lượng vũ trang, là

lực lượng có vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác “đấu tranh ngăn chặn vàxử lý có hiệu quả các loại tội phạm hình sự, nhất là tội phạm nguy hiểm, cótổchức, tộiphạm ma túy, tộiphạm cóyếutốnước ngoài, tộiphạmlợidụng công nghệ cao, sử dụng vũ khí nóng, chống người thi hành công

vụ…”[59,tr.156].

Vịtríđặc biệt quan trọng của lực lượng CAND nói riêng (trong đó cóCơ quan CSĐT) và lực lượngvũ trang nói chungđã được ghi nhận trong nhiều văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhà nước ta. Sinh thời Chủ tịch Hồ ChíMinh đã từng nói: “Chính quyền nhân dân có hailực lượng để bảo vệ nó: đólà quânđội và CA. Làm công tác chính quyền ởCA hayởquânđội, đềulàđầytớcho nhân dân cả, vì chính quyền dânchủcó nghĩa là chính quyền do người dân làm chủ” [23,tr.12]. Trong lần khác Người nói: “Nhân dân ta có hai lực lượng. Một là Quânđội để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ

gìn hòa bình. Một lực lượng nữa là CA, để chống kẻ địch trong nước, chống

27

bọnphá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình. Lúc chiến tranh thì quân

đội đánh giặc,…còn CA thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh cóviệc, lúc hòa bìnhlạicàng nhiều việc. Cònchủnghĩa đếquốc, còn giai cấp

bóc lột là còn bọn phá hoại… vì vậy, công việc CA phải thường xuyên, không có từng đợt, từng lúc” [23,tr.16]. Những khẳng định như trên của Chủ tịch HồChí Minh cho thấy vị trí của CAND nói chung và Cơ quan CSĐT nói riêng là hết sức quan trọng và nhiệm vụ cũng rất nặng nề vì công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm là thường xuyên liên tục, phức tạp, khó lường.

Xét ở khía cạnh hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp thì Cơ quan CSĐT cũng chiếmvịtrírấtquan trọng. Cho dù, Cơ quan CSĐT không cóquyền quyếtđịnhmộtngườicó phải là tộiphạm hay không, nhưngđểcóchứngcứchứng minhtộiphạm và ngườiphạmtộilàm cơ sởcho việc ra Quyết định đề nghị truy tố hoặc Quyết định truy tố bị can trước TA, cũng nhưQuyếtđịnhđưavụán ra xétxử, thìcầnthiết phải tiến hành hoạtđộngcủa điềutra của Cơ quan CSĐT. Chính vì vậy, cóthểkhẳng định, điềutra tội phạm là khâuđộtphá, là giaiđoạnđầugiữvai trò thànhbạiđốivớicảtiến trình TTHS và có thể nói, những kết quả đạt được cũng như những sai lầm tố

tụng nghiêm trọng nhất như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội…, thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra.

Có thể khẳng định rằng, hoạt động điều tra theo thẩm quyền của Cơ quan CSĐT là hoạtđộngkhôngthểthiếu trong TTHS. Tòa án muốn xétxửđúng người, đúng tội, đúng pháp luật thìtrướcđóCQĐT nói chung và Cơ quan CSĐT nói riêng phải thu thập được những chứng cứ cần thiết xác định có tội vànhững chứng cứ xác định vô tội, những chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng cũng như những chứng cứ xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bịcan. Hay nói cách khác,đểgiải quyếtđượcvụán hìnhsựthì phải chứng minhđượcnhữngvấnđềcầnchứng minh trongvụán hìnhsựtheo quyđịnh của Bộ luật TTHS bằng những chứng cứ, mà những chứng cứ đó phải được thu

28

thậpbởicác cơ quan có thẩm quyền, trongđóCơ quan CSĐTgiữvịtrí rất quan trọng.

1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự

1.1.2.1. Chức năng của Cơ quan Cảnh sát điều tra

Chức năng của Cơ quan CSĐT có thể hiểu là nhiệm vụ chung nhất, bao quát nhất, đặc trưng nhất mà Cơ quan CSĐT phải thực hiện. Như vậy, xác định chính xác chức năng của Cơ quan CSĐT có ý nghĩa rất quan trọng ở các phương diện lý luận và thực tiễn. Bởivì, dựa trên cơ sởchức năng của Cơ quan CSĐT cóthểxác địnhnhững nhiệmvụcụthểcủa Cơ quan CSĐT, quyền hạn và những vấn đề khác về tổ chức và hoạt động của Cơ quan CSĐT, nhất là công tác đào tạo Điều tra viên.

Vấn đề đặt ra là việc xác định chức năng của Cơ quan CSĐT dựa trên cơ sở nào. Bởi vì, dựa trên cơ sở đúng mới đảm bảo xác định chính xác chức năng của Cơ quan CSĐT. Kếtquả nghiêncứulý luận và thực tiễn cho thấy, xác định chức năng của Cơ quan CSĐTcần dựa trên những cơ sở sau đây:

– Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra trong quá trình tố tụng hình sự;

Nhiệmvụcủa giaiđoạnđiều tra trong quá trình TTHS là xác địnhtội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội; xác định thiệt hại do tội phạm gây ra, tạo điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ án; lập hồ sơ đề nghị truy tốbị can và xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổchức áp dụng các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa.

– Vị trí của Cơ quan CSĐT trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng; Như đã phân tích trong tiểu mục 1.1.1 thì Cơ quan CSĐT có vị trí quan

trọng trong hoạt động TTHS, là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng.

– Tổ chức và hoạt động của hệ thống Cơ quan CSĐT ở nước ta hiện nay. Tổ chức và hoạt động của hệ thống Cơ quan CSĐT được pháp luật quy

định khá chặt chẽ. Do đó, việc nghiên cứu nội dung này sẽ là cơ sở quan trọng

29

để xác định chức năng của cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Dựatrên 3 cơsởnêu trên cóthểkhẳngđịnh,chức năngcủaCơ quan CSĐT là chức năng điều tra, hay nói theo cách khác, Cơ quan CSĐT thực hiện chức năng điều tra khám phá tội phạm. Bởi vì, hoạt động của Cơ quan CSĐT trong quá trìnhđiềutra từngvụáncụthểchính là quá trình thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ để chứng minh làm rõ sự thật vụ án.

Xác định chức năng của Cơ quan CSĐT như trên là hợp lý, hoàn toàn phù hợp với các chức năng của quá trình TTHS và vị trí của Cơ quan CSĐT trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng. Đặc biệt, chú ý áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật, phù hợp với pháp luật để điều tra khám phá

tộiphạm là nhiệmvụchung, đặc trưng, phản ánhbảnchất của Cơ quan CSĐT. Đây cũng chính là cơ sở để phân biệt Cơ quan CSĐT với các cơ quan khác, nhất là các cơ quanđược giao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạt động điều tra. Dựa trên cơ sở chức năng và nhiệm vu chung của Cơ quan CSĐT cóthểnhận thấy, khác vớiCơ quan CSĐT theo pháp lệnhtổchức ĐTHS năm 1989 (hoạtđộng điềutra trinh sát tách riêng vớihoạt động điềutra tốtụng), Cơ quan CSĐT theo Pháp lệnhtổchức ĐTHS hiện nay cócảchức năng phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm (hoạt động điều tra trinh sát gắn liền vớihoạtđộngđiềutra tốtụng). Điềunày có nghĩa là, trong quá trình thực hiện chức năng của mình, Cơ quan CSĐT phải thực hiện các biện pháp theo luật định để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm một cách hiệu quả.

Tóm lại, Cơ quan CSĐT là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện giaiđoạnđiềutra là giaiđoạnđầucủaquá trình TTHS. Xác định chính xác vị trí của Cơ quan CSĐT như vậy là cơ sở để xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Cơ quan Cảnh sát điều tra.

1.1.2.2. Nhiệm vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra

Nhiệm vụ của Cơ quan CSĐT là những công việc đặt ra theo quy định của pháp luật mà Cơ quan CSĐT được phép làm hoặc phải thực hiện.Cụ thể

30

là: Cơ quan điều tra tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lậphồsơ, đềnghị truytố;tìm ra nguyên nhân, điềukiện phạmtộivà yêucầucác cơ quan, tổchức hữuquan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa [67, Điều 3].

Cơ quan CSĐT là mộttrong những Cơ quanđiềutra. Chính vì vậy, những nhiệmvụcủa CQĐT nói chung cũng chính là nhiệmvụcủa Cơ quan CSĐT. Theo đó, có thể xác định Cơ quan CSĐT có ba nhiệm vụ chính sau:

Một là, tiến hành điều tra các tội phạm theo thẩm quyền được giao, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để xác định tội phạm và ngườiđã thực hiện hành vi phạm tội.

Khi Cơ quan CSĐT trực tiếp phát hiện tội phạm, cũng như sau khi tiếp nhận tin báo, tốgiác của công dân, cơ quan nhà nước, tổchức xã hộivề tội phạm xảy ra thì Cơ quan CSĐT phải có nhiệm vụ khởi tố vụ án và tiến hànhđiều tra nếu cóđủ cơsở và căn cứ. Hơn nữa, nếu cóđủ cơ sở và căncứpháp luật thì Cơ quan CSĐT phải nhanh chóng tiến hành khởi tố, điềutra vụán trong thờihạntheo quyđịnhcủapháp luật TTHS. Nói cách khác, nhanh chóngđiềutra tấtcả những tội phạmxảyra là nhiệmvụpháp lý đòi hỏi Cơquan CSĐT phải thực hiện trong mọi trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh.

Để điềutra khám phá tộiphạm, Cơ quan CSĐTcầnphải áp dụng mọi biện phápđượcquyđịnhtrongBộluật TTHS. Thực tiễn cho thấy, Bộluật TTHS chỉ quy định cơ bản những biện pháp điều tra. Do đó, trong quá trìnhđiềutra, Cơ quan CSĐT ngoài việc áp dụng những biện pháp theo quyđịnh của pháp luật TTHS còn phải áp dụng các biện pháp khác phù hợp với pháp luật, không trái pháp luật. Hay nói cách khác, các biện pháp, phương tiệnđược sử dụng trong quá trình điều tra phảiđảmbảotuân theo các nguyên tắc của Bộ luật TTHSđể cóthể nhanh chóng khám phá vụ án. Việc thực hiện tốt nhiệmvụnàysẽ đảmbảotínhđầyđủ, toàn diện của hoạtđộngđiềutra tội

31

phạm, giúp Cơ quan CSĐT tránhđược những sai lầm, thiếu sót. Đồngthời, trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT cũng cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.

Cơ quan CSĐT không chỉ tiến hành điều tra tất cả những tội phạm xảy ra mà còn phải xácđịnh đượctội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội vừa là nhiệm vụ của Cơ quan CSĐT vừa là tiêu chí để đánh giá hiệu quả của hoạt động điều tra. Bởivì, chỉsau khi xác địnhđược tộiphạm và ngườithực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan CSĐT mớilậphồ sơ đề nghị truy tố người thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, có thể khẳngđịnhrằng, Cơ quan CSĐT không những phải điều tra các tội phạm theo thẩm quyền, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật TTHS quyđịnhmà còn phảiđạt được hiệu quả của hoạt động điều tra đó làxác định được tội phạm và ngườithực hiện hành vi phạmtội. Xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội cũng có nghĩa là đã khám pháđượctội phạm, chứng minh làm rõ sự thật của vụ án hình sự.

Hai là, lập hồ sơ, đề nghị truy tố.

Hồ sơ vụ án hình sự là kết quả tập hợp có hệ thống những văn bản, tài liệu, chứng cứ thu thập được trong trong quá trình điều tra vụ án hình sự theo trình tự, thủ tục TTHS nhằm chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạmtộicùng các tình tiết có liên quan giúp cho việc làm rõsựthật khách quan của vụ án, đề xuất xử lý người phạm tội đúng chính sách pháp luật.

Nhiệm vụ này thể hiện ở chỗ, sau khi điều tra, xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, người có hành vi phạm tội đáng bị truy cứutrách nhiệm hìnhsựthì Cơ quan CSĐT phảikịpthờilậphồsơ đề nghịtruy tố. Để không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội, khi lập hồ sơ vụ án hìnhsựĐTVcầnphải nghiên cứu, đánh giá và kiểm tra thận trọngtấtcảnhững tài liệu, chứng cứ đã thu thập được về vụ án. Hơn nữa, nhằmtạođiều kiện thuậnlợicho công tác truy tố, xét xử, trong quá trình điều tra, ĐTVcần

32

xác định chính xác những vấn đề cầnchứng minh; thu thập chứng cứ chứng minh từng vấn đề đó và sắp xếp một cách trình tự, khoa học để đưa vào hồ sơchuyển VKS đề nghị truy tố bị can trước pháp luật.

Ba là, tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêucầucác cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.

Nguyên nhân phạm tội là những yếu tố thúc đẩy, làm nảy sinh tội phạm,

bao gồm những hiện tượng và quá trình tâm lý – xã hội. Nguyên nhân phạm

tộimangbảnchất tâm lý–xã hội. Có nhiều loại nguyên nhân khác nhau:

những nguyên nhân của tình hìnhtộiphạm nói chung; những nguyên nhân của một loại tội phạm nhất định; những nguyên nhân của các tội phạmcụthể. Các nguyên nhân phạm tội nằm trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã

hội. Đó là nguyên nhân về kinh tế, xã hội; về tư tưởng, chính trị; về tâm lý–

xã hội;về giáo dục, văn hóa;về quản lý,tổchức…Cónguyên nhân khách quan, nguyên nhânchủquan; nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân chủyếuvà nguyên nhânthứyếu; nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp. Việc xác định đúng nguyên nhân phạm tội sẽ giúp cho việc xác định đúng quy luật diễn biến, tìm được những biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm có hiệu quả. Trong khi đó, điều kiện phạm tội lànhững yếu tố thuậnlợicho việc thực hiện tội phạm, điều kiện phạm tội không làm phát sinh tội phạm nhưng nó giúp cho tội phạm thực hiện được dễ dàng hơn. Do đó, nguyên nhânvà điềukiện phạm tội có mối quan hệ chặt chẽ, tácđộngqua lạivớinhau. Trongmộtsốtrườnghợprấtkhó phân biệt giữa nguyên nhân và điều kiện phạm tội vì trong hoàn cảnh nàylà điềukiện nhưng trong hoàn khác có thể lại là nguyên nhân.

Như vậy, việc xácđịnhnguyên nhân, điềukiện phạmtộilà rấtquan trọng vì đây là những yếu tố làmnảysinh, phát triển tội phạm. Do đó, trong quá trìnhđiềutra, Cơ quan CSĐT phải chứng minh, làm rõ những nguyên nhân, điều kiện phạm tội và dựa trên cơ sở đó với tư cách là một cơ quan tiến

33

hành tố tụng phải yêu cầu các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Nếu làmtốt vấn đề này thì Cơ quan CSĐT đã thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm một cách hiệu quả.

1.2. Nguyên tắchoạt động củaCơ quan Cảnh sát điều tra

Nguyên tắc hoạt động của Cơ quan CSĐT là những định hướng cơ bản màtrong hoạt động của mình Cơ quan CSĐT phải tuân thủ nhằm đạt được hiệu quảcao nhất.

Trong hoạt động của Cơ quan CSĐT cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

Mộtlà, mọihoạtđộngđiềutracủaCơ quan CSĐT phải tuân theo quyđịnh của Bộ luật TTHS và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.

Cơ quan CSĐT là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng, có nhiệm vụ chính là điều tra, làm rõ tội phạm. Hoạt động của Cơ quan CSĐT có liên quan nhiều đến những quyền và lợi ích cơ bản của công dân như: quyền được sống, quyền được bảo đảm về sở hữu tài sản hợp pháp, quyền được bảo đảm về tính

mạng,sứckhỏe, danhdự,nhânphẩm…Dođó,hoạtđộngcủaCơ quan CSĐT cần thiết phải tuân thủ những quy định rất chặt chẽ của Bộ luật TTHS và Pháp lệnh tổ chức ĐTHS nhằm tránh việc lạm quyền hoặc thiếu thận trọng trong quátrình điều tra, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của các cá nhân và tổchức trong xã hội.

Nguyên tắc này đòi hỏi Cơ quan CSĐT khi thực hiện nhiệm vụ điều tra phải tuân thủ những nguyên tắc chung và những quy định cụ thể của của Bộluật TTHS và Pháp lệnhtổchức ĐTHS. Những nguyên tắc trongBộluật TTHS mà hoạt động điều tra phải tuân thủ gồm: nguyên tắc đảm bảo pháp chếxã hội chủ nghĩa; nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân; nguyên tắc xác địnhsựthật của vụán; nguyêntắcđảmbảoquyền bào chữa chobịcan; nguyên tắc trách nhiệm khởitốvà xửlývụán; nguyên tắc đảm bảo sự tham gia phối hợp với các cơ quan của Nhà nước, với các tổ chức xã hội và công dân trong quá trình điều tra; nguyên tắc khắc phục nguyên nhân

34

và điều kiện phạm tội; nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của ĐTV trong điều tra

vụ ánhình sự v.v…

Ngoài ra, để hoạt động điều tra được đúng đắn thì Cơ quan CSĐT còn phải nghiêm chỉnh tuân theo những quyđịnhcụthểtrongBộluật TTHS vềkhởi tố, vềáp dụng các biện pháp ngăn chặn và các biện phápđiềutra

khác…Việc tuân thủ những nguyên tắc và các quyđịnhnàysẽđảmbảocho quá trìnhđiềutra tuân theo pháp luật, góp phầnbảovệchếđộXã hộichủnghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giáo dục công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng các quy tắc của cuộc sống Xã hội chủ nghĩa.

Hai là, hoạtđộngđiềutracủaCơ quan CSĐT phải tôn trọngsự thật, tiến hànhmộtcách khách quan, toàn diện vàđầy đủ; phát hiện chính xác, nhanh chóng mọi hành vi phạm tội, làm rõ những chứng cứ xác định có tội vàchứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người có hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Đâylà nguyên tắc rất quan trọng xuất phát từ bản chất và vị trí của hoạt động điều tra trong TTHS. Do điều tra là hoạt động tố tụng ở những giaiđoạn đầu tiên của quá trình tố tụng với nhiệm vụ chủ yếu là khôi phục lại vụ án, thu thập chứngcứchứng minh có hay không cótộiphạmxảyra, mộtngườicóphải làngườiphạm tội, mà nếuhoạtđộngđiềutra không khách quan, toàn diện, đầy đủ thì cóthể dẫn đến phiến diện một chiều. Hậu quả của điều này cóthể dẫn đến sai lầm trong việc giải quyết vụ án như việc làm oan người vô tội, để lọt tội phạm.

Nội dung nguyên tắc này thể hiện ở việc thu thập chứng cứ chứng minh những tình tiết của vụ án phải xuất phát từ thực tế mà không bị ảnh hưởng bởi ýthứcchủquancủa ngườitiến hànhtốtụng hoặc Cơ quan tiến hànhtốtụng, khôngđượcsuy diễn,tưởngtượng,bịađặt.Đểquán triệt nguyêntắcnàyđòi

35

hỏi, khi thu thập chứng cứ Cơ quan CSĐT phải thu thập cả những chứng cứ kết tội, cũng như những chứngcứxácđịnhvô tội, những tình tiết tăng nặng vànhững tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can trong vụ án. Chỉ như vậy, mới có thể tránh được những sai lầm trong hoạt động điều tra vụ án hình sự.

Ba là, Cơ quan CSĐT cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụcủa Cơ quan CSĐT cấp trên.

Do hệ thống Cơ quan CSĐT được tổ chức nhiều cấp từ Trung ương đến địa phương, trong đó có Cơ quan CSĐT cấp trên và Cơ quan CSĐT cấp dưới. Xuất phát từ tính chất phức tạp của vụ án hình sự, có vụ án hình sự liên quanđến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương, hoặc có những vụ án hình sựmà Cơ quan CSĐTcấpdướikhông cóđủđiềukiện, khảnăng tiến hành hoạt động điều tra vì các lý do khác nhau đòi hỏi Cơ quan CSĐT cấp trên phải tự mình tiến hành điều tra, hoặc phối hợp với Cơ quan CSĐT cấp dưới cùng tiến hành điều tra. Mặt khác, các CQĐT của lực lượng CSND, lực lượng An ninh nhân dân, CQĐT trong Quânđộinhân dân, trừCQĐT của VKS, đều nằmtronghệthống các lực lượngvũ trang của Nhà nước. Đặc tính mệnh

lệnh, chấp hành trongmốiquanhệcấptrên và cấpdướiphải tuyệtđốituân thủ. Vì vậy, Cơ quan CSĐT cấp dưới phải chịu sự chỉ đạo của Cơ quan CSĐT cấp trên là điều tất yếu khách quan.

Sựchỉđạocủa Cơ quan CSĐTcấptrênđốivới Cơ quan CSĐT cấp dưới được thể hiện ở chỗ: Cơ quan CSĐT cấp trên hướng dẫn hoạt động điều tra, đề ra yêu cầu điều tra, yêu cầu thay đổi ĐTV, yêu cầu Cơ quan CSĐT cấp

dưới báo cáo về quá trình điều tra và kết quả điều tra vụ án v.v… Sự tuân thủmệnh lệnh của Cơ quan CSĐT cấp trên đảm bảo cho Cơ quan CSĐT cấp dưới hoàn thành được nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự.

Mặt khác, Cơ quan CSĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạtđộngđiềutra phải phốihợpvớinhau trongđiềutravụán hình sự. Trong quá trình điều tra vụ án, giữa các Cơ quan CSĐT và các cơ quan được

36

giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thường phát sinh mối quan hệ phân công, phối hợp, hiệp đồng, đảm bảo việc điều tra nhanh chóng, có hiệu quả.Mốiquanhệxuất pháttừyêucầuthựctếđấutranh chốngtộiphạm nói chung và giải quyết vụ án hình sự nói riêng; quan hệ giữa các Cơ quan CSĐT với các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là quan hệ phân công và phối hợp nhằm phát hiện kịp thời tội phạm và người phạm tội. Các yêu cầu bằng văn bản của Cơ quan CSĐT phải được các cơ quan khácđượcgiao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra nghiêm chỉnh thực hiện; các cơ quan khácđượcgiao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộng điềutra, sau khi khởitốvụán, áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo thẩm quyền phảigửingay các quyếtđịnhđócho VKS và thông báo cho Cơ quan CSĐT cùngcấpbiết;đốivớisựviệc códấuhiệu phạmtộimà chưa rõ thẩm quyền điều tra thì Cơ quan CSĐT nào phát hiện trước phải tiến hành ngay các biện phápđiềutra theo quyđịnhcủaBộluật TTHS; khiđãxácđịnhthẩm quyền thì phải chuyển ngay cho Cơ quan CSĐT có thẩm quyền; cácđơnvịCảnh sát, An ninh có trách nhiệmhỗtrợvà thực hiện các yêucầucủaThủtrưởng Cơ quan CSĐT, của ĐTV vàThủtrưởngcủacác cơ quan khácđược giao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra. Khicầnthiết, Cơ quan CSĐT cóthểuỷthác cho CQĐT khác thực hiệnmộtsốhoạtđộngđiềutra. CQĐT được uỷ thác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ việc được uỷ thác. Trong trường hợp CQĐT được uỷ thác không thể thực hiện được từng phần hoặc toàn bộviệcuỷthác thì phải báo ngay bằng văn bản, nêu rõ lý do cho Cơ quan CSĐTđãuỷthác biết. Khi có tranh chấpvềthẩm quyềnđiềutra giữa các CQĐT tronglựclượng CSND với CQĐTcủalựclượng ANND hoặc giữa CQĐTvớicơ quanđượcgiao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra trong CAND thì do Thủ trưởng cơ quan CA giải quyết và quyết định.

37

1.3. Mối quan hệ giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Viện kiểm sát, Tòaán và các cơ quan đƣợc giao nhiệmvụtiến hành một sốhoạtđộngđiều tra trong tố tụng hình sự

1.3.1. Mốiquan hệ giữa Cơ quan Cảnh sátđiều tra với Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Mối quan hệ giữa CQĐT nói chung, Cơ quan CSĐT nói riêng và Viện kiểm sát trong TTHS được hình thành kể từ khi VKS được thành lập theo quyđịnh của Hiến pháp năm 1959. Từ khi ra đời đến nay, đã có nhiều văn bản lập pháp và lập quy xác địnhmốiquanhệgiữa CQĐT và VKS trong hoạtđộng TTHS. Tuy nhiên, những quy định của các văn bản pháp luật nói trên mới chỉđề cập một cách chung nhất về sự phối hợp giữa ngành CA với VKSND trongđiều tra, kiểm sát điều tra chứ chưa đi vào cụ thể nội dung của từng hành vi tố

tụng cần thiết phải có sự phối hợp giữa hai ngành. Tương tự như vậy, Bộ luật TTHS năm 1988 trước đây và hiện nay là năm 2003 cũng chỉ quy định những vấn đề chung nhất về mối quan hệ giữa CQĐT với VKS. Điều đó đã gây nên những khó khăn nhất định trong việc áp dụng pháp luật TTHS vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Chính vì thế, phân tích và xác địnhđược nội dung phốihợpgiữa CQĐT và VKS trong từng hoạtđộngtốtụng là hếtsức cần thiết.

Trên thực tế, quan hệ giữa CQĐT (trong trường hợp nghiên cứu nàycụthể này là Cơ quan CSĐT) với VKS trong TTHS phát sinh từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm, khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra vụ án hình sự, hoàn thành bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố người phạm tội. Chính vìvậy, cóthểthấymốiquanhệgiữa Cơ quan CSĐT và VKSđược thểhiện ởnhững hoạt động sau:

– Quan hệ giữa Cơ quan CSĐT và Viện kiểm sát trong việc phát hiện vàgiải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

38

Cơ quan điều tra, VKS có trách nhiệm tiếpnhận đầyđủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyểnđến. VKS có trách nhiệm chuyển ngay các tốgiác, tin báo về tộiphạm và kiến nghị khởitốkèm theo các tài liệu có liên quanđã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền.

Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo vềtội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyếtđịnhviệc khởitốhoặc quyếtđịnh không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghịkhởitố cónhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địađiểmthì thờihạn để giải quyếttố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

Kếtquảgiải quyếttốgiác, tin báovềtộiphạm hoặc kiến nghị khởitốcủa cơ quan nhà nước phải được gửi cho VKS cùng cấp và thông báo cho cơquan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết.

CQĐT phải áp dụng các biện pháp cần thiếtđể bảo vệ người đã tố giác tội phạm.

VKS có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của CQĐT đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.[74, Điều 103].

Như vậy, cùng với Cơ quan CSĐT, VKS cũng có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức vàkiến nghị khởi tố do cơ quan nhànướcchuyểnđến. Sau khi tiếp nhận, VKS có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan CSĐT có thẩm quyền để tiến hành kiểm tra, xác minh, giải quyết.

Mặt khác, trong giai đoạn điều tra, VKS đồng thời thực hiện chức năng thực hành quyền côngtốvà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan

39

CSĐT. Do vậy,đốivớicác yêucầuvà quyếtđịnhcủa VKS trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì Cơ quan CSĐT phải chấp hành nhưng có quyền kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp. Khi nhận được kiến nghị của Cơ quan CSĐT, theo quy định trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, VKS cấp trên trực tiếp có trách nhiệm xem xét, giải quyết. Kết quả giải quyết phải thông báo cho Cơ quan CSĐT đãkiến nghị biết. Đốivớicác quyếtđịnhtốtụng khác của VKS mà có căncứcho rằng quyết định đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổchức thì Cơ quan CSĐT có quyền khiếunạitheo quyđịnhtại Chương XXXV Bộ luật TTHS.

– Quan hệ giữa Cơ quan CSĐT và VKS trong khởi tố vụ án hình sự

Khởitốvụán hìnhsựđược quyđịnhtạiChương VIII Bộluật TTHS. Trong giai đoạn này, Cơ quan CSĐT và VKS cùng có nhiệm vụ xác định cóhay không có sự việc phạm tội xảy ra.

Khi xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan CSĐT ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Ngược lại, trong quá trình điều tra ban đầu, với các tài liệu, chứng cứ thu thập được nếu xác định không có sự việc phạm tội xảy ra thì Cơ quan CSĐT phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.Điềunày là cầnthiết vì việc ra quyếtđịnhkhởitốhay ra quyếtđịnhkhông khởitốvụán hìnhsựsẽlà cơ sởpháp lýcầnthiếtđểCơ quan CSĐT quyết định có tiến hành các biện pháp điều tra theo TTHS hay không.

Do tính chất quan trọng của quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nên Bộ luật TTHS quy định hoạt động này của Cơ quan CSĐT phải chịu sự giám sát chặt chẽ của VKS cùng cấp. Trong thời hạn 24 giờ, Cơ quan CSĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển VKS cùng cấp quyết định khởi tố vụ án hình sựhoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự cùng các tài liệu làm căn cứ cho việc ra quyết định này. Nếu Cơ quan CSĐT ra quyết định khởi tố vụ án hoặc

40

quyếtđịnhkhông khởitốvụán hìnhsựthiếu căncứthì Viện kiểm sát cóquyền ra quyết định hủy bỏ quyết định thiếu căn cứ.

Bên cạnh đó, với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm soát hoạt độngtư pháp trong TTHS VKS cũng có quyền ra quyếtđịnhkhởitốvụán hình sự và phải gửi quyết định đó đến Cơ quan CSĐT có thẩm quyền để tiến hành điều tra.

Công tác kiểm sát việc khởi tốcóýnghĩa rấtquan trọng, VKSsẽloại trừ ngay từ đầu các hoạt động vi phạm, thiếu sót của Cơ quan CSĐT để yêu cầu có biện pháp khắc phục sai sót ngay từ đầu, tránh việc xâm hại quyền và

lợi ích hợp pháp của những người liên quan và hạn chế được những tốn kém, chi phí cho hoạt động điều tra.

– Quan hệ giữa Cơ quan CSĐT và VKS trong hoạt động điều tra vụ án hình sự

Đểchứng minhvềtoànbộtộiphạm, làm cơ sởtruy tố, xétxửđúng người, đúng tội và đúng pháp luật, Cơ quan CSĐT phải thực hiện một loạt các biện pháp tố tụng quan trọng nhằm thu thập chứng cứ được sử dụng để chứng minh. Đây là một hoạt động rất quan trọng, phức tạp, khó khăn và liên quanđến các quyền cơ bản của công dân nên pháp luật quy định các hoạt động điều tra vụ án luôn có sự kiểm sát rất chặt chẽ của VKSND cùng cấp. Mối quan hệgiữa Cơ quan CSĐT và VKS trong giai đoạn này xuất hiện trên cơ sở các hoạt động tố tụng và bảo đảm cho tính đúng đắn của nó.

Mối quan hệ giữa Cơ quan CSĐT và VKS trong hoạt động điều tra vụán hình sự thể hiện ở những khía cạnh sau:

+ Quan hệ giữa Cơ quan CSĐT và VKS trong việc áp dụng, thay đổi vàhủy bỏ các biện pháp ngăn chặn.

Do việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đụng chạm đến các quyền cơbảncủa conngườinênBộluật TTHS quyđịnhrấtchặtchẽtrình tự, thủtục tiến hành áp dụng các biện pháp này. VKS thực hiện nghiêm ngặt quyền chế

41

ước của mìnhđốivớiCơ quan CSĐT thông qua việc phê chuẩn hay không phê chuẩn đề nghị của Cơ quan CSĐT, nhằm không để một người nào bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn (bắt, tạmgiữ, tạmgiam,hạnchếcác quyền công dân) mộtcách trái pháp luật. Đồngthời, khi thực hiện quyềnhạncủa mình, VKS phải cân nhắc để tạo điều kiện thuận lợi cho Cơ quan CSĐT thu thập chứng cứ, ngăn chặn tội phạm qua việc áp dụng biện pháp ngănchặn đãđược quyđịnhtrongBộluật TTHS. Mặtkhác, đốivớitừng biện pháp ngăn chặn cụ thể lại có những căn cứ, thủ tục, trình tự khác nhau và đối với từng bịcan, lại có những hoàn cảnh khác nhau, đòi hỏi Cơ quan CSĐT phải cân nhắc thận trọng, có đề nghị kịp thời và phù hợp để VKS phê chuẩn. VKS phải xem xétđề nghịcủaCơ quan CSĐT trêncơ sởnghiên cứu các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ ánđể cóquan điểm phê chuẩn hay không phê chuẩn một cách có căn cứ, phùhợpđốivớitừng trườnghợpvà VKS chịu trách nhiệmvềquyếtđịnhcủa mình. Cơ quan CSĐT có quyềnđộclậpthực hiện lệnh bắt khẩn cấp mà không có sự phê chuẩn của VKS, nhưng sau khi thực hiện, trong mọi trường hợp, Cơ quan CSĐT phải báo ngay bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết để xét phê chuẩn. VKS phải kiểm tra về căn cứ, thủ tục bắt và những thủ tục sau khi bắt của Cơ quan CSĐT. Nếu phát hiện có vi phạm, thiếu sót, VKS phải yêucầuCơ quan CSĐT khắc phục, bổ sung ngay, nhằmđảmbảo bắt người đúng pháp luật.

+ Quanhệcủa Cơ quan CSĐT và VKS trong việc khởitốbịcan, hỏi cung bị can.

Khởi tố bị can là việc Cơ quan CSĐT xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội. Quanhệgiữa Cơ quan CSĐT và VKS trong việc nàythểhiện rất rõ ở hoạt động giám sát việc ra quyết định khởi tố bị can của VKSđối với Cơ quan CSĐT. Để hoạt động khởi tố bị can chặt chẽ, đúng theo quy định của pháp luật, Bộ luật TTHS quy định VKS có thẩm quyền giám sát việc khởi tố bị can của Cơ quan CSĐT. Cụ thể, trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết

42

định khởi tố bị can, Cơ quan CSĐT phải gửi quyết định khởi tố bị can và các tài liệu liên quan cho VKS cùngcấpđểxem xét phê chuẩn. Trong phạm vi quyềnhạncủamình, VKS phải xácđịnhhành vi phạmtộicủabịcan thông qua việc nghiêncứuhồsơ, tài liệu liên quan. Thông qua công tác kiểm sát, nghiêncứuhồsơ, VKS phải tiến hành thẩm tra xem việc khởitố bịcan của Cơ quan CSĐT có đúng với tội danh hay không? Có bỏ lọt hành vi phạm tội, ngườiphạmtộivàngườiphạmtộikhác mà chưa bịkhởitốkhông?Nếucócăn cứ, VKS phải yêu cầu Cơ quan CSĐT ra quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị canđối

với các đối tượng khác…

Hỏicung bị can là một hoạt động điều trađược quy định khá rõ trong Bộluật TTHS [74,tr.108,109]. Việc hỏicungbịcan nhằm củngcốnhững chứngcứđã thu thậpđược, đồngthời thu thập những chứngcứkhác cóýnghĩa đốivớiviệc chứng minh toànbộvụán. Theo quyđịnhcủa Bộluật TTHS thì VKS phải kiểm sát chặt chẽ hoạt động hỏi cung bị can của Cơ quan CSĐTđểđảmbảohoạtđộngnàyđược diễn ra khách quan, toàn diện, đúng trình tự, thủtục.Đểthực hiện quyềnhạnnày, VKS cóthểnghiêncứubiên bản hỏi cung bị can của ĐTV, giám sát buổi hỏi cung hoặc trực tiếp hỏi cung bị can nếu thấy cần thiết.

Ngoài ra, quan hệ của Cơ quan CSĐT và VKS trong giai đoạn điều tra vụ ánhình sự còn được thể hiện trong các hoạt động khác như: khám xét, thu giữ, tạmgiữ, kê biên tài sản,vậtchứng; trong khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi [74, tr.116,120,122].

– Quan hệ giữa Cơ quan CSĐT và VKS khi tạm đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra vụ án, kết thúc điều tra vụ án và trong các trường hợp khác.

Tạmđìnhchỉđiềutra là việc Cơ quan CSĐTtạmdừng các hoạtđộng TTHSđốivới vụán hìnhsựtheo quy định. Theo quyđịnhtạiĐiều160Bộluật TTHS hiện hành, khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh hiểm nghèo

43

khác có chứng nhận của Hội đồnggiámđịnhpháp y thì cóthểtạm đìnhchỉđiều tra trước khi hết hạn điều tra. Mặt khác, Cơ quan CSĐT phải gửi quyết định tạm đình chỉ điều tra cho VKS cùng cấp để kiểm sát về căn cứ pháp luật của quyết định tạm đình chỉ điều tra, thủ tục phải thực hiện sau khi tạm đình chỉđiềutra. Nếu VKS phát hiện quyếtđịnhtạmđìnhchỉđiềutra không cócăn cứ thì VKS phải ra quyết định hủy bỏ và yêu cầu Cơ quan CSĐT tiếp tục điều trađối với vụ ánvà bị can. Nếu trong quá trình điều tra vụ án, xuất hiện những lý do để tạm đình chỉ, thì VKS phải yêu cầu Cơ quan CSĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra.

Đình chỉ điều tra là việc Cơ quan CSĐT chấm dứt các hoạt động tố tụng đốivớivụán hoặc đốivớitừngbịcan. Đìnhchỉđiềutra đượcquyđịnhtại Điều164, Bộluật TTHS. Theo đó, trong thờihạn15 ngày, kểtừngày nhận được quyếtđịnhđìnhchỉđiềutra của Cơ quan CSĐT, nếuthấy quyếtđịnh đìnhchỉđiềutra có căncứthì VKS phảitrảlạihồsơ vụán cho Cơ quan CSĐT để giải quyết theo thẩm quyền. Trong trường hợp, quyết định đình chỉđiềutra không có căncứthìhủybỏquyếtđịnhđìnhchỉđiềutra và yêu cầu Cơ quan CSĐT phụchồiđiềutra;nếuthấyđủcăncứđểtruytốthìhủybỏquyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố.

Kết thúc điều tra vụ án là việc Cơ quan CSĐT kết thúc các hoạt động tốtụng đối với vụ ánhình sự và ra một trong hai quyết định sau khi thông qua

bản kết luận điều tra là đình chỉ điều tra và đề nghị truy tố. Theo quy định của Bộluật TTHS, khikếtthúc điềutra, Cơ quan CSĐT phải làmbảnkếtluận điều tra. Trong thời hạn 2 ngày, kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan CSĐT phải gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp đểVKS kiểm sát các quyết định này.

Ngoài ra, mối quan hệ giữa Cơ quan CSĐT với VKS còn được thể hiện trong các trường hợp đặcbiệt như:điềutra bổsung hoặc phục hồiđiềutra.

44

Nộidungmốiquanhệtrong những trườnghợpnàyđược quyđịnhcụthểtrong Bộ luật tố tụng hình sự.

Tóm lại, mốiquanhệphốihợpgiữa Cơ quan CSĐT và VKSrấtđa dạng và phong phú thể hiện trong toàn bộ hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng thuộc hai cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án.

1.3.2. Mốiquanhệgiữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Tòa án trong tố tụng hình sự

Toà án cùng với VKS, các cơ quan CA, Thanh tra, Tư pháp, cơ quan hữu quan khác, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đơn vịvũ trang nhân dân nghiêncứuvà thực hiện nhữngchủtrương, biện pháp nhằm phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác [75].

Mối quan hệ giữa Cơ quan CSĐT và TA trong TTHS thể hiện ở những nội dung sau:

– Mối quan hệ giữa Cơ quan CSĐT và TA trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo:

Trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và những vi phạm pháp luật, công tác xét xử của Toà án chỉ là một trong các biện pháp cần thiết được áp dụng. Để đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác, TA cần kết hợp với các cơ quan khác trong và ngoài hệ thống tư pháp bao gồm VKS, các

cơ quan CA, Thanh tra, Tư pháp, các tổchức xã hộinói chung…cùng phối hợp thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau để loại bỏ nguyên nhân vàđiều kiện phạm tội, từng bước hạn chế, đẩylùi tội phạm trong cuộc sống xãhội.Mặtkhác, theo quyđịnhcủa Bộluật TTHS, trong quá trình xétxửnếu phát sinh khiếu nại,tốcáo thì TA phảikếthợpvớiCơ quan CSĐTđểgiải quyết. Cụthể, trong quá trình xétxửvụán hìnhsựnếucó khiếu nại, tốcáo liên quanđếnCơ quan CSĐT thì Cơ quan CSĐT có trách nhiệm phải cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo[102]. Khi bị cáo khiếu

45

nại việc bị bức cung, dùng nhục hình thì TA có thể mời ĐTV lên đối chất với

lời khai của bị cáo…

-Mốiquanhệgiữa Cơ quan CSĐT và TA trong việc điềutra, xétxửnhững vụ án nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền của CQĐT, VKS, TA cấp dưới nhưng lấy cấp trên lấy lên để điều tra, truy tố, xétxử.

Toà án nhân dâncấptỉnh và TA quânsựcấpquân khu xétxửsơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và TA quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của TA cấpdướimà mìnhlấylênđểxét xử [74, Điều 170]. Tuy nhiên, trongBộluật TTHS không quy định loại vụ án nào TA cấp tỉnh, TA quân sự cấp quân khu lấy lên để xét xử. Chính vì vậy, khi vụ án hình sự xảy ra, Chánh án TA, Viện trưởng VKS, Thủ trưởng Cơ quan CSĐT cấp tỉnh cần họp bàn về căn cứ và khảnăng thực tế của những người tiến hành tố tụng cấp huyện, nơi xảy ra vụ án đểquyết định, có cần thiết phải lấy lên để điều tra, truy tố xét xử tại cấp tỉnh hay không. Nếu thấy cần thiết phải lấy lên để xét xử tại cấp tỉnh thì thực hiện đúng các quy định về chuyển vụ án. Cụ thể là chỉ được chuyển vụ án cho TA khác khivụán chưađượcxét xử. Trong trườnghợpnày, việc chuyểnvụán do Chánh án TA quyếtđịnh. Nếuvụ ánthuộc thẩm quyền của TA quân sự hoặc TA cấp trên thì vụ ánđã được đưa ra xét xử vẫnphải chuyển cho TA có thẩm quyền. Trong trườnghợpnày, việc chuyểnvụán doHộiđồngxétxửquyếtđịnh. Mặtkhác, trong thờihạnhai ngày, kể từ ngày ra quyết định chuyểnvụán, TA phải thông báo cho VKS cùng cấp, báo cho bị cáo và những người cóliên quan trong vụ án [74,tr.139].

– Mối quan hệ giữa Cơ quan CSĐT và TA trong việc điều tra bổ sung, điều tra lại.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, TA cóthểra quyếtđịnh trả hồ sơ đểđiềutra bổsung. Quyếtđịnhnày cùnghồsơ vụánđược chuyển cho VKS. Trong trường hợp VKS không thể tự mình điều tra bổ sung được thì hồ sơ vụ

46

ánđượcchuyểntrởlại Cơ quan CSĐT. Trong trườnghợpnày, Cơ quan CSĐT phải tiến hành các biện pháp để điều tra bổ sung theonộidung quyết địnhcủa Toà án. Mặc dù, TAtrảlại hồsơ cho VKS, nhưng Cơ quan CSĐT phải nhanh chóng đáp ứng yêu cầu điều tra bổ sung càng nhanh càng tốt. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ điều tra bổ sung, Cơ quan CSĐT chuyển hồ sơ vụ án cho VKS để VKS chuyển cho TA để tiếp tục chuẩn bị xétxử.

Như vậy, trong giai đoạn xét xử, sự phối hợp giữa Cơ quan CSĐT và TA làrấtcầnthiếtđảmbảochohoạt độngtốtụngđược diễnra liên tục,đápứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong trường hợp bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật TTHS thì Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm có thể hủy bản án hoặc quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật bịkháng nghịđểđiềutra lại. Trong trườnghợpnày, Cơ quan CSĐT tiến hànhđiều tra lại theo quy định chung.

1.3.3. Mốiquan hệ giữa Cơ quan Cảnh sátđiều travớicác Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Mốiquanhệgiữa Cơ quan CSĐTvớicác cơ quanđược giao nhiệm vụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra là mốiquanhệcông tác, cùng cónhiệmvụchung là đấutranh phòng, chốngtộiphạm. Theo quy định, các cơquan được giao nhiệmvụtiến hànhmột số hoạtđộng điều tra không phải làCQĐT. Đâylà những cơ quan thực hiện nhiệmvụquản lý hành chính trong mộtsốlĩnh vực mà nhà nước giao quản lý nhưng trong nhữngđịa bàn hoặc lĩnh vực đó thường xuất hiện những hành vi phạm tội mà cần thiết phải truy cứutrách nhiệm hìnhsựđốivớingườithực hiện hành vi đó. Cho nên, pháp luật TTHSmớigiao cho các cơ quan này nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạt độngđiềutra nhằmđảmbảoyêucầunhanh chóng, kịpthời trong công tácđấu tranh phòng, chống tội phạm.

47

Theo Điều 111 Bộ luật TTHS và các Điều 4, 19, 20, 21, 22, 23, 24 Pháp

lệnh tổ chức ĐTHS thì các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bao gồm:

– Bộ đội biên phòng; – Hải quan;

– Kiểm lâm;

– Lực lượng Cảnh sát biển;

– Các cơ quan kháccủalựclượngCảnh sát trong CAND, gồm: Cục Cảnh sát giao thôngđườngbộ-đườngsắt, Cục Cảnh sát giao thôngđường thuỷ, Cục Cảnh sát môi trường, Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Cục Cảnh sát quản lý hành chínhvềTTXH, Cục Cảnh sátbảovệvà hỗtrợtưpháp, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt, Phòng Cảnh sát giao thông đường thuỷ, Phòng Cảnh sát môi trường, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về TTXH, Phòng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, Trại tạm giam, Trại giam;

– Các cơ quan khác của lực lượng An ninh trong CAND, gồm: Các cục An ninh, các phòng An ninh ở CA cấp tỉnh, Đội An ninh ở CA cấp huyện trực tiếp đấu tranh phòng, chống các tội phạm theo thẩm quyền;

– Các cơ quan khác trong Quânđội nhân dân, gồm: Trại tạmgiam, trại giam trong Quân đội nhân dân, đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương;

Mốiquanhệgiữa Cơ quan CSĐTvớicác cơ quan được giao nhiệmvụtiến hành một số hoạt động điều tra thể hiện ở một số nội dung sau [67]:

Mộtlà, quanhệ giữa Cơ quan CSĐTvớicơ quanđược giao nhiệmvụtiến hành một số hoạt động điều tra là quan hệ phân công và phối hợp trong hoạtđộng điềutra. Các yêucầubằng văn bản của Cơ quan CSĐTphải được cơ quanđược giao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra nghiêm chỉnh thực hiện.

48

Cơ quanđược giao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra cótrách nhiệm phốihợpvớiCơ quan CSĐT trong phạm vi thẩm quyềnđược phân công [57]. Mối quan hệ giữa hai cơ quan là quan hệ phối hợp, cùng thực hiệnmộtsốnhiệmvụtrong hoạtđộngđiềutra, không phải làmốiquanhệ giữa cấp trên và cấpdưới.

Dohồsơ điềutra vụán hìnhsựbanđầuđược lậpbởicơ quanđược giao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra. Do đó, trong quá trình chuyển giao, phốihợpđiềutra làm rõvụánnếuCơ quan CSĐT có thẩm quyền có yêu cầu, thì cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra phải nghiêm chỉnh thực hiện. Tuy nhiên, do đây là hoạtđộngTTHS nên mọi yêucầugiữa các cơ quan đều phải được thể hiện bằng văn bản, mọi yêu cầu không bằng văn bản đều không có giá trị pháp lý.

Hai là, cơ quanđượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, sau khi khởi tố vụ án, áp dụng biện pháp ngăn chặn theo thẩm quyền phải gửi ngay các quyếtđịnh đócho VKS và thông báo cho Cơ quan CSĐT có thẩm quyền biết.

Khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm thì lãnh đạo có thẩm quyền trong các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra có quyền quyếtđịnháp dụng các biện phápđiềutra như: ra quyếtđịnhkhởitốvụán, khám nghiệm hiện trường, khám xét, lấylờikhai, thu giữ, tạmgiữvàbảoquảnvậtchứng, tài liệu liên quan

trực tiếp đến vụ án, trưng cầu giám định khi cần thiết…và chuyển hồ sơ vụ án cho VKS hoặc CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn theo quy định kể từ ngày ra quyếtđịnhkhởi tốvụán. Những hoạt động nàyđềuđược quyđịnhrấtcụthể trong Pháplệnh tổ chức điềutra hình sự.

Ba là, các đơn vị CSND, ANND, Kiểm soát quânsự cótrách nhiệm hỗtrợ và thực hiện các yêucầucủa Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT,

49

ĐTV và của Thủtrưởng, PhóThủtrưởng cơ quanđược giao nhiệmvụtiến hành một số hoạt động điều tra trong hoạt động điều tra.

Để tạo điều kiệncho Cơ quan CSĐT và các cơ quanđượcgiao nhiệmvụtiến hành một số hoạt động điều tra hoàn thành nhiệm vụ liên quanđến điều tra vụán hìnhsựthìmọicá nhân,tổchức có liên quanđềuphải có trách nhiệmhỗtrợ, phối hợp. Đặcbiệt, những cơ quan, đơnvịvũ trang thuộc các lực lượng CSND, ANND, Quân đội nhân dân phải có trách nhiệm trong việc hỗ trợ, thực hiện các yêucầucủa Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và những người tiến hành

tố tụng trong Cơ quan CSĐT trong hoạt động điều tra.

1.3.4. Thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra

Thẩm quyền điều tra là một trong những quy định quan trọng trong Bộluật TTHS. Việc xácđịnhđúng thẩm quyềnđiềutra củacác CQĐT sẽ đảm bảo cho hoạt động điều tra không chồng chéo, không để chống địa bàn, khôngđể lọttộiphạm, thiếtlậpmốiquanhệ chặt chẽ, hỗtrợ lẫnnhau giữa các CQĐT, khai thác triệtđể sức mạnh của cả hệ thống CQĐT trong hoạtđộngđiều tra xử lý tội phạm.

Trong phạm vi luận án này, xuất pháttừđốitượngnghiêncứulà Cơquan CSĐT nên tác giả chỉ tập trung vào việc phân tích thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan Cảnh sát điều tra.

1.3.4.1. Thẩm quyền điều tra theo sự việc

Thẩm quyềnđiềutra theo sự việc là sự phân định thẩm quyền điều tra giữa các CQĐT các cấp với nhau căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội vàtính phức tạp của hành vi phạm tội.

Căncứvào tính chất của tộiphạm phản ánh mức độít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rấtnghiêm trọng hayđặc biệt nghiêm trọng của từng loại tội phạmcụthể. Mức độ của tội phạmcàng cao thì hình phạt áp dụng đối với tội phạmđócàng nghiêm khắc. Do vậy, chỉcầnthông qua loại và khung hình

50

phạt được quy định trong Bộ luật hình sự đối với tội phạmđó có thể biết được tính chất của tộiphạm. Theo căncứnày mà phânđịnhthẩm quyền theo nguyên tắc CQĐT cấp nào thì có thẩm quyềnđiềutra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của TAcấp đó.

Luật hình sự và Luật TTHS có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Do vậy, việc xác địnhthẩm quyềnđiềutra cũng phải căncứvàosựphân loại tội phạm. Tuy nhiên, ngoài việc căncứvàosự phân loạitộiphạm thì việc xácđịnh thẩmquyền điều tra còn phải căncứvào tính phức tạp của vụ án và yêu cầuđấu tranh phòng, chống tội phạm. Bởi lẽ, có những trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng nhưnglạiphức tạphoặc phạmtộitrong trường hợp nghiêm trọng.

– Cơ quan CSĐT Công ancấphuyện: Cơ quan CSĐT Công an cấp huyệnđược phân chia thành các đơnvịkhác nhau vàmỗiđơnvịcó thẩm quyền điều tra nhóm tội phạm cụ thể theo quy định của pháp luật.

– Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh: có thẩm quyềnđiềutra hai loạivụ án, cụ thể là:

Thứ nhất, Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh điều tra những vụ án hình sựvề nhữngtộiphạm không thuộc thẩm quyềnđiềutra củaCơ quan CSĐT Công an cấp huyện.

Thứ hai, Cơ quan CSĐT Công ancấptỉnh điều tra những vụ án thuộc thẩm quyền của Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện nhưng xét thấycầntrực tiếp điều tra.

– Cơ quan CSĐTBộCông an: có thẩm quyềnđiềutra các vụánvềnhữngtộiphạmđặc biệt nghiêm trọng, phức tạpthuộc thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

51

1.3.4.2. Thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ

Thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyềnđiềutra căncứ vào địa điểmnơi xảy ra tội phạm, nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cưtrú hoặc bị bắt.

Căncứđể phân định thẩmquyền điều tra theo lãnh thổ là dựa vào nơi xảyra tội phạm. Về nguyên tắc, CQĐT có thẩm quyền điều tra những vụ án hìnhsựmà tộiphạmxảyra trênđịa bàn mà mình quản lý, việc phânđịnh thẩm quyền điều tra theo lãnhthổvừađảmbảotínhkịpthời, vừa mang tính chủ động trong hoạt động điều tra.

Nơixảyra tội phạm là nơi có điều kiện phát hiện, thu thập các tài liệu chứngcứcó liên quanđếntộiphạm. Trườnghợpkhông xácđịnhđược nơi xảyra tội phạm thì có thể căn cứ vào nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trúhoặc bị bắt. Nơi phát hiện tội phạm còn có thể là nơi có tài liệu chứng cứ liên quan đến tội phạm, tạođiều kiệnthuậnlợicho công tác điều tra. Thông qua công tác khám nghiệm hiện trường (nơixảyra tộiphạm, nơi phát hiện tội phạm) mà cơ quanđiềutra có thể thu thậpđược ngay các dấuvếtcủa tội phạmđể lạitại hiện trường của vụ ántừ đó cóthể tìm ra đối tượng thực hiện hành vi phạm tội.

Việc phânđịnhthẩm quyềnđiềutra theo lãnhthổđảmbảotính kịp thời, tránhđược sựchồng chéo và đùnđẩytrách nhiệm cho nhau khi thực hiện nhiệm vụ làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động điều tra.

1.3.4.3. Thẩm quyền điều tra theo đối tượng

Thẩm quyềnđiềutra theođốitượnglà sựphânđịnhthẩm quyềnđiều tra giữa CQĐT trong CANDvớiCQĐT trong Quân đội nhân dân và CQĐT Viện kiểm sát.

Theo căn cứ này thì thẩm quyền điều tra được xác định như sau: CQĐT trong Quân đội nhân dân điều tra những tội phạm mà người thực hiện hành vi phạmtộilà nhữngngườido quânđộiquản lý, hoặc nhữngngườikhông do

52

quân đội quản lý nhưng phạm tội liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hạicho quân đội.

Cơ quanđiềutra thuộc VKSNDđiềutra các vụán hìnhsựvềmộtsốloại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tộiphạmđóthuộc thẩm quyền xétxửcủa Toà án nhân dân. CQĐT Viện kiểm sát quân sự trung ương điều tra các vụ án hình sựvề các tộixâm phạm hoạtđộngtư pháp mà ngườiphạmtộilà cánbộthuộc các cơ quan tư pháp khi cáctộiphạmđóthuộc thẩm quyền xétxửcủaTA quânsự.

Cơ quanđiềutra trong CAND (trongđócó Cơ quan CSĐT) có thẩm quyềnđiềutra tấtcả những tội phạm, trừnhững tội phạm thuộc thẩm quyềnđiều tra của CQĐT trong Quân đội nhân dân và Viện kiểm sát.

Mặc dù,đãcósựphânđịnhchặtchẽvềthẩm quyềnđiềutra, nhưng trong trường hợp việc điều tra chưa rõ thẩm quyềnthì để kịp thờingăn chặn hành vi phạmtộiCQĐT nào phát hiện trước phải tiến hành ngay các hoạtđộng điều tra theo quy định của pháp luật.

Khi xác định vụ án không thuộc thẩm quyềnđiềutra của mình, CQĐT phảiđề nghị VKSND cùngcấpra quyếtđịnhchuyểnvụán cho CQĐT cóthẩm quyền để tiếp tục điều tra. Trong thờihạn3 ngày, kể từ ngày nhậnđượcđề nghịcủaCQĐT, VKS cùngcấpcó trách nhiệm ra quyếtđịnhchuyểnvụán. Nếuvụán phải chuyển cho CQĐTnằmngoài phạm vi tỉnh, thànhphốtrực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu thì do VKSND cấp tỉnh, VKS quân sự cấp quân khu quyết định.

Trong trường hợp có sự tranh chấp về thẩm quyền điều tra thì được giải quyết như sau:

-Nếucó tranh chấpvề thẩm quyềnđiềutra giữa các CQĐT thì Viện trưởng VKSND cùngcấpnơitộiphạmxảyra hoặc nơi phát hiệntộiphạm quyết định.

53

-Nếucó tranh chấpvề thẩm quyềnđiềutra giữa CQĐT VKSND tối caovớiCQĐT khác thì việc giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền Viện trưởng VKSND tối cao.

-Nếucó tranh chấpvề thẩm quyềnđiềutra giữa Bộđộibiên phòng, Hảiquan, Kiểm lâm, lực lượngCảnh sát biển thì Viện trưởng VKS có thẩm quyền nơi xảy ra vụ án quyết định.

– Trong trường hợp cần thiết, CQĐT có thẩm quyền có quyền yêu cầu cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển ngay hồ sơ vụ án để trực tiếpđiềutra. Các yêucầucủa CQĐT có giá trị bắt buộc thi hành đối với cơ quan được giao nhiệmvụ tiếnhành hoạt động điều tra.

– Khi có tranh chấpvề thẩm quyềnđiềutra giữa các đơnvịtrong Cơquan CSĐT thì Thủ trưởng Cơ quan CSĐT quyết định giao vụ án đó cho đơn vị nào điều tra.

1.4. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển củaCơ quan Cảnh sátđiều tra

Làmộttrong hai CQĐTcủangành CA nên lịchsửhình thành và phát triển Cơ quan CSĐT quan hệ mật thiết với lịch sử của CQĐT trong CAND. Mặt khác, khi nóiđếnquá trình hình thành và phát triểncủaCơ quan CSĐT thìkhôngthểkhông nóiđếnnhữngđơnvịtiền thâncủangànhđiềutra, góp phần quan trọng vào công tác giữ gìn an ninh trật tự nói chung của ngành Công an.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, nhiệm vụ giữ vững chính quyền non trẻ, đậptanbộmáyđànáp của chếđộcũ và hoạtđộngphá hoại của bọnđếquốc, phản động, giữgìn an ninh trậttựđấtnước được coi lànhiệmvụđặc biệt quan trọng của ngành CA. Trong thời kì này, do yêu cầu của cách mạng, mặc dù chức năng cụ thể chưa được phân định rõ, nhưng hoạt động điều tra đã bắt đầu được sơ khởi hình thành. Điều này được chứng minh bằng nội dung Sắc lệnh số 33A do Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà (Hồ Chí Minh) ký về thể lệ cho Ty Liêm phóng và Sở Cảnh sát

54

khibắtngười: “KhiSởLiêm phóng vàSởCảnh sátbắtmộtngườinào thìtrong 24 giờ phải lập biên bản để thả ngay, hoặc đưa sang Toà án quân sự, hoặc đưa sang Ông Biện lý Toà án tưpháp”[24].

Để tăng cường đấu tranh chống bọn phản cách mạng và tội phạm khác, bảovệchính quyền, bảovệđược quyềntựdo cá nhân nênChủtịchHồChíMinhđã ký Sắc lệnhsố40/SL ngày 29/3/1946, Tổchức Tư pháp Công anđược thànhlậptheo Sắc lệnhsố131/SL ngày 20/7/1946 của Chủtịchnước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Trong Sắc lệnh ghi rõ nhiệm vụ của tổ chức Tưpháp CA truy tầm tất cả các vụ phạm pháp (đại hình, tiểu hình hoặc vi cảnh), sưutậpcác tang chứng, bắtgiaongườiphạm pháp cho các Toà án xétxửtrong phạm vi pháp luật ấn định. Như vậy, dựa vào Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/7/1946vềTổchức Tư pháp CA thìđâylà tổchức CQĐTđầutiên trong

lực lượng CA thực hiện nhiệm vụ điều tra theo pháp luật TTHS quy định.

Tháng 8/1951, Hộinghị CA toàn quốclầnthứ6đãbàn và quán triệt thực hiện Chỉ thị số 05/CT ngày 12/5/1951 của Ban Bí thư “Về nhiệm vụ và tổchức của Côngan”, trongđóđã bàn và quyếtđịnhthànhlậpPhòng Chấp pháp trực thuộc TyBảovệchínhtrịtrong Nha CA trung ương. Phòng chấp pháp có nhiệm vụ bắt hỏi cung các vụ do thám, phản động quan trọng ở trungương hayởđịa phương. Tạicác tỉnh thì thànhlậpTiểu ban chấp pháp trực thuộc Banbảovệchính trị. Như vậy, Phòng Chấp pháp thuộc TyBảovệchính trị, mộtmặtthaythếtổchức Tư pháp CA;mặtkhác, khôngchỉlàm nhiệm vụ điều tra tố tụng, mà còn thực hiện nhiệm vụ điều tra trinh sát. Thực hiện cùng một lúc hai hình thức điều tra (điều tra tố tụng và điều tra trinh sát) có những thuận lợi nhất định như hỗ trợ kịp thời cho nhau trong điều tra tội phạm, tạo điều kiện mở rộng án, truy bắt kịp thời người phạm tội. Tuy nhiên, trong công tác Chấp pháp cũng mắc những khuyếtđiểmtrong việc bắt, tạm giam, tạmgiữngười.Đểkhắc phục những thiếu sót mà Hộinghị CA Toàn quốclần thứVII đã rút ra, Chủ tịchHồChí Minh đã ký Sắc lệnh số 141/SL

55

ngày 16/2/1953vềđổiNha CA Trung ương thànhThứBộCông an. Tách Phòng Chấp pháp trực thuộcThứBộCông an. Tại CA Liên khu có Phòng Chấp pháp. Lực lượng làm công tác chấp pháp từ trung ương đến địa phương có hai nhiệm vụ cơ bản:

–Thứnhất, điềutra, lậphồsơ, đềnghị truytốvụphạmtộiphản cách mạng và tội hình sự khác.

– Thứ hai, quản trị các trại giam (lao cải).

Cũng trong năm 1953HộiđồngChínhphủđã quyếtđịnhđổiThứBộCông an thành Bộ Công an.

Sau khi giải phóng miền Bắc (1954) công tác cảitạo nguỵ quân, nguỵquyền và các phần tử phản cách mạng hết sức quan trọng và cấp bách. Công tác quản lý giáo dục cải tạo các đối tượng nói trên cần phải được mở rộng. Vìvậy, ngày 17/2/1955, BCA quyết định tách Vụ Chấp pháp thành hai bộ phận: Phòng Chấp pháp thuộc VụChấp pháptrởthành Phòng Chấp pháp của VụBảovệchính trị. Phòng Quản lý trại giam của VụChấp pháp thànhVụLao cải. Tháng 4/1957, do yêucầucủacuộcđấutranh chốngtộiphạm, cầnthiết phải tách hẳn Phòng Chấp pháp thực hiện nhiệm vụ điều tra tố tụng khỏi VụBảo vệ chính trị chuyên làm công tác điều tra trinh sát để tránh những sai lầm có thể xảy ra, BCA đã quyết định đưa Phòng Chấp pháp tách khỏi Vụ Bảo vệchính trị, trực thuộc Bộ. Tạicác Khu thànhlậpPhòng Chấp pháp và Ban Chấp pháp trực thuộc Ban Giámđốc CA khu. Việc tách Phòng Chấp pháp khỏi bộ phận Bảo vệ Chính trị đã tạo điều kiện cho Bộ chỉ đạo việc tuân theo pháp luật trong công tác bắt, tạm giam, tạm giữ, xử lý người phạm tội.

Sau 2 năm thực hiện nhiệm vụ điều tra tố tụng đối với các vụ án phản cách mạng và tội phạm hình sự khác, nếu cứ để đơn vị Phòng Chấp pháp thìkhôngthể đápứngđược nhiệmvụđược giao và không phùhợpvớitổchức BCA. Ngày 28/8/1959, trong công vănsố806 của BCAgửicác ban ngành, các địa phương thông báo kể từ ngày 01/9/1959, Phòng Chấp pháp trực thuộc

56

BCA đổi thành Vụ Chấp pháp và lấy bí danh là Vụ 4. Kể từ năm 1959 trở đi, lực lượng Chấp pháp thực hiện độc lập công tác điều tra công khai theo pháp

luật TTHSđốivớinhữngvụán phản cách mạng và các vụán hình sự khác. Đểcóthểđưa ngườiphạmtộira xét xử, BCAđã ra Chỉthịsố508/V4 quyđịnh: “Các vụ cục, ban, phòng làm công tác trinh sát ở Bộ, Khu, Sở, Ty trước khi phá án hoặc bắt tội phạm đều phải thảo luận với Chấp pháp cùng cấp vềchủ trương, thủ tục và kế hoạch bắt. Khi đã có quyết định bắt giam can phạm,

lệnh khám xét, việclậpquyết nghị, tiến hànhhỏicung, lậphồsơ,lậpquyết nghị khởi tố vụ án, đề nghị xử lý vụ án đều do chấp pháp chịu trách nhiệm”. Như vậy, chức năng điều tra tố tụng của cơ quan Chấp pháp rất rõ ràng trong giải quyết vụ án hình sự. Đến năm 1961, theo Nghị định số 132/CP của Thủtướng Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ của BCA, Vụ Chấp pháp đổi tên thành Cục Chấp pháp vẫn với chức năng chỉ đạo công tác bắt, giữ, xét hỏi,

lập hồ sơ đề nghị xử lý, khám người, nhà ở, đồ vật, thư tín của những người phạm pháp và những người có liên quan.

Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam theo quyết định của Chính phủNước Việt Nam dân chủ cộng hoà, BCA đổi tên thành Bộ Nội vụ để thực hiện nhiệm vụ mới trong phạm vi toàn quốc. Ngày 12/6/1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 250/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Nội vụ. Nghị địnhđã quyết định bỏ tên Cục Chấp phápở Bộ, Phòng Chấp pháp ở địa phương và thành lập hai lực lượng điều tra mới: Cục An ninh điều tra xét hỏi, Cục CSĐT xét hỏi (cấp Bộ) và Phòng An ninhđiều tra xét hỏi, Phòng CSĐT xét hỏi (cấp tỉnh). Cấp huyện có đội CSĐT xét hỏi. Như vậy, đây là điểm mốc thời gian đánh dấu sự hình thành hai lực lượng điều tra riêng trong CAND, đó là lực lượng An ninh điều tra (lực lượng tiền thân của Cơ quan An ninh điều tra) và lực lượng CSĐT (lực lượng tiền thân của Cơ quan Cảnh sát điều tra).

57

Trên cơ sở Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng và tổ chức bộ máy điều tra của Bộ Nội vụ, Bộ luật TTHS được Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/6/1988 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1989 đãquyđịnh:CQĐT là mộttrong các cơ quan tiến hànhtốtụng. Pháp lệnhtổchức ĐTHS năm 1989, cụ thể hoá Điều 27 Bộ luật TTHS, đã quy định CQĐT của Bộ Nôi vụ bao gồm: Các CQĐT của lực lượng CSND; các CQĐT của lực lượng An ninh nhân dân.

Đểphùhợpvớiyêucầubảovệan ninh chínhtrịvà giữgìn trậttựan toàn xã hội trong giai đoạn thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, theo Nghịđịnhsố37/1998/NĐ-CP ngày 9/6/1998củaChínhphủvềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy BCA, Bộ Nội vụ được đổi tên thành BCA và có một trong những nhiệm vụ quan trọng: “Tổ chức, chỉ đạo vàtiến hành các hoạt động điều tra, điều tra theo TTHS và thực hiện việc xử lývi phạm hành chính theo quy định của pháp luật”, mô hình tổ chức và bộ máyđiều tra các cấp của lực lượng CSND, lực lượng ANND không thayđổi và đãphát huy hiệu quả trong điều tra, khám phá tội phạm.

Sau một thời gian thi hành thì Bộ luật TTHS năm 1988 và pháp lệnh tổchức ĐTHS năm 1989 đã bộc lộ nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn. Do đó, ngày 26/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Namđã thông qua Bộluật TTHS mới. Tạikhoản 1Điều33Bộluật TTHS quy định CQĐT là mộttrong các cơ quan tiến hànhtốtụng. Bên cạnhđó,tại Khoản 5Điều110Bộluật TTHS quyđịnh“Tổchứcbộmáy, thẩm quyền cụ thể của các CQĐT do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định”. Chính vì vậy, ngày 20/8/2004 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp

lệnhtổchức ĐTHShướngdẫnmộtsốđiềucủa Bộluật TTHS. Theo đó, tại Mục A, Chương II Pháp lệnhtổchức ĐTHSvềtổchức và thẩm quyềnđiều tra của CQĐT trong CAND quy định CQĐT trong CAND bao gồm: Cơ quan CSĐT và Cơ quan An ninh điều tra.

58

Như vậy, trải qua quá trình hình thành và phát triển, Cơ quan CSĐT trong CAND, từthờikỳbanđầu là tổchức Tư pháp CAđếnnaytrởthành mộttrong nhữnglựclượngquan trọng tronghệthống các CQĐT và là một mắt xích của các cơ quan tư pháp, thực hiện điều tra tố tụng những vụ án hình sự theo thẩm quyền được giao.

59

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

1. Cơ quan CSĐT không chỉ là một trong những CQĐT được quy định trong pháp luật TTHS mà còn là một cơ quan nằm trong lực lượng CAND. Vịtrí đó cho thấy, Cơ quan CSĐT có vai trò rất quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nói chung và công tác điều tra, xử lý tội phạm nói riêng.

2. Chức năngcủaCơ quan CSĐT cũng là một nội dung quan trọng đãđược làm rõ trong chương này. Đểxác địnhchức năng của Cơ quan CSĐT, nghiên cứu sinh đã dựa vào những cơ sở nhất định về nhiệm vụ của giai đoạn điềutra, vịtrí và tổchức hoạtđộngcủa Cơ quan CSĐT. Từđó, cóthểxácđịnh chức năng của Cơ quan CSĐT là tiến hành các hoạt động điều tra để làm rõ tội phạm theo thẩm quyền được giao.

3. Cơ quan CSĐT có 3 nhiệmvụchính là:điềutra các tộiphạm theo thẩm quyền, lập hồ sơ đề nghị truy tố và xác định các nguyên nhân, điều kiện phạm tội để kiến nghị các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa.

4. Cơ quan CSĐT hoạtđộngtrên cơsởnhững nguyên tắc đãđượcquyđịnhtrongBộluật TTHS và Pháp lệnhtổchức ĐTHS. Việc quán triệt các nguyên tắc hoạt động của Cơ quan CSĐT sẽ giúp cho Cơ quan CSĐT thực hiện đúng chức năng, hoàn thành nhiệm vụ của mình theo thẩm quyền được giao.

5. Quanhệgiữa Cơ quan CSĐT và các chủ thể khác có liên quan nhưVKS, TA và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là mối quan hệ phối hợp và chế ước. Luận án làm sáng tỏ hơn về vị trí của Cơ quan CSĐT cũng như nội dung, đặc điểm mối quan hệ công tác giữa Cơ

quan CSĐT và VKS, TA…để hoàn thành nhiệm vụ chung là phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự cho xã hội. Luận án cũng đã làm rõ

60

quy định của pháp luật về phân định thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra.

6. Qua nghiên cứu sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Cơ quan CSĐT từ khi còn là một tổ chức tiền thân như Tổ chức Tư pháp CA được thành lập ngày 20/7/1946 theo sắc lệnh số 131/SL đến nay cho thấy một hệ thống Cơquan CSĐTđượctổchức chặtchẽtừtrung ươngđếnđịaphương.Điềuđó

chứngtỏ,Cơ quan CSĐTđãcómộtbềdày lịchsửphát triểngắnliền với những thành tích tolớntrongsựnghiệpđấutranhbảovệchính quyền thời chiến tranh và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong thời đại ngày nay.

61

Chƣơng 2

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CƠ QUAN CẢNH SÁT

ĐIỀU TRA VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA

CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA

2.1. Pháp luật tố tụng hình sự về Cơ quan Cảnh sát điều tra

2.1.1. Quy định củapháp luậttốtụng hình sự về tổchứcbộmáy Cơ quan Cảnh sát điều tra

Bộluật TTHS quyđịnh:“Tổchứcbộmáy, thẩm quyềncụthểcủacác CQĐT do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định” [74,tr.87(Điều 110)]. Để cụ thểhóa quy định trên, điểm a, khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh tổ chức ĐTHS quy định:

Trong CA nhân dân có các CQĐT sau đây:

– Cơ quan CSĐTBộ Công an; Cơ quan CSĐT CA tỉnh, thànhphốtrực thuộc trung ương (sauđâygọichung là Cơ quan CSĐT CAcấptỉnh); Cơ quan CSĐT CA huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Cơ quan CSĐT CAcấphuyện);

– Cơ quan An ninhđiềutra BCA; Cơ quan An ninhđiềutra CA tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan An ninh điều tra CA cấp tỉnh).

Như vậy, Cơ quan CSĐT gồm có: Cơ quan CSĐT Bộ Công an; Cơ quan CSĐT Công an tỉnh; Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện.

2.1.1.1.Tổ chức của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an

Pháp lệnh tổ chức ĐTHS (Điều 9) quy định tổ chức của Cơ quan CSĐT Bộ Công an bao gồm: Cục CSĐTtộiphạmvề trậttựxã hội, Cục CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục CSĐT tội phạm về ma tuý vàVăn phòng Cơ quan CSĐT. Như vậy,tạithờiđiểmnăm 2004 thì Cơ cấutổchức của Cơ quan CSĐT BCA gồm có 4 lực lượng. Tuy nhiên, do xuất phát của tình hình thực tiễn xét thấycầnthiết phải thành lậpmột lực lượngCSĐT

62

riêngđốivớicác tộiphạmvề tham nhũng nên ngày 15/12/2006Ủyban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 9 của Pháp lệnh tổchức ĐTHS. Theo đó khoản 1 Điều 9 Pháp lệnh tổ chức ĐTHS đượcsửa đổi như sau:Tổchức của Cơ quan CSĐT BCAgồmcó Cục CSĐTtộiphạmvề TTXH, Cục CSĐT tội phạm về tham nhũng, Cục CSĐT tội phạm vềTTQLKT & CV, Cục CSĐT tội phạm về ma túy và Văn phòng Cơ quan Cảnh sátđiềutra. [58].

Để thực hiện theo quy định của Pháp lệnh sửa đổi Điều 9 của Pháp lệnh tổchức ĐTHS, ngày 4/2/2010 BCA đã ban hành Quyết định số 447/QĐ-BCA quyđịnhchức năng, nhiệmvụ,quyềnhạnvàtổchứcbộmáycủaCục CSĐT tội phạm về tham nhũng. Như vậy, theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành thì

tổ chức của Cơ quan CSĐT BCA gồm các lực lượng sau: Cục CSĐT tội phạm vềTTXH; Cục CSĐTtộiphạmvềtham nhũng; Cục CSĐTtộiphạmvềTTQLKT & CV; Cục CSĐT tội phạm về ma túy và Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra.

– Tổ chức bộ máy của Cục CSĐT tội phạm về trật tự xã hội.

TheoĐiều3 Quyếtđịnhsố444/QĐ-BCA của BCA ngày 4/2/2010 quyđịnh về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy của Cục CSĐT tội phạm về TTXH thì Cục CSĐT tội phạm về TTXH do Cục trưởng chỉ huy, có 04 đến 05 Phó Cục trưởng. Bên cạnh đó, Cục CSĐT tội phạm về TTXH bao gồm 09 phòng nghiệpvụ,mỗiphòng do Trưởng phòngchỉhuy, cótừ03đến04 PhóTrưởng phòng. Chức năng, nhiệmvụ,quyềnhạnvàtổchứcbộmáycủacác phòng do Cục trưởng Cục CSĐT tội phạm về TTXH đề xuất, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm quyết định sau khi trao đổi với Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân [15].

– Tổ chức bộ máy của Cục CSĐT tội phạm về tham nhũng

Điều 3 Quyết định số 447/QĐ-BCA của BCA ngày 4/2/2010 quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy của Cục CSĐT tội phạm về

63

tham nhũng quy định: Cục CSĐT tội phạm về tham nhũng do Cục trưởng chỉhuy, có 04 đến 05 Phó Cục trưởng. Cơ cấu tổ chức gồm 8 phòng nghiệp vụ, mỗiphòng do Trưởng phòngchỉhuy, cótừ03đến04 Phó Trưởng phòng. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổchức bộmáy của các phòng do Cục trưởng Cục CSĐTtộiphạmvềtham nhũngđềxuất, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm quyết định sau khi traođổi với Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân [18].

– Tổ chức bộ máy của Cục CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục CSĐT tội phạmvềTTQLKT & CV cũngđược quyđịnhtại Quyếtđịnhsố445/QĐ- BCA ngày 4/2/2010. TheođóĐiều3(tổchức bộmáy) của Quyếtđịnh 445/QĐ-BCA quy định: Cục CSĐTtộiphạmvềTTQLKT & CV do Cục trưởng chỉ huy, có 04đến05 Phó Cục trưởng. Bộmáy Cục CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV gồm có 11 phòng nghiệp vụ, mỗi phòng do Trưởng phòng chỉ huy, có từ 03 đến 04 Phó Trưởng phòng. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vàtổchức bộmáycủacác phòng do Cục trưởng Cục CSĐTtộiphạmvềTTQLKT & CVđềxuất, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tộiphạm quyếtđịnhsau khi traođổi, thống nhấtvớiTổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân.

– Tổ chức bộ máy của Cục CSĐT tội phạm về ma túy

Theo Điều 3 Quyết định số 446/QĐ-BCA của BCA ngày 4/2/2010 quyđịnh về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy của Cục CSĐT tội phạm vềma túy thì Cục CSĐTtộiphạmvềma túy do Cục trưởngchỉhuy, có 04đến 05 Phó Cục trưởng. Bộ máy tổ chức của Cục CSĐT tội phạm về ma túy baogồm7 phòng nghiệp vụ, mỗiphòng do Trưởng phòngchỉhuy, có từ 03 đến04 Phó Trưởng phòng. Chức năng, nhiệmvụ,quyềnhạnvà tổchức bộmáy của các Phòng thuộc Cục CSĐT tội phạm về ma túy do Cục trưởng Cục CSĐTtộiphạmvềma túyđềxuất, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát

64

phòng, chống tội phạm quyết định sau khi trao đổi với Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân.

– Tổ chức bộ máy của Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an

Tổchức bộmáy của Văn phòng cơ quan CSĐTđược quyđịnhtại

Quyếtđịnh số451/2010/QĐ – BCA ngày 04/2/2010 doBộ trưởngBCA ban hành. Theođó,Văn phòng Cơ quan CSĐT BCA do Chánh Văn phòng (Cục trưởng) phụ trách, có 03 Phó Chánh Văn phòng (Phó Cục trưởng). Tổ chức bộ máy của Văn phòng Cơ quan CSĐT BCAgồmcó 6 phòng nghiệpvụvà 02 trạitạmgiam. Mỗi phòng, Trạitạmgiam do Trưởng phòng, Giámthịphụtrách và có 03 Phó Trưởng phòng, Phó Giám thị giúp việc. Chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và tổ chức các Phòng và Trạitạmgiam do Chánh Văn phòng Cơ quan CSĐT BCAđề xuất, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng chốngtộiphạm quyếtđịnhsau khiđã traođổi, thống nhấtvớiTổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân.

Như vậy, hiện nay tổ chức bộ máy của Cơ quan CSĐT BCA chú trọng sựchuyên sâu trong phân công thẩm quyềnđiềutra các loạitộiphạm. Đặc biệt, do tính chất nguy hiểm của tộiphạm tham nhũng nên nhà nước ta đã thành lập lực lượng CSĐT tội phạm về tham nhũng.

2.1.1.2. Tổ chức của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh

Điều9 Pháp lệnhtổchức ĐTHS quyđịnh:“Tổchức của Cơ quan CSĐT CAcấptỉnhgồmcó Phòng CSĐTtộiphạmvềTTXH, Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV, Phòng CSĐT tội phạm về ma tuý và Văn phòng Cơ quan CSĐT” [66]. Như vậy, so sánh với Cơ quan CSĐT Bộ Công an thì

Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh không có lực lượng chuyên trách điều tra tội phạm về tham nhũng mà lực lượng này được cơ cấu thành một bộ phận nằm trong Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV. Sauđâychúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể hơn về các lực lượng trong Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh.

– Tổ chức bộ máy của Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội.

65

Tổchức bộmáy của Phòng CSĐTtộiphạmvềTTXHđược quyđịnh trong Quyết định số 10952/QĐ-X11 ngày 24/12/2010 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Phòng CSĐT tội phạm về TTXH thuộc CA cấp tỉnh (gồm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Theo đó, tại Điều3 của quyếtđịnh10952/QĐ-X11 thì Phòng CSĐTtộiphạmvềTTXH do Trưởng phòng chỉ huy, có từ 02 đến 03 Phó Trưởng phòng giúp việc. Tổchức bộmáy của Phòng CSĐTtộiphạmvềTTXHgồm05độinghiệp vụ. Tuy nhiên, tùy theo tình hình thực tế một số địa phương có thể thành lập thêm mộtsốđộinghiệp vụ, điểnhình như trong quyếtđịnh10952/QĐ-X11 quyđịnh Phòng CSĐT tội phạm về TTXH Công an thành phố Hồ Chí Minh thành

lập 09 đội nghiệp vụ, Phòng CSĐT tội phạm về TTXH Công an thành phố HàNội thành lập 12 đội nghiệp vụ.

Nhiệm vụ, tổchức của các Độido Trưởng phòng Phòng CSĐT tội phạmvềTTXH phốihợpvớiTrưởng phòng Phòngtổchức cánbộđề xuất, Giám đốc CA cấp tỉnh quyết định.

– Tổ chức bộ máy của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về TTQLKT & CV.

Tổchức bộmáy của Phòng CSĐTtộiphạmvềTTQLKT & CVđược quyđịnhtrong Quyếtđịnhsố10953/QĐ-X11 ngày 24/12/2010 quyđịnhvềchức năng, nhiệm vụ, quyềnhạnvà tổchức bộmáy của Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV (gồm tỉnh, TP trực thuộc Trung ương). Theo đó, tại Điều 3 của quyết định này thì Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV do Trưởng phòng chỉ huy, có từ 02 đến 03 Phó trưởng phòng giúp việc.

Tổ chức bộ máy của Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV cơ bản gồm06độinghiệp vụ. Tuy nhiên, tùy theo tình hình thựctế mộtsốđịa phương có thể thànhlậpthêmmộtsốđộinghiệp vụ. Điểnhình như Phòng CSĐTtộiphạmvềTTQLKT & CV Công an TP.Hồ Chí Minh thànhlập10độinghiệp vụ, Phòng CSĐTtộiphạmvềTTQLKT & CV Công an TP. HàNội thành lập 12 đội nghiệp vụ.

66

Điềucần lưu ý là do Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh không có Phòng CSĐT tội phạm về tham nhũng. Chính vì vậy, trong tổ chức của Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV có Đội điều tra tội phạm về tham nhũng điều tra chuyên trách về loại tội phạm này.

Ngoài ra, Điều3 Quyếtđịnhsố10953/QĐ-X11 cũng quyđịnhnhiệm vụ, tổ chức của các Đội do Trưởng phòng Phòng CSĐT tội phạm vềTTQLKT & CV phốihợpvớiTrưởng phòng Phòngtổchức cánbộđề xuất, Giám đốc CA cấp tỉnh quyết định.

– Tổ chức bộ máy của Phòng CSĐT tội phạm về ma tuý

Tổchức bộmáy của Phòng CSĐTtộiphạmvềma túyđược quyđịnh trong Quyết định số 10954 /QĐ-X11 ngày 24/12/2010 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Phòng CSĐT tội phạm về ma túy (thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Theo đó tại Điều 3 của quyết định này thì Phòng CSĐT tội phạm về ma túy do Trưởng phòng chỉ huy, có từ 02 đến 03 Phó trưởng phòng giúp việc. Tổ chức bộ máy của Phòng CSĐT tội phạm về ma túy gồm 05 đội nghiệp vụ. Tuy nhiên, tùy theo tình hình thực tế mộtsốđịa phương cóthểthànhlậpthêm hoặc bớtmộtsốđộinghiệp vụ.

Nhiệm vụ, tổ chức của các Đội thuộc Phòng CSĐT tội phạm về ma túy do Trưởng phòng Phòng CSĐTtộiphạmvềma túy phốihợpvớiTrưởng phòng Phòng tổ chức cán bộ đề xuất, Giám đốc CA cấp tỉnh quyết định.

– Tổ chức bộ máy của Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh

Theo Quyết định số 10951/QĐ–X11 ngày 24/12/2010 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Văn phòng Cơ quan CSĐT CA cấp tỉnh (gồm CA tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) thì Văn phòng Cơ quan CSĐT CAcấptỉnh do Chánh Văn phòng (Trưởng phòng) phụ trách, có 02 đến 03 Phó Chánh Văn phòng (Phó Trưởng phòng) giúp việc. Tổ chức bộmáygồmcó 03 đội nghiệpvụ.Nhiệmvụ, tổchức của các Đội do Chánh văn phòng Cơ quan CSĐT CAcấptỉnh phối hợp với Trưởng phòng Phòng tổ

67

chức cán bộ đề xuất, Giám đốc CA tỉnh quyết định.

2.1.1.3. Tổ chức của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện

Theo Pháp lệnhtổchức ĐTHS (khoản 2Điều9) thì mô hìnhtổchức củaCơ quan CSĐT Công ancấphuyện bao gồm:Đội CSĐTtộiphạmvềTTXH, Đội CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV, Đội CSĐT tội phạm về ma tuý và bộ máy giúp việc Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Tuy nhiên, tình hìnhtộiphạm nói riêng và trậttựan toàn xãhộinói chungởmỗiđịaphương làrấtkhác nhau, có những huyện thuộc tỉnh hầu như một năm không xảy ra vụ phạm tội nào về kinh tế hay ma túy nhưng ởnhững trung tâm kinhtếnhư thànhphốHà Nội, TP.Hồ Chí Minh thì các quận lại xảy ra rất nhiều tội phạm (cả hình sự, kinh tế và ma túy). Chính vìvậy, mô hìnhtổchứccủaCơ quan CSĐT Công ancấphuyện khôngthểgiống nhau. Trên cơ sở đó căn cứ vào tình hình thực thế của địa phương, Bộtrưởng BCA giao Giámđốc CAcấptỉnh quyếtđịnhcụthểsốđộicủaCơquan CSĐT Công an cấp huyện trong địa phương mình phụ trách.

2.1.2. Quy định của pháp luật về thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra

Thẩm quyền điều tra của các CQĐT được quy định tại Điều 110 Bộ luật TTHS 2004. Theo nội dung quy định trong điều luật này, CQĐT được tổ chức trong CAND, trong Quân đội nhân dân và ở VKSND tối cao. Theo đó, thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT được xác định tùy thuộc vào từng cấp.

2.1.2.1. Thẩm quyềnđiềutracủaCơ quan Cảnh sátđiềutra Công an cấp huyện.

-Vềphân cấp:Bộluật TTHS quyđịnh:Cơ quanđiềutra cấphuyện điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện [73, tr.87]. Mặt khác, Điều 170 Bộ luật TTHS quy địnhvềthẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện như sau: Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội

68

phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạmrấtnghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây:

+ Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

+ Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

+ Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự [73].

Trên cơ sở quy định của Bộ luật TTHS về thẩm quyền như trên có thểxác địnhphân cấp thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện như sau: Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện điều tra những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quyđịnh tại các chương từ Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật hình sự, trừnhữngtộiphạm thuộc thẩm quyềnđiềutracủaCơ quan An ninhđiềutra trong Công an nhân dân và CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Như vậy, Cơ quan CSĐT Công ancấphuyệnđiềutra cáctộiphạm quyđịnh tại: Chương XII (Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dựcủacon người),Chương XIII (Cáctộixâm phạm quyềntựdo, dânchủcủa công dân), Chương XIV (Các tội xâm phạm sở hữu), Chương XV (Các tội xâm phạmchếđộhôn nhân và gia đình), Chương XVI (Cáctộixâm phạm trậttựquản lý kinh tế), Chương XVII (Cáctộiphạmvềmôi trường), Chương XVIII (Các tội xâm phạm về ma túy), Chương XIX (Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trậttựcông cộng), Chương XX (Cáctộixâm phạm trậttựquản lý hành chính), Chương XXI (Cáctộiphạmvềchức vụ), Chương XXII (Cáctộixâm phạm hoạtđộngtư pháp) khi các tội phạmđókhông phải là tội phạmđặcbiệt nghiêm trọng (không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện).

Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện không tiến hành điều tra tấtcả các tội phạm thuộc các chương trên vì theo quy định của Bộ luật TTHS nếucác tộiphạm thuộc các chương trên mà thuộc thẩm quyềnđiềutra của CQĐT thuộc VKSND tối cao và Cơ quan An ninh điều tra thì Cơ quan CSĐT

69

không được tiến hành điều tra.

Để làmrõ quy định này, tại khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 18 Pháp lệnhtổchức ĐTHS quyđịnhvề thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan An ninhđiều tra và CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao như sau:

+ Do tính chất của các tội phạm liên quan đến lĩnh vực an ninh quốc gia nên pháp luật TTHS giao Cơ quan An ninh điều tra CAcấptỉnh điều tra các vụ ánhình sự về các tội phạm quy định tại: Chương XI (Các tội xâm phạm an ninh quốc gia), Chương XXIV (Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh), Điều180 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả), Điều181 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấytờ có giá giả khác), Điều221 (Tội chiếmđoạttàu bay, tàu thủy),Điều222 (Tộiđiềukhiển tàu bay vi phạm các quyđịnhvề hàng không của nướcCộng hòa xã hộichủnghĩa Việt Nam), Điều 223 (Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Điều 230 (Tội chế tạo, tàng trữ, vậnchuyển, sửdụng, mua bán trái phép hoặc chiếmđoạtvũ khí quân dụng, phương tiệnkỹthuật quân sự), Điều230a (Tội khủng bố),Điều230b (Tội tài trợ khủng bố), Điều231 (tội phá hủycông trình, phương tiện quan trọngvề an ninh quốc gia), Điều232 (Tội chế tạo, tàng trữ, vậnchuyển, sửdụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ), Điều 236 (Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếmđoạtchất phóng xạ), Điều 263 (Tội cố ý làmlộ bí mậtnhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước), Điều 264 (Tội vô ý làmlộ bí mậtnhà nước, tội làmmấttài liệu bímậtnhà nước), Điều274 (Tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép;tộiở lạiViệt Nam trái phép), Điều275 (Tộitổchức, cưỡngép người khác trốn đinướcngoài hoặc ởlạinướcngoài trái phép), khi các tộiphạm trên thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh.

+ Cơ quan điều tra VKSND tối cao điều tra các vụ án hình sự về một số

70

loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tộiphạmđóthuộc thẩm quyền xétxửcủa Tòa án nhân dân.

-Về phân công: Xuất phát từ tổ chức của Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện, để phân định rõ thẩm quyền điều tra của các lực lượng trong Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện, ngày 07 tháng 7 năm 2014 BCA đã ban hành Thông tư 28/2014/TT-BCA quy định về công tác điều tra hình sự trong CAND. Theođó, thẩm quyền điều tra của các hệ lực lượng điều tra trong Cơ quan CSĐT CA cấp huyện được phân công như sau:

+ Đội CSĐT tội phạm về TTXH: Tiến hành điều tra cácvụ ánhình sựchưa rõ đối tượng phạm tội và các vụ án hình sự đã rõ đối tượng phạmtộido tự phát hiện về các tội phạm quy định tại các Chương XII (Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người), Chương XIII (Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân), Chương XIV (Các tội xâm phạm sở hữu), Chương XV (Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình), Chương XIX (Các tộixâm phạm an toàn công cộng, trậttựcông cộng),

Chương XX (Các tộixâm phạm trậttựquản lý hành chính), Chương XXII (Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp) của Bộ luật hình sự năm 1999 khi các

tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyềnđiềutra của CQĐT VKSNDtốicao và Cơ quan An ninhđiềutra trong Công an nhân dân, độiCSĐTtộiphạmvề TTQLKT & CV Công an cấp huyện).

+ Đội CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV:Tiến hành điều tra các vụ án hình sự chưa rõ đối tượng phạm tội và các vụ án hình sự đã rõ đối tượng phạm tội do tự phát hiện về các tội phạm quy định tại các Chương: XVI (Các tội xâm phạm trậttựquản lý kinh tế), XXI (Cáctộiphạmvềchức vụ), cácđiều 139,140, 141, 142, 143, 144, 145 Chương XIV (trong trườnghợpđốitượng phạmtộilợi dụng tư cách pháp nhâncủacơ quan,tổchức, doanh nghiệp,lợi

71

dụng việc ký kết hợp đồng kinh tế để phạm tội) của Bộ luật hình sự năm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện.

+ Đội CSĐT tội phạm về ma tuý: Tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XVIII (các tội phạm về ma túy) của Bộ luật hình sựnăm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện.

+ Đội điều tra tổng hợp: Tiến hành điều tra các vụ án hình sự đã rõ đối tượngphạmtộithuộc thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện (trừ các tội phạm về ma túy) do tự phát hiện và do các cơ quan, đơnvịkhác chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện.

2.1.2.2. Thẩm quyềnđiềutracủaCơ quan Cảnh sátđiềutra Công an cấp tỉnh

-Vềphân cấp:Bộluật TTHS quyđịnhvềthẩm quyềnđiềutra của CQĐT CA cấp tỉnh như sau: CQĐT cấp tỉnh điều tra những vụ án hình sự vềnhững tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh hoặc những vụán thuộc thẩm quyềnđiềutra của CQĐTcấpdướinhưng xét thấycầntrực tiếp điều tra [74].

Để cụ thể hóa quy định trên của Bộ luật TTHS, tại khoản 2 Điều 11 Pháp lệnhtổchức ĐTHS quyđịnh:Cơ quan CSĐT CAcấptỉnhđiềutra cácvụán hìnhsựvềcáctộiphạm quyđịnhtạicác chươngtừChương XIIđếnChương XXIIcủaBộluật hìnhsựkhi cáctộiphạmđóthuộc thẩm quyền xétxửcủa TANDcấptỉnh hoặc cáctộiphạm thuộc thẩm quyềnđiềutracủaCơ quan CSĐT CA cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Quy định trên cho thấy Cơ quan CSĐT CA cấp tỉnh có thẩm quyền điều tra cáctộiphạm giống như thẩm quyềnđiềutracủaCơ quan CSĐT CA cấp huyện nhưng cóđiểmkhác là cáctộiphạmđóthuộc thẩm quyền xétxửcủa TAND cấp tỉnh và được phép điều tra cả những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

– Về phân công:Để phân định rõthẩm quyền điều tra của các lực lượng

72

trong Cơ quan CSĐT CAcấptỉnh, Thông tưsố28/2014/TT-BCA ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Bộ Công an quy định về công tác điều tra hình sự trong CAND đã phânđịnh thẩmquyềnđiềutra của các hệ lực lượng điều tra trong Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh như sau:

+ Phòng CSĐT tội phạm về TTXH: Tiến hành điều tra các vụ trọng án; cácvụán hìnhsựchưa rõđốitượngvà các vụán hìnhsựđã rõđốitượng phạm tội do tự phát hiện về các tội phạm quy định tại các Chương: XII, XIII, XIV, XV, XIX, XX, XXII của Bộ luật hình sự năm 1999 khi các tội phạmđóthuộc thẩm quyền xétxửcủa TAND cấptỉnh (trừ các tộiphạm thuộc thẩm quyềnđiềutra của CQĐT của VKSNDtốicao, Cơ quan An ninhđiềutra trong CAND, phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV); các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT CAcấphuyện (đội CSĐT tội phạm về TTXH) nhưng Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh xét thấy cần trực tiếp điều tra.

+ Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV: Tiến hành điều tra các vụán hình sự chưa rõ đối tượng phạm tội và các vụ án hình sự đã rõđối tượng phạm tội do tự phát hiện về các tội phạm quy định tại Chương XVI, Chương XXI, các điều139, 140, 141,142, 143, 144, 145 Chương XIV (trong trường hợpđốitượngphạmtộilợidụng tư cách pháp nhân của cơ quan, tổchức, doanh nghiệp lợi dụng việc ký kếthợpđồng kinh tế để phạm tội) của Bộ luật hìnhsựnăm 1999 khi các tộiphạmđóthuộc thẩm quyền xétxửcủa TAND cấptỉnh; các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an cấphuyện(độiCSĐTtộiphạmvề TTQLKT & CV) nhưngThủtrưởng Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh xét thấy cần trực tiếp điều tra.

+ Phòng CSĐT tội phạm về ma tuý: Tiến hành điều tra các vụ án hình sựvề các tội phạm quy định tại Chương XVIII của Bộ luật hình sự năm 1999 khi các tội phạmđóthuộc thẩm quyền xét xử của TANDcấptỉnh; các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện (đội CSĐT

73

tội phạm về ma túy) nhưng Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Ngoài ra, thông tư 28/2014/TT-BCA cũng quyđịnhvề quyềnhạncủa Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh, trong đó có một quyền hạn là:

“Tiếnhànhđiềutra các vụán hìnhsựđãrõđốitượngphạmtộithuộc thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh do tự phát hiện và do các cơ quan, đơn vị khác chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh (trừ các tội phạm về ma túy và các vụ trọng án); các tội phạm thuộc thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan CSĐT Công ancấphuyện(độiĐiềutra tổng hợp) nhưngThủtrưởng Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh xét thấycầntrực tiếp điều tra”. Nhưvậy, Văn phòng Cơ quan CSĐT cũng là lực lượng có thẩm quyền điều tra một số tội phạm.

2.1.2.3. Thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an

-Vềphân cấp: Bộluật TTHS (Khoản 4Điều110) quy định: Cơ quanđiềutracấptrung ương (cấp Bộ) điềutra nhữngvụán hìnhsựvềnhững tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Khoản 3Điều11 Pháp lệnhtổchức ĐTHS quyđịnh:Cơ quan CSĐT Bộ Công anđiềutra cácvụán hìnhsựvề nhữngtộiphạmđặc biệt nghiêm trọng, phức tạpthuộc thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếpđiềutra.

Như vậy, Cơ quan CSĐTBộ Công anđượcphâncấpđiềutra cácvụán hình sự thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT CA cấp tỉnh khi các vụ án hìnhsựđóvềnhữngtộiphạmđặcbiệt nghiêm trọng, phức tạp. Theo khoản 3Điều 8 Bộ luật hình sự thì “tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”. Tuy nhiên, như thế nào làtội phạm “phức tạp” thì Bộ luật hình sự không quy định, giải thích.

74

-Vềphân công: Thông tưsố28/2014/TT-BCA ngày 07 tháng 7 năm 2014 của BCA đã phân định rõ thẩm quyền điều tra của các hệ lực lượng điều tra trong Cơ quan CSĐT Bộ Công an như sau:

+ Cục CSĐT tội phạm về TTXH: Tiến hành điều tra các vụ án hình sự vềcác tộiphạm quy định tại các chương XII, XIII, XIV, XV, XIX, XX, XXII của Bộluật hìnhsựnăm 1999 thuộc thẩm quyềnđiềutracủaCơ quan CSĐTBộCông an(trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ) do trực tiếp phát hiện thông quađấutranh chuyên án hoặc trong các chuyên áncủaphòng CSĐTtộiphạmvềTTXH Công an cấp tỉnh chuyển lên do gặp khó khăn trong việc phá án.

+ Cục CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV: Tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XVI, Mục B Chương XXI, cácđiều139, 140, 141, 142,143, 144, 145 Chương XIV (trong trườnghợpđối tượng lợi dụng tư cách pháp nhân của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ký kết hợp đồng kinh tế để phạm tội) và Điều 251 Bộ luật hình sự năm 1999 thuộc thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan CSĐTBộCông an do trực tiếp phát hiện thông qua đấu tranh chuyên án hoặc trong các chuyên án của phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV Công an cấp tỉnh chuyển lên do gặp khó khăn trong việc phá án.

+ Cục CSĐT tội phạm về ma tuý: Tiến hành điều tra các vụ án hình sựvề nhữngtộiphạmđặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, nhữngvụán liên quanđếnnhiềuđịaphương hoặc cóyếutốnước ngoài thuộc thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh quy định tại Chương XVIII Bộ luật hình sự năm 1999 nhưng Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Bộ Công an xét thấycầntrực tiếp điều tra.

+CụcCSĐTtộiphạmvề tham nhũng: Tiến hànhđiềutra các vụán hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyềnđiều tra của Cơ quan CSĐT CAcấptỉnh quy định tại mục A Chương XXI của

75

Bộluật hìnhsựnăm 1999 nhưng xét thấycầntrực tiếpđiềutra và các tội phạm khác theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Bộ Công an.

+ Văn phòng Cơ quan CSĐT: Tiến hành điều tra các vụ án hình sự đã rõđốitượng phạm tội về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quanđến nhiều địa phương hoặc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh (trừ các tội phạm về ma túy) nhưng Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Bộ Công an xét thấy cần trực tiếp điều tra; các vụ án hình sự đãrõ đối tượng phạm tội quy định tại Chương XVII, các điều 224, 225, 226, 226a, 226b, 244 của Bộ luật hình sự năm 1999 thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Bộ Công an do các cơ quan, đơn vị khác chuyển đến.

Như vậy, cũng giống như Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh, Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an cũng là lực lượng có thẩm quyềnđiềutra một sốtội phạm khi được Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Bộ Công an giao.

2.1.3. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về người tiến hành tố tụng trong Cơ quan Cảnh sát điều tra

2.1.3.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về Thủ trưởng, Phó Thủtrưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra.

a. Quy địnhcủapháp luật tốtụng hìnhsựvềnhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơquan Cảnh sát điều tra

Điều34Bộluật TTHS quyđịnhvềnhiệm vụ, quyềnhạnvà trách nhiệm của Thủtrưởng, PhóThủtrưởng CQĐT. Do đó, trên cơsởquyđịnh của điềuluật này cóthểxác địnhnhiệm vụ, quyềnhạnvà trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT như sau:

– Quy địnhcủapháp luật TTHSvềnhiệm vụ, quyềnhạncủaThủtrưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra.

+ Về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra.

76

Thủtrưởng cơ quan CSĐT là mộtchức danhtốtụng. Theonộidung quy định tại Điều 34 Bộ luật TTHS thì nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trưởng Cơ quan CSĐT có 2 nhóm sau:

* Nhóm nhiệm vụ, quyềnhạncủa ngườiđứngđầuCơ quan Cảnh sátđiều tra:

Với tư cách là người đứng đầu Cơ quan CSĐT trong TTHS, theo khoản 1 Điều 34 Bộ luật TTHS thì Thủ trưởng Cơ quan CSĐT có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:

Trực tiếptổchức vàchỉđạocác hoạtđộngđiềutracủaCơ quan CSĐT: Vớitư cách là ngườiđứngđầuCơ quan CSĐT, Thủtrưởng Cơ quan CSĐT trực tiếpđiềuhành vàchỉđạochung các hoạtđộngđiềutra củacácĐTV trong Cơ quan CSĐT, đề ra yêu cầu điều tra để ĐTV thực hiện, xác định nội dung các hoạt động điều tra và trình tự giải quyết các nội dung đó. Phân công các lực lượng, phương tiện cũng như tính toán hợp lý các hoạt động điều tra nhằm hoàn thành nhiệm vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Quyết định phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT, ĐTV trong việcđiều tra vụ án hình sự: Tùy tính chất nghiêm trọng và phức tạp của tội phạm, Thủ trưởng Cơ quan CSĐT cóthểphân công vụ án cho một ĐTV hoặc một nhóm ĐTV tiến hành điều tra. Thông thường đối với những vụ án hình sự ít nghiêm trọng, đã rõ đối tượng và chứng cứ thì do một ĐTV tiến hành còn đối vớinhữngvụán hìnhsựphức tạp, liên quanđếnnhiềuđốitượng, địa bàn, khối lượng công việc điều tra nhiều thì phải có một tổ ĐTV tiến hành điều tra và Thủ trưởng Cơ quan CSĐT sẽ phân công một ĐTV làm tổ trưởng.

Kiểm tra các hoạt động điều tra của Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT vàĐTV: Vớitư cách là ngườiđứng đầuCơ quan CSĐT và để hoàn thành nhiệm vụ được giao, đảm bảo cho các hoạt động điều tra khách quan, đúng pháp luật thì Thủ trưởng Cơ quan CSĐT có quyền kiểm tra các hoạt động điều tra của PhóThủtrưởng Cơ quan CSĐT và ĐTV. Đểthực hiện quyềnhạnnàyThủ

77

trưởng Cơ quan CSĐT có thể yêu cầu Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT, ĐTV báo cáo toàn bộ nội dung, diễn biến cũng như những tình tiết khác của vụ án

hoặc trực tiếp kiểm tra hồ sơ vụ án…

Quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT và ĐTV: Khi có căn cứ xácđịnh các quyết định của Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT và ĐTV là trái pháp luật thì Thủ trưởng Cơ quan CSĐT có quyền thay đổi hoặc hủy bỏ các quyếtđịnh đó nhằm làm cho hoạt động điều tra đúng đắn, khách quan.

Quyếtđịnhthay đổiĐTV: Trong những trườnghợpdo luậtđịnhThủtrưởng Cơ quan CSĐT có quyền thay đổi ĐTV nhằmđảmbảosự khách quan cho quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Giải quyết khiếu nại, tốcáo thuộc thẩm quyềncủaCơ quan CSĐT: Khiếu nại, tốcáo là mộttrong những quyền cơ bảncủa công dân. Đặc biệt trong lĩnh vực TTHS, lĩnh vực liên quanđếnnhiều quyền và lợi ích của nhân dân thì quyền khiếu nại, tố cáo càng phải được coi trọng nhằm đảm bảo tính dân chủ, công khai cũng như yêucầucác cơ quan, ngườitiến hànhtốtụng phải thận trọng, khách quan. Chính vì vậy, Bộluật TTHS 2003 quyđịnh ngườicó thẩm quyền cao nhất trong Cơ quan CSĐT là Thủtrưởng Cơ quan CSĐT có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Theo quyđịnhcủa Bộluật TTHS, Thủtrưởng Cơ quan CSĐT cónhiệmvụgiải quyết khiếunạilầnđầuđốivớicác quyếtđịnhvà hành vitốtụng của Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT và ĐTV không do VKS phê chuẩn trong thời hạn 7 ngày. Đối với các quyết định và hành vi tố tụng của Phó Thủ

trưởng Cơ quan CSĐT và ĐTVbịtốcáo thìThủtrưởng Cơ quan CSĐT có nhiệm vụ giải quyết trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. Nếu phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 90 ngày.

* Nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của người trực tiếp điều tra vụ án:

78

Theo khoản 2 Điều 34 Bộ luật TTHS năm 2003, khi trực tiếp thực hiện việc điều tra vụ án hình sự, Thủ trưởng Cơ quan CSĐT có những nhiệm vụ vàquyền hạn sau:

Quyếtđịnhkhởitốvụán, khởitốbịcan; quyếtđịnhkhông khởitốvụán; quyết định nhập hoặc tách vụ án: Quyết định khởi tố, không khởi tố vụ án là một hành vi tố tụng. Khi có căn cứ theo luật định thì Thủ trưởng Cơ quan CSĐT có quyền ra các quyết định này. Khởi tố bị can được thực hiện khi cóđủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội. Việc khởi tốbị can phải chấp hành theo quy định tại điều 108 Bộ luật tố tụng hình sự.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *