Các yếu tố quyết địnhđến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD)

Các yếu tố quyết địnhđến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD)

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đang phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng của hiệntượngnóng lên toàn cầu. Trongsốcác nguồn phát thải khí nhà kính, lĩnh vực giao thông vận tải được xác định là một trong những tác nhân chủ yếu,đặcbiệt làtừcác phương tiện sửdụng nhiên liệu hóa thạch. Trước thực trạng đó, xu hướngchuyển dịch sang các phương tiện sạch, thân thiện với môi trường như xe máy điện không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành mục tiêu tất yếu trong lộ trình phát triển bền vững của nhiều quốc gia.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích sản xuất và sử dụng phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch.Đáng chú ý, Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủtướng Chính phủphê duyệt Đề án phát triển phương tiện giao thông xanh phục vụ năng lượng sạch đến năm 2050, trong đó nhấn mạnh mục tiêu phát triển xe điện, hướng tới trung hòa carbon vào giữa thế kỷXXI (Chính phủ Việt Nam, 2022). Bên cạnh đó, theochỉđạocủa ThủtướngChính phủ, thành phố Hà Nội dự kiến sẽ cấm xe máy chạy xăng trong khu vực nội đô từ năm 2026 (VnExpress, 2024). Những chính sách và quy định này được xem là động lực quan trọng

thúc đẩy người dân, đặc biệt là sinh viên – thế hệ trẻ, năng động và nhạy bén với xuhướng

mới – chuyển đổi sang sử dụng xe máy điện.

Song hành với khung chính sách, thị trường xe máy điện tại Việt Nam đang có những bước phát triểnmạnh mẽ vớisựtham giacủanhiều thương hiệu trong nước và quốc tế nhưVinFast, Pega, Dat Bike, Yadea, v.v… Sự cạnh tranh này không chỉ đa dạng hóa lựa chọn cho người tiêu dùng mà còn thúc đẩy sự hình thành xu hướng tiêu dùng xanh, phản ánh những thayđổitrong nhận thức và hành vi mua sắm của người Việt, đặc biệt trong giới trẻ.

Tại Học viện Chính sách và Phát triển (APD), sinh viên trong độ tuổi 18–24 được xem lànhóm khách hàng tiềm năng của thị trường xe máy điện. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỷ lệchấp nhận và sử dụng xe máy điện trong nhóm này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, mặc dù nhận thức về bảo vệ môi trường ngày càng được nâng cao. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố quyết định đến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên có ý nghĩa

10

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 11 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

quan trọng cảvề lýluận và thực tiễn: (1) Giúp các doanh nghiệpsảnxuất và phân phối xe máy điện hoạchđịnhchiến lược marketing và sản phẩm phù hợp hơn; (2) Cung cấp cơ sởkhoa học cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng và triển khai hiệu quả các chính sách thúc đẩy phương tiện giao thông xanh.

Xuất phát từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu lựa chọnđềtài:“Các yếutố quyếtđịnhđến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD)” nhằm góp phần cung cấp bằng chứng khoa học cho xu hướng phát triển phương tiện giao thông bền vững tại Việt Nam.

2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2.1. Mục tiêu nghiên cứu

– Nhằm tìm hiểu và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh

hưởng tới quyết định mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển

– Đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến hành vi mua và sửdụng xe máy điện.

– Đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy thúc đẩy sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển quyết định mua và sử dụng xe máy điện.

2.2. Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi sau:

– Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển?

– Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này tới quyết định mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên APD?

– Có sự khác biệt nào trong hành vi mua và sử dụng xe máy điện giữa các nhóm sinh viên khác nhau (theo giới tính, thu nhập, năm học, chuyên ngành, v.v.) hay không?

– Những yếu tố nào có thể được doanh nghiệp, nhà trường hoặc cơ quan quản lý tác động để thúc đẩy xu hướng tiêu dùng xanh và tăng tỷ lệsinh viên sử dụng xe máy điện?

11

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 12 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD).

3.1.2. Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là sinh viên đang theo học tại Học viện Chính sách và Phát triển (APD), bao gồm cả những sinh viên đã, đang và chưa sở hữu xe máyđiện. Việc lựa chọn nhóm khách thể này giúp phản ánh đa dạng các giai đoạn của quá trình ra quyết định mua và sử dụng.

3.2. Phạm vi nghiên cứu 3.2.1. Phạm vi nội dung

Nghiên cứu tập trung vào việc khảo sát nhận thức, thái độ, ảnh hưởng xã hội, kiểm soát hành vi cũng như các yếutốmôi trường, truyền thông marketing vàchính sách liên quan đến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên.

3.2.2. Pham vi không gian

Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi Học viện Chính sách và Phát triển

3.2.3. Phạm vi thời gian

Nghiên cứu cứu thu thập thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua xe máy điện của người trả lời trong 5 năm gần đây (từ năm 2020-2025) và đềxuất giải pháp áp dụng cho giai đoạn 5 năm tiếp theo (từ năm 2025- 2030). Dữliệu sơ cấp được thu thập từ tháng 12/2025 đến tháng 4/2026.

4. Cấu trúc của nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài có bốn chương sau:

12

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 13 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định mua xe máy điện của sinh viên APD.

Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua xe máyđiện của sinh viên APD.

Chương 4: Một số khuyến nghị và giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy quyết định mua xe máy điện của sinh viên.

13

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 14 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUYẾT ĐỊNH MUA XE MÁY ĐIỆN CỦA SINH VIÊN APD

1.1. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua và sử dụng

xe máy điện

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và xu hướng phát triển bền vững, xe điện nói chung vàxe máy điện nói riêng đang trở thành một trong những phương tiện giao thông được quan tâm trên toàn cầu. Dođó, đã cónhiều nghiên cứu trong và ngoàinướctiếp cậnvấn đềnày dưới nhiều góc độ khác nhau.

Một số nghiên cứu tậptrung vào tác động của xe điện đến môi trường và năng lượng (Rangaraju et al., 2015). Một số nghiên cứu khác lại xem xét các chính sách và chiến lược nhằm thúc đẩy việc sản xuất và tiêu dùng xe điện (Bonges III & Lusk, 2016). Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu phổ biến nhất là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua vàsử dụng xe điện của người tiêu dùng.

Thông qua tổng quan các tài liệu nghiên cứu trước, nghiên cứu này tiếp cận theo hướng phân nhóm các yếu tố ảnh hưởng, bao gồm: yếu tố tâm lý cá nhân, yếu tố kinh tế, yếu tốchính sách, yếu tố truyền thông và rủi ro cảm nhận.

1.1.1. Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý cá nhân đến quyết định mua và sử dụng xe

máy điện

Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991) làmột trong những nền tảng lýthuyết được sửdụng phổ biến nhất để giải thích hành vi của người tiêu dùng. Theo lý thuyết này, ý định hành vi là yếu tố dự báo quan trọng nhất của

hành vi thực tế và chịu ảnh hưởng bởi ba thành phần chính: thái độ (Attitude – ATT), chuẩn

chủ quan (Subjective Norm – SN) và nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral

Control – PBC).

14

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 15 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

Trong bối cảnh xe máy điện, thái độ phản ánh mức độ đánh giá tích cực hay tiêu cực của cá nhân đối với việc sử dụng xe máy điện, chẳng hạn như tính thân thiện với môi trường hoặc tính tiết kiệm chi phí (Huang & Ge, 2019; Yadav & Pathak, 2016). Chuẩn chủ quan đề cậpđếnảnhhưởngtừ gia đình, bạn bè hoặc nhữngngườicó ảnh hưởng đếnquyết định của cá nhân (Yadav & Pathak, 2016). Trong khi đó, nhận thức kiểm soát hành vi thể hiện mức độ dễ dàng hay khó khăn mà người tiêu dùng cảm nhận khi mua và sử dụng xe máy điện (L. Li et al., 2020).

Bên cạnh đó, nhận thức về môi trường (Environmental Concern – EC) cũng là một yếu

tố quan trọng được nhiều nghiên cứu đề cập. Nhận thức về các vấn đề môi trường như ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu hay khan hiếm năng lượng có thể thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn các phương tiện giao thông thân thiệnvớimôi trường (Lane & Potter, 2007). Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mối quan hệ tích cực giữa nhận thức môi trường vàý định sửdụng xe điện (Bhalla et al., 2018). Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng yếu tố môi trường không phải lúc nào cũng là yếu tố quyết định hàng đầu trong hành vi mua (Thananusak et al., 2017).

1.1.2. Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế và đặc điểm sản phẩm đến quyết định mua

xe máy điện.

Các yếu tố kinh tế,đặc biệt làchi phí (Price/Cost – PR), đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua xe máy điện của người tiêu dùng. Giá cả không chỉ bao gồm chi phí mua ban đầu mà còn bao gồm chi phí vận hành, bảo trì và thay thế pin.

Nhiều nghiên cứu cho thấy giácả làmộttrong những yếutố có ảnhhưởng mạnh nhất đến ý định mua xe điện (Cecere et al., 2018). Người tiêu dùng thường cân nhắc giữa chi phí và

lợi ích khi đưa ra quyết định mua. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho thấy người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho xe điện nếu họ nhận thấy giá trị môi trường và lợi ích lâu dài (Kotchen & Moore, 2008).

Ngoài ra, rủi ro cảm nhận (Perceived Risk – PK) cũng là một yếu tố ảnh hưởng đáng kể. Người tiêu dùng có thể lo ngạivề độan toàn, tuổi thọ pin, khả năng vận hànhhoặc sựbất

15

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 16 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

tiện trong quá trình sử dụng xe máy điện. Những rủi ro này có thể làm giảmý địnhmua vàsử dụng xe điện (Hidrue et al., 2011).

1.1.3. Ảnh hưởng của các yếu tố chính sách và truyền thông đến quyết định mua xe

máy điện.

Các chính sách hỗ trợ của chính phủ (Policy Support – PS) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi tiêu dùng xe điện. Các chính sách như trợ cấp tài chính, ưu đãi thuế, hỗ trợ vay vốn, miễn phí đỗ xe hoặc phát triển cơ sở hạ tầng trạm sạc đã được chứng minh là có tác động tích cực đến ý định mua xe điện (Hackbarth & Madlener, 2013; Bhalla et al., 2018).

Bên cạnh đó, trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng của truyền

thông kỹ thuật số (Digital Media Influence – DMI) ngày càngtrởnên quan trọng, đặc biệt đối với nhóm người tiêu dùng trẻ như sinh viên. Các nền tảng mạng xã hội như Facebook, TikTok, YouTube có thể tác động đến nhận thức, thái độ và hành vi của người tiêu dùng thông qua quảng cáo, đánh giásảnphẩm và người cóảnhhưởng(KOLs). Tuy nhiên,yếu

tố này vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ trong các nghiên cứu trước đây. 1.1.4. Mối quan hệ giữa ý định và hành vi sử dụng thực tế

Theo TPB, ý định mua (Purchase Intention – PI) được xem là yếu tố dự báo trực tiếp của hành vi thực tế. Tuy nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào ý định cũng chuyển hóa thành hành vi.

Nhiều nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào việc phân tích ý định mua mà chưa

xem xét đầy đủ hành vi sử dụng thực tế (Actual Behavior – AB). Điều này tạo ra khoảng trống trong việc hiểu rõ quá trình chuyển đổitừý định sang hành vi của người tiêu dùng đối với xe máy điện.

1.1.5. Nhận xét tổng quan tài liệu và khoảng trống nghiên cứu

Dựa trên tổng quan tài liệu cho thấy, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về xe điện nói chung, nhưng các nghiên cứu tập trung riêng vào xe máy điện,đặcbiệt trong bối cảnh sinh viên tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Phầnlớncác nghiên cứu đều sử dụng mô hình TPB làmnền

16

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 17 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

tảng, tuy nhiên mô hình này chưa phản ánh đầy đủ tác động của các yếu tố trong bối cảnh hiện đại.

Do đó, nghiên cứu này trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước,đồng thờibổ sung vàhoàn thiện mô hình nghiên cứu với các điểm mới như sau:

•Thứ nhất, nghiên cứu mở rộng mô hình TPB bằng cách bổ sung các yếu tố: nhận thức môi trường (EC), ảnh hưởng truyền thông kỹ thuật số (DMI), chi phí(PR), rủi ro cảm nhận (PK) và chính sách hỗ trợ (PS).

•Thứ hai, nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc phân tích ý định mua mà còn xem xét mối quan hệ giữa ý định mua (PI) và hành vi sử dụng thực tế (AB).

•Thứ ba, nghiên cứu tập trung vào đối tượng cụ thể là sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển, góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm trong bối

cảnh Việt Nam.

• Thứ tư, nghiên cứu đưa yếu tố ảnh hưởng của truyền thông kỹ thuật số

(DMI) vào mô hình, phản ánh đặc điểm hành vi của thế hệ Gen Z trong môi trường số hiện nay.

1.2. Cơ sở lý luận về yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua xe máy điện 1.2.1. Các khái niệm

a. Khái niệm về xe máy điện

Xe điện (Electric Vehicles – EV) là dòng xe được trang bị bộ động cơ sửdụng 100% năng lượng điện.Điểmđặc biệt ở dòng xe EV là khả nănghoạt động bằng độngcơ điện thay vìđộng cơđốt trong (xăng, dầu diesel) như những dòng xe thông thường. Nguồn điện này thường đượccung cấp thông qua pin sạc hoặc ắc quy, cho phép phương tiệnvậnhành màkhông phát thải khí trực tiếp ra môi trường. Do đó, chúng có thể tạo ra những chuyển động một cách nhịp nhàng mà hoàn toàn không sản sinh ra khí thải carbon hay bất cứ tiếng ồn nào.

Các yếu tố quyết địnhđến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD)
Các yếu tố quyết địnhđến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD)

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 18 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

Theo International Energy Agency, xe điện đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyểnđổi năng lượng toàn cầu, góp phần giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới phát triển bền vững. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cũngchỉra rằng xe điện có hiệu suất năng lượng cao hơn so với phương tiệnsửdụng động cơ đốttrong, đồng thời giúp giảm ô nhiễm không khí tại các đô thị đông dân cư (IEA, 2023). Trong bối cảnh tiêu dùng xanh ngày càng được chútrọng trên toàn thế giới, xe điện được xem là một sản phẩm góp phần giảm tác động tiêu cực đến môi trường và phù hợp với xu hướng phát triển bền vững.

b. Khái niệm về xe máy điện

Xe máy điện là một dạng cụ thể của xe điện,được thiết kế tương tựxe máy truyền thống nhưng sử dụng động cơ điện kết hợp với bộ lưu trữ năng lượng như pin lithium-ion hoặc ắc quy. Loại phương tiện này có khả năng vận hành êm ái, không tạo ra khí thải trực tiếp và có chi phí vận hành thấp hơn so với xe máy chạy xăng. Theo báo cáo của World Bank,

tại các quốc gia đang phát triển,đặcbiệt là ở khu vực Đông Nam Á, xe máyđiệnđang dần trở thành một giải pháp thaythếkhảthi cho xe máy truyền thống nhờ tính kinh tế và thân thiện môi trường. Trong bối cảnh Việt Nam, nơi xe máy chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống giao thông cá nhân, xe máy điện được xem là xu hướng tấtyếuphù hợp với định hướng phát triển giao thông xanh (World Bank, 2022). Theo quyđịnhpháp luật Việt Nam (Nghịđịnh 100/2019/NĐ-CP và Thông tư 41/2019/TT-BGTVT), xe máy điện được xác định rõràng với tốcđộthiết kế không quá 50 km/h và công suấtđộngcơ không vượt quá 4 kW, thuộc nhóm xe gắn máy, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để phân tích hành vi tiêu dùng đối với sản phẩm này.

c. Khái niệm về sinh viên

Sinh viên là những cá nhân đang theo học tại các cơ sở giáo dục đại học hoặc cao đẳng, thường nằm trong độtuổi từ18đến24 và đang trong giaiđoạnhình thành nhận thức, giátrị và hành vi tiêu dùng, có trình độ nhận thức tương đối . Dưới góc độ nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, sinh viên được xem là một nhóm khách hàng đặc thùvới đặc điểm vừa cókhả năng tiếp cận thông tin cao, vừa chịu ảnhhưởng mạnh mẽ từcác yếu tố xã hội và xu hướng công nghệ. Theo Kotler & Keller (2016), hành vi tiêu dùng của nhóm khách hàng trẻ tuổi thường mang tính linh hoạt, dễ bị tác động bởi truyền thông và có xu hướng quan

18

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 19 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

tâm đến các giá trị xã hội như bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Trong nghiên cứu này, sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển được xem là nhóm đặc thù vì họ không chỉ tiếp cận thông tin nhanh chóng mà còn có nhận thức sâu sắc về chính sách công và phát triển kinh tế – xã hội. Đặc điểm này khiến sinh viên dễ hình thành thái độ tích cực hơn với các sản phẩm xanh, đồng thời trở thành nhóm đối tượng tiềm năng quan trọng trong việc thúc đẩy tiêu dùng xe máy điện nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững

tại Việt Nam.

1.2.2. Các lý thuyết có liên quan đến tác động của các yếu tố đến quyết định mua xe

máy điện

a. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng

Lý thuyết hành vi người tiêu dùng tập trung nghiên cứu quá trình mà cá nhân hoặc nhóm người lựa chọn, mua, sử dụng và đánh giá sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ. Theo quan điểm của Philip Kotler và Keller (2016), hành vi tiêu dùng không phải là một hành động đơn lẻ mà là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn liên tiếp. Lý thuyết này phân tích quá trình ra quyết định mua hàng thông qua mô hình “hộp đen người tiêu dùng”, từ nhận thức nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án thay thế cho đến quyết định mua và hành vi sau mua. Mỗi giai đoạn này đều chịu tác động của các yếu tố khác nhau, bao gồm yếu tố cá nhân, tâm lý, xã hội và các yếu tố marketing.

Nguồn: Philip Kotler, 2009

19

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 20 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

Hình 1: Mô hình lý thuyết hành vi người tiêu dùng

Trong nghiên cứu về xe máy điện, lý thuyết cung cấp cơ sở vững chắc để xác định các yếu tố như nhận thức giá trị, chất lượng pin và thương hiệu ảnh hưởng đến quyết định mua của sinh viên, hành vi người tiêu dùng không chỉ là hành động mua mà còn bao gồm quátrình tâm lý – xã hội trước và sau mua, đảm bảo lập luận toàn diện về yếu tố ảnh hưởng.

Theo Kotler, các yếu tố kích thích bao gồmhai nhóm chính là kích thích marketing (marketing stimuli) và kích thích môi trường (environmental stimuli). Trong bối cảnh xe máy điện, nhóm kích thích marketing gồm 4 yếu tố thuộc marketing mix: sản phẩm với đặc tính kỹ thuật và dung lượng pincủaxe máy điện, giácảbaogồmchi phí mua banđầuvàvận hành, vị trí phân phối qua hệ thống đại lý và tiếp thị qua quảng cáo cùng chương trình khuyến mãi. Nhóm kích thích môi trường bao gồm yếu tố kinh tế như thu nhập, công nghệtiến bộ pin lithium, pháp luật với chính sách ưu đãi thuế cho xe điện, cùng các yếu tố văn hóa và nhân khẩu học. Những kích thích này không tác động trực tiếp mà phải đi quahộpđen để tạora phản ứng. Trong nghiên cứu về sinh viên, các kích thích marketing và môi trường đặc biệt quan trọng vì sinh viên thường tiếp cận thông tin qua mạng xã hội và bị ảnh hưởng bởi chính sách hỗ trợ xe xanh tại Việt Nam.

Hộp đen người tiêu dùng là phần cốt lõi, chứa đựng hai thành phần chính không thể quan sát trực tiếp. Thành phần thứ nhất là đặc điểm người mua, bao gồm yếu tố văn hóa với ý thức bảo vệmôi trường, yếu tốxã hội từáp lực bạn bè và gia đình, yếu tố cá nhân như tuổi trẻ cùng thu nhập hạn chế của sinh viên, và yếu tố tâm lý như động cơ tiết kiệm cùng nhận thức về chất lượng pin. Thành phầnthứhai là quá trìnhngườitiêu dùng đưa ra quyếtđịnh mua, diễn ra qua năm giai đoạn tuần tự: nhận thức vấn đề khi sinh viên nhận ra nhu cầu di chuyển thay thế xe xăng, tìm kiếm thông tin qua đánh giá trực tuyến, đánh giá lựa chọn bằng cách so sánh thương hiệu và tầm hoạt động, quyết định mua, và hành vi sau mua với mức độ hài lòng hoặc khiếu nại. Mô hình khẳng định rằng hộp đen chính là nơi chuyển hóa kích thích thành ý định thực tế. Đối với sinh viên, hộp đen thường bị chi phối bởi thu nhập thấp và ảnh hưởng xã hội, dẫn đến việc ưu tiên xe máy điện có giá phải chăng và pin bền dù nhận thức môi trường cao.

20

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 21 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

Kết quả cuối cùng là các đáp ứng của người tiêu dùng, thể hiện qua lựa chọn sản phẩm xe máy điện thay vì xe xăng truyền thống, lựa chọn nhãn hiệu, các thương hiệu phổ biến với giới trẻ, nơi mua gần trường đại học, thời gian mua phù hợpvới các chương trình khuyến mãi và số lượng cùng tần suất mua. Mô hình Kotler chứng minh rằng đáp ứng cuối cùng phụ thuộc hoàn toàn vào cách hộp đen xử lý kích thích, không phải kích thích trực tiếp. Do đó, lý thuyết này giải thích thuyết phục tại sao sinh viên có ý định mua cao nhưng

tỷ lệ thực hiện thấp: kích thích bên ngoài mạnh mẽ songhộpđennộitại tạoràocản từthu nhập và hạ tầng.

Việc sửdụng lý thuyết hành vi người tiêu dùng của Philip Kotler làm cơ sở lý luận giúp nghiên cứu xác định chính xác cácyếu tốảnh hưởng đến quyết định mua xe máy điện của sinh viên, đồng thời xây dựng mô hình thực nghiệm vững chắc. Mô hình khắc phục hạn chếcủa các lý thuyết đơn giản bằng cách thừa nhận tính phức tạp của quátrình tâm lý, từđó hỗtrợ đề xuất giải pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh tại Việt Nam.

b. Lý thuyết hành vi có kế hoạch

Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) do Icek Ajzen đề xuất năm 1991 là mô hình dự đoán hành vi dựa trêný địnhhành vi, được phát triểntừLý thuyết hành động hợp lý (TRA) để khắc phục hạn chế lớn nhất của TRA đó là giả định hành vi hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát lý trí. TPB bổ sung yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi, giúp mô hình giải thích chính xác hơn tại sao một cá nhân có ý địnhmạnh mẽnhưng không thực hiện hành vi thực tế. Theo Ajzen, ý định hành vi được hình thành từ ba yếu tố cốt lõi:

thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi; từđó dẫn đến hành vi thực tế. Lý thuyết nàyđãđược kiểmchứng rộng rãi trong các nghiên cứu về tiêu dùng xanh và phương tiện bền vững, đặc biệt phù hợp với quyết định mua xe máy điện của

sinh viên – nhóm đối tượng có nhận thức môi trường cao nhưng bị ràng buộc bởi thu nhập và hạ tầng.

21

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 22 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

Nguồn: Ajzen, (1991)

Hình 2: Mô hình lý thuyết hành vi theo kế hoạch (TPB)

Việc áp dụng TPB làm nền tảng lý luận cho đề tài nghiên cứu mang lại sức thuyết phục mạnh mẽvì nó giải thích rõ ràng khoảng cách giữa ý định và hành vi thực tế của sinh viên. Sinh viên thường có thái độ tích cực với xe máy điện nhờ lợi ích môi trường và chi phí vận hành thấp, nhưng hành vi mua lại bị hạnchếbởicác yếu tố kiểm soát thực tiễn. Nhiều nghiên cứu tương tự tại Việt Nam đãsửdụng chính xác mô hình này để phân tíchý định mua xe máy điện, chứng minh tính khoa học và khả năng khái quát hóa cao cho bối cảnhđô thị Việt Nam hiện nay.

Cụ thể,bayếutố cốt lõi của TPBđượcáp dụng như sau. Tháiđộđối với hành vi làsựđánh giá tổng thể (tích cực hay tiêu cực) của cá nhân về hậu quả khi thực hiện hành vi mua xe máy điện. Với sinh viên, thái độ được hình thành từ nhận thức về lợi ích kinh tế (tiết kiệm chi phí nhiên liệu), lợi ích môi trường với niềm tin rằng xe máy điện thân thiện với môi trường, và tiện ích sử dụng, phù hợp với lối sống trẻ. Khi thái độ càng tích cực, ý định mua càng cao, giải thích tại sao sinh viên nhận thức rõ lợi ích xanh nhưng vẫn ưu tiên xe máy điện thay vì xe xăng truyền thống.

Chuẩn mực chủ quan phản ánhmức độảnhhưởng của áp lực xã hội từ những người quan trọng như gia đình, bạn bè và nhóm tham chiếu quyết định đến hành vi của cá nhân. Sinh

22

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 23 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

viên với đặc tính dễ bịảnh hưởng bởi xu hướng mạng xã hội và ýkiến đồng trang lứa thường hình thành ý định mua mạnh mẽ hơn khi nhận đượcsựủng hộ từngười thân hoặc thấy bạn bè sử dụng xe máy điện. Yếu tố này nhấn mạnh vai trò của ảnh hưởng xã hội trong việc thúc đẩy tiêu dùng xanh ở nhóm tuổi trẻ.

Nhận thức kiểm soát hành vi thể hiện mức độtựtin của cá nhân về khả năng thực hiện hành vi, bao gồm cả yếu tố thuận lợi và rào cản. Đây là điểm khác biệt quan trọng của TPB so với TRA, giúp giải thích những trườnghợpmà cá nhân có ý định nhưng không thể thực hiện hành vi do các rào cản khách quan. Đối với sinh viên, yếu tố này thường là điểm nghẽn

lớn nhất vì thu nhập hạn chế, lo ngại về hạ tầng sạc pin chưa phát triển và chi phí bảo dưỡng. Khi nhận thức kiểm soát càng cao (ví dụ: có chính sách trả góp hoặc điểm sạc gần trường),ý địnhmua càng dễ chuyển hóa thành quyết định mua thực tế. Ngược lại, nhận thức kiểm soát thấp chính là lý do giải thích tình trạng nhiều sinh viên có ý định mua cao nhưng tỷ lệ mua thực tế vẫn thấp.

Từba yếu tố trên, ý định hành vi được hình thành và trực tiếp dẫn đến hành vi mua xe máy điện. TPB khẳngđịnh rằngý định càng mạnh thì hành vi càng dễ xảy ra, nhưng nhận thức kiểm soát hành vi đóng vai trò quyết định trong việc thu hẹp khoảng cách giữa ýđịnh và hành vi là đặc trưng nổi bật trong nghiên cứu về phương tiện xanh tại Việt Nam. Môhình này không chỉ dự đoán mà còn cung cấp cơ sở để đề xuất các giải pháp can thiệp nhưcải thiện chính sách hỗtrợvà truyền thông nhằm nâng cao nhận thức kiểm soát cho sinh viên.

Việc sửdụng Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen làm cơ sở lý luận giúp nghiên cứu xây dựng mô hình thực nghiệm chặt chẽ, xác định rõ các yếu tố ảnhhưởng đến quyết định mua xe máy điện của sinh viên và đề xuất giải pháp thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Lý thuyết bổ sung hoàn hảo cho Lý thuyết hành vi người tiêu dùng của Kotler bằng cách tập trung sâu vào quá trình tâm lý dẫn đến ý định và hành vi, từ đó nâng cao tính dự báo và tính ứng dụng thực tiễn cho đề tài.

23

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 24 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Lý thuyết Hành vi dựđịnh (Theory of Planned Behavior – TPB) được kế thừa và phát triển từ Lý thuyết Hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA), hiện là một trong những khung lý thuyếtphổbiến và hiệuquảnhất trong việc giải thích hành vingườitiêu dùng. Theo Ajzen (1991), ý định hành vi là nhân tố quyết định trực tiếp đến hành vi thực

tế, được hình thành từ ba tiền đề chính: (1) Nhận thức về thái độ, (2) Chuẩn chủ quan và (3) Kiểm soát hành vi cảm nhận.

Tuy nhiên, trong bối cảnh sản phẩm công nghệ đặc thù và thân thiện với môi trường nhưxe điện, mô hình TPB truyền thống đôi khi chưa phản ánh được toàn diện các chiều hướng tác động tâm lý và ngoại cảnh. Chính vì vậy, nghiên cứu này kế thừa khung lý thuyết hành vi dự định (TPB) vàbổsung thêm các biến quan sát đặc thù nhằm xây dựng một mô hình mở rộng, giúp phân tích sâu sắc hơn các yếu tố quyết định đến hành vi mua xe điện của giới trẻ tại cụ thể là sinh viên đang theo học tại Học viện Chính sách và Phát triển (APD).

Dựa trên khung lý thuyết TPB và các đặc tính thực tế của thị trường xe điện, mô hình nghiên cứu mà nhóm đề xuất được thiết lập như sau:

•Nhóm nhân tố cốt lõi (TPB): Nhận thức về thái độ (ATT), Chuẩn chủ quan (SN), Kiểm soát hành vi cảm nhận (PBC).

•Nhóm nhân tố bổ sung, gồm: Nhận thức về môi trường (EC), Ảnh hưởng truyền thông kỹ thuật số (DMI), Chi phí (PR), Chính sách hỗ trợ (PS), Ý định mua (PI), Tôi từng dùng (Ab), Rủi ro cảm nhận (PK).

• Biến phụ thuộc: Ý định mua xe điện (INT)

2.1. Giả thuyết nghiên cứu

2.1.1. Nhận thức về thái độ (ATT)

Theo Ajzen và Fishbein (1975), nhận thức thái độ của người tiêu dùng được hiểu là mứcđộ đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của một cá nhân đối với việc thực hiện một hành vi cụ

24

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 25 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

thể. Trong mô hình Thuyết hành động hợp lý (TRA) và Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), thái độ được xem là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếpđến ý định hành vi của người tiêu dùng (Ajzen, 1991).

Trong bối cảnh tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường, thái độ tích cực của người tiêu dùng đối với sản phẩm xanh có thể làm gia tăng ý định mua và sử dụng các sản phẩm này. Đối với xe máy điện, thái độ của người tiêu dùng có thể được hình thành dựa trên sự đánh giá về lợi ích kinh tế, mức độ an toàn, thiết kế sản phẩm, cũng nhưmức độthân thiện với môi trường của phương tiện này.

Nhiều nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng khi người tiêu dùng có nhận thức tích cực về lợi ích môi trường và lợi ích kinh tế của xe điện, họ sẽ có xu hướng hình thành ý định sửdụng cao hơn. Do đó, thái độ được xem là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên.

Giả thuyết H1: Nhận thức về thái độ (ATT) tác động cùng chiều (+) đến Ý định mua xeđiện (INT)

2.1.2. Chuẩn chủ quan (SN)

Chuẩn chủ quan (SN) được coi như là một thước đo để đo mức độ nhận thức mà một cánhân về tácđộngcủa những cá nhân xung quanh khác (gia đình, đồng nghiệp, bạn bè,…) hoặc đến từcộng đồngnhững người trong xã hội, để từ đó giúp cá nhân đó xem xét việc liệu có nên thực hiện hành vi đó hay là không. Trong nghiên cứu về việc sử dụng xe điện, chuẩn chủ quan ở đây được hiểu là hành vi của cá nhân người tiêu dùng họ bị tác động bởi những người xung quanh, bởi xã hội.Cá nhân ở đây họ sẽ đánh giá việc nên mua hay không dựa vào những người xung quanh, xã hội, thêm nữa là việc họ đã sẵn sàng với việc mua xe điện hay không.

Giả thuyết H2: Chuẩn chủ quan (SN) tác động cùng chiều (+)đếnÝ địnhmua xeđiện (INT)

2.1.3. Kiểm soát hành vi cảm nhận (PBC)

Theo Ajzen (1991), kiểm soát hành vi cảm nhận (Perceived Behavioral Control – PBC) thể hiệnmức độ mà một cánhâncảmnhận việc thực hiện một hành vi là dễ dàng hay khó

25

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 26 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

khăn. Yếu tố này phản ánh nhận thức của cá nhân về khả năng kiểm soát hành vi dựa trên nguồn lực sẵn có như tài chính, thời gian, kiến thức và cơ hội thực hiện hành vi.

Trong bối cảnh nghiên cứu về xe điện, nhận thức kiểm soát hành vi được hiểu là mức độ mà người tiêu dùng cảm thấyhọ có đủkhả năng và điều kiện để mua và sử dụng xe máy điện. Theo nghiên cứu của Thuy và Hong (2019), nhận thức kiểm soát hành vi có tác độngđáng kể đến ý định sử dụng xe điện hai bánh tại Hà Nội.

Bên cạnh đó, Huang và Ge (2019) cũng cho rằng nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh mức độ người tiêu dùng cảm thấy việc mua xeđiện là dễhay khó,đồng thờikếtquả nghiên cứu cho thấy người tiêu dùng có xuhướngsẵnsàng mua xe máy điện hơn khihọcó đủ khảnăng tài chính cũng như sự tự tin trong việc đưa ra quyết định mua.

Giả thuyết H3: Kiểm soát hành vi cảm nhận (PBC) tác động cùng chiều (+) đến Ý định mua xe điện (INT)

2.1.4. Nhận thức về môi trường (EC)

Nhận thức về môi trường được hiểu là mức độ hiểu biết và quan tâm của cá nhân đối với các vấn đề môi trường như ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Theo Yi-Chang và Gwo-Hshiung (1999), nhận thức về môi trường có liên quanđếnkiến thức về môi trường, nhận thức về ô nhiễm và ý thức tiết kiệm năng lượng, từ đó có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của cá nhân.

Trong lĩnh vực tiêu dùng xanh, nhận thức về môi trường được xem là yếu tố quan trọng thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn các sản phẩm thân thiện với môi trường, bao gồm các phương tiện giao thôngsửdụng năng lượng sạch như xe máy điện. Thogersen (1999) cũng chỉ ra rằng các hành vi thân thiện với môi trường thường có xu hướng lan tỏa sang các hành vi khác như tái chế, tiết kiệm năng lượng và sử dụng các phương tiện giao thông xanh.

Trong bối cảnh nghiên cứu này, nhận thức về môi trường được hiểu là mức độ mà sinh viên nhận thức được lợi ích môi trường của xe máy điện so với xe máy chạy bằng xăng, cũng như trách nhiệm cá nhân trong việc bảo vệ môi trường thông qua lựa chọn phương tiện di chuyển.

26

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 27 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

Giả thuyết H4: Nhận thức về môi trường (EC) tác động cùng chiều (+) đến Ý định mua xe điện (INT)

2.1.5. Ảnh hưởng truyền thông kỹ thuật số (DMI)

Ảnh hưởngcủatruyền thông kỹ thuậtsốđược xem là một trong những yếu tố quan trọng tác độngđếný địnhmua xe điện của sinh viên trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ. Thông qua các nền tảng mạng xã hội, sinh viên có thể tiếp cận các thông tin sản phẩm, video trải nghiệm, cũng như các đánh giá (review) và bình luận từ người tiêu dùng khác. Những thông tin này được xem là một dạng truyền miệng điện tử (eWOM), có khả năngảnh hưởng đến nhận thức và niềm tin của người tiêu dùng. Khi sinh viên tiếp nhận nhiều thông tin tích cực về xe điện trên các nền tảng số, ý định mua của họ có xu hướng gia tăng. Do đó, có thể đề xuất giả thuyết sau:

Giả thuyết H5: Ảnh hưởng truyền thông kỹ thuật số (DMI) tácđộngcùng chiều (+) đến Ý định mua xe điện (INT)

2.1.6. Chi phí (PR)

Chi phí được xem là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi và ý định mua của người tiêu dùng. Theo lý thuyết hành vi người tiêu dùng, giá cả thường là một trong những

tiêu chí được cân nhắc đầu tiên trong quá trình ra quyết định mua. Đối với sinh viên – nhóm có thu nhập hạn chế và mức độ nhạy cảm về giá cao – yếu tố chi phí càng trở nên quan trọng khi xem xét việc mua xe điện. Nếu mức giá sản phẩm vượt quá khả năng tài chính hoặc mức sẵn sàng chi trả của sinh viên, ý định mua có thể bị ảnh hưởng tiêu cực. Ngược lại, nếu chi phí được đánh giá là phù hợpvớiđiều kiện tài chính và lợi íchsửdụng, ý định mua cũng có thể tăng lên. Vì vậy, giả thuyết được đề xuất như sau:

Giả thuyết H6: Chi phí (PR) tác động ngược chiều (-) đến Ý định mua xe điện (INT) 2.1.7. Chính sách hỗ trợ (PS)

Chính sách hỗ trợ từ các bên liên quan (Chính phủ, nhà trường và doanh nghiệp) được xem là yếu tố thúc đẩy việc chấp nhận xe điện. Các hỗ trợ về cơ sở hạ tầng như bãi đỗ xe riêng cảu nhà trường, hay là trạm sạc điện, cùng với các chương trình ưu đãi từdoanh nghiệp như giảm giáhoặc hỗtrợtài chính cho sinh viên có thể làm gia tăngsựthuận tiện

27

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 28 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

và khả năng tiếp cận sản phẩm. Do đó, những chính sách hỗ trợ này được kỳ vọng sẽ tácđộng tích cực đến ý định mua xe điện của sinh viên. Từ cơ sở trên để, tác giả đề xuất giảthuyết;

Giả thuyết H7: Chính sách hỗtrợ(PS) tác động cùng chiều (+)đến Ý địnhmua xe điện (INT)

2.1.8. Ý định mua (PI)

Ý định mua được định nghĩa là khả năng chủ quan của người tiêu dùng về việc họ sẽ mua một sảnphẩm trong tương lai (Ajzen, 1991). Trong nhiều nghiên cứu về hành vi tiêu dùng, ý địnhmuađượcxem là yếu tố trung gian quan trọng giữa thái độ và hành vi thực tế.Đối với xe điện, ý định mua phản ánh mức độ sẵn sàng của sinh viên trong việc chấp nhận chuyển đổi từphương tiện truyền thống sang phương tiện thân thiện với môi trường như xe máy điện. Do đó, ý định mua được xem là biến phụ thuộc trung tâm trong mô hình nghiên cứu này. Giả thuyết được đề xuất như sau;

Giả thuyết H8: Ý định mua (PI) tác động cùng chiều (+) đến Ý định mua xe điện (INT) 2.1.9. Tôi từng dùng (Ab)

Trải nghiệm sử dụng trước đó được xem làmột yếu tố cóthểảnhhưởng đếnnhu cầu mua xe điện của sinh viên. Những cá nhân đã từng sử dụng xe điện có cơ hội trải nghiệm trực tiếp cácđặc điểmcủa sản phẩm như khả năng tiết kiệm chi phí vận hành, tính thân thiện với môi trường và sự tiện lợi trong quá trình sử dụng. Những trải nghiệm thực tế này có thểgiúp giảm bớt sựkhông chắc chắn trong quá trình ra quyết định và gia tăng mức độ tin tưởng đối với sản phẩm. Do đó, những sinh viên đã từng sử dụng xe điện được kỳ vọng sẽcó nhucầumua cao hơn sovớinhững sinh viên chưa từng sửdụng. Trên cơsở đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

Giả thuyết H9: Tôi từng dùng (Ab) tác động cùng chiều (+) đến Ý định mua xe điện (INT) 2.1.10. Rủi ro cảm nhận (PK)

Cuối cùng là rủi ro cảm nhận. Rủi ro cảm nhận được hiểu là mức độ mà người tiêu dùng cảm thấy không chắcchắn vềnhững hậu quả tiêu cực có thể xảy ra khi quyết định mua

28

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 29 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

hoặc sửdụng một sản phẩm. Trong bối cảnh xe điện, sinh viên có thể lo ngại về các vấn đềnhưđộ bềncủa pin, chi phí thay thế linh kiện, sự hạn chế của hệ thống trạm sạc hoặc hiệu suất vận hành so với xe xăng truyền thống. Những yếu tố này có thể làm gia tăng mức độrủi ro cảm nhận và ảnh hưởng tiêu cực đến nhu cầu mua xe điện. Ngược lại, khi mức độ rủi ro cảm nhận giảm, sinh viên có thể cảm thấy tự tin hơn trong quyết định lựa chọn xe điện. Do đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

Giả thuyết H10: Rủi ro cảm nhận (PK) tác động ngược chiều (-) đến Ý định mua xe điện (INT)

Hình 3: Mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định hành vi mua và

sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển

29

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 30 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

2.2. Cách tiếp cận và thiết kế tổng thể nghiên cứu 2.2.1. Tiếp cận nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu ở đây được chia ra thông qua 3 phần chính liên quan chặt chẽ, mật thiết với nhau, đi lần lượt qua từng bước bắt đầu từ việc hình thành cơ sở lý thuyết đến kiểmđịnh thực tiễn và đưa ra kết luận.

Giai đoạn 1: Nghiên cứu sơ bộ (Nghiên cứu định tính)

Trong giai đoạn này, nhóm tập trung vào việc tổng hợp và phân tíchdữliệu thứcấp từcác công trình nghiên cứu có liên quan để xác định rõ mục tiêu vàđối tượngnghiên cứu. Sau đó, nhóm thực hiện tham khảo ý kiến từ các chuyên gia trong lĩnh vực và người tiêu dùng thực tế. Quá trình này giúp nhóm điều chỉnh, bổ sung các biến số và xây dựng môhình nghiên cứu cùng hệ thống thang đo đặc thù. Mục tiêu cốt lõi của giai đoạn này là hình thành bộ khung đo lường chuẩn xác chođề tài”Các yếu tố ảnh hưởngđến quyết địnhhành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển”.

Giai đoạn 2: Nghiên cứu chính thức (Thiết kế công cụ định lượng)

Dựa trên các lý thuyết nền tảng và kết quả từ giai đoạn 1, nhóm tiến hành xây dựng bảng câu hỏi khảo sát hoàn chỉnh. Các biến quan sát được đo lường thông qua thang đo Likert 5điểm (từ1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý). Cấu trúc bảng hỏi được thiết kế khoa học thành 3 phần riêng biệt:

1. Sàng lọc thông tin: Đảm bảo đối tượng khảo sát nằm trong phạm vi nghiên cứu. Là sinh viên đang theo học thuộc các khối ngành trong Học viện Chính sách và Phát triển (APD)

2. Thông tin cá nhân: Thu thập dữ liệu nhân khẩu học của người trả lời.

3. Nội dung khảo sát: Tập trung vào các phát biểu đo lường các nhân tố tác động đến hành vi mua và sử dụng.

Giai đoạn 3: Thu thập, xử lý dữ liệu và Kết luận

Nhóm thực hiện thu thập dữ liệu bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện với quy mô 208 phiếu khảo sát thông qua hình thức trực tuyến (Google Forms).

30

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 31 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

2.2.2. Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát

Bảng 1: Câu hỏi khảo sát

Khía cạnh đo lườngMục hỏi
Nhận thức về thái độTôi cho rằng xe máy điện là phương tiện di chuyển thân thiện và hiện đại.
Dùng xe máy điện mang lại cho sinh viên hình ảnh trẻ trung, năng động.
Xe máy điện an toàn và ít gây tiếng ồn khi di chuyển
Chuẩn chủ quanGia đình, thầy cô, bạn bè khuyên tôi nên sử dụng xe máy điện để tiết kiệm và bảo vệ môi trường.
Bạn bè xung quanh tôi đang dần chuyển sangsửdụng phương tiện điện.
Xu hướng xã hội đang khuyến khích sử dụng phương tiện xanh
Kiểm soát hành vi cảm nhậnTôi có đủkhả năng vận hành vàđiều khiển xe máy điện một cách an toàn.
Tôi có khả năng tài chính để mua xe điện
Việc thiếu trạm sạc khiến tôi do dự khi sử dụng xe máy điện.
Tôi cảm thấy việc thay thế linh kiện xe điện rất dễ dàng bởi vìhiện nay rất dễ để tìm thấy cửa hàng sửa chữa
Nhận thức về môi trườngTôi cho rằng việc sử dụng xeđiệngóp phần giảm ô nhiễm không khí, phát thải khí nhà kính
Tôi quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu và môi trường sống

31

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 32 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

Tôi cho rằng việcsửdụng các phương tiện thân thiệnvớimôi trường là rất cần thiết hiện nay
Tôi tin rằng việc sử dụng xe điện là một cách sống “ xanh”
Ảnh hưởng của truyền thông kỹ thuật sốCác bài viết, video review xe máy điện trên TikTok/Facebook/YouTube ảnh hưởng đến lựa chọn của tôi.
Những đánh giá tích cực từ cộng đồng mạng khiến tôi tin tưởng hơn vào chất lượng xe máy điện.
Tôi thường tìm kiếm thông tin về xe máy điện trên internet trước khi quyết định mua
Chi phíTôi nghĩ chi phí sạc điện thấp hơn chi phí mua xăng
Tôi nghĩ rằng bảo dưỡng xe điện ít tốn kém hơn xe xăng
Giá mua xe điện phù hợp với khả năng tài chính sinh viên
Chính sách hỗ trợViệc nhà trường (APD) có khu vực gửi xe riêng/ưu tiên cho xeđiện sẽ khuyến khích tôi sử dụng.
Các chính sách giảm thuế, hỗ trợ giá từ Chính phủ làm xe máyđiện trở nên hấp dẫn hơn.
Nếu trường có trạm sạc nhanh tại bãi xe, tôi sẽ ưu tiên chọn xe máy điện.
Ý định muaTôi có ý định mua xe máy điện trong tương lai.
Nếu có điều kiện phù hợp, tôi sẽ mua xe máy điện.
Tôi sẵn sàng chuyển sang sử dụng xe máy điện trong thời gian tới.

32

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 33 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

Tôi từng dùngTôi đã từng sử dụng xe máy điện.
Tôi đang sử dụng xe máy điện để di chuyển.
Tôi đã giới thiệu xe máy điện cho người khác.
Rủi ro cảm nhậnNhững thông tin về cháy nổ xe điện khiến tôi do dự khisửdụng xe máy điện
Tôi lo ngại chi phí thay pin hoặc sửa chữa xe máy điện trong tương lai sẽ cao.
Tôi lo ngại xe máyđiệncó thể gặp sựcố kỹ thuật (hỏng pin, chết máy) trong quá trình sử dụng.
Tôi cho rằng việc sạc pin xe máy điện có thể gây bất tiện hoặc rủi ro nếu không có đủ trạm sạc phù hợp.

2.3. Phương pháp thu thập dữ liệu

*Mẫu nghiên cứu Tổng thể nghiên cứu

Tổng thể nghiên cứu là sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển

Kích thước mẫu: Quyđịnh vềsố mẫu theo Hair & cộng sự (2009),cỡ mẫuđể phân tích tối thiểusẽ làn = 5*3+5*3+5*4+5*4+5*3+5*3+5*3+5*3+5*3+5*4= 165 (mẫu). Với mức

tối thiểu mẫu cho nghiên cứu này là 165 mẫu quan sát. Nhóm sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất để lấy mẫu và quyết định thực hiện 208 mẫu khảo sát bằng cách gửi bảng câu hỏi qua hình thức khảo sát online.

Thời gian thực hiện lấy mẫu: Từ 19/03/2026 đến 23/03/2026.

Chọn lựa phương pháp lấy mẫu: Do giới hạn về thời gian và nguồn lực, nhóm tác giả lựa chọn phương pháp lấy mẫu thuận tiện.

33

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 34 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

Cách lấy mẫu: Nhóm nghiên cứu thực hiện việc lấy mẫu bằng cách gửi bảng hỏi trực tuyến thông qua các trang mạng xã hội cho sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển

Lý do chọn mẫu: Sau khi xem xét và nghiên cứu, nhóm tác giả đã tiến hành chọnmẫubởi các lý do sau:

1. Thứ nhất, hạn chế bởi thời gian và kinh phí những mẫu vẫn được chọn lựa đảm bảo được tính chính xác, tính đại diện và tính thực tế của đề tài

2. Thứ hai, do vài yếu tố khách quan nên mẫu tập trung vào nhóm đối tượng sinh viên khóa 14

Tuy nhiên những điều này không làm ảnh hưởng quá lớn đến cái nhìn tổng quát của nhóm về vấn đềnghiên cứu với mức độ tin cậy chấp nhận được cho việc ra quyết định, giải quyết phù hợp.

* Thiết kế bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi được thiết kế làm 03 phần:

Phần 1: Phần giới thiệu mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu.

Phần 2: Các câu hỏi về Thông tin đối tượng nghiên cứu (giới tính, thu nhập,nơi ở, khoảng cách từ nơi ở đến trường, phương tiện di chuyển, dự định mua xe)

Phần 3: Các câu hỏi đánh giá đo lường về các nhân tố tácđộngđếnhành vi mua xe máy điện của sinh viên APD theo thang đo Likerttừ1 đến 5 (mức 1 tương ứng với “hoàn toàn không đồng ý” và mức 5 tương ứng với “hoàn toàn đồng ý”).

Các nội dung được thu thập nhằm mục đích sử dụng để đưa ra một số mô tả tổng quát vềđối tượng điều tra và góp phần giải thích kết quả phân tích số liệu.

2.4. Phương pháp phân tích dữ liệu

Trình tự tiến hành phân tích dữ liệu được thực hiện như sau:

Bước 1: Thu thập dữliệu từcác phiếu khảo sát, sau đó tiến hành xử lý sơ và nhập dữ liệu vào phần mềm SPSS để phục vụ quá trình phân tích

34

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 35 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

Bước 2: Thực hiện thống kê mô tả nhằm tóm tắt đặc điểm cơ bản của dữ liệu thu được

Bước 3: Kiểm tra mức độ tin cậy của thang đo thông qua phương pháp phân tích hệ số Cronbach’s Alpha

Bước 4: Phân tích nhân tố khám phá EFA

2.5. Quy trình xây dựng và xử lý bảng hỏi, thang đo

* Quy trình xây dựng và xử lý bảng hỏi

Nhóm nghiên cứu xây dựng và xử lý bảng hỏi theo trình tự như sau:

1) Làm rõ khái niệm và phương pháp đo lường các biến dựa trên các nghiên cứu có liên quan.

2) Xây dựng bảng hỏi theo mẫu 5-Likert từ ba mô hình lý thuyết để hoàn thiện mô hình nghiên cứu, chọn lọc và bổ sung các giả thuyết.

3) Chỉnh sửa thang đo từ những nghiên cứu liên quan

4) Đánh giá và điều chỉnh để hoàn thiện bảng hỏi chính thức.

5) Phát bảng hỏi trực tuyến với các cá nhân trong Học viện và thu được 208 phiếu khảo sát hợp lệ.

6) Sử dụng phần mềm SPSS 26 để xử lý và phân tích số liệu. *Thang đo

Đối với các biến số “Hành vi tiêu dùng” và “Nhận thức”, nhóm nghiên cứu sửdụng thangđo 5 điểm Likert; câu trả lời thu được ở mỗi câu hỏi bằng cách lựa chọn mức độ phù hợp từ1 đến 5 điểm: (1) Hoàn toàn không đồng ý, (2) Không đồng ý, (3) Trung lập, (4) Đồngý, (5) Hoàn toàn đồng ý.

Đối với những câu hỏi về Nhân khẩu học và Tần suất, người tham gia trả lời bằng cách tích dấu vào mỗi đáp án được lựa chọn.

2.6. Đánh giá độ tin cậy thang đo

Độ tin cậy của các thang đo được xác định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Điều kiện

35

Báo cáo tạo lúc 15:26 18/05/2026 tại https://apd.kiemtratailieu.vn Trang 36 / 71

Kết quả kiểm tra trùng lặp #1362802 Học viện Chính sách và Phát triển

để phân tích độ tin cậy của thang đo:

Nếu một biến đo lường có hệ số tương quan biến tổng Corrected Item – Total Correlation ≥ 0.3 thì biến đó đạt yêu cầu. (Nunnally, 1967;Hair et al. 1998; Sekaran, 2006; Zikmund,2010)

Mức giá trị hệ số Cronbach’s Alpha (Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 2, NXB Hồng Đức, trang 24)

• Từ 0.8 đến gần bằng 1: Thang đo lường rất tốt

• Từ 0.7 đến gần bằng 0.8 : Thang đo lường tốt

• Từ 0.6 trở lên : Thang đo lường đủ điều kiện

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2026\Đề tài NCKHSV_2026\Đề tài NCKHSV_2026 – RAR archive, unpacked size 5,838,412 bytes/ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH HÀNH VI MUA VÀ SỬ DỤNG XE MÁY ĐIỆN CỦA SINH VIÊN HỌC VIẾN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN

Các yếu tố quyết định đến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD) Các yếu tố quyết định đến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD) Các yếu tố quyết định đến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD) Các yếu tố quyết định đến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD) Các yếu tố quyết định đến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD) Các yếu tố quyết định đến hành vi mua và sử dụng xe máy điện của sinh viên Học viện Chính sách và Phát triển (APD)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *