Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay

Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

QTGvớitư h là một bộ phận ủ quyền SHTT, đãvà đ ng đóng v i tr qu n trọng đối với sựph t triển kinh tế – xã hội ủ mỗi quố gi ũng như qu trình hội nhập quố tế ủ quố gi đó. Bảohộ QTGtạomôi trường s ng tạo vàtruyền b tri thứ nhân loại, khuyến khí h hoạt động s ng tạo, nghiên ứu kho họ

ủ nhân tổ hứ , là nguồn đóng góp ơ bản ho sự ph t triển kho họ – kỹthuật, văn hó – nghệ thuật và văn minh nhân loại. Cùng với xu thế phát triển của thời đại, các sản phẩm trí tuệ là đối tượng của QTG ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế.

Ngày nay, sự phát triển của công nghệ số, internet, mạng xã hội đã giúp tác giảvà chủsởhữu dễdàng mang tác phẩm của mình tới gần hơn với công chúng,

ũng như kh i th tối đ quyền lợi hợp pháp của mình. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của công nghệ số ũng đem lại nhiều rắc rối và thử th h đối với chủ thểquyền và ơ qu n nhà nước trong việc kiểm soát và xửlý các hành vi xâm phạm. Hiện nay, các hành vi xâm phạm QTG đ ng ó hiều hướng gi tăng đ ng kể. Hành vi phổbiến nhất phải kểđến là nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu QTG. Cụ thể, hình thức phổbiến của hành vi này trên thực tế là sự xuất hiện dày đặc việc kinh doanh phi pháp thông qua những tr ng web đọc truyện, nghe nhạ , xem phim “lậu”. Không hỉ vậy, một số hành vi xâm phạm kh ũng rất phổ biến như s o hép hoặc làm tác phẩm phái sinh mà không có sự cho phép của chủ sở hữu, sử dụng tác phẩm mà không chi trảcác quyền lợi vật chất hợp pháp cho chủsởhữu, hay xuyên tạc nội dung tác phẩm gây ảnhhưởngđến danh dự và uy tín của tác giả. Những hành vi này không những hư bị xử lý triệt để mà thậm hí nđượ đón nhận rộng rãi và đ ng dần trởthành một phần trong văn hó đại chúng hiện nay. Bởi vậy, việc bảo vệQTG trước các hành vi xâm phạm, áp dụng các biện pháp đủ răn đe ho những đối tượng xâm phạm quyền, ũng như nâng o ý thức tôn trọng QTG của cộng đồng là vấn

1

đề mang tính thời sự và cấp thiết hiện nay. Đặc biệt, một thực tế đ ng diễn ra là mặc dù các hành vi xâm phạm QTG khá phổ biến, tuy nhiên, quy định pháp luật vẫn

hư đầy đủ và rõ ràng để giúp chủ thể quyền đ i lại những quyền lợi hính đ ng,

ũng như xử lý bên xâm phạm QTG một cách thoả đáng.

Trong xu thế hội nhập quố tế, Việt N m từ năm 2007 đã là thành viên ủ Tổ

hứ Thương mại Thế giới (WTO) và hiện đ ng th m gi rất nhiều ĐƯQT song phương và đ phương về bảo hộ quyền SHTT nói hung, QTG nói riêng. Đặ biệt trong thời gi n gần đây, Việt N m đã th m gi vào Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, điển hình là Hiệp định Đối t Toàn diện và Tiến bộ xuyên Th i Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Việt N m – EU (EVFTA), Hiệp định Đối t kinh tế toàn diện khu vự (RCEP), trong đó, điều khoản về bảo hộ QTGđã đượ nâng o mứ bảo hộ so với huẩn mự quố tế phổ biến hiện n y là Côngướ Berne về bảo hộ QTG. Các Hiệpđịnh thương mại tựdo thế hệ mới đặt r

những yêu ầu o vềtính minh bạ h ủ hính s h, quyđịnhliên qu nđến SHTT, đ i hỏi ph p luật SHTT Việt N m ần ó sự sử đổi, bổ sung để đảm bảo sự

tương thí h với hiệp định này. Hiệp định CPTPP ũng như EVFTA đặ biệt nhấn mạnh đến yêu ầu bảo hộ QTG trong môi trường kỹ thuật số, b o gồm: quyđịnh về hành vi xâm phạm và việ tăng ường biện ph p hình sự và dân sự trong việ xử lýhành vi xâm phạm trong môi trườngsố; ơ hếbảovệ“Quảnlý quyềnkỹthuậtsố”

(Digit l Right M n gement-DRM)gồm Biện ph p ông nghệbảovệquyền

(Technical Protection Measure – TPM) và Thông tin quản lý quyền (Right

M n gement Inform tion – RMI); Cơ hế tr h nhiệm ủ nhà ung ấp dị h vụinternet (Internet Servi e Provider-ISP) để đối phó với “vấn nạn” xâm phạm QTG trên môi trường số. Đây ũng là th h thứ đặt r trong việ hoàn thiện ph p luật ũng như

ơ hế thự thi QTG ở Việt N m trong thời gi n tới khi mà quy định ủ ph p luật Việt N m về vấn đề nàyvẫn n sơ sài, hư đ p ứng đượ yêu ầu về tính tương thí h với Hiệp định thương mại tự do mà Việt N m th m gi gần đây, ũng như hư bảo vệ

hiệu quả QTG trướ những hành vi xâm phạm ngày àng gi tăng ả trên môi trường truyền thống và môi trường kỹ thuật số.

2

Trong ơ hế bảo vệ QTG đ ng được vận hành, giải quyết tranh chấp vềQTG bằng biện pháp dân sự đượ đ nh gi là ơ hế bảo vệ quyền phổ biến và hữu hiệu nhất trên thế giới hiện nay. Trong pháp luật Việt Nam, biện pháp dân sự ũng thể hiện được những ưu thế riêng so với biện pháp hành chính và biện pháp hình sự. Nếu như biện pháp hành chính và biện pháp hình sự chỉ ó ý nghĩ ngăn hặn hành vi xâm phạm, áp dụng các chế tài hành chính hoặc hình sự nhằm răn đe, gi o dục đối tượngvi phạm, thì trong biện pháp dân sự, chủthểQTG bên cạnh quyền yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm, còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với những thiệt hại thực tếdo hành vi xâm phạm gây ra cảvềvật chất lẫn tinh thần. Mặc dù biện pháp dân sự được cho là có những ưu thế vượt trội trong việc bảo vệQTG, tuy nhiên, số lượng tranh chấp về QTG được giải quyết tại Toà án Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn. Thực tiễn xét xửtranh chấp vềQTG của Toà án tại Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Thủ tục tố tụng phức tạp, kéo dài, tốn kém thời gian, công sức và chi phí cho việc kiện tụng; việc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án củ ơ qu n xét xử trong một số vụ n n hư hính x , gây nhiều tranh cãi; nhiều vụ việc Toà án thiếu ơ sở ph p lý để đư r những phán quyết thấu tình

đạt lý… Đặc biệt, đối với yêu cầu bồi thườngthiệt hại, chủ sở hữu QTG thườngsẽgặp khó khăn trong việc chứng minh thiệt hại thực tế. Nếu chủ thể quyền không cósự chuẩn bị trước, thì khi có hành vi xâm phạm xảy ra, sẽ rất khó trong việc chuẩn bị các bằng chứng để chứng minh thiệt hại. Do đó, mức bồi thường mà bên bị xâm phạm quyền có thể đ i đượ thông qu ơ hế giải quyết tại Tòa án thường thấp hơn so với thiệt hại thực tế và không đủ sứ răn đe đối với bên thực hiện hành vi xâm phạm khi mà lợi ích mang về gấp nhiều lần so với mức bồi thường hay phạt.Điều này dẫn đến các chủ thể quyền còn e ngại và dè dặt trong việc lựa chọn Toà n là ơquan bảo vệquyền, lợi ích hợp ph p ho mình. Trong khi đó trên thực tế, các vụviệc tranh chấp, xâm phạm QTGvẫnngày àng gi tăng vềsốlượng và tính chất phức tạp, cần có những biện pháp giải quyết thoả đ ng.

Ngày 22/8/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1068/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lượ SHTT đến năm 2030 – hiến lượ đầu tiên m ng tầm quố gi

3

về SHTT mà một trong những nhiệm vụ trọng tâm là “nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật SHTT, giảm thiểu tình trạng xâm phạm quyền SHTT”. Để đạt đượ

mụ tiêu đề r , Chiến lượ đặt r hín nhóm nhiệm vụ, giải ph p ần triển kh i thựhiện, trong đó ó nhiệm vụ “đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạtđộng thực thi quyền SHTT, đặc biệt nâng cao hiệu quả xétxử và giải quyết các tranh chấp vềQTG tại Toà án”. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng cộng sản VN lần thứ XIII ũngđã chỉramộttrong những nhiệmvụtrọng tâmcủađịnhhướngphát triểnđấtnước

giai đoạn 2021 – 2030 là“hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về bảo hộSHTT và giải quyết các tranh chấp dân sự, khắc phục những điểm nghẽn cản trở sựphát triển của đất nước”.

Cho đến thời điểm hiện n y, hư ó ông trình nghiên ứu nào có tính bao quát và toàn diện vềbảo vệQTG thông qua xét xửtại Toà án. Từthực tiễn trên, việc nghiên cứu đề tài “Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ởViệt Nam hiện nay” là mộtnhu cầu cấp bách của khoa học pháp lý ởViệt Nam hiện nay. Đây ũng là lý do mà NCSđãlựa chọn đề tài này để nghiên cứu vàlàm luận án Tiến sĩ luật học.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mụ đí h nghiên ứu của luậnán là làm rõ các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật bảo hộquyền tác giả và thực tiễn bảo vệQTG thông qua xét xửtạiToà án Việt Nam, từ đó, đề xuất định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong bảo vệ QTG tại Toà án ở Việt Nam.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mụ đí h trên, Luận n x định thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu s u đây:

Một là, phân tích và xây dựng ơ sở lý luận về bảo vệ QTG thông qu phương thức xét xửtại Toà n, trong đó làm rõ nội dung lý luận như: Kh i niệm, đặc điểm của QTG, bảo hộ và bảo vệ QTG; các nguyên tắc bảo vệ QTG; đặ trưng ủa bảo vệ QTG thông qu phương thức xét xử tại Toà án (làm rõ điểm khác biệt so với các biện pháp bảo vệ khác); những yếu tố t động đến việc bảo vệ QTG thông qua

4

phương thức xét xửtại Toà án; những nội dung ơ bản của pháp luật vềbảo vệQTG thông qu phương thức xét xử tại Toà án.

Hai là, nghiên cứu quy định của pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng vềbảo hộQTG và bảo vệQTG bằng biện pháp dân sự; thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về QTG tại Toà án thông qua các vụ n điển hình; chỉ ra những bất cập trong hệ thống pháp luật và vướng mắc trong thực tiễn thi hành.

Ba là, nghiên cứu đư r định hướng và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật SHTT và nâng cao hiệu quảthực hiện pháp luật vềbảo vệQTG thông qu phương thức xét xử tại Toà án ở Việt Nam.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các lý thuyết về bảo hộ QTG, quy định của pháp luật SHTT Việt Nam và các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên về bảo hộQTG và thực tiễn bảo vệ QTG thông qu phương thức xét xử dân sự tại Toà án ởViệt Nam hiện nay.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Bảo vệ QTG thông qu phương thức xét xử tại Toà án là vấn đề rất lớn, có thể được phân tích ở nhiều mứ độ, nhiều khía cạnh khác nhau. Trong phạm vi của một Luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế, các Nghiên cứu của Luận án tập trung vào vấn đề xét xử dân sự tại Toà án; vấn đề xét xử vụ án hình sự hay hành chính liên qu n đến QTG không phải là nội dung nghiên cứu chính của Luận án.

Luận án nghiên cứu ba nội dung lớn: (i) lý luận về QTG và bảo vệ QTG; (ii) pháp luật về bảo hộ và bảo vệ QTG thông qua xét xử tại Toà án, bao gồm pháp luật nội dung và pháp luật hình thức; (iii) thực tiễn áp dụng pháp luật trong bảo vệ QTG thông qua các vụ n đã được Toà án xét xử ở Việt Nam trong thời gian qua.

Về không gian và thời gian:

Luận án tập trung nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệQTG, bao gồm: Luật SHTT 2005 (sử đổibổsung năm 2009, 2019); BLDS năm

2015; BLTTDS năm 2015, BLHS 2015 (sử đổi bổ sung năm 2017)… và quyđịnh pháp luật liên quan khác, sử dụng các nội dung, số liệu qua hoạt động thực tiễn xét xử

5

tại hệthống TANDđốivớicácvụ n liên qu nđếnbảovệQTG trong phạm vicả

nước.Luận n ũng nghiên ứu quy định mới về QTG trong Dự thảo số 05 Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT được công bố trên website của Quốc hội,đượ đư r trình lấy ý kiến của Quốc hội vào kỳ họp tháng 10/2021.

C văn bản pháp luật, thông tin, số liệu, tư liệu phục vụ nghiên cứu Luận án từnăm 1998 trở lại đây, trong đó chủ yếu là thông tin, tư liệu trong khoảng thời gian từ khi Luật SHTT 2005 có hiệu lực thi hành, tới nay.

Việc nghiên cứu quy định của ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên, và pháp luật QTG của một số quốc gia chỉ để so s nh, đối chiếu với pháp luật Việt Nam với mụ đí h để hoàn thiện pháp luật, học hỏi kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ QTG tại Toà án Việt Nam.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án

Luận nđượ thự hiện trên ơ sở vận dụng phương ph p luận duy vật biện

hứng, duy vật lị h sử ủ Triết họ M –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các qu n điểm ủ Đảng Cộng sản và Nhà nướ Cộng h xã hội hủ nghĩ Việt N m về QTG vàbảovệ QTG thông qu phương thứ xét xửtại hệthống Toà án ủ Việt N m hiện n y.

Để làm rõ vấn đề ần nghiên ứu, Luận n sửdụng những phương ph p nghiên ứu ụ thể như: phương ph p phân tí h, phương ph p tổng hợp, phương

pháp so sánh luật, phương ph p thống kê, phương ph p lị h sử…để làm s ng tỏnhững vấn đềlý luận và thự tiễn thi hành quyđịnhvề bảovệ QTG thông qua phương thứ xét xử tại Toà n theo ph p luật Việt N m.

Phương ph p nghiên ứu ụthểđượ sửdụng như s u:

Chương 1: Phương ph p phân tí h, so s nh luật, đượcsửdụng đểđ nh gi , làm rõ những vấn đềliên qu nđến đềtài nghiên cứu, những vấn đềđã đượcgiải quyết, những vấn đề còn bỏ ngỏ để định hướng tiếp tục nghiên cứu.

Chương 2: Sử dụng kết hợp phương ph p phân tí h với phương ph p tổng hợp đểlàm rõ các vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ QTG thông qua xét xử tại Toà án.

Chương 3:Sửdụng phương ph p thu thập tài liệu, phương ph p nghiên cứu trường hợp (case study) nhằm đ nh gi thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về

bảo vệ QTG thông qu phương thức xét xử tại Toà án ở Việt Nam, nêu nguyên nhân làm hạn chế việc bảo vệ QTG thông qu phương thức xét xử tại Toà n. Trong hương này, Luận n ũng đồng thời sử dụng phương ph p hệ thống hóa nhằm kế thừa và tổng hợp kết quả nghiên cứu đã ông bố.

Chương 4: Áp dụng phương ph p phân tí h, dựb o đư r những khuyến nghị, giải ph p x đ ng nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về bảo vệ QTG thông qu phương thức xét xử tại Toà án ở Việt Nam hiện nay.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, trên ơ sở nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nướ ó liên qu n đến đề tài, luận n x định những vấn đề đã được nghiên cứu, độsâu nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật vềbảo vệQTG thông qua xét xửtại Toà án. Kết quảcủa việc tổng hợp, phân tích,đ nh gi những ông trình đã ông bố liên qu n đến đề tài nghiên cứu làm sâu sắc thêm ơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện pháp luật về bảo hộ và bảo vệ QTG thông qua xét xử tại Toà án.

Thứ hai, luận n đã hệ thống và làm nổi bật những vấn đề lý luận về bảo hộ QTG nói chung và bảo vệ QTG thông qua xét xử tại Toà án. Luận n đã tổng hợp kh i lược lịch sử r đời các học thuyết nền tảng của bảo hộ QTG; xây dựng khái niệm và chỉ ra các đặ điểm của QTG, bảo hộ QTG nói chung và bảo vệ QTG thông qua xét xử tại Toà án nói riêng; chỉ ra yêu cầu bảo vệ QTG trong các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên. Nhữngvấnđềnày óýnghĩ qu n trọng,tạonềntảng lý luậnvềpháp luật vàhoàn thiện pháp luật về bảo vệ QTG thông qua xét xử của Toà án.

Thứ ba, thông qua việc phân tích pháp luật thự địnhvà thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc bảo vệ QTG tại Toà án, luận n đã đ nh gi , nhận diện những bất cập của pháp luật về bảo hộ QTG nói chung và bảo vệ QTG bằng biện pháp dân sự tại Toà

n nói riêng. Đồng thời, qua nghiên cứu thực tiễn xét xử các tranh chấp về QTG tại Toàán, luận n đ nh gi , phân tích những tồn tại, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân hạn chếcủa việc bảo vệ QTG tại Toà án Việt Nam hiện nay.

Thứ tư, qua nghiên cứu pháp luật quốc tế, đặc biệt là các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia gần đây và thực tiễn bảo vệ QTG thông qua xét xử tại

7

Toà án ở một số quốc gia, luận án rút ra những giá trị tham khảo có thể vận dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt NamvềbảovệQTG ũng như ải thiện hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp vềQTG nói riêng, quyền SHTT nói chung tại hệ thống Toà án Việt Nam.

Thứ năm, luận án phân tích, chỉ rõ các yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật ũng như ải cách hệ thống tư ph p trong việc bảo vệ QTG thông qua xét xử tại Toà án Việt Nam hiện nay. Đồng thời, qua nghiên cứu lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệQTG thông qua xét xửtại Toà án Việt N m, trên ơ sởtham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, luận n đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ QTG tại Toà án nhằm đ p ứng đ i hỏi của thực tiễn và các yêu cầu trong các cam kết quốc tế màViệt Nam là thành viên. Đặc biệt, Luận n đã đư r những kiến nghị có giá trị tham khảo để hoàn thiện Dự thảo Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT dựkiến được thông qu vào năm 2022.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận

Các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung những vấn đề lý luận vềbảo hộ và thực thi QTG nói chung, bảo vệ QTG tại Toà án nói riêng. Luận án là sựnhìn nhận, đ nh gi kho học về những ưu điểm, hạn chế, bất cập của pháp luật bảo hộ QTG và bảo vệ QTG thông qua xét xử. Nghiên cứu của luận án tạo ơ sở khoa học cho việ đ nh gi ph p luật thự định, đư r định hướng, đềxuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi QTG tại Toà án.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổchứ , ơ qu n làm ông t thực thi QTG nói riêng, quyền SHTT nói chung. Luận án

ũng đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiêncứuvà giảngdạypháp

luật SHTT trong hệ thống trường đại học, học viện. Đặc biệt, trong bối cảnh Luật SHTT Việt Namđ ng được sử đổi, hoàn thiện để đ p ứng nhu cầu thực tiễn và yêu cầu về tính tương thí h và phù hợp với các ĐƯQT và Hiệp định thương mại tự do màViệt Nam tham gia ký kết gần đây, ác kiến nghị trong Luận án có giá trị tham khảo

8

trong việc gópýkiếnđểhoàn thiệnDựthảo Luậtsử đổi,bổsungmộtsốđiềucủa Luật SHTT dự kiến được Quốc hội thông qu năm 2022.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án gồm 4 hương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và ơ sở lý thuyết nghiên cứu. Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền tác giả thông qua xét xử của toà án.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền tác giả thông qua xétxửtại Toà án nhân dân ở Việt Nam.

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệquyền tác giả thông qua xét xử tại Toà án nhân dân ở Việt Nam.

9

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ

THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Cơ chế bảo vệ QTG ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố nền tảng là trình độ phát triển kinh tế – xã hội của quố gi đó. Vì vậy, việ đ nh giá tổng quan tình hình nghiên cứu phải xuất phát từtiền đềpháp luật vềbảo vệQTG ở nước nào phải luôn được thiết kế phù hợp với hoàn cảnh nướ đó.

1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền tác giả

1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về các biện pháp bảo vệquyền tác giả nói chung và bảo vệ quyền tác giả thông qua Toà án nói riêng

1.1.4. Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề thực tiễn bảo vệ quyền tác giảnói chung,bảovệbằng biện pháp dân sựnói riêng và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền tác giả thông qua xét xử tại Toà án Việt Nam

1.1.4.1. Những nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế trong bảo vệ quyền tác

1.1.4.2. Những nghiên cứu về thực tiễn bảo vệ quyền tác giả tại Việt Nam

1.2. Những thành tựu nghiên cứu luận án cần kế thừa và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

1.2.1. Những thành tựu nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa

Thứnhất, vềnhững vấn đềlý luận vềQTG. Cho đến n y, đã ó kh nhiều công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về QTG như kh iniệm, đặ điểm, ơchếbảo hộQTG, sựkhác biệt trong ơ hếbảo hộQTG và quyền sởhữu công nghiệp, vai trò của bảo hộ QTG nói riêng, quyền SHTT nói hung đối với sự phát

triển kinh tế – xã hội… Đây là nguồn tài liệu hữu í h để NCS kế thừa, tham khảo cóchọn lọc và phát triển trong nghiên cứu củamình. Tuy nhiên, các công trình đãđược thống kê ở trên vẫn hư nghiên ứu một h đầy đủ và có tính hệ thống về

ơ sở lý luận và thực tiễn của bảo vệ QTG; các nguyên tắc bảo hộ QTG…

Thứhai, những vấn đềlý luận vềbảo vệQTG. Các khái niệm bảo hộ, bảo vệ, thực thi quyền SHTT đã được nhiều công trình đề cập tới. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy nội hàm khái niệm này vẫn có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu không thống nhất, cần được tiếp tục nghiên cứu và làm rõ.

C ông trình ũng đã nghiên ứu khá toàn diện vềcác thiết chế, các biện pháp bảo vệ quyền SHTT nói chung, QTG nói riêng. QTG là bộ phận quan hệ pháp luật ó tính đặ thù tương đối so với quyền sởhữu công nghiệp, vì vậy, nó sẽcó những đặ trưng riêng trong ơ hếbảo vệ. Những tính chất riêng của QTG (như:

căn ứxác lập quyền tựđộng, bảo vệquyền nhân thân bên cạnh bảo vệquyền tài

sản, thời hạn bảo hộ kéo dài sau khi tác giả chết…) sẽ quyết định những đặ trưng riêng trong ơ hế bảo vệ QTG. Đã ó kh nhiều công trình có nội dung nghiên cứu về bảo vệ QTG tại Tòa án bằng biện pháp dân sự hay hình sự, tuy nhiên, còn nhiều nội dung hư được nghiên cứu một cách sâu sắ và đầyđủnhư: đặ điểm và các nguyên tắc của bảo vệ QTG thông qua xét xử tại Toà n; đặ trưng ủ ơ hế bảo vệbằng biện pháp dân sự, biện pháp hình sự. Luận án sẽ kế thừa và phát triển những nội dung nghiên cứu về khái niệm bảo vệ QTG, các biện pháp bảo vệ QTG, ơ hế

24

bảo vệ QTG đểtiếp tục nghiên cứu, lý giải ơ sở lý luận và thực tiễn cho việc bảo vệ QTG bằng on đường Tòa án. Nhiều ông trình đã phân tí h về ý nghĩ , v i tr của bảo vệQTGđặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu đều r đời h đây nhiều năm nên ónhững vấn đềmới về bảo vệ QTG phát sinh trong bối cảnh hiện n y hư được nghiên cứu như: Những thách thức trong bảo hộQTG trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; tính tương thí h giữa pháp luật Việt Nam với quy định về bảo vệQTG trong các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) mà Việt N m th m gi đàm ph n và ký kết trong thời gian gần đây ó hứ đựng các cam kết của Việt Nam trong thực thi quyền SHTT nói chung, QTG nói riêng. Pháp luật về bảo hộ QTG cần được chuyển dịch theo xu hướng nào để phù hợp với bản chất của quan hệ pháp luật về QTG, đồng thời phù hợp với thực tiễn cuộc sống và xu thế phát triển là những vấn đề mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển.

Thứ ba, nghiên cứu về thực trạng pháp luật về bảo vệ QTG thông qua Tòaán. Nhiều ông trình ũng tập trung nghiên cứu quyđịnh củapháp luật Việt Nam hiện hành vềbảo hộQTG như quyđịnh vềđối tượng, chủthể, nội dung

quyền, các giới hạn QTG… và đã ph t hiện ra một sốbất cập trong quyđịnh của pháp luật về vấn đề này. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một vài quyđịnh m ng tính đơn lẻ, hư phân tí h đượ đầyđủ, toàn diện và có hệthống

quy định về bảo vệ QTG và bảo vệ QTG bằng phương thức xét xử tại Tòa án. C quy định về bồi thường thiệt hại của Luật SHTT trong tương qu n so s nh với BLDS năm 2015, quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội xâm phạm QTG trong BLHSsửađổi mới 2017, quyđịnh vềtrình tự, thủtục dân sự, hình sựtrong BLTTDS 2015, BLTTHS 2015 hư được công trình nào nghiên cứu. Những kết quả của các công trình nghiên cứu đã ông bố là những nội dung mang tính chất gợi mở để NCS tiếp tục nghiên cứu một cách chi tiết và toàn diện hơn về các quyđịnh của pháp luật Việt Nam về bảo vệ QTG. Cho đến thời điểm hiện nay, có rất ít các công trình nghiên cứu về thực tiễn xét xử của Tòa án trong bảo vệ QTGđể cóthể phân tích một cách toàn diện những ưu điểm và hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật SHTT vềQTG trong hoạt động xét xửcủa Tòa án. Các vấn đềcòn gây

25

tr nh ãi và khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật về phạm vi bảo hộ và các giới hạn QTG, các dạng hành vi xâm phạm QTG, tiêu hí x định hành vi xâm phạm QTG, điều kiện áp dụng biện pháp dân sự, hình sự trong việc bảo vệ QTG lànhững nội dung hư được nghiên cứu một h đầy đủ, thấu đ o và sâu sắ . Đây chính là nhữngvấnđềmà NCSsẽtiếp tục nghiên cứuvà triển khai trong luận án của mình.

Thứtư, nghiên cứu vềthực tiễn bảo vệQTGtạiTòa án. Bên cạnh các nghiên cứu về thực trạng pháp luật, các nghiên cứu về thực tiễn bảo vệ QTG tại Tòaán bằng biện pháp dân sự và hình sự để đ nh gi một cách toàn diện và đầy đủ về

biện pháp chế tài, trìnhtự, thủ tụ … ủa các thiết chế bảo vệ này khá hạn chế. Chođến thời điểm hiện nay, có rất ít các công trình nghiên cứu phân tí h và đ nh gi vềnhững ưu điểmvà hạn chếcủa hoạt động xét xửtranh chấp vềQTG tại Tòa án. Việc nghiên cứu những bất cập, vướng mắc trong việc giải quyết tranh chấp và xửlý xâm phạm QTGtạiTòa án là yêu cầu rấtcấp thiết đểnhằm nâng cao hiệu quảhoạt động của Tòa án trong việc bảo vệ QTG. Các nội dung nghiên cứu về pháp luật quốc tế về bảo vệ QTG nói chung, bảo vệ QTG bằng biện pháp dân sự, hình sự tại T n nói riêng ũng được tác giả kế thừa trong luận án của mình.

Thứ năm: Nghiên cứu về các giải pháp hoàn thiện pháp luật. Các công trình đã nghiên ứu về một số mô hình, ơ hế bảo vệ QTG trên thế giới. Đây là nguồn thông tin hữu ích giúp cho tác giả Luận án tiếp tục nghiên cứu để tìm r được những điểm ưu việt và hạn chế của mỗi ơ hế bảo vệ QTG, đặc biệt là việc thực thi QTG

tại Tòaán từ đó để đề xuất cácgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ QTG bằng

on đường Tòa án tại Việt Nam.

Trong thời gian vừa qua, pháp luật SHTT có sự phát triển rất nhanh cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và thương mại tự do, đồng thời có việc ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà trong đó bảo hộ QTG nói riêng, quyền SHTT nói chung là một nội dung quan trọng. Do đó, hầu hết các công trình nghiên cứu đã ông bố vẫn hư ập nhật đầy đủ được những ĐƯQTmà Việt Nam mới tham gia gần đây ó hứ đựng các cam kết của Việt Nam trong thực thi quyền SHTT nói chung, QTG nói riêng. Bên cạnh đó, nhiều vấn đề đặt ra trong việc

26

hoàn thiện pháp luật để điều chỉnh các vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn bảo vệQTG trong bối cảnh phát triển như vũ bão ủa công nghệsốvà internet, toàn cầu hóa kinh tếđ ng đặt ra những thách thức lớn trong việc bảo hộQTG và ũng lànhững vấn đềcần được tiếp tục nghiên cứu. Vì vậy, việc phân tích pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ QTG trong mối tương qu n đ nh gi tính tương thí h với

văn bản quốc tế mới là một nội dung mà Luận án phải tiếp tục nghiên cứu để đềxuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật, đ p ứng yêu cầucủa xu thếhội nhập quốc tế.

1.2.2. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Trên ơ sởđ nh gi tổng quan tình hình nghiên cứu đềtài, Luận ánsẽtiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển các nội dung nghiên cứu s u đây:

Về mặt lý luận, Luận án sẽ nghiên cứu để làm rõ các vấn đề như: (i) Các học thuyết làm ơ sở lý luận cho bảo hộ QTG; Nguyên tắc bảo hộ QTG; (ii) Xây dựng khái niệm và nhận diện những đặ trưng ủa bảo vệ QTG nói hung; đặ trưng ủa phương thức bảo vệ QTG tại Tòa án; (iii) Những vấn đề ph p lý đặt r đối với việc bảo vệ QTG tại Toà án trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Về thực trạng pháp luật, Luận án sẽ tiếp cận và nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống quy định pháp luật liên quan về bảo hộ QTG và bảo vệ QTG bằng biện pháp dân sự tại Tòa án, bao gồm không chỉ pháp luật SHTT mà cả pháp luật dân sự, tố

tụng dân sự, để phát hiện ra những điểm bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật về bảo vệ QTG bằng biện pháp dân sự tại Toà n; đồng thời, xem xét thực tiễn áp dụng quy định này để đ nh gi tính khả thi và phù hợp. C quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành sẽ được so sánh đối chiếu với quy định trong Dự thảo Luật sử đổi bổ sung một số điều của luật SHTT [56], quy định của các ĐƯQT (đặc biệt là các Hiệp định thương mại tự do) mà Việt Nam là thành viên và pháp luật một số quốc gia trên thế giới. Trên ơ sở đó, luận án sẽ đề xuất những giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ QTG.

Về thực tiễn thực thi pháp luật, Luận án sẽ phân tí h, đ nh gi toàn diện thực tiễn bảo vệQTG tại Tòa án; phân tí h, đ nh gi những bất cập, vướng mắc trong

27

thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp và xử lý hành vi xâm phạm QTG thông qua những vụ n đã được xét xử tại Tòa án; phát hiện và chỉ ra những nguyên nhân dẫn tới sự hạn chế trong việc bảo vệ QTG thông qua Tòa án tại Việt Nam.

1.3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 1.3.1. Lý thuyết nghiên cứu

Các lý thuyết nền tảng của bảo hộ quyền SHTT nói chung

Xét dưới gó độ triết họ ph p luật, họ giả về quyền SHTT đư r bốn triết lý ơ bản làm ơ sở ho việ ông nhận và bảo hộ quyền SHTT [108, tr.85- 109], b o gồm:

Triết lý về pháp luật tự nhiên (the natural law thesis): Triết lý về ph p luật tự

nhiên nhấn mạnh việ bảo vệ quyền SHTT như hỉ là sựthừ nhận quyền vốn

ó ủ on người trong việ hiếm hữu tài sản[42, tr.56]. Theo lập luận này, hủthể s ng tạo đương nhiên ó quyền đối với tài sản trí tuệ do họ s ng tạo r và xã hội phải thừ nhận ũng như bảo vệ những quyền này. Những độ quyền mà hủ thểs ng tạo ó đượ hính là sựthừ nhận ủ xã hội đối với quyền SHTT. Lập luận nàydự trên lý thuyết ủ Hegel vềtài sản trí tuệ với sựnhấn mạnh tựdo hiếm hữu tài sảntrí tuệ[114, tr.72-91]. C h tiếp ận nàyđượ thể hiện trong Hiến

hương Liên hiệp quố về quyền on ngườinăm 1948 và Công ướ quố tế ủ Liên hợp quố về Các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn ho năm 1966 [48, tr.32].

Triết lý về bù đắp chi phí cho chủ thể sáng tạo (the reward thesis): Theo lập luận này, hủ thể s ng tạo đã đóng góp ho xã hội bằng việ tạo r t phẩm văn họ , nghệ thuật, kho họ và đối tượng sở hữu ông nghiệp. Xã hội phải bù đắp những hi phí,nỗlự s ng tạo ủ họvà h thí hhợpnhất là tr o ho hủthểs ng tạo một số độ quyền trong thời hạn nhất định[42, tr.8]. Cơ sở ủ lập luận này là thuyết l o động và ùng hưởng thụ tài sản trí tuệ ủ Lo k [114, tr.72-91].

Triết lý về khuyến khích sáng tạo (the incentive thesis): Chủ thể s ng tạo phải đầu tư thờigi n, ôngsứ, tài hính đểtạor đối tượng SHTT; ho nên, ầntr o ho

hủ thểs ngtạomộtsốđộ quyền trong thời hạn nhấtđịnhnhằm khuyến khí h họ s ng tạo. Lập luận này ó điểmtương đồng với lập luận bùđắp hi phí ho hủ thể s ng tạo. Tuy nhiên, ốtlõi ủ lập luận bùđắp hi phí ho hủ thể s ng tạo là tr o

28

ho hủthể s ng tạo những độ quyền như sự bù đắp ho những hi phí và nỗ lự mà hủ thể s ng tạo đã bỏ r . Trong khi đó, ốt lõi ủ lập luận khuyến khí h s ng tạo là phải thừ nhận và bảo vệ những độ quyền ủ hủ thể s ngtạo để khuyếnkhí h họ s ng tạo.

Triết lý về công bố thông tin sáng tạo (the disclosure): khi hủ thể s ng tạo

hấp nhận ông bố những thông tin về tài sản trí tuệ, xã hội đượ hưởng lợi từ việ sửdụng những đối tượng SHTT. Dođó,xã hội phảithừ nhận và bảo vệ quyền ho

hủ thể s ng tạo. Điều này đượ oi như một sự tr o đổi.

Các học giả và các nhà lập pháp châu Âu vận dụng hai học thuyết nền tảng trong việc bảo hộquyền SHTT là học thuyết cân bằng lợi ích và nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh lành mạnh.

Học thuyết về cân bằng lợi ích: Triết học củ Lo ke, Hegelđã ó những tácđộng vàảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo hộ quyền SHTT, trong đó ó những vấn đề liên qu n đến cân bằng lợi ích. Học thuyết củ John Lo ke đã nêu lên những khái niệm về quyền tự nhiên củ on người, quyền của mỗi ông dânđược sống, được tựdo. Trong tác phẩm Khảo luận thứhai vềchính quyền, Locke trình bày một cách sâu sắ qu n điểm của ông về tự do: “Đây là một trạng tháitựdo, nhưng nó không phải là trạng tháilộnxộn”mà phải có trậttựnhấtđịnh[50, tr.35].Vậynên sự tựdo ũng phải có những giới hạn và điều kiện nhất định.Bên cạnh đó, John Lo ke còn đề cập đến việc dành một phần nguồn tài nguyên chung cho việc sử dụng tự do và phát triển xã hội. QTGđược bảo hộ chỉ ó ý nghĩ khi nó không gây những tácđộngtiêu cự đến cộng đồng hay nói cách khác bên cạnh những nội dung thông thường thì nên có những ngoại lệriêngđểđiều chỉnh những trường hợpđặcbiệt. Ngoài John Locke, việc bảohộquyền SHTT n được Immanuel Kant và George Hegel tiếp cận thông qua triết học về quyền tự do sáng tạo và nhữngđiều kiện để cóthểphát triểnsựsáng tạo này là cầnphải cótựdo trong việc tiếp cận với những nghiên cứutrướ đó đểlấynhững chất liệu cho việc nghiêncứucủachính mình. Nguyêntắccân bằnglợiíchđịnhhình nên những nguyêntắ ơbảncủaviệ điều chỉnh pháp luật về SHTT, bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể trong phân chia các

lợi í h thu được từ đối tượng SHTT, thể hiện tập trung thông qua sự cân bằng lợi ích

29

giữa chủ sở hữu đối tượng SHTT với cộng đồng. Sự cân bằng lợi í h trong điều chỉnh pháp luật các quan hệ SHTT không chỉ là nền tảng của pháp luật SHTT, mà n đóng v i tr là động lự thú đẩy phát triển nghiên cứu sáng tạo [81, tr.20-21].

Nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh lành mạnh: Một mặt, quyền SHTT tạo rađộc quyền cho chủsởhữu đối tượng SHTT, mặt kh độc quyền này lại khôngđược cản trở, gây thiệt hại một cách không phù hợp cho hoạt động cạnh tranh lành

mạnh trên thị trường. Pháp luật SHTT đư r quy định hạn chế khác nhau đối với việc lạm dụng độc quyền SHTT trong những trường hợp cụ thể.

Các lý thuyết riêng về bảo hộ quyền tác giả

Nghiên ứu về QTG và bảo vệ QTG tại T n ó thể vận dụng lý thuyết trong lị h sửvề QTG như: Lý thuyết quyền sở hữu ủ các nhà xuất bản, thuyết quyền sở hữu tinh thần, thuyết quyền nhân thân, thuyết quyền tài sản phi vật hất (thuyết nhịnguyên), thuyết nhất nguyên, thuyết hủ nhân t phẩm [46, tr.36-43].Đây là những lý thuyết ơ bản đặt nền móng ho bảo hộ QTG.

Thuyết quyền sở hữu của NXB r đời ở London (Anh) vào năm 1556 do Hiệp hội NXB ở Anh khởi xướng [98, tr.11]. Quyền sở hữu ủ NXB thờiđó, đượ

gọi là “owner of copy”, thự hất là độ quyền s o hép nhân bản t phẩm. Kể từđó, d nh từ “ opyright” ngày àng đượ sử dụng phổ biến tại Anh, s u đó là tại Mỹvà quố gi sử dụng tiếng Anh. Với ý nghĩ b n đầu là quyền s o hép, thuật ngữ này ngày n y đượ sử dụng với ý nghĩ rộng hơn để hỉ QTG.

Lý thuyết về quyền sở hữu ho l o động trí ó , đượ gọi là Thuyết quyền sở hữu tinh thần. Thuyết này ó ý nghĩ giúp phân biệtbảnthảo ủ t phẩm (vật thể hữu hình) với t phẩm (sản phẩm vô hình) và đã hỉ r mối qu n hệ hặt hẽgiữ t giả với t phẩm.

Thuyết quyền nhân thân r đời vào năm 1785, Imm nuel K nt trong bài phêph n việ in s h lậu đã đề r những ơ sở ăn bản ho thuyết về quyền nhân thân,

trong đó ông phân biệt hành vi in s h lậu (vi phạm một vật quyền – quyền tài sản) với vi phạm quyền tinh thần (nhân thân) ủ t giả. Bảo hộ QTG thự hất là bảo vệ quyền lợi về nhân thân ủ t giả đến khi gi trị tinh thần ấy không còn thuộ về người thừ kế ủ t giả nữ , mà thuộ về ông húng.

30

Thuyết quyền tài sảnphi vật chất (Thuyết nhị nguyên) hình thành từ hỗ nhận thứ rằng QTG không thuần túy là quyền tài sản, h y quyền nhân thân. Thuyết này ăn bản dự trên lập luận ủ triết gi , luật gi nổi tiếng như Fi hte, Hegel và Schopenhauer [46, tr.41]. Chi sẻ qu n điểm ủ I.K nts, Joh nn Gottlieb Fi hte phân biệt trong một uốn s h ó phần đượ vật thể hó và tư tưởng đượ thể hiện trong đó. Người mu uốn s h là hủ sở hữu uốn s h, tứ là hủ sở hữu bản vật thể hó t phẩm, n t giả là người sở hữu h thứ thể hiện nội dung tưtưởng ủ t phẩm. Arthur S hopenh uer phân biệt rõ ràng hơngiữ sở hữu vật

hất vàsởhữu tinh thần, theođót giả ó quyền sở hữu đối với t phẩm tinh thần

ủ mình, việ sở hữukhông giống với sở hữu một vật thể. Trên ơ sở những lậpluận này, Josef Kohlerhệ thống hó xây dựng thành Thuyết quyền tài sản phi vật chất ủ mình năm 1874 trong t phẩm QTG đối với tác phẩm ngôn ngữ và Luật xuất bản. Theo ông, QTGlà “quyền đối với một loại tài sản tồn tạibên ngoài on người, nhưng không vật thể, khôngsờthấy và nắm bắt đượ ”. Bên ạnh QTG làquyền đối với t phẩm tinh thần, Josef Kohler ho rằng ũng phải ó quyền nhân thân để bảo vệ nhân t giả. H i loại quyền tài sản và quyền nhân thân ủ t giả là không thể t h rời.

Thuyết nhất nguyêndự trên sựh trộn không thể t h rời giữ quyền lợi vật hất và tinh thần, h y nói một h kh , QTG là một loại quyền thống nhất không thể t h rờigiữ quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân vàquyền tài sản như h i “rễ gố ” ủ QTG. Theo thuyết này, quyền sử dụng, kh i th t phẩmđều ó ảnh hưởng đến quyền nhân thân, và ngượ lại, sựxâm phạm quyền nhân thân óthểdẫntớibồithườngvềvật hất. Ng y ảkhi t giả

huyển nhượng quyền tài sản thì t giả vẫn n quyền nhân thân đối với t phẩm gố . Ngày n y, Thuyết nhất nguyên n đượ p dụng để lý giải bản hất ph p lý ủ việthương mại hó quyền nhân thân như bảo vệ tên, hình ảnh ủ người nổi tiếng.

Nguyên tắc của hoạt động xét xử

Bên ạnh những lý thuyết nền tảng ủ bảo hộ quyền SHTT vàbảohộ QTG, bảo vệ QTG thông qu T n n p dụng những nguyên tắ đặ thù ủ hoạt động xét xửnhư: nguyên tắ tuân thủ ph p luật; nguyên tắ xét xửđộ lập trên ơ sở

31

kh h qu n, bìnhđẳng, ông bằng; nguyên tắ bảo đảm hiệu lự bản n, quyết định

ủ Toà n; nguyên tắ tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi í h hợp ph p ủ nhân,tổ hứ ; nguyên tắ bình đẳng trướ ph p luật; nguyên tắ xét xửkịp thời, ông

bằng, ông kh i…

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Đểđạt được mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu và giảthuyết nghiên cứu đượ đặt ra, bao gồm:

(i) Về mặt lý luận:

Câu hỏi nghiên cứu: Nhữngvấn đề lý luận nền tảng của bảo vệ QTG? Bảo vệ QTG và pháp luật bảo vệ QTG thông qu phương thức xét xử tại Toà án ó đặc trưng gì?

Giảthuyết nghiên cứu: Cơsởlý luận pháp luậtvềbảovệQTG thông qua phương thức xét xử tại Toà án ở Việt Nam hiện n y hư được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện; hư ó nghiên ứu nào làm rõ khái niệm và đặ trưng ơ bản của bảovệQTG thông qu phương thức xétxửtạiToà án và pháp luậtvềbảovệQTG thông qu phương thức xét xử tại Toà án.

(ii) Về thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật:

Câu hỏi nghiên cứu: Thực trạng pháp luật và thực tiễn về bảo vệ QTG thông qu phương thức xét xửtại Toà án ởViệt Nam ra sao? Có những vướng mắc, bất cập gì?

Giảthuyết nghiên cứu: C quyđịnhpháp luậtvềbảovệQTG thông qua phương thức xét xử tại Toà án ở Việt Nam hiện nay (cả pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng) còn những bất cập, hạn chế ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủacácchủsởhữu QTG. ViệcbảovệQTG thông qu phương thức xétxửtại Toà án ở Việt Nam hiện nay còn khá hạn chế, thể hiện qua số lượng vụ việ được giải quyết ũng như hiệu quả giải quyết. Do đó, ần có sự nghiên cứu, đ nh gi thực trạng pháp luật (trên ơ sở so s nh đối chiếu với quy định của các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên) ũng như thự tiễn thự hiện ph p luật về bảo vệ QTG thông qu phương thức xét xử tại Toà án ở Việt Nam hiện nay (thông qua một số vụ án điển hình) làm ơsở thực tiễn ho đề xuất về giải ph p hoàn thiện.

32

(iii) Về định hướng và giải pháp:

Câu hỏi nghiên cứu:Địnhhướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ QTG hiện nay thế nào? Cần tập trung vào các nhóm giải pháp nào?

Giả thuyết nghiên cứu: Việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ QTG thông qua xét xử tại Toà án phải bảo đảm các yêu cầu về tính đồng bộ, tương thí h, khả thi vàhiệu quả. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật bao gồmcảcác quy phạm pháp luật nội dung và hình thứ ,đồngthời đồngbộ với các giải ph p kh để nâng cao hiệu quả bảo vệ QTG thông qu phương thức xét xử tại Toà án ở Việt Nam hiện nay.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Bảohộ quyền t giả nói hung, bảo vệ quyền t giả nói riêng là hủ đề đãđượ nhiều ông trình trong và ngoài nướ nghiên ứu. Bảo vệ QTG thông qua xét xửtại Toà n là một trong những phương thứ bảo vệ QTG phổ biến và hữu hiệu trên thế giới hiện n y. Trong bối ảnh Việt N m đ ng thú đẩy mạnh mẽ mụ tiêu ph t triển kinh tế, văn ho , xã hội và hội nhập quố tế ngày àng sâu rộng, vấn đềbảo vệ QTG bằng biện ph p dân sự ngày àng nhận đượ nhiều sự qu n tâm ủ

nhà lập ph p, những người làm ông t thự tiễn ũng như toàn xã hội.

Bảo vệ QTG thông qu on đường Toà án là một vấn đề pháp lý phức tạp vàcó liên quan trực tiếp đến nhiều ngành luật khác nhau. Vì vậy, các nội dung nghiên cứu của luận n được phân loại thành các nhóm vấn đề: Nghiên cứu lý luận chung vềQTG; Nghiên cứu lý luận vềcác biện pháp bảo vệQTG nói chung và bảo vệQTG thông qua Toà án nói riêng; Nghiên cứu thực trạng pháp luật về bảo hộ QTG và thực tiễn bảo vệ QTG thông qua xét xử tại Việt Nam; Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu hiệu quả bảo vệ QTG thông qua xét xử tại Toà án.

Dựa trên việ đ nh gi tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu khoa họ liên qu n đến đề tài luận án, luận n x định những kết quả nghiên cứu cần kếthừa và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ.

33

Chƣơng 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ

THÔNG QUA XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN

2.1. Lý luận về bảo vệ quyền tác giả

2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả

2.1.1.1. Khái niệm quyền tác giả

Kh i niệm QTG hỉ xuất hiện khi đượ ph p luật ghi nhận và bảohộ. Sựr đời ủ m y in vào năm 1440 mặ dù đã đặt ra nhu cầu bảo vệ quyền lợi cho các tác giả, NXB hân hính trước nạn in lậu, tuy nhiên, những đặc quyền in mới chỉ có ýnghĩ bảo vệ quyền lợi cho những NXB đã trả tiền nhuận bút, cònquyền sở hữu đối với tác phẩm trí tuệcủa tác giảvẫn hư đượ đảmbảo. Bước vào thời kỳPhục hưng, đến giữa thếkỷXVI, các quyền on người trởnên quan trọng hơn. Đểkhuyến khích sự sáng tạo nhân, đặc QTG ũngxuất hiện, bắt đầu hướng đến bảo vệquyền nhân thân của tác giả(nhưng hư đảmbảo quyền tài sản cho họ). Năm 1710, Nghị viện Anh b n hành Đạo luật Anne (the St tute of Anne). Đây ó thể xem là văn bản pháp luật đầu tiên trên thế giới về QTG. Đạo luật ghi nhận QTGđược bảo hộvới thời hạn là 14 năm và ó thểđược gia hạn 14 năm tiếp theo [39, tr.35]. Đồng thời, đạo luật ũng lần đầu ghi nhận độc quyền sao chép của tác giả vàhọ có thể nhượng lại quyền này cho nhà in trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận [45, tr.13]. Tiếp s u đó, đạo luật tương tự ũng đã đượ đư r tại Pháp, Đức, Hoa Kỳ và nhiều nước khác. QTG được ghi nhận một cách rộng rãi trên toàn thế giới, góp phần thú đẩy sự sáng tạo của trí tuệ on người ũng như tạo r được

ơ hế bảo hộ tác quyền tại mỗi quốc gia.

Thuậtngữ “quyềnt giả” trong tiếng Anh sử dụng từ “copyright” ( ónghĩ là quyền s o chép); tiếng Ph p là“droit d’auteur” ( ó nghĩ là QTG) và tiếngĐứ

là “Urheberrecht” ( ó nghĩ làbảnquyền). Sởdĩ ó h sửdụng thuậtngữkh

nh u như vậy, vì trên thế giới hiện n y tồn tại những h tiếp ậnkh nh u đối với kh i niệm QTG ũngnhư đối với hủ thể đượ bảo hộ QTG [81, tr.36].

34

Xuất ph ttừLý thuyếtvềquyềnsởhữucủaNXBđượ khởixướngởAnh vào

năm 1556vớitêngọi“owner of copyright”, nướ theo hệ thống ph p luật Anh – Mỹ( n lệ) sử dụng thuật ngữ “copyright” để hỉ QTG. “Copyright” theo nghĩ đen làquyền s o hép. Lú đầu, thuật ngữ nàydùng để hỉ độ quyền s o hép nhân bản t phẩm, s u đó, nó ngày àng đượ sử dụng phổ biến ở Anh, Mỹ và những quố gi sửdụng tiếng Anh theo nghĩ rộng hơn để hỉ QTG (h y đượ dị h là “bản quyền”) để hỉquyền đối với sản phẩm s ng tạo dưới dạng t phẩm [81, tr.37]. C nướ theo hệ

thống ph p luật Anh – Mỹ thiên về ghi nhận và bảo hộ quyền kinh tế ho t giả,

hủ sở hữu QTG, ghi nhận sự độ quyền s o hép ủ hủ sở hữu QTG. Với cách tiếp cận này, trước hết nhà làm luật đứng về phí bên đầu tư về kinh tế để bảo vệ quyền lợikinhtế(mà trọng tâm là quyền s o hép t phẩm) ủ ngườisởhữuQTG (copyright owner) hơn là hính t giả, nhằm bảo đảm quyền khai thác giá trị kinh tếcủa tác phẩm cho người sở hữu bản quyền.

C quố gi theo hệ thống châu Âu lụ đị (luật thành văn) như Ph p, Đứhoặ một số quố gi hâu Âu kh sửdụng thuật ngữ“author’s right” (QTG) để

hỉ quyền đối với t phẩm – sản phẩm s ng tạo trí tuệ. Hệ thống này oi t giảlà trung tâm ủ hệ thống bảo hộ và dồn trọng tâm bảo vệ vào quyền củ người sáng

tạo tác phẩm với việc khẳng định người sáng tạo có các quyền đối với tác phẩm, đặc biệt là các quyền tinh thần (moral rights) ủ t giả được chú trọng và đặc biệt bảo

vệ. Cách tiếp cận củ nước theo hệthống này xuất ph t từqu n niệm, trí tuệthuộ về nhân loại nên ph p luật hủ yếu ghi nhận quyền tinh thần ( h gọi kh là quyền nhân thân) ủ t giả đối với t phẩm và từ quyền nhân thân đó sẽghi nhận và bảo hộ một số quyền tài sản ho t giả [81, tr.37 – 38].

Như vậy, dù theo h tiếp ận nào thì quố gi trên thế giới đều thống

nhất mộtđiểm hung, đó là QTG là phạm vi quyền (b o gồm ả quyền nhân thân và quyền tài sản) ủ hủ thể (b o gồm t giả và hủ sở hữu QTG) đối với t phẩm ủ họ đượ ph p luật ghi nhận và bảo hộ.

Vềphạm vi, căn ứ vào sự phân hi quyền SHTT thuật ngữ “quyền t giả”

ó thể tiếp ận dưới gó độ rộng và hẹp:

35

Quyền t giả(hiểu theo nghĩa rộng): làmộtbộ phận ủ quyền SHTT liên qu n tới việ bảo hộ s ng tạo trí tuệ hủ yếu nhằm đ p ứng nhu ầu về văn hó , tinh thần b o gồm ả quyền liên qu n đến QTG ( n đượ gọi là quyền kề ận). Dưới gó độ này, QTG là quyền của cá nhân, tổ chức (bao gồm tácgiả, chủ sởhữu QTG, ngườibiểu diễn, nhà sảnxuất bản ghi âm, ghi hình, tổchức phát sóng) đối với các sáng tạotrí tuệ chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, hay truyền thông đại chúng. Theo cách tiếp cận này, QTG bao gồm: (i) quyền của tổ chức, cánhân đối với tác phẩm do họ sáng tạo ra hoặc sở hữu và (ii) quyền của các tổ chức, cá nhân có sự đóng góp trong việc chuyển tải, phổ biến tác phẩm đến công chúng

(gọi là quyền liên qu n đến QTG). Hệthống quyđịnh vềQTG bảo vệquyền của những người sáng tạo và chủsởhữu các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, nhằm khuyến khích các hoạt động sáng tạo, phục vụnhu cầu hưởng thụvăn

hó ũng như nhu ầu khác củ đông đảo công chúng. Bên cạnh đó, ph p luật cùng dànhsựbảo hộthỏ đ ng ho đội ngũ trung gi n b o gồm: các nghệ sĩ biểu

diễn, các cá nhân, tổchức sản xuất các bản ghi âm, ghi hình,tổchức phát sóng –những người có sự đóng góp, hỗ trợ tích cực trong việc phổ biến tác phẩm đến công

húng. Để chuyển tải tác phẩm đến công chúng với chất lượng tốt nhất, những chủthể này đãphải đầu tưkhông ít tiền bạc và trí tuệ. Quyền liên quan (hay trong pháp luật một sốquốc gia gọi là “quyền kềcận”) hính là sựquyđịnh của pháp luật nhằm ghi nhận và bảo vệ quyền cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát thanh, truyền hình đối với kết quả sáng tạo, đầu tư ủa họ trong việc truyền tải, phổ biến tác phẩm.

Theo nghĩa hẹp, QTG là quyền mà ph p luật ghi nhận ho t giả và hủ sở hữu QTG. Trong Luật SHTT Việt Nam, khái niệm QTGđượctiếpcậntheo nghĩ hẹp, theo đó“QTG là quyền của các cá nhân, tổ chức đối với các tác phẩm văn học, nghệthuật, khoa học do họ sáng tạo ra hoặc làchủ sở hữu”[55, Điều 4]. QTG được pháp luật ghi nhận bao gồm các quyền nhân thân và tài sản của tác giả, chủ sở hữu QTG

ũng như nghĩ vụ khi các chủ thể khác muốn sử dụng, khai thác tác phẩm; các

giới hạn và thời hạn bảo hộ QTG; quy định trình tự, thủ tụ ũng như biện pháp

36

ph p lýđểbảovệQTG khi có hành vi xâm phạm. Trong Luận án này, QTGđược tiếp cận theo nghĩ hẹp, không bao gồm quyền liên qu n đến QTG.

Về phương diện họ thuật, QTGthường đượ xem xét đến theo các gó độ s u đây:

(i) Dưới góc độ khách quan: QTG là một chế định pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật x định và bảo hộ các quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủsởhữu tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa họ ; quyđịnh việc bảo vệ, khôi phục các quyền đókhi ó hành vi xâm phạm. Thông qu quyđịnhcủa pháp luật, nhà nước ghi nhận và trao cho tác giả, chủsởhữu QTG các quyềnsửdụng, khai thác tác phẩm, đồng thời có quyền ngăn ấm các hành vi sử dụng tác phẩm bất hợp pháp, nhằm đảmbảo những quyền lợi hợp lý và hính đ ng ủacác chủthểnhất định đối với tácphẩm, đặc biệt là trong trường hợp các chủ thể khác trongxã hội sửdụng đối tượng này.

(ii) Dưới góc độ chủ quan: QTGđượ hiểu là một loại quyền dân sự ủ nhân, tổ hứ đối với những t phẩm do họ s ng tạo r hoặ sở hữu. QTG b o gồm

quyền m ng tính nhân thân ( n đượ gọi là quyền tinh thần) và quyền tài sản ( n đượ gọi là quyền kinh tế). C quyền lợi vật hất và tinh thần ủ t giảliên qu n, gắn bó hặt hẽ với nh u và rất khó t h rời. Nhưvậy, dưới gó độ hủquan, QTG là loại quyền tuyệtđối, ó hiệu lự vớibất kỳ i. Nó ho phép t giả óquyền thự thi và bảo vệ lợi í h ủ mình trướ những người kh .

2.1.1.2. Đặc điểm của quyền tác giả

Quyền tácgiảđược hiểu là quyền sởhữu đối với các kếtquảcủa hoạt động sáng tạo trí tuệcủ on người trong lĩnh vự văn học, nghệ thuật hoặc khoa học được phápluật thừa nhận và bảo hộ. Là một bộ phận của quyền SHTT, QTG được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật. Nhà nước trao cho chủ thể của QTG những độc quyền trong một khoảng thời gian và phạm vi nhất định, nhằm bảo đảm cho người nắm giữ quyền có thể thu được các lợi ích từ việc khai thác, sử dụng tác phẩm,đồngthời có quyền ngăn hặn hành visửdụng trái phép tác phẩmcủ ngườikhác. QTG mang những đặ điểm chung của quyền SHTT, thể hiện ở các khía cạnh sau:

(i) Về đối tượng: Quyền SHTTlà một lĩnh vực sở hữu đặ thù ó đối tượng là các tài sản vô hình (tài sản phi vậtthể) hình thành từhoạtđộngsáng tạo của con

37

người. Chính điều này cho phép phân biệt giữa SHTT (sở hữu tài sản vô hình) và sởhữu tài sản thông thường (sở hữu tài sản hữu hình). Sự khác biệt lớn nhất giữa hai loại sở hữu nói trênthể hiện ở hính đối tượng sở hữu. Nếu nhưđối tượng của sởhữu tài sản thông thường là các tài sản vật chất, hữu hình có thể tiếp cận về ơ học đượ , thì đối tượng của SHTT là các tài sản vô hình, phi vật thể.

QTG là quyền sởhữuđối với đối tượng phi vật chất –tác phẩm. Tuy nhiên, on người chỉ có thể tiếp cận với tác phẩm thông qua hình thức xuất hiện của nó trong thếgiới vật chất (như qu sóng ph t th nh, truyền hình, mạng internet)

hoặ dưới hình thức vật thể hóa (cuốn sách, bức tranh, băng đĩ …). Ph p luật không bảo hộQTG khi tác phẩm mới chỉlà ý tưởng sáng tạo. Đểđược bảo hộ, ý tưởng sáng tạo đó phải được thể hiện ra ngoài bằng một hình thức cụ thể, bằng âm thanh,

lời nói, chữ viết, hình khối, đường nét, màu sắc, ký hiệu… hoặc bất kỳ một phương tiện nào khác. Các tác phẩm được bảo hộ QTG có thể tồn tại dưới nhiều hình thức, thểloại kh nh u như: T phẩm viết, tác phẩm hội họa, tác phẩm sân khấu, tác phẩm âm nhạc… Do tính chất “vô hình” ủa tác phẩm nên bản thân người tạo ra nó

ũng không thể chiếm giữ cho riêng mình. Trong khi các chủ thể sáng tạo vàđầu tưphải mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền củ để tìm tòi, sáng tạo ra tác phẩm, thìkhi tác phẩm đã được công bố, nó lại dễ dàng được lan truyền, phổ biến, dễ dàng bịngười khác chiếm đoạt, sửdụng, khai thác, trục lợi một cáchbấthợp pháp màkhông tốn chi phí gì hoặc chỉ một chi phí rất nhỏ. Tài sản trí tuệ tiềm tàng khả năng bị xâm phạm hơn những tài sản hữu hình khác, có khả năng l n truyền rộng lớn vàdễ ó khả năng đượ vật hất ho hàng hoạt, s u đótrởthànhthự thể t động, ảnh hưởng đến đời sống ủ nhiều người ũng như ủ ả xã hội[21]. Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, đặc biệt liên qu n đến môi trường kỹ thuật số đã thayđổi phương thức thể hiện tác phẩm dưới dạng số hóa, với những ưu điểm vượt trội so với các hình thức thể hiện tác phẩm thông thường, mà Internet nói riêng hay môi trường kỹ thuật số nói hung n là phương tiện thuận tiện cho việc sao chép, phân phối bất hợp pháp tác phẩm. Vì vậy, việc bảo hộ QTGđứngtrước những thách thức lớn trong môi trường internet và công nghệ số đ ng ph t triển như vũ bão ngày n y.

38

(ii) Về phạm vi quyền: Mặ dù quyền sở hữu nói hung m ng bản hất làquyền tài sản, nhưng đối với quyền SHTT, trong đó ó QTG, bên ạnh việ bảo vệ

quyền tài sản ủ t giả, hủ sởhữu QTG, ph p luật ũng ghi nhận ả

quyền nhân thân ho hủ thể s ng tạo. T phẩm kh với tài sản thông thường, nó là một s ng tạotinh thần thể hiện nhân h và kết quảl o động s ng tạo tinh thần ủ t giả. Vì vậy, trướ hết, t giả ó quyền đối với đứ on tinh thần ủ mình nhưđặt tên t phẩm; quyền đượ ông nhận tên tuổi (quyền về nhân thân) h y ông bố t phẩm ở đâu, như thế nào, ùng với việ đượ hưởng lợi í h kinh tế khi t phẩm đượ kh i th .

(iii) Về nội dung quyền: Do bản hất đối tượng SHTT là tài sản vô hình, nên

việ nắmgiữ, quản lý nó không thể thự hiện đượ như tài sảnthông thường, quyền hiếm hữu tài sản trí tuệ không ó ý nghĩ khiđối tượng SHTT đã đượ ông bố h y sử dụng trên thự tế. Vì vậy, QTG ũng giống như quyền SHTT nói chung, về bản hất hỉ tập trung vào độ quyền sử dụng, kh i th t phẩm (b o gồmcảquyền cho phép hoặc quyền ngăn ấm người khác sử dụng tác phẩm).

(iv) Về căn cứ xác lập quyền sở hữu: Quyền SHTT hỉ đượ x lập dự trên

những ăn ứ do ph p luật quy định. QTG thuộ nhóm “quyền tuyên nhận” – nghĩ là nhóm quyền ph t sinh tự động ùng với sự r đời ủ t phẩm. Điều 5 khoản 2 Công ướ Berne quy định: “Việ hưởng và thực hiện các quyền lợi này khônglệ

thuộc vào một thể thức, thủ tục nàohết…”, ó nghĩ là QTG phát sinh ngay khi tác phẩmđượ định hình dưới một hình thức vật chất nhất định mà không phụthuộc vào bất kỳ thủ tục hình thứ nào như đăng ký, hoặc các thủ tụ tương tự.

(v) Về giới hạn quyền: Kh với quyềnsởhữu tài sảnthông thường, quyền SHTT, trong đó ó QTG là loại quyền đượ bảo hộ ó tính “giới hạn”. Bảo hộ QTG

ó mụ đí h khuyến khí h hoạt động s ng tạo, tạo động lự thú đẩy ph t triển vănhó , nghệ thuật bằng h dành ho t giả, hủ sở hữu hủ sở hữu độ quyền sửdụng, kh i th t phẩm trong một thời hạn. Tuy nhiên, QTG không đượ ản trở h y gây ảnh hưởng đến lợi í h ông ộng vàsựph t triển ủ xã hội. Nguyên tắ

ân bằng lợi í h là nguyên tắ ơ bản, xuyên suốt trong quyđịnh về bảohộ quyền SHTT ũng như QTG nhằm dung h lợi í h ủ hủ thể ủ QTG với lợi

39

í h hung ủ xã hội, quyền vàlợií hhợpph p ủ hủthể kh . Vì vậy, QTGbịgiới hạn ở khí ạnh s u:

– Giới hạn về không gi n (phạm vi lãnh thổ)đượ bảo hộ: quyền SHTT nói chung, QTG nói riêng là độc quyền pháp lý mà pháp luật quốc gia trao cho chủ sởhữu củ đối tượng SHTT, vì vậy đây là quyền mang tính lãnh thổ (territorial right). Điều đó ó nghĩ là một tài sản trí tuệ được bảo hộ ở quốc gia nào thì quyền SHTT chỉ được bảo vệ và thực thi trong phạm vi lãnh thổ quố gi đó. Vì vậy, cộng đồng quốc tếđã ó nhiều nỗlực nhằm hài hòa hóa pháp luật SHTT của các quốc gia thông qua các hiệp định quốc tế về quyền SHTT.

Công ướ Berne là Công ước quốc tếđầu tiên vềQTG, trong đóghi nhận “Nguyên tắc bảo hộ quố gi ” như là nguyên tắc quan trọng được dẫn ra từ nguyên

tắ được công nhận trên toàn thếgiới: nguyên tắc lãnh thổ. Theo nguyên tắcnày, QTGchỉcó thểđược bảo hộtrong lãnh thổvà theo tiêu chuẩn củahệthống pháp luật của quốc gia công nhận bảo hộnó. Điều5 khoản 1 Công ướ quy định: “Đối với những tác phẩm được Công ước này bảo hộ, các tác giảđượchưởng QTG ởcác nước Liên Hiệp ngoại trừquốc gia gốc của tác phẩm, những quyền do luật quốc gia liên quan dành cho công dân nước đó trong hiện tại và trong tương lai cũng như những quyền lợi mà Công ước này đặc biệt quy định”. Như vậy, việc bảo hộtác phẩm có nguồn gốc từquốc gia thành viên củ Công ướ tương tựnhưsựbảo hộ tác phẩm của công dân chính quố gi mình. Nhưng tại nước thành viên củ Công ước Berne thì các tác giảcủa các tác phẩmđược bảo hộsẽđượ hưởng các QTG liên qu n đến tác phẩm đúng như những quyền mà nước thành viên dành cho công dân của họmà không có sựphân biệt, và đặcquyền mà Công ước Berne dành cho.

– Giới hạn về thời gi n (thời hạn) đượ bảo hộ: Phần lớnquyền sở hữu đối vớiđối tượngSHTT thường đượ bảo hộ ó thời hạn. Đây ũng là khoảng thời gi n màNhà nướ ho phép hủ thể quyền SHTTđượ độ quyền kh i th đối tượng SHTT ủ mình để thu lợi nhuận, nhằm bù đắp những ông sứ , hi phí mà họ đã phải bỏ r để tạo r tài sản trí tuệ, và tiếp tụ đầu tư ho hoạt động s ng tạo tiếp theo. Khi hết thời hạn bảo hộ, tài sản trí tuệ trở thành tài sản hung ủ xã hội, mọi

40

người ó thể tiếp ận, kh i th , ứng dụng kết quảs ng tạo trí tuệ, từđó tạođộng lự ho sự ph t triển văn hó , kho họ kỹ thuật ủ nhân loại.

– Giớihạnđể bảo đảm sự ân bằnglợií h với hủ thể kh : T giả, hủsởhữu QTG đượ tr o những độ quyền trong việ sử dụng, kh i th t phẩm nhằm bù đắp ho nỗ lự s ng tạo ủ họ, đồng thời khuyến khí h hoạt động s ng tạo đểphụ vụ lợi í h ủ ông húng. Tuy nhiên, sự độ quyền này ó thể dẫn tới hạn hếkhả năng tiếp ận ủ ộng đồng đối với sản phẩm s ng tạo, kìm hãm gi o lưu dân sự liên qu n đến loại tài sản đặ biệt này. Nhằm ân bằng giữ lợi í h ủ hủthể nắm giữquyền SHTT và lợi í h ủ ông húng trong việ tiếp ận, sửdụng t phẩm, ph p luật QTG quố tế ũng như luật ph p quố gi đều ó những quyđịnh vềgiới hạn QTG. Giới hạn QTG ó thể hiểu là một số ngoại lệ dành ho người sửdụng t phẩm trong một số trườnghợpnhất địnhkhông phải xin phép, không trả nhuận bút, thù l o ho hủ sở hữu QTG. Khoản 2 Điều 9 Công ướ Berne quyđịnh về “phép thử3 bướ ” để x định trường hợp giới hạn QTGđối với trường hợp sửdụng t phẩm với mụ đí h phi thương mại với điều kiện việc sửdụng không phương hại đến việ kh i th bình thường tác phẩm, không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến những quyền lợi hợp pháp của tác giả.

Bên ạnh những đặ điểm hung ủ quyền SHTT, QTG ó nhữngđặ điểm riêng để phân biệt với bộ phận kh ủ quyền SHTT như quyền sở hữu ông nghiệp h y quyền đối với giống ây trồng. C đặ điểmriêng ủ QTG thể hiện qu khí ạnh s u:

Một là,về đối tượng: Nếu nhưđối tượng ủ quyền sở hữu ông nghiệp là những sản phẩm s ng tạo luôn gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh do nh ủ

do nh nghiệp, thường m ng đặ tính kỹthuật thì đối tượng ủ QTG là các tác phẩm văn họ , nghệ thuật r đời hủ yếu nhằm thỏ mãn nhu ầu văn hó , tinh thần, giải trí. Luật bản quyền bảo hộ ho hìnhthứ s ng tạo đặ biệt “ hủ yếuliên qu n tới truyền thông đại húng” [91, tr.40]. Trong bối ảnh ông nghệ thông tin và

ông nghệ giải trí ph t triển mạnh mẽ như hiện n y, bảo hộ QTG àng ó ý nghĩ qu n trọng đốivớisựph t triển kinh tế, văn hó , xã hội và kho họ kỹ thuật. Tuy nhiên, sự phân định về đối tượng giữa QTG và quyền sở hữu công nghiệp chỉ mang

41

tính tương đối, bởi có những sản phẩm trí tuệ vừa có tác dụng về mặt công nghiệp, thương mại nhưng vẫn có tác dụng phục vụnhu cầu giải trí, tinh thần của con người. Đồng thời, có những sản phẩm trí tuệ không hoàn toàn mang tính giải trí hay phục vụ nhu cầu tinh thần củ on người ũng được bảo hộ theo luật về QTG nhưcác phần mềm máy tính.

Hai là,về điều kiện bảo hộ: Nếu như việ bảo hộ đối tượng sở hữu ông

nghiệp (như: s ng hế,kiểu d ng ông nghiệp, bí mật kinh do nh…) không đ i hỏi

đối tượng đó phải tồn tại hiện hữu dưới một dạng vật hất nhất định thì QTG hỉđượ bảo hộ khi ý tưởng s ng tạo đượ thể hiện dưới một dạng vật hất nhất định để

ó thể nhận biết, s o hép hoặ truyền đạt. Trong khi đối tượng sở hữu ông

nghiệp phải đ p ứng tiêu huẩnbảohộ nhất định (vềtính mới, tính s ng tạo, tính phân biệt) thì QTG không đặt r bất kỳtiêu huẩn bảo hộ về nội dung, hình thứ , hất lượng, gi trị nghệ thuật, ngôn ngữ. mụ đí h.Ý tưởng thểhiện trong t phẩm không ần phải mới, hỉ ầnđ p ứngđiều kiệnhìnhthứ thểhiện phải làsựs ng tạo nguyên gố [93].

Cũng như tài sản trí tuệ kh , t phẩm làđối tượng ủ QTG luôn có tính

s ng tạo – là sản phẩm s ng tạo ủ on người. Tuy nhiên, yêu ầuvềtính s ng tạo

ủ QTG khác với tiêu chuẩn tính mới củ đối tượng sở hữu công nghiệp – tập trung vào tínhmới củ ý tưởng và tính hữu ích. Tính sáng tạo trong đối tượng sở hữu công nghiệp là tính mới tuyệt đối và kh h qun, đượ đ nh gi theo tiêu hí thời gian- có nghĩ sản phẩm mới là sản phẩm được tạo ra lần đầu tiên, hay có tính hữu í h vượt trội so với sản phẩm đã ó. Trong khi đó, “tính s ngtạo” ủa tác phẩm không đ i hỏi ý tưởngcủa tác phẩm phải mới, mà chỉ cần tác phẩm m ng đặ trưng riêng ủatác giả – đủ để phânbiệt nó với tác phẩm của tác giả khác.

Ba là,về cơsở bảo hộ: QTG bảo hộ quyền ủ hủ sở hữu nhằm hống lại những hành vi s o hép h y sử dụng h thể hiện trong t phẩm gố . Vì vậy, nếu như quyền sở hữu ông nghiệp bảo hộ nội dung ủ ý tưởng s ng tạo thì QTG hỉthiên về bảo hộ hình thứ thể hiện ý tưởng s ng tạo. Những s ng tạo đượ bảo hộQTG “là những s ng tạo trong việ sử dụng và sắp xếp từngữ, nốt nhạ , màu

sắ , hình khối…” [91, tr.41] trong khi bảo hộ quyền sở hữu ông nghiệp hống lại

42

bất kỳ việ sửdụng đốitượng ó ùng nội dung hoặ tươngtự, dù đólà kết quả ủ qu trình nghiên ứu độ lập (không s o hép và không hề biết ó sựtồn tại ủ s ng tạo trướ đó). Pháp luật về QTG chỉ bảo hộ hình thức chứ đựng tác phẩm khi nó được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung sáng

tạo tác phẩm [93]. QTG đối với tác phẩm chỉ được giới hạn trong phạm vi thể hiện cụ thể của tác phẩm mà không bao gồm ý tưởng của tác giả thể hiện trong tác phẩm bởi vì không một ai có thể biết được một vấn đề đ ng nằm trong suy nghĩ ủ người khác. Những ý tưởng, kể cả cách sắp xếp, trình bày đã “ ó” trong suy nghĩ ủa tác giả nhưng hư được thể hiện ra bên ngoài bằng hình thức nhất định thì không có

ăn ứđểcông nhận và bảo hộnhững điều hư được bộc lộr bên ngoài đó. Sựsáng tạo của tác giảkhông chỉđem lại cho tác giảQTGđối với tác phẩm mà còn nhằm chống lại sự sao chép nó hoặc lấy và sử dụng hình thức trong tác phẩm gốc đãđược thể hiện.

Bốn là, về hình thức xác lập quyền: QTG là một loại “Quyền tuyên nhận”, ph t sinh tự động kể từ ý tưởng s ng tạo ủ t giả đượ thể hiện dưới một hình thứ nhất

định – t phẩm. Việ đăng ký QTG không phải là ăn ứ làm phát sinh QTG. QTGđược xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm của tác giả, không phụ thuộc vào thể thức, thủ tục nào. Từ thời điểm tạo ra tác phẩm, tác giả được bảo hộ về mặt pháp lývà có các quyền củ người sáng tạo mà không phụ thuộc vào thể thức, thủ tụ đăng kýnào. QTG phát sinh một cách mặ nhiên và nó được thiết lập từ thời điểm tác phẩm đó được thể hiện dưới hình thứ kh h qu n mà người khác có thể nhận biết được. Luật

BảohộQTGcủ nướ đềuquyđịnhvềviệcbảohộtựđộng(bảohộkhôngphụthuộc vào thủ tụ đăng ký). Việ đăng ký QTG chỉ ó ý nghĩ nhất định như ăn ứ banđầu khi giải quyết tranh chấp về QTG.

2.1.2. Khái niệm và đặc điểm của bảo vệ quyền tác giả

2.1.2.1. Khái niệm bảo vệ quyền tác giả

Quyền tác giảđược biết đến như một quyềnvềvăn hó ủ on người ghi nhận tại Điều 27 Tuyên ngônThếgiới về quyền on người ngày 10/12/1948, theođó:“Mọi người đều cóquyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, sáng tác nghệ thuật và tham gia hoạt động khoa học. Mỗi người đều có quyền được

43

bảo vệ lợi ích tinh thần và lợi ích vật chất có được từ hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật mà mình là tác giả”. Bên cạnh đó, Điều 15 Hiệp ước quốc tế về quyền xã hội, kinh tế và văn hó ngày 19/12/1966 ũng nhấn mạnh rằng: “Các quốc gia kýkết phải công nhận cho mỗi người quyền được bảo vệ các lợi ích tinh thần và lợi ích vật chất có được từ hoạt động khoa học, văn học và nghệ thuật mà họ là tác giả”. Từnhững quyđịnh trên, có thểthấy rằng, QTG chính là mộtbộphận nằmtrong

nhóm quyền on người được gọi dưới tên hung là “quyền xã hội – kinh tế và văn hó ”. Những quyền này bắt đầu được nhắ đến vào đầu thế kỷ XX, khác với quyền

on người cổ điển và buộ Nhà nước phải có những biện pháp tích cực và thích hợp đểbảo vệvà phát triển những quyền này. QTG với tư h là một bộphận ủ quyền SHTT, đã và đ ng đóng v i tr qu n trọng đốivớisựph t triển kinhtế – xãhội ủ mỗi quố gi . Không i ó thể phủ nhận đượ gi trị thương mại ũng nhưnhững gi trị văn hó – xã hội mà s ng tạo trí tuệ là đối tượng ủ QTG mang

lại. Mụ tiêu hính ủ bảo hộ QTG là khuyến khí h hoạt động s ng tạo. Công nhận và bảo hộ QTG một h hiệu quả sẽ ó t dụng khí h lệ hủ thể s ng tạo vàphổ biến kết quả s ng tạo ủ họ, phụ vụ ho lợi í h hung ủ xã hội.

Những năm gần đây, nền kinh tế tri thức lên ngôi và phát triển không ngừng, các sáng tạo đóng v i tr thiết yếuvà thú đẩykhảnăng ạnh tr nh, tăng trưởng kinh tế. Bảo vệ QTG nhằm hướng tới một cộng đồng tôn trọng “tài sản trí tuệ” vàchỉ ó ý nghĩ nếu người sáng tạo thực sựđược tôn trọng các quyền vềmặt tinh thần, quyền về mặt kinh tế, đượ hưởng các lợi ích từ việc khai thác tác phẩm của mình. Bảo vệ QTG là công cụ hữu hiệu nhất nhằm khuyến khích, làm giàu và phổbiến di sản văn hó quốc gia và di sản văn hó ủa nhân loại. Thực tế đã hỉ ra rằng, việc làm giàu và phổ biến di sản văn hó quốc gia phụ thuộc trực tiếp vàomứ độbảo hộ đối với cáctác phẩm văn học, nghệ thuật. Số lượng sáng tạo trí tuệ của một quốc gia càng nhiều thì quố gi đó àng rạng danh.

Trong pháp luật quốc tế, có hai thuật ngữ được sử dụng phổ biến là bảo hộ

quyền SHTT” – protection of intellectual property” và thực thi quyền SHTT” –

enforcement of intellectual property”, trong đó, protection” có thể dịch là bảo hộ”hay bảovệ”. Tuy nhiên, ho đến nay, nội hàm của các thuật ngữnày còn nhiều cách hiểu khác nhau.

44

Theo Từđiển Anh- Việt, từ “enforcement” ó h i nghĩ : (i) Bắt buộ , ưỡng bách, áp chế, bắt theo; và (ii) Thi hành, thực thi. Theo Từđiển tiếng Việt [87, tr.973-974], “thự thi” nghĩ là thi hành, thực hiện một nhiệm vụhay bằng hoạt động làm cho nhiệm vụ, quy định cho trở thành sự thật. Như vậy, theo cách tiếp cận này, thực thi QTGđược hiểu là thực hiện, thi hành các quyềnđã được pháp luật bảo hộ, làm cho các quyền đó trở thành hiện thực.

Dưới gó độpháp lý, dự theo quyđịnh củaHiệp định vềcác khía cạnh của quyền SHTT (Hiệp định TRIPs), ó qu n điểm cho rằng, thực thi quyền SHTT “được hiểu là hoạt động củ ơ qu n nhà nước có thẩm quyền, thông qua các thủ

tục và chếtài luật định đểngăn hặn, xửlý các hành vi xâm phạm quyền SHTT, bảo đảm quyền SHTT có hiệu lực trên thực tế” [43, tr.241]. Theo cách tiếp cận này,

thực thi quyền SHTT chỉbao gồmhoạt động củ ơ qu n nhà nước có thẩm quyền trong việ ngăn hặn và xửlý hành vi xâm phạm quyền SHTT, thực thi quyền SHTT là một khía cạnh của hoạt động bảo hộ quyền SHTT.

Như vậy, Hiệp định TRIPs tiếp cận thuật ngữ“thự thi” theo nghĩ hẹp:

“Thực thi quyền tác giả” là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm QTG”.

Tại Chú thích 3 Hiệp định TRIPS, thuật ngữ“bảo hộ quyền SHTT”được giải thích như s u:“bảo hộ phải bao gồm các vấn đề ảnh hưởngđến khả năng đạt được, việc đạt được, phạm vi, việc duy trì hiệu lực và việc thực thi các quyền SHTT, cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến việc sử dụng các quyền SHTT”. Theo h tiếp cận này, bảo hộquyền SHTT có phạm vi rộng nhất bao gồmtất cảcác hoạt động màNhà nước thực hiện nhằm công nhận, bảo vệvà quản lý nhà nướ đối với quyền SHTT: Từ xây dựng chính sách, pháp luật về quyền SHTT; thực hiện việc xác lập, công nhận quyền SHTT; bảo đảm thực hiện, khai thác quyền SHTT trên thực tế và bảo vệquyền SHTT chống lạicác hành vi xâm phạm. Chủthểthực hiện hành vi bảo hộ quyền SHTT chỉ là Nhà nước. Nội dung bảo hộ quyền SHTT được hiểu là“một chuỗi những hoạt động củ Nhà nước từ việc xây dựng pháp luật quy định vềđiều kiện, trình tự, thủ tục xác lập, nội dung, giới hạn, duy trì, bảo vệ quyền SHTTđến việc thiết lập ơ hế thực thi quyền SHTT” [81, tr.384].

45

Hiểu một h hung nhất: Bảo hộ QTG là việc Nhà nước ban hành hệ thống các quy định nhằm xác lập, công nhận QTG cho các cá nhân, tổ chức; quản lý, sửdụng, khai thác QTG; thực thi và bảo đảm thực thi các quy định đó trên thực tiễn nhằm chống lại các hành vi xâm phạm”.

Bảo hộ QTG b o gồmviệ Nhà nướ b n hành r văn bản ph p luật vàbảo đảm thi hành quy định liên qu n đến: (i) X lập, ông nhận QTG cho các nhân, tổ hứ ; (ii) Quản lý, sử dụng, kh i th QTG; (iii) Bảo vệ QTG hống lại

hành vi xâm phạm. Theo h tiếp ận này, “bảo vệ QTG” là một nội dung của “bảo hộ QTG”.

Theo Từđiển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữhọcnăm 2002, thuật ngữ“bảo vệ”được hiểu làviệ “ hốnglại mọi sựxâm phạm đểgiữ ho luôn luônđược nguyên vẹn”[87, tr.37]. ỞViệt Nam, khái niệm bảo vệquyền SHTT lần đầu tiênđượ quyđịnhtrong Luật SHTT 2005. Luật SHTTsửdụng thuật ngữ“bảo vệquyền SHTT” trong tiêu đềcủa Phần thứnăm Luật SHTT. Trong phần này, Luật SHTT quyđịnhvềquyềntựbảo vệcủa chủthểquyền SHTT (Điều 198), vềcác biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT (Điều 199), về thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT (Điều 200). Với những quy định này, có thể nhận thấy, Luật SHTT coi“bảo vệquyền SHTT” là hoạt động của nhiều chủthểkhác nhau, bao gồm cả chủ thể quyền, ơ qu n nhà nước có thẩm quyền, người tiêu dùng (hay công chúng) – những cá nhân, tổchức bịthiệt hạihoặc có khảnăng bịthiệt hại do hành vi xâm phạm quyền SHTT hoặc cạnh tranh không lành mạnh, các

ơ qu n, tổchức hữu qu n (như người gi m định) trong việ ngăn hặn và xửlý hành vi xâm phạm quyền SHTT. So với bảo hộ QTG, chủ thể thực hiện hành vi bảo vệ QTG không chỉ là ơ qu n nhà nước, mà có thể là chính chủ thể quyền, thậm

chí cả công chúng hay các tổ chức hữu qu n (như tổ chức quản lý tập thể QTG, ví dụ: Trung tâm QTG văn học Việt Nam, Trung tâm bảo vệ QTG âm nhạc Việt Nam).

Từ những phân tích trên, có thể đư r định nghĩ : Bảo vệ QTG là hoạt động của các cơ quan nhà nước, chủ thể QTG và các chủ thể liên quan sử dụng các biện pháp được pháp luật công nhận để phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm QTG.

46

Hoạt động bảo vệ QTG phải dựa trên những ăn ứ pháp lý và phải tuân thủcác trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Để bảo vệ QTG, ph p luật tạo r một ơ

hếhữuhiệu b ogồm phương thứ , biện ph pđể hủthểQTG óthể p dụng nhằm hống lại hành vi xâm phạm. Vì vậy, theo nghĩ hẹp, bảo vệ QTG là những biện pháp, cách thứ được áp dụng để phòng ngừa và xử lý hành vi xâm phạm QTG.

Bảo vệ QTG tạo r sự ân bằng lợi í h giữ một bên là những người đầu tư ông

sứ, trí tuệ, vật hất để tạo r t phẩm văn họ , nghệ thuật, kho họ và một bên làcông chúng -những người đượ hưởngthụthành quả s ngtạođó.BảovệQTG cho phép hủ sở hữu QTG đượ độ quyền kh i th kết quả s ng tạo trong một thời gi n hợplýđểbùđắplạinhững hi phí,nỗlự ủ họtrong hoạtđộngs ng tạo. Những người muốn sử dụng, kh i th t phẩm trong thời hạn bảo hộ phải đượ sự ho phép

ủ hủ sở hữu và phải trả một khoản thù l o tương xứng.

2.1.2.2. Đặc điểm của bảo vệ quyền tác giả

Đối với bảo vệ tàisản thông thường, hủ sở hữu, người hiếm hữu hợp ph p tựthự hiện biện ph p bảo vệ hoặ thông qu yêu ầu T n, ơ qu n, tổ hứ óthẩm quyền buộ người ó hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của mình phải

hấm dứt hành vi vi phạm, trả lại tài sản h y bồi thường thiệt hại. Việc bảo vệquyền sở hữu đối với tài sản thông thường không bị giới hạn về không gian và thời gi n, được thực hiện trong suốt thời gian tài sản đó tồn tại nếu tài sản này rời khỏi chủ sở hữu h y người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ và đ ng bị chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình. Pháp luật luôn bảo vệquyền sởhữu hợp pháp của các tổ chứ , nhân đối với tài sản không phụ thuộc vào việc tài sản này được xác

lập quyền sở hữu ở quốc gia nào. Khi có hành vi xâm phạm xảy ra tại bất kỳ đâu, chủ sở hữu tài sản có quyền yêu cầu ơ qu n ó thẩm quyền củ nước sở tại bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của mình. Nhưng do tính chất vô hình của QTG, việc bảo vệ QTG lại có một số đặ điểm riêng biệt s u đây:

Một là,về đối tượng,bảo vệ QTG là bảo vệ quyền sở hữu đối với một tài sản vô

hình – kết quả sáng tạo trí tuệ trong lĩnh vự văn học, nghệ thuật, khoa học. Tính vô hình của QTG dẫn đến quyền này dễ dàng bị chủ thể khác xâm phạm, chiếm đoạt, đặc biệt là trong môi trường internet. Bên cạnh đó, trong bối cảnh kinh tế – xã hội hiện nay

47

khi nền công nghiệp giải trí ũng như kho học kỹ thuật đ ng ngày àng ph t triển, các tác phẩm là đối tượng của QTG mang lại giá trị thương mại lớn, dẫn đến khả năng bịcác chủ thể sử dụng với mụ đí h trục lợi ở mứ độ cao.

Hai là,vềnguyên tắc, việc bảovệQTGchủyếu được thực hiện thông qua thừa nhận hệ thống độc quyền dành cho tác giả và chủ sở hữu tác phẩm. Cụ thể,

pháp luật quố gi và ông ước quốc tếtrao cho chủthểQTG một sốđộc quyền, trên ơ sở đó, tác giả, chủ sở hữu QTG có quyền ngăn ấm và xử lý các hành vi xâm phạm QTG của chủ thể khác.

Ba là,vềphạm vi, bảo vệQTGchỉđược thực hiện trong phạm vi lãnh thổquố gi nơi t phẩm được bảo hộ và khi tác phẩm đ ng trong thời hạn bảo hộ.

Bốn là,vềchủthểthực hiện, việc bảo vệQTGđượcthực hiện bởi rất nhiều chủ thể khác nhau: chủ thể của QTG, bao gồm: tác giả, chủ sở hữu QTG, người cóquyền sử dụng tác phẩm thông qua hợp đồng; ơ qu n thực thi pháp luật như:

Tòa án, Công an, Hải quan, Quản lý thịtrường, Thanh tra chuyên ngành, Ủyban

nhân dân; các Tổ chức Quản lý tập thể QTG; ông húng…

Năm là, về biện pháp bảo vệ, các biện pháp bảo vệ QTG rất phong phú, đ dạng.

Nếu dựa vào chủ thể thực hiện, các biện pháp bảo vệ QTG có thể chia thành hai nhóm: (i) Các biện pháp bảo vệ được thực hiện bởi chủ thể của QTG và (ii) Các biện pháp bảo vệ được thực hiện bởi ơ qu n Nhà nước có thẩm quyền.

Nếu dựa vào tính chất của biện pháp bảo vệ QTG, có thể chia thành: (i) biện pháp dân sự; (ii) biện pháp hành chính; (iii) biện pháp hình sự; (iv) biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới.

Nếu dựa vào mụ đí h p dụng, các biện pháp bảo vệ quyền tác giả có thể chia thành hai loại: (i) Các biện pháp phòng ngừ và ngăn hặn như: ảnh báo xâm phạm QTG; các biện pháp công nghệ để ngăn hặn việc sao chép, sửa chữa tác phẩm đãđượ đư lên Internet; (ii) Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm QTGđược thực

hiện bởi ơ qu n thự thi như Toà n, Công n, Quản lý thị trường…

Sáu là,vềmục đích, bảo vệQTG không chỉbảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể sáng tạo, đầu tư ho t phẩm, mà còn bảo vệ lợi ích của công chúng vàtoàn xã hội, thú đẩy phát triển kinh tế – văn hó – xã hội.

48

2.1.3. Các biện pháp bảo vệ quyền tác giả

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ quyền tác giả qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *