chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay

Chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1.Sựcầnthiết của việc nghiên cứu đề tài

Biển được coi là lá phổi của trái đất,không gian sinh tồn của nhân loại trong tương lai. Biển chứa đựng và cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn, phong phú, phục vụ cuộc sống con người và phát triển kinh tế, quốc phòng của quốc gia ven biển. Vì thế, xu thế “tiến ra biển” để khai thác và làmchủbiển là chiếnlược vươn lên của các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn hiện nay.

Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, vùng biển rộng trên 1 triệu km2 gấp hơn ba

lần diện tích đất liền, phong phú về khoáng sản, hải sản; có gần ba nghìn đảo nổi, chìm nằm rải rácdọctheo bờbiển, hai quần đảoTrường Sa và Hoàng Sanằmgiữa BiểnĐông, án ngữtuyến hàng hải quốc tế,đồngthời tạo thành thế liên hoàn củacôngsựphòng thủ hoặc tấn công đánh chặn đối phương; thuận lợi cho việc áp dụng nghệ thuật quân sự phòng thủ quốc gia từ xa. Vì thế, biển Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong quốc phòng – an ninh và phát triển kinhtế đất nước.Tuy nhiên, biển Việt Nam nằmtrọn trong Biển Đông, chịu ảnh hưởng lớn từ các yêu sách về chủ quyền biển,đảo giữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông, tạo nên tình hình tranh chấp đa phươngvàsong phương, chứa đựng cả những mâu thuẫn về kinh tế, đối ngoại, quốc phòng và an ninh. Những mâu thuẫn đó luôn diễn ra phức tạp và gay gắt xoay quanh những vấn đề

lớn, đó là: các yêu sách và tranh chấp chủ quyền của đảo, bãi cạn; xác định quyền chủquyền và quyền tài phán trên biển; quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trên thềm lục địa… là những khó khăn, phức tạptrong quản lý, bảo vệ biển đảo,đòi hỏi Việt Nam cần tăng cường khả năng bảo vệ, quản lý biển,đảo của Tổquốc.

Bên cạnh đó,sựảnh hưởngcủa pháp luật quốc tế hiện đại,nhất là Côngước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 quy định mở rộng quyền tài phán quốc gia ven biển đối với các vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (EEZ) và thềm lục địa không vượt quá chiều rộng 350 hải lý, tính từđường cơsởcủa quốc gia ven biển. Các quốc giađã ý thức hơn về sựcần thiết phải xây dựng thể chế thực hiện quyền lực nhànướcđể quản lý khu vực ngoài khơi, tăngcườngkhả năng giám sát, bảo đảman ninh, an toàn hàng hải và thực thi pháp luật trên biển, đã thúc đẩy nhanh việc thành lập và sửdụng LLCSB như một thônglệ,xu hướng lớn với nhiều lý do về bảo vệ chủ quyền quốc gia, pháp luật, chính trị, kinh tế… trên biển của các quốc gia trong khu vực châuÁ và thế giới.

Từnhững tình hình trên,để tăngcườnghiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên biển. Năm 1998, LLCSB Việt Nam được thành lập, là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp

2

hành pháp luật của Việt Namvà điều ước quốctếcó liên quan mà CHXHCN Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam. Mặc dù LLCSB Việt Namđãhình thành và phát triển về nhiều phương diện trong 19 năm qua; kết quả hoạt độngcủa lực lượngđã góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển,đảo Việt Nam, giữ gìn ổn định an ninh, trật tự an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật trên biển. Tuy nhiên,trướctình hình tranh chấp về chủquyền, quyền chủquyền và quyền tài phán quốc gia ngày càng phức tạp và nhạy cảm, căng thẳng ngày càng leo thangởBiển Đông hiện nay; sựgia tăngvề năng lực,tổ chức của lực lượngthực thi pháp luật trên biển của các quốc gia trong khu vực Biển Đông theo hướngtăng sức mạnh đến “tiệmcận quân sự”,điều này đãlàm cho hiệuquảthực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam chưa cao, nhiệmvụ bảo vệan ninh,Tổ quốc chưa được như mong muốn. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về chức năng của các lực lượng quản lý, bảo vệ biển nói chung, chức năng của LLCSB Việt Nam nói riêng còn chưa nhiều vàtoàn diện. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: Ch c n ng c a l c lư ng C nh sát i n Việt Nam hiện nay” nhằm đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủquyền và quyền tài phán quốc gia; quản lý an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm thực thi pháp luật trên biển hiện nay là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứucủa luận án bao gồm: lý luậnvề chức năngcủaLLCSB Việt Nam (khái niệm, nội dung phương thức thực hiện, các yếutố ảnh hưởngđến việc thực hiện chức năng); thực trạng thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam; quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năngcủaLLCSB Việt Nam hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu của luận án: hệ thống hoá cũng như lý giải những vấn đề lý luận về chức năng của LLCSB ởmột số nước trên thế giới và Việt Nam hiện nay; nghiên cứu thực trạng thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam từ khi thành lập đến nay (1998-2016); đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong quá trình thực hiện chức năng này; xem xét những kinh nghiệm quốc tế có thể tham khảo trong quá trình thực hiện chức năng này ở Việt Nam; đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệuquảthực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam hiện nay.

3. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệmvụ đặt ra, luận án được thực hiện trên cơsởlý luận

khoa học và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vềNhà nước và pháp luật, các quan điểmcủa Đảngvà Nhà nước ta vềtổ chức và hoạtđộngcủa bộ máy Nhà nước;

3

Luậnán được thực hiệntrên cơsởvậndụng phương pháp duy vật biện chứng

của triết học Mác – Lênin kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau để làm rõ những nội dung nghiên cứu.

Phương pháp phân tích –tổng hợp để luận giải, làm sángtỏ những vấn đề lýluận và thực tiễn thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Phương pháp so sánh,thống kê được sửdụng để cung cấp các số liệu cần thiết,đối chiếu, so sánh, làm rõ các nội dung liên quan, đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật về tổchức và hoạt động của LLCSB Việt Nam cũng nhưlịch sửphát triển của nó; so sánh với việc thực hiện chức năng của LLCSB ở một số nước khác trên thế giới để tìm ra kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam.

Phương pháp lịch sử-cụ thể được sửdụngđể phân tích, đánh giá, bình luận thực trạng chức năng, tổ chức của LLCSB Việt Namtừkhi được thành lập đến nay.

Phương pháp khái quát hoá được sử dụng để rút ra kết luận về những vấn đề cótính chất chung, bao quát như thành tựu của các công trình nghiên cứu liên quan đếnđề tài luận án, những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam hiện nay.

Phương pháp khảo sát thực tế được sử dụng để góp phần tổng kết thực tiễn vềthực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam hiện nay.

Phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn cũngđược sửdụng trong luận án để đưa ra những bình luận, quan điểm, kết luận về những nội dung nghiên cứu.

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Thông qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chức năng của LLCSB nói chung, LLCSB Việt Nam hiện nay nói riêng, luận án đặtmục đích lànghiên cứu toàn diện chức năng của LLCSB Việt Nam hiện nay. Trong đó, luận ánchỉra lý luận cơ bản về chức năng của LLCSB Việt Nam hiện nay; đánh giá thực trạng xác định chức năng và thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam thời gian qua; tham khảo kinh nghiệm thực hiện chức năng của LLCSB ở một số nước trên thế giới và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

– Phân tích, luận giải, làm sáng tỏ nhữngvấnđề lý luận cơ bản vềchức năng của LLCSB Việt Nam: khái niệm,đặcđiểm,nội dung, phương thức chức năng; các yếutố ảnh hưởngđến việc thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam.

4

– Đánh giá khách quan, toàn diện, có hệ thốngvề thực trạng thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam thời gian qua nhằm làm rõ thành tựu và tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu và tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam.

– Đề xuất các giải pháp cơ bản cho việc thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam thời gian tới, nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước vềbiển hiện nay.

5. Những điểm mới của luận án

Luận án là công trình nghiêncứukhoahọcđầutiên nghiêncứutoàn diện, cóhệ thống về chức năng của LLCSB Việt Nam, có những đóng góp mới về khoa học như sau:

Thứnhất, luận án đã hệ thống hoá và xây dựng lý luận về chức năng của LLCSB Việt Nam: khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương thức thực hiện và các yếu tố ảnh hưởngđến việc thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam hiện nay.

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chức năng, qua đó chỉ ra những ưu điểm,hạn chế trong việc chức năng của LLCSB Việt Nam, xác định được những nguyên nhân cơbản dẫn đến nhữngthành tựu và hạn chế đó.

Ba là,đề xuất việc pháp điển hoá các quy định của pháp luậtvề LLCSB Việt Nam theo hướngnâng giá trịpháp lý củaPháp lệnh LLCSB Việt Nam thành Luật Cảnh sát biển Việt Nam.

Bốn là,đề xuất đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, quản lý an ninh, trật tự,an toàn của LLCSB Việt Nam trong bối cảnh tình hình Biển Đông và yêu cầu của pháp luật quốc tế hiện nay.

Năm là, đề xuất xây dựng mô hình LLCSB Việt Nam theo hướng hợp nhất một số lực lượng thực thi pháp luật trên biển hiện nay, đáp ứng yêu cầu, nhiệmvụtrong tình hình Biển Đông hiện nay.

Sáu là, làm rõ hơn các quy định của pháp luật và thực trạng về hợp tác quốc tếgiữa LLCSB Việt Nam với các lực lượng chức năng bảo vệ bờ biển các quốc gia trong khu vực và trên thế giới,đề xuấtgiải pháp về hợp tác quốctế củaLLCSB Việt Nam trong tình hình Biển Đông hiện nay.

5

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

– Về mặt lý luận:

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và hoàn thiện lý luận về chức năng của Nhà nước nói chung và chức năng của cơ quan nhà nước nói riêng. Có giá trịtham khảo trong quá trình điều chỉnh chức năng lực lượngquản lý bảo vệ biển,đảo, góp phần bảo vệ vững chắc, toàn vẹn chủ quyền biển, đảo; nâng cao hiệu quả quản lýan ninh trật tự, an toàn và bảo đảm thực thi pháp luật trên biển của LLCSB Việt Nam hiện nay.

– Về mặt thực tiễn:

Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học tập trong các cơsởđàotạo luật, nhà trường trong quân đội;việc địnhhướng cho LLCSB Việt Nam triển khai thực hiện chức năng, nhiệmvụ của mình đầy đủ và đạt hiệu quảcao hơn.

Kết quả nghiêncứu củaluận án góp phần giúp Chính phủ, Bộ Quốc phòng chỉđạo LLCSB Việt Nam và các lực lượng quản lý trên biển thực hiện tốt chức năng quản lý an ninh, trật tự, an toàn,đảmbảo chấp hành pháp luật Việt Nam cũng như các điềuước quốc tế mà Việt Nam là thành viên trong thời gian tới.

7.Kết cấucủa luận án

Ngoài phần mởđầu,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án. Chương 2: Những vấn đềlý luậnvề chức năng của lựclượngCảnh sát biển

Việt Nam.

Chương 3: Thực trạng xác định và thực hiện chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.

Chương 4: Nhu cầu, quan điểm, giải pháp xác định và thực hiện hiệu quả chức năng của lực lượng Cảnh sát Biển Việt Nam giai đoạn hiện nay.

6

CHƢƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Những công trình nghiên cứu về tổ chức lực lƣợng Cảnh sát biển

1.1.1. Những công trình khoa học nước ngoài nghiên c u về tổ ch c c a l c lư ng C nh sát i n

1.1.2. Những công trình khoa học trong nước nghiên c u vềtổ ch c l c lư ng C nh sát i n

1.2. Những công trình nghiêncứuvề chức năng và thực hiện chức năng của lực

lƣợng Cảnh sát biển

1.2.1. Những công trình khoa học nước ngoài nghiên c u về ch c n ng và th c hiện ch c n ng c a l c lư ng C nh sát i n

1.2.2. Những công trình khoa học trong nước nghiên c uvề ch c n ng và th c hiện ch c n ng c a l c lư ng C nh sát i n

1.3. Những công trình nghiên cứu về cácyếu tố ảnhhƣởng đến chức năng của lực

lƣợng Cảnh sát biển

1.3.1. Những công trình khoa họcnướcngoài nghiên c u về cácyếu tố nhhưởngđến th c hiện ch c n ng c a l c lư ng C nh sát i n

1.4. Đánh giá chung về những công trình khoa học nghiêncứucó liên quanđến đề tài

1.4.1. Những nội dung đã nghiên c u về tổ ch c c a l c lư ng C nh sát i n

– Các công trình khoa học của các tác giả nước trong, ngoài nước nghiên cứu vềlực lượng bảovệ bờbiển đã chỉ ra tên gọicủalực lượng này có thể là khác nhau, tùy theo quan điểmcủa mỗiquốc gia trong xây dựng, phát triển lực lượng thực thi pháp luật trên biển. Trong đó, có thể xuất hiện các tên gọi quốc tế như: United States Coast Guard (USCG), Japan Coast Guard (JCG), Malaysian Maritime Enforcement Agency (MMEA), Singapore Police Coast Guard (SPCG)…, Qua nghiên cứu, các tác giả nước ngoài đã chỉ ra lực lượng bảo vệ bờ biển hay là LLCSB mang bản chất và nguyên tắc

tổ chức bộ máy của nhà nước đã sinh ra nó.Lực lượngnày có thể mang các đặc điểm của lực lượngvũ trang, “bán vũ trang”,“dân sự” .

Một số công trình đã chỉ rasựhạnchế bất cậpvề tổ chức của LLCSB và đặt ra yêu cầu,sựcần thiết phải cải tiến về cơ cấu, tổ chức phù hợp với nhu cầu thực tiễn của mỗi một quốc gia trong quản lý, bảo vệ biển.

Tuy nhiên, các công trình khoa học nêu trên chưa nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về bản chất, vai trò của LLCSB.

-Đối với các công trình khoa học trongnước,các tác giả đã đưa ra một cách nhìn tổng quát về lực lượng bảovề chủquyền, quản lý an ninh, trật tự, an toàn và thực thi pháp luật trên biển. Xác định lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo hiện nay bao gồm nhiều lực lượng: lực lượng vũ trang, dân sự, chính quyền địa phương ven biển…Trong đó,chuyên đề nghiên cứu xây dựng lực lượngPQS của Viện Chiến lược Bộ Quốc phòng đã nghiên cứuvề mô hình lực lượng PQS, mô hình cơchếphối hợp trong lực lượng PQS; nghiên cứu về tư tưởng, biên chế, phương tiện trang bị, cơsởvậtchất vàphát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu về công tác huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.

Một số công trình nghiên cứu trong nước mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những nội dung cần nghiên cứu tiếp đó là: 1/Vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức lực lượng PQS là lựa chọn mô hình phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của đất

19

nước.Cả hai mô hình: tổ chức lực lượng tập trungvà tổ chức lực lượng độc lập theo lĩnh vực chuyên ngành đều có ưu điểm,nhược điểm,cần nghiên cứu vận dụng phùhợp. 2/Biên chế lực lượng, trang bị phương tiện phù hợp để các lực lượng PQS cóđủkhả năng hoàn thành nhiệm vụ. 3/Cơ quan quản lý thống nhất và cơ chế quản lý,điều hành, phối hợp chặt chẽ các thành phần lực lượng PQS và giữa lực lượng PQS với lực lượngquân sự trong bảo vệ chủ quyền biển,đảo.

1.4.2. Những nội dung đã nghiên c u về ch c n ng và th c hiện ch c n ng c a l c lư ng C nh sát i n

– Công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho rằng LLCSB có nhiều chức năng, nhiệm vụ khác nhau; nhiều biện pháp thực hiện các nhiệmvụ giữgìn an ninh,trật tựtrên biển phong phú và hiệu quả; nhu cầu hợp tác quốc tế quản lý an ninh, trật tự, an toàn có vai trò rất qua trọng và cần thiết trong tương lai; chỉ ra một số khókhăn và thách thức nhất định của lực lượng này trong quá trình thực thi nhiệm vụ trong thực tiễn.Đặc biệt có công trình đã nghiên cứu khái lược về sựcần phải xây dựng chính sách đối ngoại riêng, LLCSB hoạt động trên các vùng biển nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia.

Tuy nhiên, phần lớn các tác giả đãnghiên cứu những nhiệmvụ cụ thể của LLCSB, chưa nghiên cứu chưa toàn diệnvề xác định chức năng và thực hiện chức năng. Đồng thời, chưa phân tích sâu được đặc điểm, vai trò, nhiệm vụ nòng cốt, chủ trìcủa LLCSB trong thực thi pháp luật bảo vệ chủ quyền, bảo đảman ninh, trật tự,an toàn trên biển.

– Công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước cũngđã làm rõ nguyên tắc quản lý theo chuyên ngành phải kết hợp chặt chẽ với quản lý theo địa giới hành chính. Chức năngbảovệ chủ quyền quốc gia và bảo đảmthực thi pháp luậtđược thể hiện thông qua hoạt động của các lực lượng chức năng thuộc cácbộ,ngành như: Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường… cùng với 28 tỉnh, thành phố ven biển, có trách nhiệm quản lý an ninh,trật tựan toàn trên biển theo phạm vi, lĩnh vực phân công. Đồng thời các công trình nghiên cứu nói trên cũng chỉ ra mộtsố tồntại củacơ chế phối hợp hoạtđộnggiữa các lực lượngchức năng trong thực hiện nhiệm vụ quản lý an ninh trật tự, an toàn và bảo đảm thực thi pháp luật trên biển. Ngoài ra, các công trình khoa học đã giải quyết tương đối hoàn chỉnh các vấn đề của hoạt độngkiểm tra, kiểm soát trên biển của LLCSB Việt Nam; các vấn đề về thẩmquyền xử phạt vi phạm hành chính và hoàn thiện pháp luật về xửphạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền của LLCSB Việt Nam.

20

Tuy nhiên, các tác giả mới đã nghiên cứu về nguyên tắc và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của LLCSB Việt Nam trong giai đoạn Luật Xửlý vi phạm hành chính năm 2013 chưa ra đời hoặc chưa có đủ thời gian soi chiếu trong thực tiễn. Thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra của LLCSB Việt Nam chưa được đề cập cụthể. Do vậy,các vấn đề đó vẫncần phải được nghiên cứu sâu hơn nhằm bảo đảm hoạtđộngthực thi pháp luật trên biển của LLCSB. Chưa có công trình nghiên cứu sâu vềbản chất, vai trò của LLCSB các nước trên thế giới, cũng như việc xác định những chức năng cơ bản của LLCSB Việt Nam hiện nay.

1.4.3. Những nội dung nghiên c u các yếu tố nh hưởng đến th c hiện ch c n ng c a l c lư ng C nh sát i n

Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước cũng như nước ngoài đã chỉ ra khái lược nhữngyếu tốảnh hưởngđến thực hiện chức năng của LLCSB, bao gồm:

Những vấnđề về đường lối chính trị,chính sách, pháp luật, kinhtế,xã hội trên biển của mỗi quốc gia hoặc các quốc gia trong khu vực có ảnh hưởng trực tiếp đến bảo vệ chủ quyền biển, đảo của LLCSB;

Nhận thức về vị trí, vai trò của LLCSB từ đó xác định quanđiểm về xâydựng và phát triển LLCSB chưa đầy đủ, thống nhất;

Những yêu sách của các quốc gia về chủ quyền trên biển và thực trạng tranh chấp chủ quyền gia tăng căng thẳng trên biển là nhưng yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi pháp luật trên biển của LLCSB;

Điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước và những đặc thù của biển ảnh hưởnglớnđến thực hiện chức năng của LLCSB hiện nay;

Nguồn lực bảo đảm hiện có như phương tiện, tàu thuyền, nhân lực và chi phí tài chính hạn chế trong quá trình thực hiện chức năng.

1.5. Những nội dung cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu, phát triển trong luận án 1.5.1. i thuyết nghiên c u và c u h i nghiên c u

Giả thuyết nghiên cứu

– LLCSB mang bản chất của lực lượng vũ trang thực hiện nhiều chức năng do Nhà nước giao cho, thực hiện một phần chức năngđối nội,đối ngoại của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trên biển;

– LLCSB Việt Nam có nhiều chức năng và phương thức thực hiện chức năng phong phú, đa dạng đáp ứng yêucầunhiệm vụ của Nhà nước về quản lý, bảo vệ biển,

đảo trong tình hình Biển Đông hiện nay; chức năng của LLCSB Việt Nam có nhiềuđiểmtương đồng với chức năng của các quốc gia khác trên thế giới;

– Kết quả thực hiện chức năng quản lý an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm thực thi pháp luật của LLCSB Việt Nam đã góp phần tích cực, hiệu quảđối với hoạt động quản lý nhà nước trên biển trong thời gian qua.

– Trước tình hình căng thẳng ngày càng gia tăng trong Biển Đông, LLCSB Việt Namsẽđược Nhà nước đầu tư, xây dựng thành lực lượng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong thời gian tới; mởrộng phạm vi hoạt động,bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho LLCSB Việt Nam;

– Để nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam, luận án cần đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện chức năng là giải pháp có tính khả thi nhất trong giai đoạn hiện nay.

Câu hỏi nghiên cứu để chứngminh các giả thuyết trên, câuhỏinghiên cứuđặt ra cho luận án là:

– LLCSB là gi? Chức năng của LLCSB như thế nào?

– Nội dung chức năng và phương thức thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam là gì? Có điểm gì giống và khác với chức năng của các lực lượng quản lý biển,đảo trong bộ mày nhà nước Việt Nam; LLCSB ở một số nước khác trên thế giới?

– Việc thực hiện chức năng của LLCSBởmột số nước khác trên thế giới cho thấy những kinh nghiệm nào mà Việt Nam có thể tham khảo?

– Việc thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam thời gian qua đã đạt được những thành tựu gì cần phát huy? Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân nào dẫn đến các thành tựu và hạn chế đó?

– Việc thực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam thời gian tới cần được tiến hành theo những quan điểm nào?

– Những giải pháp nào có thể thực hiện để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia; quản lý an ninh, trật tự, an toàn trên biển của Việt Nam một cách tốt hơn?

Chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay
Chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay

1.5.2. Những nội dung nghiên c u mới:

Để chứng minh giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu trên, Luận án cần nghiên cứu những nội dung mới sau đây:

Một là, Luận án sẽ nghiên cứu, xây dựng lý luận về chức năng, bản chất, vai tròcủa LLCSB và đưa ra khái niệm về chức năng, nội dung, phương thức thực hiện chức năng của LLCSB.

Hai là, nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng việc xác định chức năng vàthực hiện chức năng của LLCSB Việt Nam, những thành tựu và nguyên nhân cần phát huy hoặc khắc phục.

Ba là,đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật. Trongđó,giải pháp pháp điển hoá các quy định của pháp luật về LLCSB Việt Nam, nâng giá trị pháp lý của Pháp lệnh LLCSB Việt Nam thành Luật Cảnh sát biển Việt Nam.

Bốn là,đề xuất đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; quản lý an ninh, trật tự,an toàn của LLCSB Việt Nam vì lợi ích quốc gia, dân tộc Việt Nam trong bối cảnh, diễn biến phức tạp của tình hình Biển Đông hiện tại và tương lai.

Năm là, nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế vàthực trạng của hoạt độnghợp tác quốc tế giữa LLCSB Việt Nam với các lực lượng chức năng có liên quan của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Qua đó, Luậnán đề xuấtgiải pháp trong hoạt động hợp tác quốc tế của LLCSB Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình Biển Đông hiện nay.

Sáu là, nghiên cứu học tập mô hình tổ chức của LLCSB của các quốc gia khác, nhất là LLCSB Trung Quốc theo hướng cơ cấu lại tổ chức lực lượng thực thi pháp luật trên biển. Theo đó, đề xuất mô hình tổ chức của LLCSB Việt Nam theo hướng hợp nhất một số lực lượngthực thi pháp luật trên biển hiện nay, nhằmbảo đảmphát huy tối đa sức mạnh hiện có, thống nhất về chỉ huylực lượngthực thi pháp luật trên biển, tập trungđầu tưxây dựng, phát triển LLCSB Việt Nam ngangtầmvới LLCSB của các quốc gia trong khu vực, trên thế giới và trongđiều kiệnvà tình hình Biển Đông hiện nay.

1.5.3. Tiếp tục nghiên c u, làm rõ hơn

Một là, đánh giá vai trò của LLCSB Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; quản lý an ninh, trật tự,an toàn và bảo đảm thực thi pháp luật trên biển trong tình hình phức tạp, nhạy cảmcủa Biển Đông hiện nay; LLCSB Việt Nam đóng vai trò chủ trì thực thi pháp luật trên biển; là lực lượng tiên phong, trực tiếp, thường xuyên và quan trọng trong bảo vệ chủ quyền, quyền chủquyền, quyền tài phán quốc gia trên biển; là lực lượngtrực tiếp thường xuyên thực hiện chính sách, pháp luật đối ngoại về an ninh, an toàn trên biển,kể cảtrên các vùng

23

biển ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia, phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế.

Hai là, nghiên cứu phương thức hợp tác quốc tế đấu tranh chống tội phạm trên biển của nước ngoài theo hai hình thức sau: 1/ Xây dựng một vùng tuần tra an ninh chung trên các vùng biển quốc tế, vùng biển tranh chấp, thường xuyên xảy ra các vấnđề về an ninh, trật tự,an toàn hàng hải,địa bàn thường xuyên hoạt độngcủa cướp biển. 2/ Tổ chức các đoàn hộ tống của LLCSB hoặc cử các sĩ quan Cảnh sát biển của một quốc gia đi kèm tàu của quốc gia đó.Từđó,đề xuất các giải pháp đấu tranh chống cướp biển, khủng bố, tội phạm trên biển phù hợp với thực tiễn các vùng biển trong khu vực Biển Đông.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Trong những nămgầnđây, các nhà khoa học, quản lý nước ngoài và trongnước đã quan tâm nghiên cứu về lực lượngbảovệ bờ biển nói chung và LLCSB Việt Nam nói riêng. Trong đó, các học giả chủ yếu nghiên cứu nhữnghoạt độngquản lý an ninh trậttựan toàn; bảo đảm thực thi pháp luật trên biển và đã có nhữngkếtquả nhất định về lý luận cũng như thực tiễn. Tuy nhiên, có thể nhận thấy những công trình nghiên cứu khoa họcđã nêu trêncủacác tácgiảnướcngoài và trongnướcchủyếuchỉtậptrung nghiêncứuvề chức năngbảo đảmthực thi pháp luật của LLCSB (lực lượngbảovệ bờ biển) nói chung. Riêng các công trình nghiên cứu về quản lý an ninh, trật tự, an toàn của LLCSB Việt Nam còn ở mức độ nhất định, cần được tiếp tục nghiên cứu chuyên sâucả về lý luậnvà thực tiễn. Một số công trình nghiên cứu về bảođảmthực thi pháp luật của LLCSB Việt Nam là tương đối toàn diện, song các tác giả và công trình nghiêncứu chủ yếuchỉ tập trung vào những nhiệmvụ cụ thể củavấn đề, chưa có tính khái quát và lý luận cao.

Trước tình hình tranh chấp chủ quyền biển,đảo trên Biển Đông, trongđó cóvùng biển Việt Nam vẫn diễn biến phức tạp, chưa thể giải quyết được trong tương lai gần. Hoạt độngbảo vệ chủ quyền biển,đảo và quản lý an ninh, trật tự,an toàn được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng,toàn dân cũng như của các cấp, các ngành, trong đó lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Tuy nhiên, để phù hợp với các nguyên

tắc cơbản củapháp luật quốctế hiệnđại và có thể xác định được vai trò của LLCSB Việt Nam là lực lượngchuyên trách, chủ trì thực thi pháp luật trên biển trong thời bình, thì một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải nghiên cứu, xây dựng lực lượng vũ trang, trong đó có LLCSB Việt Nam trên tinh thần quán triệt quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tập trung sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc.Đồngthời nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm về lịch sử hình thành, phát triển LLCSB

24

trên thế giới, nhằm giải quyết cácvấn đềcơ bản của Việt Nam như: Mô hình tổ chức của LLCSB; cơ chế quản lý; cơ chế phối hợp; lộ trình xây dựng lực lượng phù hợp vớiđiều kiện thực tế của đất nước.

Ngoài ra, cần chú trọng nghiên cứu việc xây dựng chiến lược phòng thủ quốc gia, xây dựng vững chắc ổn định về quốc phòng – an ninh trên biển; hướngtới mục tiêu đảm bảo các hoạt động thực thi pháp luật là biện pháp quản lý nhà nước hữu hiệu, góp phần không nhỏ trong bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên các vùng biển,đảo.Học tập kinh nghiệm quản lý, bảo vệ biển của các quốc gia trên thế giới bảođảm từngbước thực hiện đầy đủ quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển trong thời gian tới; từng bước xây dựng hoàn thiện lực lượng chuyên trách của nhà nước về quản lý an ninh, trật tự, an toàn trên biển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại;phát triển và cơcấu lại tổ chức lực lượngthực thi pháp luật trên biển phù hợp với xu thếcủa khu vực và thế giới; đáp ứngnhu cầu quản lý bảo vệ chủ quyền biểnđảo và bảo đảmthực thi pháp luật trên biển của Việt Nam hiện nay.

25

CHƢƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝLUẬN

VỀ CHỨC NĂNG CỦA LỰC LƢỢNG CẢNH SÁT BIỂN

2.1.Sựcầnthiết của việc đảmbảochủ quyền quốc gia, an ninh trật tự,an toàn trên biển và sự hình thành lực lƣợng Cảnh sát biển

2.1.1. S cần thiết c a việc đ m o ch quyền quốc gia, an ninh, trật t , an toàn trên i n

Đảmbảo chủ quyền quốc gia là các hoạt động của nhà nước nhằm bảo vệ vững chắc, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển; quyền tốicao về đối nội và độc lập về đối ngoại của nhà nước. Trongđó,vai trò của hệ thống chính trị,lực lượngvũ trang, nhân dân vàtoàn xã hội, mà lực lượng vũ trang làm nòng cốt thường xuyên củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninhđảm bảođáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hìnhmới của đất nước.Đảmbảo an ninh, trật tự, an toàn là hoạt độngbảo vệ,giữ gìn trạng thái ổnđịnh và hoà bình, có trật tự, kỷ cương pháp luật, như các hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật; bảo vệ chính quyền, tính mạng, tài sản của người dân; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn … các hoạt động bảo vệ chủ quyền quốc gia và giữgìn an ninh trật tự,an toàn luôn có mối quan hệ gắn bó tác độngqua lại nhằm tăng cường quốc phòng, an ninh quốc gia trên biển, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Vì thế,đảmbảo chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự,an toàn trên biển được nhà nước xácđịnh lànhiệmvụhết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

Chủ quyền quốc gia là khái niệm pháp lý – chính trị phức tạp, chủ quyền quốc gia gồm các bộ phận cấu thành là vùng đất, vùngnước,vùng lòng đất, vùng trời. Vùng đất lãnh thổ gồm toànbộ phần đấtlục địavà các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền quốc gia. Vùngđất quốc gia thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của một quốc gia. Vùng nước là toàn bộ các phần nước nằm trong đường biên giới quốc gia, bao gồm nội thuỷ và lãnh hải. Như vậy, chỉ các quốc gia ven biển mới có chủ quyền quốc gia trên biển.Sự hình thành chủ quyền quốc gia trên biển do điều kiện địa lý của quốc gia vàtuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế. Các quốc gia ven biển xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển và bảo đảm các quyền đóđược thực hiện trên thực tiễn, thông qua việc nhà nước ban hành chính sách, pháp luật; phân chia ranh giới lãnh thổ, vùng biển.. và thiết lập bộ máy nhà nước tổ chức thực hiện quản lý nhà nước trong phạm vi lãnh thổ vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển để khai thác tiềm năng to lớn của biển và đại dương.Để khẳngđịnh chủ quyền quốc gia trên biển, trong những năm gần đây, các quốc gia trên thế giới đã đẩy mạnh các hoạt độnghướng từđấtliền ra biển, coi kinh tế

26

biển là cánh tay nối dài của kinh tế đất liền; đầu tư, hợp tác, giao thương, sản xuất, kinh doanh trên biển, nhất là các ngành nghề khai thác khoáng sản, hải sản và vận tải trên biển… thực tiễn, kinh tế biển là nguồn thu lớn của quốc gia ven biển. Trong đó, khai thác dầu khí, hải sản và vận tải biển là các ngành nghề mũi nhọn của nền kinh tếquốc gia, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và pháttriển đất nước.Vìthế, coi trọng đảm bảo chủ quyền quốc gia, an ninh trật tự, an toàn trên biển là yếu tốtiên quyết, quan trọng hàng đầu,tạomôi trường, điều kiện tốt cho các hoạt động khai thác,sửdụng biển; góp phần phát triển kinhtếđất nước.Chủ quyền quốc gia được giữvững, an ninh hoà bình ổn định sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế trên biển.Sựmất ổn định,an ninh, hoà bình trên biển sẽ là hạn chế, kìm hãm sự phát triển kinh tế.

Các quốc gia ven biển luôn mong muốn xác lập chắc chắn chủ quyền quốc gia làm cơsởmở rộng phạm vi vùng biển, tạo cơsởpháp lý cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, an ninh trên biển. Theo quy định của UNCLOS, chủ quyền của quốc gia ven biển là quyền tối cao của quốc gia, được thực hiện trong nội thủy và lãnh hải của quốc gia đó, cũng như đối với vùng trời, lòng đất của nội thuỷ, lãnh hải. Quốc gia có nội thuỷ, lãnh hải thì có quyền xác lập các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

[65]. Qua đó,đảm bảoan ninh, trật tự, an toàn là cơsởđể xácđịnh,khẳng định quốc gia ven biển có các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia; quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Trong các vùng biển đó,quốc gia ven biểnđượcthụ hưởngcácđặcquyềnvề kinh tế, lợi thế về giao thông hàng hải và mở rộng quyền tài phán của mình trên vùng đặc quyền kinh tế và thềmlụcđịa.Trên cơsởđó,nhà nước thực hiện các hoạt độngbảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia,giữgìn an ninh trật tự, an toàn trên biển; củng cố quốc phòng, an ninh trên biển, xây dựng tuyến phòng thủ quốc gia nhằm chống xâm nhập, lấn chiếm biển đảo; phát triển các ngành nghề khai thác,sửdụng biển hợp pháp và mở rộng hợp tác quốc

tế về biển.

Mặt khác, các quốc gia ven biển có thể đưa ra các yêu sách về chủ quyền quốc gia và gia tăng hoạt động tìm kiểm lợi ích kinh tế trên biển, tạo nên tranh chấp, xung đột trên biển, làmmất ổn định,hoà bình, trật tự, an toàn trên biển, là những cản trở lớn cho phát triển kinh tế trên biển của các quốc gia khác. Nếu không giải quyết tốt những tranh chấp đósẽ lànguy cơ xung đột vũ trang trên biển gây tổn thất về con người, vật chất, kinhtế,chính trị… ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của tổ chức, cá nhân tham gia khai thác,sửdụng biển; chính sách phát triển kinh tế biển không được thực hiện, gây hậuquả lớn đến nền triểnkinh tế quốc gia. Vì thế,đảmbảo chủquyền quốc gia, an ninh trậttự,an toàn khôngchỉcó vai tròđối với các vùng biển của quốc gia ven

27

biển mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh, trật tự, an toàn trên các vùng biển liên quan trong khu vực.

Biển luôn chứa đựngtính chất đặc thù về khí hậu,điều kiện địa lý, tính chất pháp lý, tài nguyên, môi trường, giới hạn chủ quyền quốc gia …tuy nhiên, biển đã đem lại những lợi ích về kinh tế do tiềm năng tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng. Những đặc điểm này đã tạo nên những thuận lợi và khó khăn trong quản lý và bảo vệbiển cho các quốc gia ven biển, nhưng cũng là động cơ, mục đích khai thác nguồn lợi hết sức cầnthiết cho các quốc gia ven biển.Đảmbảo chủ quyền quốc gia, an ninh, trật

tự, an toàn trên biển giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn phát sinh từtranh chấp khai thác tài nguyên trên biển giữa các tổ chức, cá nhân của quốc gia có biển tiếp giáp hoặc đối diện, góp phần giữ gìn ổn định, hoà bình trong vùng biển quốc gia và khu vực biển liên quan; tham gia tìm kiếm cứu hộ,cứu nạn, khắc phục sựcố ô nhiễm môi trường biển…tạo thuận lợi cho hợp tácquốc tếvề khai thác, sử dụng biển hợp pháp.

Bên cạnh đó,đảmbảo chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự, an toàn trên biển xây dựng niềm tin,hỗ trợ, tạo thuận lợi cho tổ chức cá nhân tham gia khai thác,sửdụng biển; bảo đảmphát triển kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường biển; khuyến khích,tạo điều kiện để phát triển kinh tế biển; làm giảm các mâu thuẫn trong phát triển ngành nghề; bảo vệ ngư dân và các hoạt động hợp pháp trên biển;giữgìn hoà bình,ổn định,an toàn xã hội và bảo đảm chấp hành pháp luật trên biển. Vì thế,đảmbảo chủ quyền quốc gia, an ninh trật tự, an toàn nhằm đáp ứngnhu cầu của đời sống xã hội trên biển và đảm bảo khai thác biển bền vững; giữgìn hoà bình,ổn định trên biển trong khu vực liên quan.

Đảmbảo chủ quyền quốc gia, an ninh trật tự, an toàn trên biển, là việc nhà nước ban hành chính sách, pháp luật và các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi xâm phạm chủ quyền, như: xây dựng các vùng biển cấm, hạn chế qua lại; quy định chếđộ xin phép đối với các tàu khi muốn đi trên vùng lãnh hải hoặc đi qua lãnh hải vào nội thuỷ về thời gian xin phép, quy địnhsố lượngtàu được qua, các trang thiết bị quân sựtrên tàu chiến phảiđưavào trạng thái không sửdụng, tàu ngầm phải đi nổi, treo quốc kỳ v.v., nhằm thể hiện uy quyền của quốc gia sở tại không chấp nhận hoạt động hàng hải và các hoạt động khác trên biển có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và kiểm soát các hành vi lợi dụng quyền đi qua vô hại trong lãnh hải củaquốc gia khác.Đồng thời, nhà nước thiết lập hệthống tổ chứcbộ máy, trong đó có nhiều bộphận, lực lượngchức năng là côngcụ thực hiện chức năng, nhiệm vụ củanhà nước.Đồngthời, nhà nước giao cho các cơ quan,tổchức có những quyền hạn nhất định vàbảo đảm về tổ chức,hoạt động củalực lượng chức năng của nhà nước, lực lượng nòng cốt là lực lượng vũ trang thực hiện các hoạt động ngăn ngừa,đấutranh, phòng chống

28

và xửlý các hành vi xâm phạm, xâm lấn chủquyền từphía nước ngoài; bảo vệ các hoạt độnghợp pháp, tính mạng, tài sản của tổ chức, công dân; toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển thuộc chủquyền, chế độchính trịhoặc bảo đảmcác quyền năng của nhà nướcđược thực hiện trên biển trước những hành độngcan thiệp, chi phối, phá hoại của tổchức, cá nhân nước ngoài; kiểm soát, ngăn chặn các hoạt độngkhai thác tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, cứu hộ,cứu nạn trên biển; kiên quyết đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tếbảo đảm giữgìn an ninh trật

tựtrên biển; tích cực hỗ trợ, hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoạtđộnghợp pháp trên biển. 2.1.2. Quan niệm về l c lư ng C nh sát i n

Trong lịch sử hình thành và phát triển LLCSB của các quốc gia trên thế giới, cónhiều quan niệm khác nhauvề LLCSB.Mỗimột quốc gia lại có chế độ chính trị, nguyên tắc tổ chức của bộ máy nhà nước khác nhau, dẫn tới quan điểm về xây dựng vàphát triển LLCSB khác nhau. Tuy nhiên, việc hình thành và phát triển lực lượng nàyđều xuất phát từ bản chất của bộ máy nhà nước; nhu cầu quản lý, bảo vệ biển,đảo,dựa trên bối cảnh tình hình kinhtế,chính trị, xã hội; tình hình chủ quyền, an ninh, trật tự, an toàn trên biển của mỗiquốc gia. Trong suốt chiều dài lịchsửthế giới, nhiệm vụquản lý, bảo vệ biển,đảo,thường được các quốc gia ven biển trao cho lực lượng Hải quân, với các chức năng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ chủ quyền,bảo vệ

lợi ích quốc gia dân tộc; bảo vệ nhân dân hoặc thực hiện một phần chức năng quản lý, giám sát, chống xâm phạm về hoạt động nghề cá, khai thác khoáng sản… Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới là hoà bình, dân chủ,vì con người được đềcao hơn. Nhiều chính sách đối ngoại cũng thay đổi “đối thoại thay đốiđầu”,mở rộng hợp tác quốc tế vì mục tiêu hòa bình, ổn định và phát triển bền vững, phù hợp với các nguyên tắc nền tảng pháp luật quốc tế hiện đại. Xu hướng này có tác động không nhỏđến nhận thức của mỗi quốc gia trong xây dựng lực lượngquản lý, bảo vệ biển. Do vậy, lực lượng quản lý, bảo vệ biển,đảo củacác quốc giađều gắnliền với tính chuyên trách, hợp tác quốc tế cao. Trong thời bình, mỗi quốc gia một mặt vẫn củngcố,phát triển lực lượng hải quân, mặt khác cũng quan tâm, xây dựng và phát triển LLCSB với các chức năng, nhiệm vụ nhằm đảm bảo giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên biển “mềmmại”,tránh sửdụng biện pháp quân sự,đảmbảo thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật quốc tế. Cũng nhưlực lượnghải quân, LLCSB là một bộ phận của bộ máy nhà nước,sựra đời, hình thành và phát triển đều mang bản chất giai cấp và tính lịch sử của nó. Tuỳ từng giai đoạn lịch sử, nhu cầu của thực tiễn quản lý, bảo vệ biển mà các quốc gia thành lập và phát triển LLCSB tương ứng. Thông qua việc xem xét về bản chất và khái quát lịch sửhình thành, phát triển LLCSB của các quốc gia trên thế giới, cho thấy quan niệm cơbản về LLCSB dựa trên các tiêu chí về chức

29

năng, phương thức thực hiện chức năng và cơ quan quản lý trực tiếp. Có ba quan niệm như sau:

Th nhất, quan niệm về LLCSB là l c lư ng thuộc qu n đội,l c lư ng mang tính chất qu n s . Đây là quan niệm truyền thốngvề sức mạnh của Hải quânđối với việc quản lý và bảo vệ biển,đảo.Hải quân có thể thực hiện các chức năng chính như chiếnđấu bảo vệ chủ quyền biển,đảo và mởrộng phạm vi lãnh thổ ra hướngbiển cho các quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh. Các quốc gia có tiềm lực quân sựlớn, có thể sửdụng sức mạnh của Hải quân nhằm tạo ảnh hưởng, gia tăng sức épđối với các quốc gia có biển tiếp giáp. Tuy nhiên, việc pháp luật quốc tế ngày càng được hoàn thiện cũng như xu hướnghội nhập quốc tế ngày càngmởrộngđã có tácđộng, ảnhhưởng lớn đến nhậnthức của mỗi quốc gia trong thực hiện việc quản lý vàbảo vệ biển đảo.Các quốc gia ven biển hiện nay bên cạnh việc phát triển lực lượng hải quân, còn tăng cường thêm các lực lượngbảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển bằng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, như lực lượngchấp pháp của Trung quốc:

“Thời kỳ manh nha từ năm 1949- 1978. Nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng chấp pháp Trung uốc thời kỳ này là bảovệ biển đảo.Do vậy, lực lượng chấp pháp thời kỳ này do quân đội đảm nhận” [86, tr10]. Bên cạnh đó, tình hình về khai thác,sửdụng biển của quốc gia có biển chưa phát triển mạnh; vấn đề môi trường, an ninh, an toàn và các tình huống tranh chấp về biển, đảo chưa phát sinh phức tạp. Giai đoạn hiện nay, cùng với sựphát triển kinh tế biển về hàng hải, thuỷ sản, bảo vệ môi trường biển, nhất là sựảnh hưởngcủa các hội nghị quốc tế vềluật biển, một số ít quốc gia ven biển đã bổsung nhiệmvụ cho lực lượnghải quân hoặc thành lập LLCSB trực thuộc hải quân hoặc do bộ quốc phòng trực tiếp quản lý. Việc quản lý,sửdụng LLCSB nhưmộtbộphận trong lực lượnghải quân với các nhiệmvụ huấn luyện, chiến đấu bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Trong trường hợp cần thiết, LLCSB được sửdụngđể thực hiện nhiệmvụ giữgìn an ninh, trật tự, an toàn; chống các hành vi khai thác trái phép hải sản, tài nguyên biển và phòng, chống tội phạm trên biển. Giai đoạn này, LLCSB hình thành không rõ nét, các quan niệm cho rằng: quản lý và bảo vệ biển là chức năng thuộc về lực lượnghải quân quốc gia. Với quan niệm này, LLCSB mang nặng tính chất quân sự, phòng thủ quốc gia, chống xâm phạm chủ quyền quốc gia trên biển và sửdụng biện pháp vũ trang để thực hiện chức năng quản lý và bảo vệ biển, đảo.

Th hai, quan niệm về LLCSB là l c lư ng d n s , l c lư ng th c thi pháp luật.Cụm từ“ dânsự” cóthể được hiểulà lực lượng thuộc cơ quan nhà nước, nhưng không phải là lực lượngquân đội (lực lượng phi quân sự).Đối với các quốc gia cóhoạt độngkinh tế trên biển phát triển mạnh, các ngành kinh tế khai thác tài nguyên biển, vận tải biển, khai thác thủy hải sản mang lại nguồn thu nhập lớn cho tổ chức,

30

cá nhân và là nguồn thuế quan trọng của quốc gia ven biển; các vấn đề an ninh, an toàn nhưđấu tranh chống tội phạm, cứu hộ,cứu nạn, bảo vệmôi trường biển được quan tâm và trở thành vấn đề cấp bách trong quản lý biển, khi đó LLCSB được hình thành và phát triển mạnh mẽhơn.Điển hình là lực lượng chấp pháp Trung quốc:

“Thời kỳ 1979- 1997: Thời kỳ tìm tòi mô hình phù hợp. Thời kỳ này, một bộ phận của các ngành liên quan tới biển và một số bộ ngành chuyên quản lý biển được thành lập. Cơ quan chấp pháp trên biển chuyểntừHải quân sang cơ quan chấp pháp chuyên nghiệp” [86, tr10].

Mặt khác, khi các quy định của pháp luậtquốc tế về biểnngày càng được hoàn thiện; nhu cầu khai thác,sửdụng biển của các quốc gia trên thế giới ngày càng được quan tâm hơn. Quan niệm của các quốc gia về LLCSB trong giai đoạnnày được thểhiện rõ nét hơn, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển bằng phương thức đấu tranh vũ trang thuộc về các lực lượng quân đội. Nhà nước giao cho LLCSB thực hiện chức năng quản lý an ninh, trật tự,an toàn; tham gia bảo vệ môi trường biển, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, tổ chức thực thi pháp luật… LLCSB sẽsửdụng các biện pháp hoà bình, biện pháp pháp luật trong thực hiện chức năng mànhà nước giao cho.Vềquan niệm này, LLCSB là lực lượng “dân sự” hay gọilà lực lượngthực thi pháp luật trên biển của quốc gia.

Th a, quan niệm về LLCSB là l c lư ng đa ch c n ng. LLCSB có thểđược Nhà nước giao nhiều chức năng, trongđó,chức năng cơ bản bao gồm chức năng của lực lượng dânsựvà lực lượng quân đội như: chức năng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển; quản lý an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm thực thi pháp luật trên biển; hợp tác quốc tế; cứu hộ,cứu nạnvàbảo vệ môi trường biển;… Điển hình là chức năng của LLCSB Mỹ, LLCSB Nhật Bản, Trung Quốc hiện nay.

Đây là quan niệmvềLLCSB được hình thành để thực hiện nhiều chức năng. Song song với thực hiện chức năng thực thi pháp luật là chức năng sẵn sàng chiến đấu như một lực lượng quân đội. Với việc xác định chức năng bảo đảm thực thi pháp luật của LLCSB là chủ đạo,gắn với chức năng chiến đấu,phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổquốc khi cần thiết. Hay nói cách khác là: trong thời bình, là lực lượng quản lý an ninh, trật tự,an toàn và bảo đảm thực thi pháp luật trên biển là nhiệmvụcơ bản, chuyên trách; bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, giải quyết các vấn đề về quốc phòng, an ninh là chức năng thường xuyên và bằng các biện pháp phù hợp với pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia. Trong thời chiến, LLCSB sẽ là một bộ phận của lực lượng hải quân thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu là chính. Ví dụ: việc xây dựng và duy trì lực lượng thực thi pháp luật và lựclượngquân đội được tách biệt, rõ nét, như lực lượng chấp

31

pháp Trung Quốc: “Thời kỳ 1998- trước 3/2013: Thời kỳ trưởng thành. Hình thành lực lượng hảiquân, hải giám, ngư chính, cảnh sát biển và hải quan” [87, tr11]. Tuy nhiên, khi xem xét về bản chất của lực lượng, một số nhà khoa học cho rằng lực LLCSB của Trung quốc là lực lượng “bán vũ trang”. Đối với LLCSB Việt Nam được quy định trong Pháp lệnh LLCSB Việt Nam năm 1998 và Pháp lệnh LLCSB Việt Nam năm 2008 như sau: “LLCSB Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm chấp hành pháp luật Việt Nam và cácđiều ước quốctế màViệt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm

lục địa của nước Cộng hoà xã hộichủnghĩa Việt Nam”. Theo quy địnhnày, chức năng của LLCSB Việt Nam như lực lượng dân sự. Tuy nhiên, trong Pháp lệnh LLCSB Việt Nam quy định là lực lượngcũ trang, có các nhiệmvụ như: bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, hoạt độnghợp tác quốc tế,bảo vệ môi trường biển là những nhiệm vụ chiến lược của LLCSB Việt Nam.

Quan niệm này ngày càng rõ hơn trong khu vực châu Á với lý do về tình hình diễn biến trên Biển Đông ngày càng khó lường, các nguy cơ xung đột, mâu thuẫn vềchủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc có chiều hướng gia tăng; tình hình vi phạm pháp luật trên biển ngày càng phức tạp là những đòi hỏi thực tiễn, cấp bách mà quốc gia ven biển trong khu vực Biển Đông cần phải giải quyết. Điển hình như lực lượng chấp pháp trên biển của Trung quốc: “Thời kỳ sau 3/2013 đến nay: Sau khi chuyển đổi, Cục Hải dương quốc gia đã tiến hành cơ cấu lại, Trung uốc lấy LLCSB làm lực lượng chấp pháp chính. Lực lượng chấp pháp trên biển của Trung uốc chính thức bước vào giaiđoạn phát triển mới” [88, tr35]. Nhất là, sau Phán quyết của Toà án trọng tài quốc tếvề vụ kiệncủa Philipin đối với các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông dựa trên cơsởcủa phụ lục VII, UNCLOS. Nội dung của Phán quyết là cơsởpháp lý cho các quốc gia trong khu vực Biển Đông củngcố và đẩy mạnh các hoạt độngcủa LLCSB. Trongđó,phải kể đến các nỗ lực của mỗi quốc gia trong khu vực Biển Đông hoàn thiện hành lang pháp lý, tái cơ cấu tổ chức,đầu tư mới về trangbị,phương tiện, tài chính… của LLCSB Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonexia, Việt Nam.

Từnhững nghiên cứu trên, có thể nhận thấy, LLCSB là lực lượng đa chức năng, sẽ được xây dựngvà phát triển mạnh, phù hợp với nhu cầu thực tiễn trong quản lý, bảo vệ biển, đảo hiện nay và tương lai; bảo đảm mô hình tổ chức chặt chẽ và quy mô lớn,đủ sức thực hiện các chức năng, nhiệmvụ bảo vệchủ quyền, quyền chủ quyền vàquyền tài phán quốc gia; bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc; bảo vệ tài nguyên vàmôi trường biển; đồng thời thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm thực thi pháp luật trên biển.

32

2.2. Khái niệm, đặc điểm chức năng của lực lƣợng Cảnh sát biển 2.2.1. Khái niệm ch c n ng c a l c lư ng C nh sát i n

Thuật ngữchức năng đượcsửdụng khá phổ biến trong khoa học và thực tiễn quản lý nhà nước cũng như trong đời sống xã hội hiện nay. Khái niệm chức năng được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứuvà tương ứng với mỗingành thì chức năng có các ý nghĩa khác nhau. Trong triết học và xã hội học, chức năng dùngđể chỉ tác độngcủa các đặc tính,hệthống khách thểđốivới các hệ thống môi trường cùng nằm trong hệ thống các quan hệ với khách thể đang xem xét một hệ thống quan hệ nhấtđịnh,

ví dụ: Chức năng giác quan, chức năng tiền tệ…. Trong ngôn ngữ học, chức năngđược

dùngđểchỉ vai trò, nhiệmvụ củangônngữ; sự cụthểhoá vai tròcủangôn ngữ, ví dụ:

chức năngchủngữ,vịngữ… TheoTừđiểnAnh–Việt, Nhà xuấtbảnGiáo dục, năm 1995, từ “function” trong trường hợp là danh từ thì nghĩa tiếng Việt là “chức năng”, nội độngtừlà“hoạt động,chạymáy”.Có thểhiểu nghĩa của từ“function” là chức năng hoặc là hoạt động.Trong lĩnh vực tổ chức,bộ máy quyền lực nhà nước,nếu gắn với

từngtổ chức cụ thể thì mỗi tổ chức đều cómột hoặc nhiều hoạt độngđể thực hiện một phần chức năng, nhiệm vụ của Nhànước hoặctổchức cấp trên. Cũng có thể hiểu theo nghĩa Hán – Việt, chức năng là cụmtừgốc Hán, được hiểu theo nghĩa của các từ: “chức” là “chức trách” và “năng” là “nănglực” “khả năng” “bản năng”. Theo đó,thực hiện chức năng cần thông qua thực hiện những nhiệmvụ chiến lược,nhiệmvụ ngắn hạn,

trung hạn. Trongtừđiển Anh – Việt: “Mission là nhiệm vụ, sứmệnh”; theotừđiển Việt

–Việt, danh từ “nhiệmvụ” là:“Công việc do cơ quan, đơnvị hoặctổchức giao cho phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định”. Ví dụ: LLCSB có nhiệm vụ phòng, chống xâm lấn, thăm dò tài nguyên trong nội thuỷ, lãnh hải,đảo thuộc chủquyền quốc gia để thực hiện chức năng bảo vệ chủ quyền do Nhà nước giao. Vì thế, giữa chức năng và nhiệm vụ cũng có nhữngđiểmkhác nhau, nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau xoay quanh những vấn đề về quy mô hoạt động, tính mục đích, thời gian thực

hiện công việc ….

Khi nói đến chức năng của một công cụ, phương tiện lao động sản xuất, người ta thường nói đến công dụng cơ bản, chủ yếu gắn với lý do tồn tại của nó. Ví dụ,đối với ngư dân, thuyền chỉ là phương tiện công cụ đểđi lạira biển khai thác hải sản, nhưng đồng thời lànhà đểở thường xuyên. Tuy nhiên, chức năng hay công dụng của công cụ phương tiện nào đó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người màdo nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, tuỳ thuộc vào nhu cầu sửdụng của mỗi người, trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Ví dụ,thuyền buồn được sửdụng để đi

lại, khi được trang bị vũ khí sẽ có thêm công dụng của một tàu chiến đấu. Khi thuyền buồn được sửdụng công dụng chiến đấu thường xuyên, lâu dài thì công dụng đi lại,

33

vận chuyển hay dùngđể ởsẽ dần mất đi. Vì thế,sựvậnđộngvà chuyển hoá biện chứng khách quan đó sẽ chứng minh một nguyên lý cơbảnđó là: chức năng của một côngcụ,phương tiện luôn vận động, biến đổi, phát triển và chuyển hoá lẫn nhau,phụthuộc vào thực tiễn và lịch sử.

Trong lĩnh vực lí luận nhà nước và pháp luật, chức năng nhà nước là một khái niệm cơ bản, phản ánh bản chất,nộidung hoạt động và vai trò quản lý của Nhà nước trên các lĩnhvực của đời sống xã hội[77, tr.545]. Trong Giáo trình Lý luận chung vềnhà nước và pháp luật của TrườngĐại học Luật Hà Nội đã địnhnghĩa về chức năng nhà nước như sau: “Chức năng nhà nước là những mặt hoạt động cơ bản của nhànước,phù hợp với bản chất, mục đích, nhiệm vụ của Nhà nước và được xác định bởiđiều kiện kinh tế- xã hội của đất nước trong những giai đoạn phát triển của nó” [95, tr.74]. Khi nghiên cứu về chức năng của cơ quan hành pháp, việc xác định các chức năngcụthể của các cơ quan thực hiện quyền hành pháp vẫn còn tồn tại nhiều quanđiểmkhác nhau. Đây là vấn đề phức tạp bởi sựphân công và phối hợp giữa các cơquan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp và tưpháp) ởmỗi một quốc gia đều có sựkhác nhau.Đối với Việt Nam thì vấn đề phân công, phân nhiệm và phối hợp giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng chưa thật sựrõ ràng và ổn định.Trong đó, các chức năngcụ thể của các cơ quan thực hiện quyền hành pháp bao gồm: chức năngtổ chức thực thi pháp luật; chức năng quản lý điều hành; chức năng bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chức năng bảovệquyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công dân; chức năng hoạch định chính sách của quốc gia; chức năng tài phán; chức năngtổ chức và quản lý bộ máy hành pháp; chức năng tổ chức kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật trong hệ thống các cơquan hành chính nhà nước.PGS, TS. Nguyễn Minh Đoan cho rằng: “Chức năng của cơ quan thực hiện quyền hành pháp là những phương diện hoạt động cơ bản,ổn định của chúng nhằm thực hiện những nhiệm vụcủa quyền hành pháp, nói cách khác, quyền hành pháp được thực hiện thông qua chức năng của cơ quan hành pháp ” [54]. Cũng nghiên cứu về quyền hành pháp và chức năng của quyền hành pháp, GS, TS LêMinh Tâm cho rằng: “Khi nói tới chức năng của quyền hành pháp và coi chúng là“những con kênh” mà theo đó quyền hành pháp được triển khai để thực thi pháp luật và tiến hành các hoạt động quản lý,điều hành” [92, tr46]. Như vậy,“nhữngcon kênh” hiểu là nhiều hướng, nhiều mặt; trong mỗi con kênh đó, quyền hành pháp được triển khai để thực thi pháp luật và các hoạt động quản lý, điều hành.

Theo quan niệm này, chức năngđược hiểu nhưhành lang, “khuôn khổ” pháp lý, trongđó,nhà nước sẽ quy định các nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi hoạt động, cơcấu tổ

chức …phùhợp với khuôn khổ pháp lýđó.Giữa chức năng và nhiệm vụ của LLCSB

34

vừa có sự thống nhất vừa có sự khác biệt, vừa có mối quan hệ mật thiết với nhau; cóthể chuyển hoá từ nhiệm vụ thành chức năng và ngược lại. Trong phạm vi chức năng của LLCSB, nhà nước quy định các nhiệmvụ cụ thể cho LLCSB để thực hiện chức năng đó. Trong trường hợp này, chức năng có tính khái quát hơn, phạm vi rộng hơn. Mặt khác, LLCSB thực hiện các nhiệmvụ cụ thể được nhà nước quy định chính làviệc LLCSB đã thực hiện chức năng của mình, giúp nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhànước.Vì thế, nhà nước quy định chức năng của LLCSBđểgiúp nhànước thực hiện chức năng, nhiệmvụ của nhà nước.Đồngthời, nhà nướcxác định chính xác,đầyđủ chức năng, nhiệmvụ,quyền hạn cho LLCSBsẽ là cơsởpháp lýchắc chắn đểLLCSB tổ chức thực hiện trên thực tiễn. Việc xác định chính xác,đầyđủchức năng của LLCSB hết sức quan trọngđối với hệ thống pháp luật và tổ chức bộmáy nhà nước; bảo đảm không có sự chồng chéo của pháp luật và không có hiện tượng thừa hoặc thiếu về tổ chức bộ máy.

Trong quản lý nhà nước,việc xác định chức năng của LLCSB cũng tuân theo tính quy luật đó.Hệ thống tổchức bộ máy nhà nước có nhiều cơ quan,đơn vị đểthực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước; được phân định theo hệ thống thứ bậc, thực hiện theo các nguyên tắc về tổ chức và hoạt độngchung do pháp luật quy định Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, bộ máy quản lý nhà nước về biển được phân thành ba loại cơ bản đó là: quản lý nhànước ởđịaphương về biển; quản lý nhànước theo ngành, lĩnh vực về biển và hoạtđộng xã hộihoá các công việc của nhànước.Theo đó, các cơ quan quản lý,bảovệ chủ quyền, an ninh, trật tự, an toàn trên biển bao gồm: các cấp chính quyền địa phương ven biển; quân đội; lực lượngchức năng của nhà nước; các tổ chức, cá nhân được nhà nước giao thực hiện các công việc dịch vụ xã hội…Chức năng của LLCSB có mối quan hệ chặt chẽ với chức năngcủacác lực lượngquản lý, bảovệ biển thuộc bộ máy nhà nước về vai trò, tác dụngđối với đời sốngxã hội; phạm vi, phương thức hoạt động cơ bản; nghĩa vụ với nhà nước… Vì thế, chức năng, nhiệm vụ phải được phânđịnh rạchròi, rõ ràng, thể hiện những khác nhau giữa các lực lượng quản lý, bảo vệ biển. Ví dụ, về chức năng của các loại tàu thuyền trên biển như: chức năng của tàu hàng khác với chức năng của tàu chiến; chức năng của tàu mặt nước khác với chức năng của thuỷ phi cơ…Làmrõ các đặc điểmnày là cơsởđể xác định sựkhác nhau giữa LLCSB với các lực lượng hải quân, hải quan, biên phòng, kiểm ngư… nhằm bảo đảmphát huy sức mạnh của từng lực lượng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quảtrongđảmbảo an ninh, trật tự,an toàn trên biển. Tuy nhiên, khi chức năng của LLCSB được thực hiện lâu dài và chứng minh tính hiệu quả của nó trong bảo vệ chủquyền quốc gia, an ninh, trật tự, an toàn trên biển sẽ xuất hiệnsựchuyển hoá giữa các chức năng của lực lượngquản lý, bảo vệ trên biển hiện nay. Chức năng của các lực

35

lượngkhác sẽ dần mất đi, thay vào đó là chức năng của LLCSB. Theo đó, nhà nước cóthể xác định vị trí, vai trò cho LLCSB là lực lượng vũ trang, chuyên trách, nòng cốt, chủ trì trong thực thi pháp luật trên biển, nhưng vẫn bảo đảm thực hiện chức năng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển.

Khi nghiên cứu về chức năng của LLCSB các nước trên thế giới cho thấy: chức năng chủ yếu củalựclượngphòngvệbờbiển Mỹđược Luật Cảnh sát biểnMỹ quyđịnh: “Vai trò thường trực của Tuần duyên Hoa Kỳ (US. Coast Guard) là trông coi biển, an ninh biển và an toàn biển. Nhiệm vụ chủ chốt là giám sát lãnh hải, phần lãnh thổ nước củađất nướcvà vùngđặcquyền kinh tế…”[Phụ lục1]. Theođó,nhiệmvụcủa Cảnh sát biển bao gồm hai phương diện. Một là, trách nhiệm đốivới việc bảo đảm an ninh phi lãnh thổ bao gồm các nghiệpvụvềan toàn trên biển, công tác tìm kiếm cứu nạn, kiểm tra chấp pháp nghề cá, bảo vệ môi trường biển,hỗ trợtàu thuyền. Hai là, trách nhiệm bảo đảm an ninh lãnh thổ bao gồm điều tra,xửlý hoạt động di dân phi pháp, công tác phòng chống buôn lậu, công tác phòngvệtrên biển, an toàn bờbiển, bảo đảman toàn cảng biển,đườngbiển và các hoạt độngchấp pháp khác. Hoặc đối với LLCSB Thụy Điển, chức năng cơ bản là bảo vệ tài nguyên, lợi ích quốc gia; bảo vệ môi trường biển và cứu hộ cứu nạn trên biển [Phụ lục 1]. Theo đó,nhiệmvụ của LLCSB Thuỵ Điển được quy định cụ thể như: phân vùng khai thác hải sản; kiểm tra, kiểm soát việc đánh bắt, thu mua, vận chuyển, chế biến hải sản trên biển… Đối với lực lượngchấp pháp trên biển của Trung Quốc, sau khi thực hiện tái cơ cấu ngày 10/3/2013,hệ thống cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về biển đảo của Trung Quốclà sựsáp nhập các lực lượng: Cục Hải Dương, Hải Giám, Cơ quan Tuần Duyên, Cơ quan Thực thi Luật Ngư nghiệp, Cục Chống buôn lậu thành một lực lượng gọi làLLCSB Trung Quốc. Theo đó, chức năng của LLCSB Trung quốc bao gồm các chức năng của các lực lượng sáp nhập.Từnhững phân tích trên, trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội củađất nước,chức năng của LLCSB sẽ được hình thành trên cơsởnhu cầu khách quan và ý chí của Nhà nước mong muốn hoàn thiện bộ máy nhà nướcđể đáp ứng yêu cầu nhiệmvụ quản lý, bảo vệ biển. Nhà nước có thể giao một hay nhiều chức năng cho LLCSB bằng các quyđịnh của pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Trong quá trình xây dựng và phát triển LLCSB, nhà nước có thể xácđịnh chức năng cho LLCSB theohướng sửa đổi,bổ sung hoặc chuyển chức năng của các cơ quan khác cho LLCSB thực hiện nhằm đáp ứngyêu cầu quản lý, bảo vệ biển trong từng giai đoạn lịch sửcủa đất nước.Thực tiễn, mối quan hệ tác động qua lại giữa yêu cầu, đòi hỏi về quản lý, bảo vệ biển với nhận thức của xã hội và quan điểmcủa nhà nước về quản lý,bảo vệ biển là yếu tốcơ bản đặt rasựcần thiết phải sửa đổi,bổsung về chức năng của LLCSB, chẳng hạn như LLCSB Trung quốc hiện nay, việc tái

36

cơ cấu của lực lượngchấp pháp Trung quốcđồngnghĩa với việc tập hợp các chức năng, nhiệmvụ của các lực lượngtrên biển của Trung Quốc để gia tăng sức mạnh, nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ biển phù hợp với chính sách quản lý biển tổng hợp và thông nhất.

Như vậy, xétđếncùng, LLCSB có thể có các chức năng mang tính chất của lực lượng dân sựnhưng cũng có thểcó các chức năng mang tính quân sựtuỳ thuộc vào tình hình chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự, an toàn trên biển, trong từng giai đoạn lịch sửcụ thể sẽ là yếu tố khách quan quy định chức năng chiến đấu bảo vệ tổ quốc

hay chức năng thực thi pháp luật trên biển của LLCSB. Tuy nhiên, xu hướngchung của thế giới và khu vực, LLCSB là lực lượng đa năng, chức năng thực thi pháp luật, bảo vệ môi trường, hướng dẫn,hỗ trợnhân dân, hợp tác quốc tế là những chức năng cơbản, xuyên xuốt của LLCSB. Bên cạnh đó,chức năng chiến đấu bảo vệ tổ quốc làquan trọng và được thực hiện song song với các chức năng khác. Xuất phát từ kết quảnghiên cứu trên, chức năng của LLCSB có nhiều phương diện, nhiều mặt hoạt động; giữa chức năng và nhiệm vụ có sự gắn kết không thể tách rời. Việc xác định chức năng của LLCSB của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, quy mô tổ chức lực lượng quản lý biển, đảo; nhu cầu khách quan về quản lý, bảo vệ biểnđể nhà nước quy địnhchức năng cho LLCSB. Vì thế, có thểhiểu chức năng của LLCSB là những phương diện hoạtđộng cơbản của LLCSB để thực hiện các nhiệm vụ do pháp luật quy định.

LLCSB làmột bộphận trong bộ máy nhà nước, vì vậy, cần xem xét chức năng của LLCSB trên cơsởcác chức năng của Nhà nước.Hay nói cách khác, Nhà nước giao cho LLCSB thực hiện một phần chức năng của mình. Đồng thời, trao cho LLCSB những thẩm quyền nhất định, là công cụ pháp lý để thực hiện chức năng đó. Bên cạnh thẩm quyền nhà nước giao, LLCSB cũng phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng theo quy định của pháp luật. Vì thế, suy cho cùng, thực hiện chức năng của LLCSB là thực hiện một phần chức năng của Nhà nước.Chẳng hạn, theo quy định của Pháp lệnh LLCSB Việt Nam năm 2008, chức năng của LLCSB Việt Namđược quy định:

“LLCSB Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng quản lý an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế liên quan mà CHXHCN Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm lụcđịa củanước CHXHCN Việt Nam”.Từnhững nghiên cứu trên, dưới góc độ khoa học, có thể hiểu chức năng của LLCSB là những hoạt độngcơ bản, chủ yếu của LLCSB nhằm thực hiện các nhiệmvụ do pháp luật quy định là: bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia; bảo vệ tài nguyên, môi trường biển; quyền và lợiích hợp pháp của cá nhân,tổ chức; giữgìn an ninh, trật tự,an toàn; đấutranh phòng

37

chống tội phạm, vi phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế mà quốc gia là thành viên của LLCSB.

Kết quảphân tíchvề khái niệm chức năng của LLCSB như trên cho thấy việc xác định chức năng của LLCSB dựa trên cơ sở nhu cầu khách quan của việc quản lýbảo vệ biển và yêu cầu của nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước của mỗi quốc gia đểnhà nước quy định LLCSB có một hoặc nhiều chức năng. Hiện nay, LLCSB nói chung thường có các chức năng cơ bản sau: bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia; thực thi pháp luật trên biển; đảm bảo an ninh, an toàn hàng hải; tìm kiếm cứu nạn; bảo vệ môi trường biển; hợp tác quốc tế.

2.2.2. Đặc đi m ch c n ng c a l c lư ng C nh sát i n

LLCSB của các quốc gia ven biển nói chung thường có những đặc điểm cơ bản sau đây:

* Chức năng của lực lượng Cảnh sát biển mang tính khách quan

Sự hình thành Nhà nước cũng xuất phát từ nhu cầu của xã hội, xã hội cần có tổchức quyền lực đặc biệt để thực hiện các chức năngđối nội,đối ngoại; quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bảo đảm trật tự, công bằng, văn minh. LLCSB là tổ chức trong bộ máy nhà nước,sựra đời và phát triển LLCSB phụ thuộc vào sự phát triển của Nhà nước, theo quy luật vận động và phát triển của kinh tế, xã hội, trong đó,sựxuất hiện, tồn tại những dấu hiệu,sựbiến động về tình hìnhchủquyền quốc gia, an ninh, trật tự, an toàn trên biển làm nhu cầu về quảnlý, bảo vệ biển biến đổi sẽ kéo theo sựvận động,phát triển của tổchức bộ máy và hoạt độngcủaLLCSB. Ngược lại, hoạtđộngcủa LLCSB sẽ tác động làm biến đổi tình hình an ninh, trật tự, an toàn trên biển; kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ trênthực tế củaLLCSB trong quản lý,bảovệbiển phản ánh khả năng, năng lực của LLCSB đối với đời sống xã hội, khẳng định vai trò và trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực này. Sự biến đổi của tình hình kinh tế, xã hội trên biển tác độngtrực tiếp đến kết quả hoàn thành chức năng, nhiệmvụ của LLCSB. Như vậy, chức năng của LLCSB sẽ có sựbiến đổi nhất định phụ thuộc vào tình hình kinh tế, xã hội, trong đó nhân tố về chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự, an toàn trên biển là nhân tố chủ yếu, khách quan quy định sự tồn tại, bổ sung hoặc thayđổi chức năng của LLCSB.

* Chức năng của lực lượng Cảnh sát biển là hoạt động nhân danh nhà nước, mang tính quyền lực

Nhà nước giao cho LLCSB các trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ pháp lý đểthực hiện chức năng bảo vệ và quản lý biển. Trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn,

38

nghĩa vụ của mình, với tư cách là chủ thể thực hiện quản lý nhà nước về biển, LLCSB thay mặt nhà nước thực hiện các chức năng của nhà nước trong bảo vệchủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; quản lý an ninh, trật tự, an toàn và bảođảmthực thi pháp luật trên biển. LLCSB được Nhà nước giao cho các quyền hạn nhấtđịnh để thực hiện chức năngđó,cụ thể như sau:

LLCSB tổ chức tuần tra, kiểm soát, ngăn cản, đấu tranh với các hoạtđộng lấn chiếm, xâm phạm chủ quyền biển,đảo;khai thác tài nguyên thiên nhiên; kịp thời phát hiện, yêu cầu tổ chức, cá nhânnước ngoài chấm dứthành vi vi phạm, thực hiện các nghĩavụ pháp lý theo quy địnhcủa UNCLOS, các điều ước quốc tế có liên quan vàpháp luật quốc gia ven biển. Tính quyền lựcnhà nước trong hoạt độngcủa LLCSBđược thể hiện ở chỗ lực lượngnày có thể nhân danh nhà nước khi thực hiện chức năng, thẩm quyền của mình. Vì thế, lực lượngnày có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, …truy cứu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính đối với các chủthể vi phạm pháp luật; LLCSB căn cứvào đối tượngtác động, khách thể cần bảo vệ đểáp dụng các biện pháp phù hợp, hiệu quả. Trongđó,việc nhận diện đối tượnglà hết sức quan trọng đối với việc thực hiện quyền lực của LLCSB. Vì thế, một trong những điểmkhác nhau giữa chức năng của lực lượng quân đội với chức năng LLCSB là đối tượngtác động và biện pháp áp dụng.

Trong quá trình LLCSB quản lý an ninh, trật tự,an toàn và bảo đảmthực thi pháp luật trên biển, LLCSB có quyền tổ chức kiểm tra, kiểm soát trên biển, có quyền điều tra, khởi tố đốivới chủ thể vi phạm pháp luật hình sự,hành chính trên biển. LLCSB có thể thực hiện các quyền và biện pháp như: Truy đuổi, nổ súng, bắt giữ, huyđộnglực lượng, lên án, phản đối các hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia, các hành vi vi phạm quyền con người và các biện pháp khác bảo đảmthực hiện pháp luật trên biển.Đối với quân đội,chức năng cơ bản, xuyên xuốt là chiến đấu, nhưng công việckhác được thực hiện để phục vụ hoặcgiúp cho chức năng chiếnđấuđược thực hiện tốt hơn.

Ngoài sựkhác nhau giữa LLCSB với quân đội,điểmkhác nhau giữa LLCSB với các lực lực lượng thực thi pháp luật trên biển khác là giới hạn về nhiệmvụ,thẩm quyền, phạm vi hoạt độngvà biện pháp áp dụng. Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật thì trong lĩnh vực hình sự, LLCSB Việt Nam là lực lượng tiến hành các hoạt động nhằm phát hiện, điều tra làm rõ các hành vi có dấu hiệu phạm tội; trong lĩnh vực xử lývi phạm hành chính, LLCSB Việt Nam trực tiếp phát hiện các hành vi vi phạm hoặc tiếp nhận các hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền từcơ quan, đơn vị chức năng khác chuyển đến để xửlý theo thẩm quyền. Phạm vi hoạt động và phạm vi thực hiện quyền kiểm soát theo lĩnh vực cũng là một trong nhữngđặc điểm cơbản để phân biệt sựkhác

39

nhau giữa LLCSB với các lựclượngchức năng khác. Ngoài ra, giữa các lực lượng thực thi pháp luật trên biển còn có sự khác nhau về hình thức tổ chức, nguyên tắc hoạtđộnghoặc về tên gọi của lực lượngnhư: chuyên ngành môi trường, thuỷ sản; lực lượngkiểm ngư; hải cảnh; cảnh sát môi trường …

* Chức năng của lực lượng Cảnh sát biển mang tính tổ chức chặt chẽ, thống nhất theo nguyên tắc tổ chức bộ máy của Nhà nước

Trên cơsởhệ thốngtổ chức bộ máy nhà nước của từng quốc gia, chính phủthống nhất quản lý nhà nước về biển, thiết lập ba bộ phận cơ bản đólà: chính quyền địa phương cáccấpven biển, các lực lượng thực thi pháp luật và lực lượng thuộc quânđội để quản lý,bảo vệ biển. Lực lượng thực thi trên biển là một hệ thống cơ quan hành chính phức tạp có quy mô lớn, liên quan tới nhiều lĩnh vực như: ngoại giao, quốc phòng, bảo vệ tài nguyên môi trường,cứu hộ cứu nạn,vận tải biển, khai thác hải sản v.v. Do liên quan tới nhiều lĩnh vực như vậy, đòi hỏi quy mô của lực lượng này phảiđủ lớn mạnh để có thể hỗ trợvà phối hợp với nhau trong hoạt động. Lực lượng thực thi pháp luật trên biển cần phải được vận hành và quản lý một cách có hiệu quả những nguồn lực trực tiếp và gián tiếp nhằmđảm bảocho tổ chức này hoạtđộngmột cách có hiệu quả.

Các nước trên thếgiới có thể xây dựng LLCSB theo hai loại hình khác nhau, bảo đảmtính chặt chẽ, thống nhất vềnguyên tắc tổchức bộ máy nhà nước,tránh chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động giữa các lực lượngcùng quản lý, bảo vệ biển. Một là, Nhà nước thành lập nhiều lực lượng thực thi pháp luật, có chức năng riêng biệt, theo lĩnh vực, chuyên ngành, có cơchếphối hợp rõ ràng giữa các

lực lượngnày. Tuy nhiên, thực tiễn của hoạtđộng phối hợp hiện nay luôn có “bức tườngvô hình” trong quan hệ phối hợp giữa các lực lượng. Hai là, nhà nước cũng cóthể thành lập một lực lượng chuyên trách có chức năng quản lý an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm thực thi pháp luật trên nhiều lĩnh vực khác nhau,để bảo đảm chỉhuy,điều hành thống nhất. Các mô hình tổ chức này đều có hai mặt mạnh, yếu. Nhà nước căn cứvào vào tình hình kinh tế, chính trị, đối ngoại và quốc phòng và mục đich, yêu cầu vềquản lý, bảo vệ biển để xây dựng mô hình tổ chức lực lượng cho phù hợp với từng giaiđoạn phát triển của xã hội.

Hiện nay, LLCSB Việt Nam được xây dựng theo mô hình tổ chức bộ máy của loại hình thứ nhất. Nếu theo loại hình này, trên biển hình thành hai lực lượng nòng cốt, chủ yếu đó là lực lượng Quân đội và lực lượng thực thi pháp luật trên biển là LLCSB Việt Nam. 1/ Về tổ chức của LLCSB: có thể các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước của từng quốc gia trên thế giới khác nhau. Tuy nhiên, mô hình tổchức của LLCSB có hai loại mô hình như sau: Chính phủ – Ban giám đốc và cơ quan

40

Cảnh sát biển – các đơn vị Cảnh sát biển – Học viện, nhà trường Cảnh sát biển. Vídụnhư LLCSB ThuỵĐiển,Hàn Quốc… hoặc Chính phủ – Bộ chủ quản/Bộ trưởng – Cục Cảnh sát biển/Bộ tư lệnh Cảnh sát biển và cơ quan Cảnh sát biển – đơn vị Cảnh sát biển – Trườngđại học hoặc Trường huấn luyện nghiệp vụ.Ví dụ như LLCSB Nhật Bản, Malaysia. 2/ Về cơcấutổ chức LLCSB: các quốc gia thiết lập theo nguyên tắc:

ứng với mỗi chức năng của LLCSB đều có cơ quan tham mưu của LLCSB và đơn vịtrực thuộc LLCSB thực hiện. Trong các đơn vị đều có cơ quan ngành dọc cấp dưới của cơ quan thuộc LLCSB. Ví dụ như: chức năng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; bảo vệ lợi ích quốc gia thì có các cơ quan tham mưu tác chiến là lực lượngnòng cốt, chủ trì thực hiện; vùng cảnh sát biển/ khu vực cảnh sát biển hoặc lực lượngtuần duyên; chức năng bảo đảmthực thi pháp luật, có cơ quan pháp luật, nghiệp vụ pháp luật, pháp chế… chức năng hợp tác quốc tế hoặc đối ngoại thì cóphòngđối ngoại, phòng quốc tế hoặc hợp tác quốc tế…Về vấn đề này, Luận án đãnghiên cứu mô hình tổ chức LLCSB của 10 nước mang tính điển hình trên thế giới

[Phụ lục 1].

Về cơchế hoạt độngcủa LLCSB, thực hiện chức năng, nhiệmvụ,thẩm quyền theo trìnhtự,thủtục thực hiện nhấtđịnh,bảo đảmchặt chẽvà khoa học. Qúa trình thực hiện chức năng của LLCSB bảo đảm nguyên tắc mệnh lệnh hành chính, phân cấp rõ ràng, cấp dưới phục tùng cấp trên.Để triển khai các nhiệmvụ của mình, LLCSB xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch; kiểm tra cấp dưới về việc thực hiện kế hoạch; sơ, tổng kết, báo cáo lên cấp trên theo quy định của pháp luật.

* Chức năng của LLCSB mang tính đa diện, đa chiều, phạm vi hoạt động trong các vùng biển quốc gia và quốctế

Quốc gia ven biển luôn mong muốn thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại, bảo vệ môi trường trên biển, quản lý nhà nước đối với xã hội trên biển. Nội dung chức năng của nhà nước càng ngày càng đa dạng, phong phú, nhiều vấn đề nhà nước cần giải quyết. Trong đó, thực hiện chức năng của nhà nước luôn đáp ứng với yêu cầu vậnđộng,phát triển của tình hình kinh tế,xã hội. Khi các quốc gia thúc đẩy mạnh hoạtđộngtìm kiếm lợi ích kinh tế biển; gia tăng khai thác,sửdụng biển thì nội dung chức năng bảo vệ đất nước và bảo vệ trật tựpháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của cánhân, tổ chức trên biển càng đa dạng, phong phú.Đặc biệt,các quốc gia có vùng biển

rộng, kinh tếbiển phát triển mạnh mẽ thì vai trò của LLCSB càng quan trọng trong việc giúp Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệmvụ nêu trên. Vì thế, chức năng của LLCSB nói chung, LLCSB Việt Nam nói riêng luôn mang tính đa diện, đa chiều. Tínhđa diện thể hiện như LLCSB có chức năng bảo vệ lợi ích quốc gia; trông coi biển; bảo

vệ môi trường biển….bảo đảm thực thi pháp luật trên các lĩnh vực thuỷ sản, tài nguyên

41

khoáng sản, khoa học biển. Thể hiện đa chiều như: chức năng của LLCSB theo hướng là lực lượng “dân sự” trong thời bình; lực lượng quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổquốc của LLCSB Mỹ, Thái Lan..); hoặc chiềuhướngxây dựng LLCSB có chức năng tiệm cận quân sự. LLCSB là lực lượng vũ trang, có năng lực về phương tiện, trang bịnghiệp vụ một phần của lực lượng quân sự, là đặc thù chức năng của LLCSB khác với các lực lượng Công an, Quân đội hoặc các lực lượng thực thi pháp luật khác như kiểm ngư, thanh tra chuyên ngành, Hải quan… LLCSB Việt Nam có phạm vi hoạt động trên các vùng biển quốc gia, vùng biển quốc tế cũnglà đặc điểmriêng, khác với lực lượng Biên phòng, hải quan, cảngvụ,Công an đườngthuỷ nội địa,uỷ ban nhân dân…Đặc điểm này giống như LLCSB một số quốc gia có phạm vi hoạt độngrộng hơn, ngoài vùng biển thuộc chủ quyền, chủ quyền, quyền tài phán quốc gia (LLCSB Nhật Bản, Mỹ,Trung Quốc)… phù hợp với UNCLOS 1982 về việc LLCSB được hoạt động trên các vùngđặc quyền kinhtế củanước ngoài, vùng biển quốc tếphù hợp với các quyđịnh của UNCLOS và pháp luật quốc gia ven biển.

* Chức năng của lực lượng Cảnh sát biển mang tính quốc tế

Trên cơsởcác quy định của UNCLOS, LLCSB đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trong thực hiện việc quản lý và bảo vệ biển.Sựliên kết giữa các LLCSB của các quốc gia ngày càng chặt chẽ để cùng thực hiện mục tiêu chung là gìn giữ hoà bình,ổn định,phòng chống tội phạm, cứu hộ cứu nạn,bảo vệmôi trường biển trong khu vực và thế giới, đóng góp không nhỏ trong việc “cải thiện” mối quan hệ giữa các quốc gia ven biển có lợi ích liên quan. Kết quả của việc liên kết, hợp tác giữa LLCSB của các quốc gia với nhau đã làm tăng thêm lòng tin, sức mạnh, uy tín của LLCSB của mỗi quốc gia trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

Pháp luật quốc tế,nhất là UNCLOS là cơsởpháp lý hết sức quan trọng của quốc gia ven biển để quản lý và bảo vệ biển. Côngước này không chỉ quy định vềquyền và nghĩa vụ pháp lý của các quốc gia ven biển mà còn quy định hoạt động hợp pháp của cơ quan,tổchức, cá nhân nước ngoài trên các vùng biển của quốc gia ven biển.Đồngthời các quy định của UNCLOS kết hợp với lịch sửsửdụng, quản lý biển của mỗi quốc gia tạo nên sựđan xen, liên kết đa quốc gia trong thực hiện các hoạtđộngquản lý nhà nước trên biển. Các hiệp định, thoả thuận quốc tế về hợp tác quản lý, khai thác chung và bảo vệ biển cũng tạo các hành lang pháp lý để LLCSB thực hiện chức năng của mình. Xu hướng hiện nay, phần lớn các quy định của điều ước quốc tế đều được các quốc gia thành viên nội luật hoá và tuân thủ,đãtạo nên tính đồng bộthống nhất về nhận thức, hành động hợp tác quốc tế giữa LLCSB của các quốc gia với nhau, nhằmgiữgìn hoà bình, an ninh, trật tự,an toàn và bảo đảmthực thi pháp luật trên biển; bảo đảmgiải quyết nhanh chóng, kịp thời, phù hợp với quy định của pháp

42

luật đối với các vụviệc, tình huống xảy ra trên biển; góp phần nâng cao năng lực vàhiệu quả thực hiện chức năng của LLCSB. Trên cơsởcác chế định của pháp luật quốc tế về quảnlý biển, năng lực thực tế của LLCSB mỗi quốc gia; những yêu cầu của hoàbình, an ninh, an toàn và những lợi ích chung của các quốc gia trên biển là mục tiêu thiết thực,thúc đẩy sựliên kết giữa các LLCSB của các quốc gia ngày càng chặt chẽvà gắn kết,tạoxu hướng chung hướng tới việc thành lập tổ chức LLCSB quốc tế hoạtđộngtheo những mục tiêu chung của các quốc gia.

Như vậy, mặc dù môi trường hoạtđộng và đốitượng tác động của LLCSB mỗi mộtquốc gia đều mang đặc thù của mỗi quốc gia, còn có điểm khác nhau, nhưng chức năng hợp tác quốc tế của LLCSB sẽ bao gồm một số đặc điểm cơ bản như sau:

Một là, LLCSB hoạt động trong môi trường có tính quốc tế do tính mở của đại dương nên lực lượng này quản lý một vùng nước rộng lớn, không có một ranh giới cốđịnh trên biển; các chủ thể là đại diện cho quốc gia hoạt độngtrên biển có tỷ lệ lớn; các hoạt động ngoại giao diễn ra thường xuyên như thăm tàu, cảng của nhau; huấn luyện, tuần tra chung trên biển; thực hiện quyền hạn trên vùng biển nước ngoài vàvùng biển quốc tế theo quy định của pháp luật quốc tế.

Hai là, cơ sở pháp luật cho hoạt động của LLCSB có tính đa dạng, liên quan tới cả pháp luật trong nước và luật quốc tế. Ngoài việc LLCSB của các quốc gia thực hiện pháp luật quốc gia, thìđều phảituân thủ một số quy định chung mang tính ràng buộc quốc tế như: UNCLOS; các điều ước quốc tế phổ cập của IMO và các điều ước quốc tế khác.

Ba là, do môi trườngtựnhiên đặc thù của biển và tính chất không xác định của lực lượngchấp pháp đã tạo nên tính chất nguy hiểm và phức tạp trong thực hiện chức

năng, nhiệm vụ lớn hơn nhiều so với lực lượngthực thi pháp luật trên đất liền, trong phạm vi của một quốc gia.

Bốn là, do tính chất đặc thù đan xen về quyền, lợi ích của các quốc gia trên các vùngđặc quyền kinh tế và thềm lục địa.Bên cạnh việc tăngcườngkhai thác tài nguyên thiên nhiên và triệt để tận dụng các lợi thế, tiềm năng của biển, các quốc giađồngthời phải tăng cường các lực lượng chức năngcủa nhà nước để bảo vệ quyền vàlợi ích của mình trên biển đã làmnảysinh nhiều xungđột,mâu thuẫn phức tạp, nhạy cảm. Vì thế, mối quan hệ pháp luật giữa LLCSB với các lực lượng chức năng của các quốc gia khác là điểm mang tính đặc thù, đây là những chủ thể đặc biệt trong quan hệquốc tế.

* Chức năng của lực lượng Cảnh sát biển mang tính phổ biến

Mỗi một nhà nước có thể mang bản chất khác nhau và tổ chức bộ máy nhà nước cũng khác nhau. Tính phổ biến trong chức năng của LLCSB được thể hiện là: các quốc

43

gia ven biển hiện nay đều căn cứ vào thực tiễn của yêu cầu quản lý, bảo vệ biển,đảođể thành lậpLLCSB. Hiện nay, theo thống kê củawebsite http://vi.wikipedia.org cókhoảng 165 quốc gia thành lập LLCSB trên thế giới. Trong đó, LLCSB thường có các chức năng cơ bản như: chức năng tham mưu hoạch định chính sách, pháp luật về quản lý bảo vệ biển; chức năng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; chức năng quản lý an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm thực thi pháp luật trên biển; chức năng hợp tác quốc tế; chức năng bảo vệ môi trường… Vì vậy, việc xác định chức năng của LLCSB Việt Nam cũng mang nhữngđặc điểmchung với LLCSB của các quốc gia ven biển trên thế giới. Thực tiễn, chức năng, nhiệmvụ của LLCSB của mỗi quốc gia có thể có điểm khác nhau, nhưng đều mang đặc điểm chung về phương thức thực hiện chức năng, như: phương thức đấu tranh bằng biện pháp hoà bình, pháp luật, hợp tác quốc tế thuyết phục hoặc cưỡngchế theo quy định của pháp luật quốc tế vàquốc gia.

* Chức năng của lực lượng Cảnh sát biển mang tính chất dânsựtrong bảo vệchủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; quản lý an ninh, trật tự, an toàn trên biển

Chức năng của LLCSB mang tính chất “dânsự” thểhiện bản chất của LLCSB là lực lượngdân sựcủa Nhà nước.Tính chất dân sựđược hiểu là không mang tính quân sự. Thông quađối tượng tácđộng, phương thức, biện pháp thực hiện chức năng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia,giữgìn an ninh, trật

tự, an toàn trên biển là đặc điểm then chốt trong việc xác định vị trí, vai trò bản chất của LLCSB hiện nay. Trong bộ máy nhà nước, cũng như lực lượng Cảnh sát, Công an nhân dân, Kiểm ngư, Hải quan… LLCSB là lực lượng mang tính dân sự, thực hiện các phương thức, biện pháp thực thi pháp luật để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển; quản lý an ninh, trật tự, an toàn trên biển. Sự khác biệt giữa thực hiện biện pháp quân sự, đấu tranh vũ trang của các lực lượng thuộc quân đội (Hải quân, Không quân và các đơn vị quân đội..) với phương thức, biện pháp hoà bình, pháp luật, phù hợp với pháp luật quốc tế,phù hợp với xu hướngchung của thế giới hiện đại của LLCSB.

Sự khác nhau đó thểhiện về đối tượng tác độngcủa LLCSB và lực lượng quânđội.Về đốitượng tác chiến của quân độilà “địch”,theo từđiểnTiếng Việt:“Địch làphía đối lập, có quan hệ chống nhau vì lý lẽsống còn”[107]. Như vậy,“địch”được xác định là đối tượng cần tiêu diệt, huỷ diệt trong chiến tranh và là các mục tiêu chiếnđấu trongtổ chức huấn luyện.Đối tượngđấu tranh của LLCSB trongbảovệ chủ quyền là các chủ thể (tổ chức, cá nhân) có các hành vi vi phạm pháp luật quốc gia, có

44

hành vi xâm lấn, xâm phạm chủ quyền (các tội phạm hình sự, hoặc vi phạm pháp luật hành chính) và pháp luật quốc tế.

Về phương thức thực hiện chức năng quân đội (Hải quân, Biên phòng, các đơn vị quân đội) là học thuyết chiến tranh, nghệ thuật quân sự trong tấn công, phòng ngự; vũ trang hiện đại, hoả lực mạnh và phương tiện tàu chiến, máy bay chiến đấu, vũ khíhạt nhân… hoặc những vũ khí khác có tính năng chiến đấucao, phát huy tốiđa sức mạnh của vũ khí, trangbị bảo đảmtiêu diệt “địch”.Bên cạnh đó,đội ngũ nhân lựcđược huấn luyện tinh nhuệ đảm bảo sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Phương thức đặc trưng trong hoạt động của LLCSB là sửdụng pháp luật. Trên cơsởquyền hạn pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế quy định để ban hành các quyết định áp dụng pháp luật nhằm tác độngđến các đối tượngđể bảo vệ chủ quyền, quyền chủquyền, quyền tài phán quốc gia; giữ gìn an ninh trật tự, an toàn trên biển.

Hiện nay, nhu cầu quản lý và bảo vệ biển, đảo của các quốc gia ven biển hiện nay đòi hỏi phải phù hợp pháp luậtquốc tếhiện đại,phù hợp xu hướng vì con người, vì an ninh,ổn định,hoà bình khu vực và thế giới; hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, quốc phòng và an ninh là những vấn đề mà mỗi quốc gia phải ưu tiên đặt ratác động đếnphương thức hoạt động trong thực hiện chức năng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển đảm bảo phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế. Xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới trong thực hiện các giải pháp để bảo vệ chủ quyền trong tranh chấp biển,đảo bằng pháp luật và ngoại giao vẫn là giải pháp hữuhiệu nhất hiện nay. Vì vậy, trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp trên biển, các quốc gia đều không mongmuốn sửdụng biện pháp quân sự,vũ trang. Các lực lượngquân sựnhư hải quân, không quân, biên phòng chỉ thể hiện sức mạnh, vai trò răn đe vũ trang trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Vì thế, LLCSB sử dụng các biện pháp chính trị, ngoại giao, hoà bình, pháp luật để giải quyết các tình huống mâu thuẫn về chủ quyền biển, đảo; tăngcường đầu tưxây dựng LLCSB là lực lượngphi quân sự,mang tính “dânsự”nhằmkịpthời phát hiện, ngăn cản các hành động xâm phạm, xâm lấn vùng biển,đảo từphía nước ngoài nhằm bảo vệ sựtoàn vẹn chủ quyền quốc gia hoặc giữnguyên hiện trạng, hạn chếcăng thẳng leo thang và giải quyết xung đột, mâu thuẫn mang tính chất chủ quyền,lợiích quốc gia trên biển; ngăn ngừa các hành vi xâm phạm khai thác tài nguyên biển; quản lý và bảo đảm thực thi pháp luật trên biển.

Tuy nhiên, LLCSB được xác định là lực lượngvũ trang nhân dân, giống nhưCông an nhân dân, dân quân tựvệ,việc xác định đối tượng là “địch” hay“người cóhành vi vi phạm pháp luật” tuỳ thuộc tình huống, trường hợp cụ thể, để LLCSB có các phương thứcđấu tranh phù hợp nhằmđạtđược mục đíchđặt ra,đápứngyêu cầu,

45

nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biển hiện nay. Khi chiến tranh xảy ra, LLCSB là lực lượng thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống xảy ra.

2.3. Nội dung, phƣơng thức thực hiện chức năng của lực lƣợng Cảnh sát biển 2.3.1. Nội dung ch c n ng c a l c lư ng C nh sát i n

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

Chuc nang canh sat bien viet nam

chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay chức năng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *