Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam

Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam

LỜI MỞĐẦU

1. Lý do chọnđềtài

EU-Vietnam Free Trade Agreement chính thức cóhiệu lực từngày 1/8/2020 vớicam kếtxóa bỏ khoảng 99% dòng thuế giữa Việt Nam và European Union trong lộ trình từ 7 đến 10 năm. Hiệp định này được xem là dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam,đồng thờimở ra nhiều cơhội tiếp cận thị trường châu Âu cho cộng đồng doanh nghiệp trong nước.Theosố liệu của BộCông Thương (2025), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EUđãtăng từ 40,1tỷUSD năm 2020 lên 51,6 tỷ USD vào năm 2024, tương đương mức tăng khoảng 28,6%. Bên cạnh đó, thặng dư thươngmạigiữa Việt Nam và EU cũng tăng từ 24,8 tỷ USD lên 34,9 tỷ USD trong cùng giai đoạn. Những kếtquảnày cho thấy EVFTA đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sangthịtrường EU, đồng thờihỗ trợ nhiều nhóm ngành chủ lực mở

rộng thị phần tại khu vực giàu tiềm năng này (Bộ Công Thương, 2025).

Tuy nhiên, lợi thế về thuế quan mà EVFTA mang lại không phảilà yếu tốbảo đảm lâu dài. Hiện nay, EU đang đẩy mạnh xu hướng tiêu dùng xanh và phát triển bền vững, kéo theo các yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt liên quanđến bảovệmôi trường, truy xuất nguồn gốc, chống phá rừng và cơ chế điều chỉnh biên giới carbon. Điều nàyđặtra thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam, bởi nếu không nâng cao năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn mới thì những ưu đãi thuế quan từ EVFTA sẽ khó phát huy hiệu quả thực tế. Trong số các ngành được hưởng lợi từEVFTA, dệt may là một trong những lĩnh vực có nhiều cơ hội tăng trưởng nhất. Tuy nhiên, đây cũng là ngành đang đối mặt với không ít khó khăn trước các yêu cầu“xanh hóa” ngày càng khắt khe từ thị trường EU, đặc biệt liên quan đến tiêu chuẩn môi trường, giảm phát thải và phát triểnsảnxuất bền vững.. Bởi theo các chuyên gia xanh hóasảnxuất dệt may không còn là một lựa chọn cho ngành công nghiệp trị giá hàng tỷđôla mà là điều bắt buộc trong bối cảnh yêu cầu về tính bền vững ngày càng tăng trên toàn thế giới. Theo thống kê, ngànhdệtmaytạora khoảng 92 triệu tấn chất thải và phát thải khoảng 3,9 tỷ tấn CO₂ mỗi năm, đồng

15

thời tiêuthụgần93tỷmét khối nước. Những consốnày thể hiện mức độảnh hưởng môi trường nghiêm trọng mà ngành dệt may phải đối mặt, đồng thời làm nổi bật sự cấp bách trong việc chuyển đổi hoạtđộng sản xuấtxanh để phát triển bền vững ngành công nghiệp quan trọng này của đất nước (Báo Công Thương, 2025).

Việt Nam đã đặt mục tiêu “tăng trưởng xanh” và có một số chính sách hỗtrợnhưng nội lực của nềnsảnxuất xanh cụthểlà chuyển đổi công nghệ, tiếp cận vốn, năng lực quản lý môi trường trong doanh nghiệp tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào tác động thương mạivà xuất khẩu của EVFTA đối với các ngành sản xuất, trong khi mối quan hệ giữa EVFTA và hoạtđộng sảnxuất xanh của doanh nghiệp vẫn còn ít được khai thác. Đặc biệt, chưa có nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào cách các doanh nghiệp thực thi hoạt động sản xuất xanh trong các ngành chủ lực như dệt may, đặc biệt về chuỗi cung ứng nguyên liệu xanh, nguồn nhân lực và quản lý môi trường vẫn còn rất hạn chế và chưa phản ánh toàn diện các thách thức này dưới ảnh hưởng của EVFTA.

Dođó,trong bài nghiên cứu chúng tôi sẽ làm rõ cơ chế tác động của EVFTAđến hoạt động sản xuấtxanh của các doanh nghiệp xuất khẩu tại Việt Namđểlàm rõ các cơ hội và thách thức trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường của EU, từ đó đề xuấtcác giải pháp, chính sách, giúp doanh nghiệp vượt qua thách thức, nâng cao hiệu quả sản xuất xanh và hướng tới phát triển bền vững.

2. Mụctiêu nghiêncứu

Dựa trên các vấnđềtrong phần lý dolựa chọn đềtài, nhóm đặt ra 2 mục tiêu chính:

2.1. Mụctiêu tổng quát

Phân tích tác độngcủa EVFTA đốivớihoạtđộng sảnxuất xanh tại Việt Nam (cụ thể với ngành dệt may) và đưa ra định hướng chính sách nhằm gắn kếtlợi ích từ hiệp định với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.

16

2.2. Mụctiêucụthể

– Đánh giá mức độthayđổi thực tếtrong sản xuất xanh tại các ngành dệt may

xuất khẩu chủ lực sang EU kể từ khi EVFTA có hiệu lực.

– Xác định những điều khoản của EVFTA tác động trực tiếp đến việc doanh

nghiệp thay đổi sang sản xuất xanh

– Chỉ ra những khó khăn và đề xuất các giải pháp chính sách thiết thực cho Chính phủ và doanh nghiệp nhằm tận dụng tối đa lợi ích EVFTA để phát triển hoạtđộng sản xuấtxanh

2.3. Câu hỏi nghiêncứu

Ngoài ra, nhóm đặt ra một số câu hỏi gồm:

– Hiệp định EVFTA tác động tích cực như thế nàođến hoạt động sảnxuất

xanh tại Việt Nam?

– Các doanh nghiệp gặp phải những rào cản gì khi tuân thủ các tiêu chuẩn

của EVFTA trong hoạt động sản xuất xanh?

– EVFTA có tác động trực tiếp đến việc doanh nghiệp dệt may đầu tư vào

công nghệ sản xuất xanh hay không?

– Doanh nghiệp có phát sinh thêm chi phí tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường

của EU sau khi EVFTA có hiệu lực hay không?

3. Đốitượngvà phạm vi nghiêncứu

3.1. Đối tượngnghiêncứu

Tác động của EVFTA đến hoạtđộng sản xuấtxanh tại Việt Nam trong trường hợp ngành dệt may

3.2. Phạm vi nghiêncứu

– Phạm vi nội dung: Tác động của EVFTA đến hoạt động sản xuất xanh tại

doanh nghiệp dệt may Việt Nam

– Phạm vi thời gian: Nghiên cứu này được tiến hành trong giai đoạntrướcvà

sau khi thực thi EVFTA cụ thể trong giai đoạn 2015-2025

– Phạm vi không gian: Việt Nam, tập trung các ngành dệt may khi xuất khẩu

sang EU.

17

4. Phương pháp nghiêncứu

Bài nghiêncứukhoa học này được tiến hành qua phương pháp định lượng Nghiêncứunàyđược thiếtkếtheo phương pháp nghiêncứuđịnhlượngnhằm

mục đích đánh giá tác độngcủa EVFTAđếnhoạtđộngsảnxuất xanh của các doanh nghiệpdệtmaytạiViệt Nam. Dữ liệuđược thu thập bằng bảnghỏitrực tuyến gửi đến các doanh nghiệp dệt may đang tham gia hoặchướng đến thị trường EU.

Phương pháp phân tích trên các lý thuyết và nghiên cứu trước đây về phát triển bền vững, sản xuất xanh và tác động của các hiệp định thương mạiquốc tế đặc biệt là EVFTA, đối với hoạt động của doanh nghiệp dệt may

5. Kếtcấubài nghiên cứu

Bài nghiêncứuđượcthực hiện qua các phần sau:

Tóm tắt nghiên cứu: Tóm tắt tổng quan đề tài; phân tích: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu, kết cấubài nghiên cứu và đóng góp của đề tài

Chương 1: Cơsởlý luận và tổng quan nghiên cứu 1.1. Khát quan chung về EVFTA

1.1.1 Khái niệm vàbốicảnh của EVFTA 1.1.2. Các quy định chính của EVFTA

1.2. Khát quan chung vềhoạt độngsản xuất xanh 1.2.1. Khái niệm hoạt động sản xuất xanh

1.2.2. Khái quát hoạtđộng sảnxuất xanh trong ngành dệt may 1.3. Lý thuyếtsửdụng cho nghiêncứu(bài cũ vàbổsung)

1.3.1. Lý thuyết Thương mại – Môi trường (Trade-Environment Theory) 1.3.2. Lý thuyết “Race to the Top/Bottom” trong thương mại quốc tế

1.3.3. Lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain – GVC)

18

1.4 Tổng quan các nghiên cứu về tác động của FTA tới hoạt động sản xuất xanh

1.4.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài 1.4.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 1.5. Khoảng trống nghiêncứu

Chương 2: Thực trạng hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam trong quan hệ thương mại với EU

2.1. Thực trạng hoạt động sản xuất xanh tại VN

2.1.1. Thực trạng về hoạtđộng sảnxuất xanh và Xu hướng chuyển đổi xanh tại Việt Nam

2.1.2.Đánh giá Cơhộivà Thách thức từ EVFTA đối với hoạtđộng sản xuấtxanh 2.1.3 So sánh ngành dệt may với các ngành xuất khẩu trong bối cảnh trước và sau

EVFTA

2.2. Các nhân tố EVFTA tác động đếnhoạt độngsản xuất xanh tại Việt Nam 2.2.1. Ưu đãi thuế quan

2.2.2. Hàng rào kỹ thuật & tiêu chuẩn môi trường 2.2.3. Quy tắcxuất xứ& truy xuất nguồn gốc

2.2.4 Camkếtphát triển bền vững

2.2.5 Nhận thức của doanh nghiệpvềEVFTA 2.2.6 Chính sáchhỗtrợcủa nhànước

Chương 3: Phương pháp nghiêncứuvàkếtquảnghiên cứu 3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.3. Xác định thang đo và quy trình chọn mẫu 3.4. Môtảdữliệu nghiêncứu

19

3.5 Phân tích tác động của EVFTA tớihoạt độngsảnxuất xanh thông qua mô hìnhđịnh lượng

3.5.1. Thống kê môtảnghiên cứu vàkiểm định độtin cậy các thang đo 3.5.2 Phân tích nhântốkhám phá EFA

3.5.3 Phân tích tương quan và hồi quy Chương 4:Kếtluận và đềxuất giải pháp

4.1. Kết luận chung về tác động của EVFTA tới hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam

4.2.Đềxuất các kiến nghị với các nhântố

4.2.Hạnchế của đềtài và hướng nghiên cứu tiếp theoChương 1: Cơsởlý luận và tổng quan nghiên cứu

20

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Cơsởlý luận và tổng quan nghiên cứu

1.1. Khát quan chung về EVFTA

1.1.1. Khái niệm vàbốicảnh rađời củaEVFTA

Theo cổng thông tinđiện tửcủa BộCông Thương (moit.gov.vn) đã định nghĩa về EVFTA “Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)” là một FTA thếhệmớigiữa Việt Nam và 28 nước thành viên EU. EVFTA, cùng với Hiệpđịnh Đối tácToàn diện vàTiến bộXuyên Thái Bình Dương (CPTPP), là hai FTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay” (Viet Nam National Trade Repository)

Tờtrình số 141/TTr-CP của Chính phủ (2020) về việc phê chuẩn Hiệp định, EVFTA được xácđịnhlà: Hiệp định Thương mạitựdo giữa Cộng hòa xãhộichủnghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (Hiệp định EVFTA) có hiệu lực từ tháng 8/2020. Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với phạm vi cam kết rộng, bao gồm không chỉ các lĩnh vực truyền thống như thương mại hàng hóa và dịch vụ, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực phi truyền thống như mua sắm chính phủ, bảo hộ sở hữu trítuệ, lao động, môi trường và phát triển bền vững.(NGTK 2020)

Cơ quan Đối ngoại Liên minh châu Âu (EEAS) cho rằng: “EVFTA loạibỏhầu hếttất cảcác dòng thuế, dỡ bỏ các rào chắn về pháp lý và các thủ tục hành chính quan liêu, bảo hộchỉ dẫn địalý, cung cấp thêm các cơ hội tiếp cận thị trường mua sắm công và dịch vụ” (The European Union and Vietnam | EEAS)

Theo thông tin từ WTO, EVFTA được xem là một hiệp định thương mại tựdothế hệmớivớiphạm vi điều chỉnh rộng cùng mức cam kết ở mức cao. Hiệpđịnh bao quát nhiều lĩnh vực quan trọng như thương mại hàng hóa, quy tắc xuất xứ, hảiquan và tạo thuận lợi thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm

và kiểm dịchđộngthực vật(SPS), hàng ràokỹthuật trong thươngmại(TBT), phòng vệ thương mại, thương mại dịch vụ, đầu tư, cạnh tranh, doanh nghiệp nhànước,mua sắm công, sở hữu trí tuệ, phát triểnbềnvững, cácvấnđềpháp lý, cũng nhưhợptác và nâng cao năng lực. Nộidung nàyđược đề cậptrong Hiệpđịnh Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA). (Hiệpđịnh Thương mại Tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA))

Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam
Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam

Qua đó EVFTA được hiểu là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới giữa Việt Nam và nước thành viên Liên minh châu Âu (EU), có hiệu lực từtháng 8/2020 với phạm vi và mức độ cam kết cao nhất của Việt Nam từ trước đến nay. Hiệp định EVFTA không chỉ loại bỏhầu hếtcác dòng thuế quan mà còn mở rộng sang các lĩnh vực phi truyền thống như mua sắm chính phủ, sở hữu trítuệvà phát triểnbềnvững, nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch và thuận lợi cho cả hai bên.

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh Châu Âu (EVFTA) không phải là sản phẩm của một cuộc đàm phán ngắnhạnmà là thành quả tích lũy qua nhiều năm thương lượng và hoàn thiện pháp lý giữa hai bên. Quá trình này bắtđầu từnăm 2012 và chính thức vào tháng 12 năm 2015, khi hai bên tuyênbốhoàn tấtđàmphán về nguyên tắc. Một diễn biến đáng chú ý xảy ra vào giữa năm 2018, khi hai bên quyết định phân chia văn kiện thành hai Hiệp định độc lập: một vềthương mại hàng hóa vàdịch vụ(EVFTA) vàmột vềbảohộđầutư (EVIPA).Cảhai văn kiệnđược kýkếtchính thức tại Hà Nội vào ngày 30 tháng 6 năm 2019 vàsau khi hoàn tất thủ tục phê chuẩntạiĐạihọc Châu Âu giữa Quốc hội Việt Nam, EVFTA bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 8 năm 2020. (TTWTO VCCI – (FTA))

Nhìn vàokếtquả thực tiễn sau khi Hiệp định bước vào vận hành, bức tranh thương mại cho thấy những tín hiệu tích cực. Trong hai năm đầu thực thi, tổng giátrịxuất khẩu của Việt Namđãđạt EUđạtbình quân khoảng 41,7tỷUSD mỗi năm cao hơn khoảngmộtphần tư sovớitrung bình giaiđoạn2016 – 2019 (VCCI, 2022). Riêng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 46,8 tỷ USD, tăng 16,7% so với nămtrước(BộCông Thương, 2023). Tuy nhiên, một thực tế đáng lưu ý làkhả năng tận dụng ưu đãi thuế quan của doanh nghiệp nhưng rất hạn chế:tỷ lệhàng hóa xuất khẩu cósửdụng chứng nhận xuấtxứtheo EVFTA chỉ dừng ở mức

22

14,8% ngaynăm đầutiên và mặc dù đã tăng dần lên 35% vào năm 2023, con sốnàyvẫncho thấy phần doanh nghiệp chưa tậndụngđược cơ hội mà Hiệpđịnh mang lại. (TTWTO VCCI – (FTA))

1.1.2. Các cam kết chínhcủaEVFTA 1.1.2.1. Cam KếtvềThuế Quan

HiệpđịnhEVFTA xây dựnglộtrìnhcắtgiảm thuế nhập khẩu theo bốn hướng chính: xóa bỏ thuế ngay lập tức khi hiệp định có hiệu lực, xóa bỏ theo lộtrình có thời hạn, áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ) vàmột sốnhóm hàng không thuộc diện cam kết.

Phía EU cam kếtmiễn thuế ngay cho hơn 85% dòng thuế (tương ứng khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu Việt Nam). Sau 7 năm, tỷ lệ này mở rộng lên gần 99% số dòng thuế và gần toàn bộ kim ngạch xuất khẩu. Phần còn lạiđược hưởng TRQ với thuế suất trong hạn ngạch bằng 0%, đồng nghĩa với việc về dài hạn toàn bộ hàng xuất khẩu Việt Nam vào EU đều được hưởng ưu đãi thuế quan mức cam kết cao nhất mà EU từng dành cho Việt Nam trong các FTA đã ký.

Phía Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế ngay cho gần 49% dòng thuế, tươngđương khoảng 65% kim ngạch nhập khẩu từ EU.Lộtrình tiếp theo kéo dài đến 7 -10 năm, với tỷ lệ tự do hóa lần lượt đạt trên 91% và 98% số dòng thuế. Một sốmặthàng nhạy cảmđượcbảolưu lộ trình lênđến15 năm hoặc áp dụng TRQ theo cam kết WTO.

Riêng về thuế xuất khẩu, hai bên thống nhất không áp dụng thuế xuất khẩuđối với hàng hóa trao đổi qua lại, ngoạitrừmột số mặt hàng chiến lược mà Việt

Nam bảo lưu quyền đánh thuế như dầu thô, thanđá,…vớicam kết đưa mức trần về tối đa 20% trong vòng 5 năm.(Viet Nam National Trade Repository)

Đối vớingành dệt may, cam kết thuế quan của EVFTA mang lại lợithế đặc biệt lớn. Trước khi EVFTA có hiệu lực, thuế nhập khẩu của EU đối với hàng dệt may Việt Nam dao động từ 10-12%. (Tạp chí Kinh tế và Dự báo).Theo lộ trình EVFTA: 77,3% dòng thuế áp dụng với dệt may được xóa bỏ ngay khi hiệpđịnh

23

có hiệu lực; 98,3% dòng thuế được giảmvề0% sau 5 năm và toàn bộ 100% dòng thuế được xóa bỏ hoàn toàn sau 7 năm. Cụ thể hơn về cấu trúc lộ trình, khoảng 42,5% số dòng thuế có thuế suất cơsởtừ8-12% được loại bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực, chủ yếu là nguyên phụ liệu dệt may (thuộc các Chương 50-59), hàng dệtkim và móc (Chương 60) vàmột sốítsảnphẩm maymặc(thuộc Chương 61- 63). Các sản phẩm còn lại có lộ trình xóa bỏ thuế dần từ mức MFN trung bình 12% về 0% trong thời hạn 3-7 năm.

1.1.2.2. Cam KếtvềHạn Ngạch Thuế Quan

Bên cạnh lộ trình thuế, một số mặt hàng nhất định được điều chỉnh riêng theo cơchế hạnngạch thuế quan. Hàng hóa trong hạn ngạchđượcmiễn thuế hoặc hưởng thuế suất ưu đãi, hàng ngoàihạnngạch chịu mức thuế cao hơn theo biểu cam kết. (Viet Nam National Trade Repository).Phía Việt Nam duy trì hạn ngạch theo chuẩn WTO, với lộ trình xóa bỏ dần thuế suất trong hạn ngạch đối với hàng EU trong khoảng 11 năm.

1.1.2.3. Cam Kết về Quy Tắc Xuất Xứ

EVFTA xácđịnh xuất xứhàng hóa theo ba phương thức:xuất xứthuần túy, gia công hoặc chế biến đáng kể và quy tắc riêng cho từng mặt hàng (PSR) theo mã HS 8 số. Đáng chú ý, hiệp định áp dụng quy tắc cộng gộp, cho phép nguyên liệu từcácnướcthành viên EU hoặc Việt Namđượctính chung khi xác định xuất xứ.

Về cơ chế chứng nhận xuất xứ, bên cạnh hình thức cấp C/O truyền thống, EVFTA cho phép nhà xuấtkhẩu tựchứng nhận xuất xứ (Viet Nam National Trade Repository, không ngày-c).Đối vớiEU, lô hàng dưới 6.000 EUR cho phép bấtkỳ nhà xuất khẩu nàotựkhai, lô hàngvượtngưỡng nàychỉáp dụngvớinhà xuất khẩuđủ điều kiện. ViệtNam đang trong lộ trình triển khai cơ chế tương tự và sẽthông báo cho EU trước khi chính thức áp dụng.

Đối với ngành dệt may, (EVFTA – Cam kết trong ngành dệt may) quy tắc xuấtxứ là điều kiệncốt lõi và cũng là thách thức lớnnhất để được hưởng ưu đãi thuế quan. EVFTA yêu cầu quy tắc xuất xứ “2 công đoạn” (từ vải trở đi):vải sử

24

dụng để tạo thành sản phẩm phải có xuất xứ Việt Nam hoặc EU và việc cắt, may phảiđượcthực hiện tại Việt Nam hoặc EU. Quytắcnày đượcđánh giá là chặt chẽhơn nhiều sovớiHiệp định ATIGA hay RCEP mà Việt Nam đang tham gia. Trong khi RCEP chỉ yêu cầucắtmaytạiViệt Nam bấtkểnguồn gốc vải, EVFTA đòi hỏi vảinguyên liệu cũng phải có xuấtxứ từ ViệtNam hoặc EU. Thực trạng đáng lo ngại là năng lực sản xuất vải trong nước hiện chỉ đáp ứng khoảng 20-30% nhu cầucủa toàn ngành, phần còn lại vẫn phụ thuộc vào nhập khẩutừcác nước khác, khiến không ít doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc chứng minh xuất xứ và bỏlỡ cơ hội hưởng ưu đãi thuế.

Đểtháogỡmột phần hạn chế này, Việt Nam đãđàmphán đưa vào EVFTAđiều khoản cho phép doanh nghiệp được cộng gộp hàm lượng xuấtxứcủa nguyên liệu dệt may nhập khẩu từ Hàn Quốc là nước duy nhất hiện có cả FTA với Việt Nam và EU vào sản phẩm dệt may sản xuấttạiViệtNam để được hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu sang EU (TTWTO VCCI). Ngoài ra, EVFTA cho phép chia nhỏ lô hàng trong trường hợp quá trình vận chuyển có quá cảnh qua nướcthứba không phải thành viên với điều kiện hàng hóa vẫn nằm dưới sự giám sát của hảiquan, tạo thuận lợi đáng kể cho doanh nghiệp trong phân phối theo mùa vụ.

1.1.2.4. Cam Kết về DịchVụvàĐầu Tư

EVFTA hướng đến xây dựng môi trường đầu tưcởimởvà bình đẳng. Việt Nammởcửa hơn sovớicác camkếtWTO trong các lĩnh vực như dịchvụchuyên môn, tài chính, viễn thông, vậntảivà phân phối (Viet Nam National Trade Repository). Các nguyên tắc nền tảng bao gồm:

– Tiếpcậnthịtrường: Khônghạnchế sốlượngdoanh nghiệp, giá trịgiao dịch, tỷlệvốnnước ngoài hay hình thức pháp nhân trong các ngành đã cam kết.

– Đối xửquốc gia: Nhà đầu tư vàdịch vụcủa bên kiađượcđốixửkhông kém

hơn so với doanh nghiệp trong nước.

– Đối xử tối huệ quốc (MFN): Các khoản đầu tư đãđược cấpphép không bị

đối xử kém hơn so với nhà đầu tư từ bất kỳ bên thứ ba nào.

25

– Không ápđặtyêu cầu hoạt động: Không bắtbuộc tỷ lệ xuất khẩu, nội địa

hóa hay ràng buộc nhập khẩu – xuất khẩu trong các ngành đã cam kết. 1.1.2.5. Cam KếtvềMua Sắm Chính Phủ

Chương mua sắm công của EVFTA nhằm tăng cường minh bạch và hiệu quả chi tiêu ngân sách, đồng thờimởcửa đểdoanh nghiệp hai bên có cơ hội tham gia đấu thầu. Các nguyên tắc cốt lõi gồm: công khai thông tin, đấu thầu rộng rãi, không phân biệtđối xử, và thúc đẩyđấu thầu điệntử. Điều kiện để một gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh phảiđồng thờiđáp ứng ba yếu tố: ngưỡng giá trị, cơ quan mua sắm và loại hàng hóa/dịchvụ. Một số ngoại lệ đượcbảolưu như gói thầu liên quanđếnchương trình nông nghiệp hay phát thanh truyền hình. (Viet Nam National Trade Repository, không ngày-c)

1.1.2.6. Cam KếtvềHàng RàoKỹThuật (TBT)

EU-Vietnam Free Trade Agreement dành riêng Chương 5 để quy định vềhàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), trong đó đưa ra các camkếtmang tính ràng buộc đối với cả Việt Nam và European Union trong quá trình xây dựng vàáp dụng các biện pháp kỹ thuật. Theo hiệp định, trước khi ban hành các quy chuẩn kỹthuật mới, mỗi bên phải tham khảo các tiêu chuẩn quốc tế như ISO, IEC, ITU hay Codex và có trách nhiệm thông báo cho bên còn lại tối thiểu 60 ngày để lấyý kiến đóng góp. Liên quan đến quy định ghi nhãn hàng hóa, EVFTA quy định rằng các thông tin bắt buộc trên nhãn chỉ bao gồm những nội dung thực sự cần thiếtđốivớingườitiêu dùng hoặc nhằm chứng minhsựphùhợpvớicác quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc. Đồng thời, hiệp định cũng không yêu cầu đăng ký hay phê duyệt nhãn trướcnếuhàng hóa đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn liên quan,đồng thời cho phép việcgắnhoặcbổsung nhãnđượcthực hiện tạiđịa điểmđược chấp thuận trên lãnh thổ nước nhập khẩu. (TTWTO VCCI)

(HuongCNT, 2024) Đốivớingànhdệtmay, theo HuongCNT (2024), EVFTA chủ yếutậptrung vào các cam kết chung liên quanđếnhợp tác và minh bạch hóa trong lĩnh vực TBT, thay vì đưa ra các quy định riêng biệt cho ngành này. Tuy nhiên, hiệp định vẫn bao gồm một số nội dung đáng chú ý như cam kết

26

vềghi nhãn hàng hóa,hợptác trong việc công nhận quy trình đánh giásựphù hợp và cơchế hậukiểm. Ngoài ra, Việt Nam cũng camkếtchấp nhận việc ghi xuấtxứhàng hóa theo dạng “Made in EU” hoặc ghi cụ thể tên từng quốc gia thành viên EU đối với hàng hóa công nghiệp, bao gồm cả sản phẩm dệt may.

1.1.2.7. CamKếtvềSởHữuTríTuệ

EVFTA đặt ra tiêu chuẩnbảo hộ sở hữu trítuệ ở mức cao, (Các cam kết chính, không ngày) baogồm bảnquyền (thời hạn bảo hộ tối thiểu 50 năm), nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp(bảo hộít nhất 15 năm), và kiểm soát biên giới chống hàng giả.Đặcbiệt, hiệpđịnh bảo hộchỉ dẫn địa lý(GI): Việt Nam bảohộhơn 169 chỉ dẫn địa lý của EU, ngược lại EU bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam, bao gồm các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu cao như cà phê Buôn Ma Thuột, tràMộc Châu. Các cam kết này có giá trị áp dụng mở rộng với toàn bộ thành viên WTO theo nguyên tắc MFN trong khuôn khổ Hiệp định TRIPS.

1.1.2.8. Cam KếtvềThương Mại và Phát Triển Bền Vững

Đâylà điểm khác biệtnổibậtcủa EVFTA sovớinhiều FTA thế hệ trước. Chương phát triểnbềnvững đặtra các cam kếtràng buộc (Các cam kếtchính) trong các lĩnh vực:

– Đa dạng sinh học: Tôn trọng chủ quyền tài nguyên, thúc đẩy tiếpcậnnguồn

gen có trách nhiệm với sự đồng thuận của bên cung cấp

– Biến đổi khí hậu: Triển khai các cơ chế định giá carbon, thúc đẩythịtrường tínchỉcarbon, phát triển năng lượng tái tạo và công nghệ phát thải thấp, phù hợp với các cam kết trong Hiệp định Paris và Công ước UNFCCC.

– Quản lý rừng và thủy sản bền vững: Khuyến khích thương mại lâm sản từrừng đượcquản lý có trách nhiệm; cam kết chống đánh bắt cábấthợppháp và phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững.

– Lao động: Thúc đẩy phê chuẩn và thực thi các công ước cơ bản của ILO,

đảm bảoquyềnlợingười lao động gắn với hoạt động thương mại.

27

– Minh bạch: Công khai quá trình xây dựng chính sách môi trường, sử dụng bằng chứng khoa học trong hoạch định quy định liên quan đến thương mại và môi trường.

Đối vớingành dệt may, (HuongCNT, 2024) các cam kết phát triển bền vững trong EVFTA tạo ra áp lực thể chế trực tiếp và ngày càng mạnh hơn. Thị trường EU đã luật hóa toàn bộ các quy định liên quan đến phát triểnbềnvững và có xu hướng chuyển từ khuyến khích tự nguyện sang yêucầubắt buộc. Chiến lược dệt may bền vững và tuần hoàn của EUđặtmục tiêu giảm tiêu dùng thời trang nhanh, thúc đẩy thiết kế sinh thái (Eco Design), ghi nhãn theo đúng quyđịnh vàxây dựng “hộ chiếu sản phẩm” để người tiêu dùng có thể truy xuất nguồn gốc và xác minh các tuyên bố xanh của sản phẩm. Điều này tạo ra yêu cầu cấpthiết đối vớicác doanh nghiệp dệt may Việt Nam khi tham gia thị trường quốc tế. Doanh nghiệp không chỉ cần tuân thủ các quy định về xuất xứ hàng hóa mà còn phải bảo đảm sảnphẩm đáp ứng các tiêu chí thân thiệnvớimôi trường, có khả năng tái chế vàhạn chế tối đa tác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên. Bên cạnh đó, doanh nghiệpcần đầutư đồng bộ vào cơ sở hạ tầng, máy móc và công nghệ sản xuất,đồng thờiđápứng đầy đủ các tiêu chuẩn và quy trình quản lý do EU ban hành. Ngoài yêucầu vềchất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cũng phải chú trọng đến trách nhiệm xã hội, bảo đảm tính minh bạch trong các vấnđề liênquanđếnlaođộng và môi trường sản xuất.

1.2. Khát quan chung về hoạt động sản xuất xanh 1.2.1. Khái niệmhoạt độngsảnxuất xanh

Theo Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD), sảnxuất xanhđượchiểu là quá trìnhtạora sảnphẩm thông qua các hoạtđộng kinhtế sửdụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, hạnchế phát sinh chất thải và ônhiễm, đồngthờivẫnbảođảm chấtlượngcuộc sống cho các thế hệ tương lai. Hiện nay, sản xuất xanh đang dần trở thành xu hướng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn nhằm phù hợpvớiđịnh hướng phát triển bền vững trên toàn cầu (Sản xuất xanh: Giải pháp phát triển bền vững)

28

Bên cạnh đó, theo IBM, các hoạtđộngtrong mô hìnhsảnxuất xanh bao gồm việc ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệuquả vậnhành, sử dụng năng lượng tái tạo, ưu tiên nguồn nguyên liệu bền vững, đồng thời chú trọng bảovệ các hệsinh thái và khu vực tự nhiên. Những hoạt động thân thiện với môi trường này không chỉ cải thiện tính bền vững của sản xuất mà còn mang lạilợiích kinh doanh như tiết kiệm chi phí, tuân thủ quy định, nâng cao uy tín và tăng cường an toàn cho cả người tiêu dùng và nhân viên. (IBM)

Từ đó, hiểuđược sảnxuất xanh là hoạtđộng sản xuấtbềnvững nhằm tốiưu hóa quy trình kinh tế thông qua việc ứng dụng công nghệ hiện đạiđểkhai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, ưu tiên sử dụng năng lượng tái tạo và nguyên liệu bền vững. Hoạt động này hướng tới mục tiêu giảm thiểu tối đa chất thải, khí thải và các tác động tiêucực đếnhệ sinh thái, đồng thời tạo ra giá trị kinh tế gia tăng thông qua việc tiết kiệm chi phí, tuân thủ các quy chuẩn môi trường và đảm bảo chất lượng sống cho thế hệ tương lai.

1.2.2. Khái quát hoạt động sản xuất xanh trong ngànhdệtmay

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các hiệp định thương mại tự do (FTA) không chỉ tự do hóa thương mại mà còn tích hợp thêm các camkết vềmôi trường, phát triển bền vững. Dođóhoạt độngsảnxuất xanh đã trở thành một trong các xu thế tất yếu của phát triển toàn cầu. Trong đó Việt Nam một trong những thịtrường xuất khẩu chủ lực đã và đang quan tâm nhiều hơn tới việc chuyển đổi đểphù hợp xu hướng xanh của thương mạiquốc tếbên cạnh chất lượng và giá thành sảnphẩm. Việt Nam hiện đang tham gia và triển khai nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệpđịnhthươngmạitựdo Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệpđịnh, Đối tácKinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Các hiệp định này đều bao gồm những cam kết sâu rộng với tiêu chuẩn cao liên quan đến phát triển bền vững. (BộCông Thương, 2025).Đối vớingành dệt may, áp lực chuyển đổi xanh ngày càng

lớn khi lĩnh vực này mỗi năm phát thải khoảng 5 triệu tấn CO₂ và tiêu thụ gần 8% tổng nhu cầu năng lượng của toàn ngành công nghiệp theosốliệu từUnited States

29

Agency for International Development. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp đangđẩy mạnh “xanh hóa” hoạt động sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường cũng nhưnâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Theo Vietnam Textile and Apparel Association, Việt Nam đang tích cực thực hiện camkếtđạt mức phát thải ròng bằng 0 đã đưa ra tại COP26. Đặc biệt tạithịtrường European Union, các sản phẩm dệtmay phải đáp ứng những tiêu chuẩn xanh nghiêm ngặt trong sản xuất, đảm bảo trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường và giảm phát thải. Ông Cao Hữu Hiếu – Tổng giám đốc Vinatex cho biết các nhà nhập khẩu yêu cầu sản phẩm dệt may phải đạt tiêu chuẩn an toàn, hạnchếsửdụng hóa chất trong quần áo vàđồtrang trí, đồng thời tuân thủ Chỉ thị An toàn Sảnphẩm Chung của Liên minh châu Âu (GPSD 2001/95/EC) cũng như không chứa các chất nằm trong danh mục hạn chế (RSL).

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp dệt maytạiViệt Nam đã triển khai các môhình sản xuất xanh. Chẳng hạn, Tổng công ty cổ phần Dệt mayHòa Thọ đã đầu tưhệthống điện mặt trờitạiba nhà máy may với toàn bộ thiếtbịđượcnhập khẩu từ Đức, giúp đáp ứng khoảng 15-20% nhu cầuđiệntiêu thụ hằng tháng. Mặc dù

chi phí đầu tư banđầu khálớn, hệthống này có thể hoàn vốn trong khoảng 5 năm, đồng thời góp phần giảm nguy cơ thiếu điện vào mùa cao điểm và giúp nhà máy vậnhành thân thiện hơnvớimôi trường.Bên cạnh đó, May 10 cũng triển khaiđồng bộnhiều giải pháp xanh như táisửdụng nướcthải sau xửlý, đầutưhệthống pin nănglượngmặttrời công suất khoảng 2 MWtạidựánở Bỉm Sơn (Thanh Hóa), đồng thời áp dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng trong sản xuất. Những giải pháp này giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí hàng tỷ đồng mỗi năm và bảođảmtoàn bộhệthống nhà máy may xuấtkhẩu đáp ứng đượccác yêucầunghiêm ngặt từ khách hàng quốc tế. Ngoài ra, Hugaco đã đầu tư hơn 31 tỷ đồng để đổi mớithiết bịsảnxuất, chuyển đổi hoàn toàn từ lò hơi than sang nồi điện vàlắp đặt hệ thống điều hòa tại các xưởng may. Việc thay đổi này không chỉ giúp giảm sửdụng nhiên liệu hóa thạch và hạn chế ô nhiễm khí thải mà còn cải thiệnđiềukiện làm việc cho người lao động, qua đó góp phần giúp doanh nghiệp duy trì lượng

30

đơn hàng ổnđịnh vàhoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh doanh. Song song với nỗlực của doanh nghiệp, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách hỗtrợnhằm thúc đẩy hoạtđộng sảnxuất xanh trong ngành dệt may. Nhờ sự phối hợp đồng bộgiữa Nhànướcvà doanh nghiệp, hàng dệt may Việt Nam ngày càng khẳng định vịthế trênthịtrường quốc tế. Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới, với kim ngạch xuất khẩu trong 9 thángđầu năm 2022 đạt khoảng 35 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi sang sản xuất xanh vẫn còn gặp không ít khó khăn. Theo đại diện Vietnam Textile and Apparel Association, hiện có ba rào cảnlớn đối với doanh nghiệp dệt may. Thứ nhất là nhận thức của doanh nghiệp về sản xuất xanh vẫn chưa đồng đều. Thứ hai, việc đầu tư cho mô hình này đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi phần lớn doanh nghiệp dệt may Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên còn hạn chế về năng lực tài chính. Cuối cùng, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình sản xuất xanh vẫn chưa đáp ứng tốt yêu cầu thực tiễn

1.3. Lý thuyếtsửdụng cho nghiêncứu

1.3.1. Lý thuyết Thương mại – Môi trường (Trade-Environment Theory)

Lý thuyết này nghiên cứu mối quanhệtương hỗ giữa hoạt động thương mại quốc tế và chấtlượngmôi trường. Những nghiêncứuđặtnềnmóngđầutiên thường được nhắc đến là của Grossman và Krueger (1991) thông qua khái niệmĐường cong Kuznets môi trường (EKC) (NGTK 2020)

Sauđó,các tác giả như Antweiler, Copeland và Taylor (2001) đã phát triển sâu hơn về ba hiệu ứng chính của thương mại lên môi trường: hiệu ứng quy mô(scale), hiệu ứng cơcấu(composition) và hiệuứng kỹthuật (technique) (Working Papers)

Thứ nhất, hiệu ứng quy mô chỉ ra rằng thương mại làm mở rộng sản xuất, từ đó làm gia tăng tiêu thụ tài nguyên và có thể gây ô nhiễm nặng hơnnếucông nghệ không thay đổi. Thứ hai, hiệu ứng cơcấucho thấy thương mại làm thay đổi

31

tỷtrọng ngành, nó cóthểthúc đẩy dịch chuyển cơcấusảnxuất sang các ngành cógiá trị gia tăng cao, ít gây ô nhiễm hơn vàngượclại nếu chuyển sang ngành “bẩn” thì sẽ gia tăng ô nhiễm. Thứ ba, hiệu ứng kỹ thuật nhấn mạnh rằng áp lực cạnh tranh và yêu cầu từ thị trường buộc doanh nghiệp phải tiếp nhận công nghệ mới, quy trình sản xuất sạch sẽ để giúp cải thiện môi trường hướng tới phát triển bền vững.

Trong bối cảnh EVFTA, lý thuyếtnày đượcvậndụng đểgiải thích các cam kếttạiChương 13 (Thươngmạivà Phát triểnbềnvững). Các nghiêncứucủa Nguyễn Thị Liên Hương vàcộng sựnăm 2021 đã chỉ ra rằng các FTA thế hệ mới như EVFTA tạo ra áp lực buộc các ngành thâm dụng tài nguyên nhưdệtmay phải chuyển đổi kỹ thuật để giảm phát thải nếu muốn tiếp cận thị trường EU. Không chỉ dừng ở việc giảm rào cản thương mại, các hiệp định như EVFTA đặt ra cam kếtliên quan đến phát triển bền vững, thúc đẩy sản xuất xanh, sử dụng tài nguyên mộtcách hiệu quả, giảm phát thải hay tuânthủtiêu chuẩn môi trường quốc tế.Điềunày khôngchỉtạoáp lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏmà chính các doanh nghiệplớncũng gặp khó khăn trong việc thayđổihành vi sản xuất theo hướng xanh hóa, đặc biệt tại các quốc gia xuất khẩu vào thị trường có tiêu chuẩn môi trường cao như EU. Có thể thấy, EVFTA là một hònđẩy đachiềuvừa mởra cơ hội, vừa tạo sức ép thúc đẩy doanh nghiệp ngày một cải tiến, khó khăn và thách thức sẽ là động lực để doanh nghiệp phát triển, cần hành động ngay để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng xanh vànắm bắtkịp các yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt của EVFTA (Bộ Công Thương, 2025). Bởi nếu các chính sách môi trường lỏng

lẻo, không tuân thủ được những gì hiệp định đề ra thì mở cửa thương mại có thể làm tăng ô nhiễm dolợiích ngắnhạn vềchi phísản xuất, đặcbiệt ở cácnướcđang phát triển với năng lực kiểm soát môi trường hạn chế

1.3.2. Lý thuyết Race to the top

Trái ngược với giả thuyết “Race to the Bottom” chỉ ta rằng cácnướchạthấp tiêu chuẩnđể thu hútđầutư thì lý thuyết “Race to the Top” hay “Hiệu ứng California” được David Vogel (1995) đề xướng trong “Trading Up: Consumer and

32

Environmental Regulation in a Global Economy”. Lý thuyết này cho rằng khi các quốc gia có thị trường tiêu thụ lớn và giàu có (như EU) ápđặt cáctiêu chuẩn môi trường, xã hội cao, các nước xuất khẩu buộc phải nâng cấp tiêu chuẩn của mìnhđểkhông bị loại khỏi thị trường. Đối với ngành dệt may Việt Nam,thịtrường EU chiếm tỷ trọng lớn và có các quy định khắt khe về kinh tế tuần hoàn và dệt may bền vững. Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hương và Phạm Tiến Mạnh (2021) chỉra rằng EVFTA đang đóng vai trò là “cú hích” để ngành dệt may Việt Nam thực hiện cuộc đua lên đỉnh cao về chất lượng và tính bền vững thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá rẻ (EVFTA)

EVFTA là minh chứng điển hình cho xu hướng “race to the top” khi Hiệpđịnh đã dành riêng Chương 13 về Thương mại và Phát triển bền vững, trong đóquy định các cam kết về môi trường với mức độ ràng buộc cao, nhằm thúc đẩy chính sách hỗ trợ lẫn nhau trong thương mại và bảo vệ môi trường. Chương này yêu cầu Việt Nam thực hiện các tiêu chuẩn về ứng phó biến đổi khí hậu, bảo tồn tài nguyên và phát thảibềnvững đồng thời không được phép giảm mức độ bảo hộ môi trường để tạo lợithế cạnh tranh thương mại. Vì vậy EVFTA đã tạo ra áp lực cả về thể chế và thị trường đối với ViệtNam. Doanh nghiệp chỉ có thể tiếp cậnưu đãi thuế quan khi đáp ứng các tiêu chuẩn về minh bạch chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát hóa chất, và tiêu chuẩn khí thải. Qua đó, EVFTA thúc đẩy xu hướng “race to the top” tại Việt Nam do các quy định xanh khắt khe của EU trong EVFTA. Điều này thúc đẩy sự dịch chuyển của ngành dệt may Việt Nam từ mô hình cạnh tranh bằng chi phí thấp sang mô hình cạnh tranh bằng tiêu chuẩn bền vững cao.

1.3.3. Lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain – GVC)

Lý thuyết GVC tập trung vào cách thức các hoạt động sản xuất được phân tán toàn cầu nhưng vẫn liên kết chặt chẽ với nhau. Gary Gereffi (1994) là ngườiđặtnền tảng với phân tích về chuỗi giá trị do người mua chi phối (Buyer-driven chains), nơi các thương hiệu lớn kiểm soát các khâu thiết kế và phân phối.

33

Humphrey và Schmitz (2002) sau đó đã phát triển thêm các kháiniệm vềsự “nâng cấp” (upgrading) của doanh nghiệpđể dịchchuyển lên các vị trí có giátrịgia tăng cao hơn trong chuỗi

Đối với ngành dệt may, chuyển đổi xanh được xem là một hình thức “nâng cấpquy trình” (process upgrading). Nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Hương và Nguyễn Kim Truy (2024) chỉ ra rằng việckếthợp chuyểnđổi số và chuyển đổi xanh là lộtrìnhbắtbuộc để doanh nghiệp Việt Nam tốiưu hóa chuỗi giá trị. (Hương & Truy, 2025)

Ngoài ra, khung lý thuyết này nhấn mạnh rằng quá trìnhtạora mộtsản phẩm hay dịch vụ cuối cùng làkếtquả của một chuỗi các hoạtđộng cógiá trị khác nhau từ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, đến marketing và phân phối, chúng được thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau tùy theo lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh của các quốc gia trong từng nền kinh tế.Đặcbiệt trong bối cảnh chuỗi cungứng toàn cầu đang chuyển đổi theo hướng xanh – sạch – tuần hoàn, lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu được mở rộng với khái niệm “nâng cấp môi trường” mô tả quátrình mà các doanh nghiệp và quốc gia tham gia chuỗi giá trị áp dụng các công nghệ sạch, tiêu chuẩn tiết kiệm năng lượng và các yêucầuxanh quốc tế nhằm cải thiện hiệu quả môi trường trongsảnxuất (Krishnan et al., 2023). ĐốivớiViệt Nam, một quốc gia chủ yếu tham gia vào các khâu gia công trong ngành dệt may, da giày với giá trị gia tăng thấp vàphụthuộc lớn vào nhập khẩu nguyên liệu. Hiệpđịnh thương mại tự do (EVFTA) mang lại cơhội đáng kểđểnâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị. EVFTA không chỉ giúp mở rộng tiếp cận thị trường EU mà còn thúcđẩy sự thu hút đầu tư công nghệ cao và thúc đẩy thể chế hóa các tiêu chuẩn sản xuất xanh, từ đó tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong ngành dệt may cải tiến theo hướng thân thiện với môi trường và tăng giá trị gia tăng. Tuy nhiên nghiên cứu của Aarti Krishnan, Valentina De Marchi & Stefano Ponte (2023), cũng cảnh báo về khả năng xảy ra quá trình “hạ thấp môi trường” trong đó quá trình nâng cấpxanh không đồng đều mà có thể tạo ra những tác động tiêucực đếncác nhóm nhà sản xuất nhỏ hoặc cáccộng đồng địaphương dosựchênh lệch về năng lực

34

tiếp cận công nghệ và tiêu chuẩn. Do đó, EVFTA không chỉ đặt ra thách thức trong việc đồng bộ và nâng cao các tiêu chuẩn môi trường trong chuỗi giá trị mà còn yêu cầu các chính sách hỗtrợđảm bảosựcông bằng, giúp các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, có thể tham gia và hưởng lợitừquá trình nâng cấp này.

1.4. Tổng quan nghiêncứu

1.4.1. Nghiêncứutrênthếgiới

Trong bối cảnh toàn cầu, cơsởthảo luận và thực tiễnvềtácđộng của Hiệpđịnh Thương mại tự do (FTA) quá trình chuyển đổi xanh trong hoạt động doanh nghiệpđã được xâydựng qua nhiều nghiêncứukhác nhau. Việc thực hiện các FTA, đặc biệt là những hiệp định thế hệ mới như EVFTA, được xem làyếu tốthen chốt thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao tiêu chuẩn sản xuất và hướng tới phát triển bền vững. Các nhà nghiên cứu quốc tếđãdành nhiều năm phân tích mối quanhệgiữa tự do hóa thương mại, yêu cầu về môi trường và xu hướng chuyển đổi xanh trong các ngành công nghiệp khác nhau. Những nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cách thức mà doanh nghiệp thích ứng và đổi mớiđể đápứng các tiêu chuẩn môi trường từ thị trường EU, mà còn cung cấp cơsởlý thuyết và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách hỗtrợdoanh nghiệp, đặc biệt là ngành dệt may trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững.

Nghiên cứu của Radi và Westerhoff (2024) đã xây dựng một mô hình động kinhtế nhằm giải thích cách các doanh nghiệpđiềuchỉnh chiếnlược sảnxuất trong quá trình chuyển đổi xanh. Tácgiả đã ápdụng mô hình động kinh tế vi mô(Dynamic Agent-Based Model) là một dạng mô hình mô phỏng hành vi của các doanh nghiệp theo thời gian, trongđóquyếtđịnhđầutư xanh của từng doanh nghiệp được điều chỉnh dần dần dựa trênkỳvọng lợi nhuận, chi phí và rủi ro chính sách. Ngoài ra tác giả cho rằng việc chuyển sang mô hình sản xuất xanh không diễn ra ngay lập tức mà là một quá trình tiến hóa phụ thuộc vào 3 yếutố.Đầutiên là, doanh nghiệp cần đầu tư lớn để thay đổi dây chuyền sản xuất, công nghệ vàđào tạo lao động nhằm đáp ứng tiêu chuẩn xanh. Đối với các doanh nghiệp nhỏ

35

và vừa có năng lực tài chính khôngdồidào, áp lực từchi phíđầutư banđầu thường là nguyên nhân chính dẫn đếnsự chậmchễ trong quá trình chuyểnđổi. Hai là, bao gồm rủi ro chính sách như sự thay đổi của quy định môi trường hoặc chính sách thuế carbon, rủi ro thị trường do biến động nhu cầu hàng hóa xanh vàrủi ro công nghệ khi công nghệ xanh có thể lỗi thời nhanh. Các rủi ro này tácđộng mạnh đến quyết định đầu tư xanh của doanh nghiệp. Cuối cùng là, khi công nghệxanh trở nên phổ biến và chi phí giảm, doanh nghiệp cóđộng lực mạnh hơn đểáp dụng, từđótạora hiệu ứng lan tỏa xanh trong toàn ngành. Mô hình này cho thấy chuyển đổi xanh là một quá trình phi tuyến và tích lũy dần, chứ không phải là kết quả tức thời. Nhấn mạnh vai trò của hiệuứnglan tỏa xanh khimộtsốdoanh nghiệp tiên phong đầu tư xanh, họ tạo ra áp lực cạnh tranh và ảnh hưởng lantỏa

tớitoàn ngành. Nghiên cứu có hạn chế như chủ yếu mang tính mô phỏng lý thuyết, chưa được kiểm chứng bằng dữ liệu thực nghiệm ở từng quốc gia hay ngành cụthể. Vì vậy, kết quả có tính khái quát cao nhưng độ chính xác định lượng còn hạn chế, khó ápdụng trực tiếp đểdựbáo cho từng doanh nghiệp.(Radi & Westerhoff, 2024)

Nghiên cứu của Hu et al. (2025) tiến hành phân tíchdữliệu của hơn 2.000 doanh nghiệp sản xuất tại Trung Quốc nhằm đánh giá tác động của thương mại số đối vớinăng suất nhân tố tổng hợp xanh. Kết quả cho thấy thương mại số có tácđộng tích cực và đáng kể đến quá trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp thông qua việcmởrộng thương mạiđiện tửvàsốhóa hoạt động thương mại giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếpcậncông nghệ mới, dữ liệu thị trường và giải pháp sản xuất thân thiện môi trường. Điều này tạođộng lực đểdoanh nghiệp gia tăng đầu tư vào hoạt động nghiên cứu, phát triển các giải pháp ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường làm nâng cao năng lực sản xuất. Ngoài ra, môi trường thương mại số giúp giảm chi phí giao dịch, nâng cao khả năng kết nối giữa các nhà cung cấp vàkhách hàng. Từđó,doanh nghiệp có điều kiện tối ưu hoá quy trình vận hành theo hướng sửdụng năng lượng hiệu quả, tránh lãng phí tài nguyên và kiểm soát lượng phát thải xuyên suốt vòng đời sản phẩm. Cácnềntảng kỹthuật số giúp việc giám

36

sát và truy xuất nguồn gốc trở nên minh bạch hơn, từđóhỗtrợ doanh nghiệp tuân thủ tốt hơn các tiêu chuẩn môi trường quốc tế. Tuy nhiên, dữ liệu nghiên cứu chỉgiới hạn tại Trung Quốc, nơi hạ tầng số phát triển mạnh hơn Việt Nam, nên tính tương đồng khi áp dụng cho bối cảnh các doanh nghiệp dệt may Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu mới dừng ở mức phân tích mối tương quan, chưa xem xét sâu cơ chế tác động giữa số hóa và sản xuất xanh. Nhưng dù sao kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa quantrọng đối vớibối cảnh Việt Nam, khi EVFTA không chỉmở rộng thị trường xuất khẩu mà còn yêucầucác doanh nghiệpđặc biệt trong ngành dệt may phảiđápứng tiêu chuẩn sản xuất xanh, minh bạch vàsốhóa chuỗi cung ứng. (Hu và c.s., 2025)

Nghiên cứu của Park, Yun và Choi (2024) đã sử dụng dữ liệu bảng của 32

quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế trong giaiđoạn2003–2016để phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu xanh, năng suất nhân tố tổng hợp xanh và phát thải khí nhà kính. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng xuất khẩu xanh có tácđộng tích cực vàđáng kểđến năng suất xanh của doanh nghiệp và quốc gia,đồng thời góp phần giảmđáng kểlượng phát thải khí nhà kính. Cụ thể, các quốc gia cótỷ trọng xuất khẩu xanh cao hơn. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này thiếu dữliệu vi mô từ cấp doanh nghiệp, nên chưa phản ánh rõ cách các doanh nghiệpcụthểứng dụng công nghệ xanh. Cácyếutốchính sách và quy định môi trường chưađược định lượng rõ ràng, khiến khó xác định mức độ ảnh hưởng của khung pháp lý đến hiệu quả xuất khẩu xanh. (Park và c.s., 2024)

1.4.2. Nghiêncứutrongnước

Theo nghiên cứu của nhóm Thạc sĩ Luật Kinh tế (2023), việc thực thi Hiệpđịnh Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã tạo ra tác động đáng kểđối với hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, cả về cơ hội mở rộng thị trường lẫn thách thức trong tuân thủ các tiêu chuẩn xanh và quy tắc xuất xứ. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích định tính kết hợpđịnh lượng nhằm đánh giámức độảnh hưởng của EVFTA đến kim ngạch xuất khẩu, khả năng cạnh tranh vàsựthích ứng của doanh nghiệp với các yêu cầu môi trường khắt khe

37

từEU. Kết quả cho thấy EVFTA không chỉ giúp doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cậnthị trường châu Âu mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, bền vững hơn. Trên cơsởđó,nhóm tácgiả đềxuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện các cam kết EVFTA, qua đó nâng cao hiệu quả xuất khẩu và hội nhập quốc tế.(TrầnĐại Cát, 2023)

Phạm Minh Đức (2014) đã nghiên cứu và đánh giá tác động của TPPđến ngành dệt may Việt Nam, với kết quả được trình bày tại hội thảo chuyên đề của VCCI và Ngân hàng Thế giới. Tác giả chỉ ra rằng TPP mang lại cơ hội mở rộng thịtrường và thu hútđầutư, song cũngtạora thách thức lớnvề nguồn nguyên liệu, công nghệ và tiêu chuẩn môi trường. Bằng cách sử dụng mô hình Porter vàphân tích SWOT, nghiên cứu làm rõ cơ hội thách thức của doanh nghiệp dệt may và đề xuất giảipháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập. Mặc dù tập trung vào TPP, các kết quả nghiên cứu vẫn có ý nghĩa tham khảo quan trọng cho EVFTA khi cả hai hiệpđịnh đều nhấnmạnh yếu tố chuyển đổi xanh và phát triểnbềnvững. Điểm nổibậtcủa nghiêncứulà phân tích rõmốiquanhệ giữa thươngmạitựdo và năng lực sảnxuấtbềnvững, qua đócungcấpnềntảng lýthuyếthữuích cho việc đánh giá tác độngcủa các hiệpđịnhthế hệ mớinhưEVFTA. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là dữ liệu chỉ dừng lại ở giai đoạn trước khi TPP có hiệu lực và chưa xem xét sâu yếutố “sản xuất xanh” dướigócđộđịnh lượng, do đó chưa phảnánh đầy đủtácđộng thực tếcủa các cam kết môi trường đếnhoạt động của doanh nghiệp

Ngô Hà Phương và cáccộng sự(2025) đã làm rõ tác động của EVFTA đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam bằng cách đánh giá cả cơ hội và thách thức mà hiệp định này mang lại. Nghiên cứu này tìm hiểu cách thức ưu đãi thuế quanảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam, các yêu cầu tuân thủcủa EU và các chiếnlược cầnthiếtđể đảm bảotăng trưởngbềnvững dài hạn. Bằng cách xác định những hạn chế chính và đưa ra các khuyến nghị chính sách, nghiên cứu này góp phần hiểu rõ hơn về cách thức ngành dệt may Việt Nam có

38

thể tối đa hóa lợi ích của EVFTA đồng thời giải quyết hiệu quả các thách thức. (Ngô Hà Phương, 2025)

1.5. Khoảng trống nghiên cứu

Trong khi nhiều nghiên cứu đã xem xét tác động của EVFTA đối với xuất khẩudệtmay của Việt Nam, các nghiêncứu quốc tế chủ yếu tậptrung vào môhình lý thuyết hoặc dữ liệu vĩ mô giữa các quốc gia, chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh thực thi EVFTA. Ví dụ, nghiên cứu của Radi và Westerhoff (2024) chủ yếu xây dựng mô hình mô phỏngđộng vềhành viđầu tưxanh của doanh nghiệp, nhưng chưa kiểm chứng bằng dữliệu thực nghiệm tại từng quốc gia hoặc ngành cụthể. Điềunày làm hạnchế khảnăng áp dụng trực tiếp vàobốicảnh Việt Nam. Các nghiêncứucủa Hu et al.

(2025) hay Park, Yun và Choi (2024) chủ yếu xem xét tác động của thương mại số, xuất khẩu xanh hoặc năng suất xanh ở phạm vi rộng, chưa phân tích sâu cơ chế tác động của EVFTA đến hoạt động sản xuất xanh của doanh nghiệp dệt may. Đặc biệt, các nghiêncứunàysửdụngdữliệutạiTrung Quốc hoặc các nước OECD, trong khi điều kiện công nghệ, năng lực tài chính và mức độ chuyển đổi xanh của doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều khác biệt. Đốivớicác nghiên cứu trong nước, phần lớn mới tập trung vào cơ hội và thách thức của EVFTA đối với xuất khẩu dệt may hoặc năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các môhình kinh tế và phân tích định lượng như dự báo dòng chảy thương mại hay tácđộng của việc cắt giảm thuế quan. Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quanđến hoạtđộng sảnxuất xanh của doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh EVFTA vẫn còn hạn chế, đặc biệtlà những nghiên cứu đo lường cụ thể tác động của EVFTA đến quá trình chuyểnđổixanh, đầu tư công nghệ sạch, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường của EU và khả năng thích ứng của doanh nghiệp. Ngoài ra, nhiều nghiêncứu được thực hiện trong giaiđoạn đầukhi EVFTA mới có hiệu lực hoặcchủ yếudừng lạiở phân tích chính sách và lý thuyết, nên chưa phản ánh đầyđủnhững thay đổi gầnđây vềyêucầuphát triển bền vững của thị trường EU cũng như thực trạng chuyểnđổi xanh của doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay. Đồng thời, vẫn chưa có

39

nhiều nghiên cứu kết hợp đồng thời cácyếu tốnhư EVFTA, chuyển đổi xanh, tiêu chuẩn môi trường của EU và năng lực thích ứng của doanh nghiệp dưới góc độphân tích định lượng. Vì vậy, nghiêncứu này đượcthực hiện nhằm lấpđầykhoảng trống trên thông qua việc sửdụng dữliệucậpnhật và phương phápđịnh lượng đểđánh giá tác động của EVFTA đến hoạtđộng sảnxuất xanh của các doanh nghiệp dệtmay Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

40

Chương 2: Thực trạng hoạtđộngsảnxuất xanhtạiViệt Nam trong quan hệ thương mại với EU

2.1. Thực trạnghoạt độngsản xuất xanh tại VN

2.1.1. Thực trạng vềhoạt độngsản xuất xanh và Xu hướng chuyển đổi xanh tại Việt Nam

a) Thực trạng về hoạtđộng sản xuấtxanh

Việt Nam đã chủ động nâng cấp các quy định quốc gia, thể hiện qua nhữngđộng thái rõrệtsau: Thứ nhất, trong lĩnh vực lao động, Việt Nam đã sửa đổi Bộluật Lao động 2019 để mở rộng quyền thành lậptổ chức đạidiện người lao động và tăng tốc phê chuẩn các Công ước cốt lõi của ILO (như Công ước 105) tạo nền tảng vững chắc cho tuân thủ tiêu chuẩn lao động quốc tế mà các thương hiệu dệt may EU yêu cầu. Thứ hai, trong lĩnh vực môi trường, Chính phủđãban hành Luật

BảovệMôi trường 2020 theo hướng chặt chẽ, tăng cường các yêucầu vềquản lý chất thải và kiểm soátônhiễm (đặcbiệt trong khâu nhuộm) đồngthời cam kết thực thi các hiệpđịnhđa phương như Thỏa thuận Parisvề biếnđổikhíhậuvàCông ước về Đa dạng Sinh học (CBD). Những cam kết này buộc ngành dệt may phải giảm phát thải khí nhà kính vàđảm bảo nguồn gốcbềnvững của nguyên liệu. Thứba, về cơ chế giám sát, EVFTAđã thúc đẩyviệc thànhlậpNhóm Tư vấn Trong nước và các Chương trình Hành động của Chính phủ đểđảmbảoviệc thực thi các cam kết ESG một cách minh bạch và hiệu quả,đồng thờikhuyến khích các cơ chế tự nguyện trong ngành để đạt được mức độ bảo hộ môi trường cao. (BộCông Thương, 2023)

“Ngành dệt may là một trong những trụ cột xuất khẩu của Việt Nam đang bướcvào giai đoạn chuyển mình mạnh mẽđểđáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ” (Đức Hiền, 2025)Hiện nay, dưới tác động của các cơ chế quốc tế như EVFTA, CBAM của EU, và xu hướng thời trang bền vững thay cho Thời trang nhanh, xanh hóa sản xuất không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc và là tiêu chí cạnh tranh sống còn tại các thị trường lớn (Hoa Kỳ, EU). Trước đòi hỏi ngày càng cao của các tiêu chuẩn ESG và LEED, ngành dệt may Việt Nam đang chủ

41

động đầu tư đổi mớicông nghệ và hoàn thiện quy trình sản xuất để bắt kịp nhu cầuthị trường. Sự chuyểnđổi này tậptrung vào việc đầu tư máy móc hiện đại, tiết kiệm điện năng, chuyển đổi nhiên liệu từ đốt than sang điện sinh khối hoặcđiện để giảm thiểuphát thải CO2 của công ty May 10 và May Sông Hồng. Tại TNG Thái Nguyên, việc lắp đặt hệ thống pin mặt trời áp dụng đã mang lại hiệu quả thiết bị thực tế khi có thể cung cấp toàn bộ năng lượng cần thiết cho những ngày cócường độbức xạcao vàđạt đượcbình quân 70-80% tổng nhu cầusửdụngđiện của nhà máy. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đang chủ động liên kết chuỗi cung ứng để ưu tiên sử dụng nguyên phụ liệu tái chế, có nguồn gốc thiên nhiên, nhằm thích ứng với chiến lược kinh doanh tuần hoàn của ngành. Đây vừa là giải pháp bảo vệ môi trường, vừa là đòn bẫy giúp doanh nghiệp nâng cao năng lượng cạnh tranh trên thị trường. Ngành dệt may khẳng định sẽ chuyển trọng tâm phát triển sang bền vững và kinh tế tuần hoàn từ nay đến 2030, đồng thời kêu gọi Chính phủ hỗ trợ thông qua các chính sách và Quỹ Tài nguyên Môi trường với lãi suấtưu đãi để thúc đẩy chiến lược xanh hóa quốc gia. (Bộ Công Thương, 2024)

Bên cạnh nhận thức ngày càng rõvềyêu cầu phát triển bền vững, các doanh nghiệpdệtmay Việt Nam cũng đang đượchỗtrợmạnh mẽtừhệthống ngân hàng trong việc tiếpcậnnguồn vốn xanh để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sản xuất. Tại Hộinghị “NgànhDệtmay và Chuỗi cung ứng: Giải pháp trong biếnđộng” do Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 2 tổ chức tháng 10/2025, các ngân hàng đã cam kết đồng hành cùng Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) thông qua gói tín dụng xanh trị giá 4.000 tỷ đồng, với lãi suất ưuđãi chỉ từ4,6%/năm (VND) và 3,5%/năm (USD) dành cho cácdựán đầu tư thân thiện môi trường như xử lý nước thải, tiết kiệm năng lượng, hoặc sử dụng nguyên liệu tái chế. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, riêng khu vực TP. Hồ Chí Minh đã giải ngân hơn 585.000 tỷ đồng trong các chương trình tín dụng hỗtrợdoanh nghiệp, vượt 113% sovớikếhoạch ban đầu. Việc ngân hàng chủ động xây dựng các gói tài chính chuyên biệt cho ngành dệt may thể hiệnsựchuyển hướng mạnh mẽ trong chính sách hỗtrợdoanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn

42

xanh, giảm áp lực vốn, và duy trì năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu. (Thạch Bình, 2025)

Tại Triển lãm Công nghiệp Dệt May Việt Nam 2025 (VTG 2025) cùng cácsựkiện chuyên ngành như VITATEX, DYECHEM và VFM đã quy tụ hơn 400 nhàtriển lãmtừ10 quốc gia, trưng bày các công nghệ tự động hóa,sốhóa và sản xuất bền vững. Sự kiện không chỉ tạo cơ hội kết nối doanh nghiệp trong và ngoài nước, mà còn thúc đẩy nhận thức về chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, vật liệu tái chế trong ngành dệt may và da giày. Cáchộithảo tại VTG 2025 tập trung vào chủ đềchuỗi cung ứng xanh, sản xuất ít carbon, vật liệu tái chế và năng lượng tiết kiệm, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào công nghệ thân thiện môi trường, đáp ứng tiêu chuẩn của EVFTA và thị trường quốc tế. (Thanh Tuyết, 2025)

b) Xu hướng chuyển đổi xanh tại Việt Nam

Trước áp lực ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường vàcạnkiệt tài nguyên, chuyển đổi xanh tăng dần khẳng định vị trí là con đường phát triển không thể đảongượcđối vớihầu hết các quốc gia, trong đó Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Trong các giaiđoạngầnđây, Việt Nam đã liên tục xây dựng cốgắng và thực hiện hóa cam kết chuyển đổi xanh bằng cách ban hành và phát triển một loạt chiến lược, chương trình hành động cùng các cơ chế chính sách cótầm ảnh hưởng lớn. Đặc biệt, mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đã tạo động lực cho việc thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo hướng bền vững, chú trọng yếutốmôi trường và hiệu quả sử dụng tài nguyên, chuyển đổi xanh mới thực sự trở thành động lực quan trọng trong “kỷ nguyên vươn mình”. Đây vừa là yêu cầu xuất phát từ thực tiễn trong nước, mà còn phản ánh tình trạng chung của xu thế phát triển kinh tếtoàn cầu trong giai đoạn hiện nay.

Ngay từ năm 2013, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đã định hướng xây dựng mục tiêu xây dựng nền kinh tế xanh và thân thiện với môi trường thông qua Nghị quyếtsố24-NQ/TW. Tiếp nốiđường đó,Kếtluận 81-KL/TW ban hành năm

43

2024 của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh sựcầnthiết phải thúc chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn, giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, phát triển các nguồn năng lượng sạch và tái tạo, đồng thời tạo ra môi trường thuậnlợi đểthu hút đầu tư xanh vàsửdụng tài nguyên một cách tiết kiệm, hiệu quả,… Nhìn chung quá trình điều hành từ định hướng “phát triển kinh tế xanh” đến camkết”thúcđẩy chuyển đổi xanh”, cóthểnhận thấymạng lướitrưởng thành chuyên sâuvềtư duy nhận thức và quyết định hành động ở cấp độ chính trị.

Xu hướng chuyển đổi xanh tại Việt Nam hiện nay được thể hiện rõ thông qua việc đẩymạnh ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vào các hoạtđộng sản xuất, kinh doanh và quản lý. Ngày càng nhiều doanh nghiệp chủ động tích hợp công nghệ sạch và các giải pháp tiết kiệm năng lượng cho hoạt động sản xuất, qua đó kiểm soát lượng khí thải và giảmbớtáp lực lên môi trường tự nhiên. Điểnhình là việc làm doanh nghiệp như TNG Thái Nguyên phát triển hệ thốngđiện mặttrời áp mái cóthểđáp ứng 100% nhu cầu điện vào ngàyđủnắng và trung bình 70-80% nhu cầu tiêu thụ, hay là gói tín dụng xanh 4.000 tỷ lệ đồng với ưuđãitừ4,6%/năm màhệthống ngân hàng camkếtdành riêng cho ngành dệt tại hội nghị tháng 10/2025,… Ta có thể thấy, việc phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như điệnmặttrời, điện gió và các nguồn năng lượng sạch khác đang nhận được sựquan tâm lớntừcả Nhà nước lẫnkhu vực tư nhân. Song songvớiđólà xu hướng xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn, khuyến khích tái sử dụng nguyên liệu, giảm thiểu chất thải và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên trong toàn bộchuỗi sản xuất.

Quá trình chuyểnđổixanh tại Việt Nam còn chịu tácđộng mạnh mẽtừcác yêu cầuvà tiêu chuẩn quốc tế trong hoạt động thương mạivà đầutư. Áp lực từ môi trường tiêu chuẩn và phát thải carbon ngày một chặt hơn ở nhiều thị trường lớnđang áp dụng vào doanh nghiệp Việt Nam, buộc doanh nghiệp phải cải cách toàn diện phương pháp sản xuất và vận hành theo bất kỳ phản ứng nào của đối tác nhập khẩu. Song hànhđộngđó, xuhướngtiêu dùng có trách nhiệmvớimôi trường ngày càng lan rộng cũng góp phần cung cấp doanh nghiệp rút ngắn quá trình hóa

44

hoạt động xanh của mình. Ngoài ra, phần lớn doanh nghiệp dệt may Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên khả năng tiếp cận nguồn vốn, công nghệ hiện đại và nhân lực chất lượng cao còn hạn chế. Chi phí đầu tư cho công nghệ xử lýnước thải, tiết kiệm năng lượng và hệ thống sản xuất thân thiện môi trường tương đối

lớn, trong khi thời gian thu hồi vốn dài khiến nhiều doanh nghiệp còn e ngại trong việc chuyển đổi. Bên cạnh đó, ngành dệt may Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kểvào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, gây khó khăn trong việc đáp ứng quy tắc xuất xứ và tiêu chuẩn xanh của thị trường EU. Ngoài ra, mức độ liênkếtchuỗi cung ứng xanh giữa các doanh nghiệp còn chưa đồng bộ, khả năng minh bạch vàtruy xuất nguồn gốc sản phẩm vẫn còn hạn chế. Điều này tạo ra áplực lớn đối với doanh nghiệp trong việc đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe về phát triển bền vững, phát thải carbon và trách nhiệm môi trường từ các thị trường quốc tếnhư EU và Hoa Kỳ.(Bộ Khoa Học Và Công Nghệ, 2025)

2.1.2. Đánh giá Cơ hội và Thách thứctừEVFTA đốivới hoạt động sảnxuất xanh

2.1.2.1. CơhộitừEVFTAđối với hoạt động sảnxuất xanh

Sựchuyển dịch mạnh mẽ của thị trường người tiêu dùng EU sang các sản phẩm xanh, sạch vàđạtchuẩn bền vững đang đặt ra những đòi hỏi ngày càng khắt khe hơn về lao động và môi trường đối với hàng hóa nhập khẩu. Không ngừng quan tâm giá trị, người tiêu dùng còn chú ý đến toàn bộ chuỗi sản xuất sau mỗi sảnphẩm. Chính vì vậy, bồi dưỡng tốt các môi trường của EVFTA sẽ là bàn đạp quan trọng để hàng hóa Việt Nam gia tăng sức mạnh cạnh tranh và mở rộng thịtrường tại EU. Với vị trí là một trong những Hiệp định toàn diện và tiêu chuẩn cao nhất Việt Nam mà tham gia, EVFTA đượckỳvọng tạo ra làn sóng cơ hội thayđổi mớicho nền kinh tế nói chung và thị trường lao động nói riêng. Không chỉthúc đẩy xuất khẩu và thu hút đầu tư, EVFTA còn góp phần quan trọng vào việc phát triển an sinh xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng khả năng cạnh tranh của người lao động Việt Nam trong thời kỳ mới.

45

EVFTA tạo rađộng lực mạnh mẽcho tăng trưởng việc làm thông qua việc mở rộng hoạt động sảnxuất và thúc đẩy xuất khẩu. Khi hàng hóa Việt Nam cóđiều kiện tiếp cận thị trường EU dễ dàng hơn nhờ việc cắt giảm thuế quan, các doanh nghiệp trong nước có xu hướng mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầutăng cao. Đây cũng là động lực thúc đẩy thị trường lao động phát triển, khi nhu cầu nhân lực tăng đồng nghĩa với người lao động có nhiều lựa chọn việc làm hơn. Theo các nghiên cứu, EVFTA cóthểgiúp Việt Nam tạo thêm khoảng 146.000 việc làm mỗinăm, tậptrungchủyếuở các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày, chế biến nông sản và thủy sản. Đây đều là những lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh, do đó không chỉ giúp gia tăng số lượng việc làm màcòn góp phần ổn định đời sống người laođộng ở nhiềukhu vực, đặc biệt là khu vực nông thôn và các vùng công nghiệp.

Không dừng lại ở tạo ra việc làm, EVFTA còn được xem là nhân tố thúcđẩy quá trình cải thiện chất lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh của laođộng trong nước. Khi nền kinh tế hội nhập sâu hơn, không chỉ lao động Việt Nam cócơ hội ra nước ngoài làm việc tại các quốc gia châu Âu như Đức, Ý hay Malta, mà lao động nước ngoài cũng có xu hướng gia nhập thị trường Việt Nam nhiều hơn. Áplực từthị trường laođộng trởthành chất xúc tác, khuyến khíchngườilaođộng trong nướcđầutư nâng cấpkỹnăng, trình độ chuyên môn và năng lực thích nghi với sự thay đổi của công nghệ. Sự cạnh tranh này tuy có áp lực nhưng lại làđộng lực quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia trong dài hạn. (KhuyenNTM, 2023)

Chủtrươngvề chuyểnđổixanhtạiViệt Nam được Đảnghình thànhtừnhiều năm và ngày càng hoàn thiện hơn. Nghị quyết 24-NQ/TW năm 2013 của ban Chấp hành Trung ương khoá XI đã đặt ra mục tiêu mang tính định hướng về kinh tế xanh, còn Kết luận 81-KL/TW tháng 6 năm 2024 đã nâng cấp yêucầu đó thành nhiệmvụcụthể hơn, bao gồm cácdịch vụphát triển kinh tế tuần hoàn, giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch và thu hút cácdựánđầu tưxanh. Sự phát triển này phản ánh độ hoàn thiện tư duy phát triển bền vững ở cấp lãnh đạo cao nhất.

46

Triển khai đường lối của Đảng, Chính phủ đã xây dựng Chiến lược quốc gia tăng trưởng xanh từ năm 2012 tại Quyết định số 1393/QĐ-TTg cho giaiđoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 với các mục tiêu rõ ràng về giảm phát thải khí, cải thiện lối sống và thay đổi hành vi tiêu dùng. Việcgắnkếtchuyển đổi xanh với khoa học công nghệ và chuyển đổi số thông qua Nghị quyết 57-NQ/TW tạo nền tảng quan trọng để thực hiện hóa chuyển đổi xanh. Ngoài ra, bối cảnh toàn cầuđang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng xanh cũng mang lại cho Việt Nam cơ hội tiếp nhận dòng vốn, phân loại và kinh nghiệm từ cộng đồng quốc tế.(BộKhoa Học Và Công Nghệ, 2025b)

2.1.2.2. Thách thứctừEVFTA đối với hoạt động sản xuất xanh

Có thể thấy lợi ích và cơhộicủa hiệp định EVFTA đến hoạt động sản xuất xanh của các doanh nghiệp xuất khẩu tại Việt nam là rất lớn. Theo đánh giá của EuroCham, bên cạnh nhữngkếtquả đạtđược, cơ chế vậnhành còn nhiều tầng phức tạp đang trở thành ràocảnkhó vượt qua đối với doanh nghiệp. Chính nhữngđiềubấtkhả thi này đang làm suy giảm hiệulựcthực thi và tạotiềm năng của Hiệp định chưa được khai thác một cách toàn bộ. Trước hết, chuỗi cung ứng nộiđịacủa Việt Nam hiện vẫn chưa hoàn thiện đầyđủ, vớinhiều nhà cung cấp vàbộphậnhỗtrợchưa đạt yêu cầu về chấtlượng sảnphẩm và quy môsảnxuấtcầnthiếtđể phối hợp hiệuquả vớicác doanh nghiệp xuất khẩu (US, 2026). Điều này gây ra một số khó khăn, như việc thiếu nguyên liệu đầu vào đạt chuẩn khiến doanh nghiệp phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu với giá thành cao, làm tăng chi phísảnxuất và giảm sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Theo Hiệphội Dệtmay Việt Nam (VITAS) , hơn 60% nguyênphụliệuvẫnnhậptừTrung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan, làm giảm khả năng kiểm soát tính bền vững trong chuỗi cungứng và khó chứng minh xuất xứ đápứng quy tắc “từ sợitrở đi” theo EVFTA với quy định rằng tấtcảvảiđượcsửdụng trong sản xuất hàng may mặc phải có nguồn gốc từ Việt Nam hoặc EU để được hưởng thuế suất ưu đãi (H.Mi, 2025)

Năm 2024, giá trị tổng kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may của Việt Namđạt44tỷUSD, trong khi tổng kim ngạch nhập khẩu vải lên đến 25 tỷ USD, phản

47

ánh mức độ phụ thuộc ngày càng tăng vào các nhà cung cấp bên ngoài khu vực EVFTA. Mặc dù hiệp định cho phépsử dụng vảitừ các quốc gia có FTA với EU như Hàn Quốc hoặc Nhật Bản, chi phí cao của các loại vải này vẫn là rào cảnlớnđốivớinhiều doanh nghiệpsảnxuất trong nước. Do đó, dù hàngdệtmay Việt Nam vẫn có thể xuất khẩu vào thị trường EU, nhưng sẽ chịu mức thuế nhập khẩu cao hơn, làm giảm sức cạnh tranh về giá cả. Để không bỏ lỡ cơ hội mà EVFTA mở ra, doanh nghiệp Việt Nam cần đặt bài toán tự chủ nguồn cung cấp hàng đầu trong chiến lược phát triển của mình.

Sau khi EVFTA có hiệu lực, EU tiếp tục diễn đạt đàm phán thương mại với nhiều đối tác khác nhằmmởrộng mạng lưới hợp nhất. Điềuđóđặtra yêu cầu cấp thiết cho doanh nghiệp Việt Nam phải chủ động thích nghi và nâng cao năng lực cạnh tranh nếu muốn củng cốvịtrí tại thị trường EUbởicác ưuđãithuế quan sẽmấtđi ý nghĩa thực chất nếu doanh nghiệp không đáp ứng được môi trường tiêu chuẩn chuyên sâu mà EUđặtra(BộCông Thương, 2025). Có thể thấy, thách thức lớnnhấtđến từtiêu chuẩn môi trường cao của EU, bao gồm quy định về giảm phát thải carbon, sử dụng năng lượng tái tạo, quản lý hóa chất (REACH), và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Theo ông Nguyễn Thanh Ngân, đại diện Vinatex đãdẫn số liệu thống kê cho thấy ngành dệt may toàn cầu tiêu thụ tới 79 tỷ m3nước mỗi năm và khoảng 2.700 lít nướcđượcsửdụng đểsản xuất một chiếc áo phông,đủ cho một người uống trong 2,5 năm (Trần Hằng, 2026). Bên cạnh đó, việc giặt giũ thải ra các hạt vi nhựa từ sợi tổng hợp ra môi trường cũng gây ô nhiễm. Vìvậy, mặc dù tăng trưởng ấn tượng nhưng ngành dệt may vẫn là ngành đáng báođộng trong tương lai bởi mức độ gây ô nhiễm thứ hai trên thế giới, thải ra môi trường trung bình khoảng 90 triệu tấn chất thải mỗi năm.

Bên bờ rào cản kỹ thuật, Việt Nam vẫn phảiđối mặtvới tình trạng khan hiếm nhân lực có chuyên môn trong lĩnh vực sản xuất xanh và quản trị môi trường. Theo các báo cáo và nghiên cứu gần đây, Việt Nam chỉ có tỷ lệ rất nhỏ laođộng sở hữu kỹ năng xanh phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường quốc tế, trong khi nhu cầu thị trường về nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành sản xuất

48

xanh, năng lượng tái tạo, quản lý môi trường ngày càng tăng. Hệ thống giáo dục và đào tạo hiện tại chưa thực sự tích hợp đầyđủ cáckiến thức,kỹnăng xanh vào chương trìnhđàotạo, dẫnđếntình trạng“thừalaođộngnhưng thiếukỹnăng” trong khi các công nghệ mới, tiêu chuẩn môi trường khắt kheđòihỏi nguồn nhân lực cần được nâng cấp nhanh chóng. Thực tế chỉ khoảng 30% doanh nghiệp dệt may có cán bộ chuyên trách về quản lý môi trường hoặc năng lượng, khiến việc duy trì các hệ thống kiểm soát phát thải gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc kiểm kê thủ công nhiều sai sót và thiếu minh bạch. Điều này được minh họa rõ ràng qua một doanh nghiệp dệt may tại miền Nam vừa chịu hạn chế hành chính hơn 772 triệu đồng và bị đình chỉ giấy phép môi trường gần 5 tháng do không xử lýnước thảitrướckhi ra môi trường.Sự việc này không chỉ là lời cảnh tỉnh đối với toàn ngành mà còn làm nổi bật tầm quan trọng của việc thúc đẩy sản xuất xanh trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.

Có thể thấy mặc dù EVFTA giảm thuế quan, nhưng đồng thờimở cửa thịtrường nội địavà xuất khẩu với cácđối thủ quốc tế,đồng nghĩa doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh không chỉ về chi phí mà còn về chất lượng, phát thải carbon, thương hiệu bền vững. Không chỉ doanh nghiệp mới gia nhập thị trường EU mới cảmnhậnđượcáp lực này mà ngay cả những đơnvịđãhoạt động lâu năm tại đây cũng đang thay đổi liên tục theo các tiêu chuẩn theo hướng ngày càng xanh và cao hơn.

Xu hướng chuyển đổi xanh trong nước có cơsởgắn kếtrõ ràng với quá trình thực thi EVFTA. Bên cạnh việc tạo điều kiện mở rộng xuất khẩu sang EU, Hiệp định này còn thiết lập một khung tiêu chuẩn đòi hỏi cao về trách nhiệm môi trường, quyền lao động và định hướng phát triển bền vững. Các yêucầuvềgiảm phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc sản phẩm,sửdụng nguyên liệu thân thiện môi trường và tuânthủcác tiêu chuẩn ESG của EUđãtrởthành áp lực thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là ngành dệt may, phải đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh.

Trong bối cảnh đó, EVFTA đóng vai trònhư một “động lực kép”:vừa tạo cơ hội tăng trưởng xuất khẩu nhờ ưu đãi thuế quan, vừa buộc doanh nghiệp phải

49

nâng cấp công nghệ,cảitiến quy trình sản xuất và thay đổi mô hình quản trị theo hướng bềnvững hơn. Điều này khiến chuyểnđổixanh không còn là xuhướng tựnguyện mà trở thành điều kiện cần để doanh nghiệp duy trì khả năng cạnh tranh và tận dụng lợi íchtừ hiệp định.

2.1.3. So sánh ngành dệt may với các ngành xuất khẩu trongbốicảnh trước và sau EVFTA

2.1.3.1. Bối cảnh trước EVFTA

Trướcthời điểm Hiệp định Thương mạiTựdo Việt Nam – Liên minh ChâuÂu (EVFTA0 chính thức đi vào thực thi, dệt may đãkhẳng định vịtrí là một trong những nguồn lực xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam.SốliệutừTổng cục Hải quânđược dẫn dắt trong san chuyên ngành “EVFTA với thương mại Việt Nam” cho thấy kim ngạch xuất khẩu may sang EU Giá là 2,3 tấn USD vào năm 2015, 3,48 USD vào năm 2019, 3,07 USD vào năm 2020. Cùng chiều đó,tỷlệchuyên ngành của quốc gia trong kim ngạch xuất khẩu cũng có xuhướngthu hẹp, từkhoảng 11,73% năm 2016 Đó là 10,47% vào năm 2020.

Về mặt ưu đãi thuế quan đối với ngành dệt may, trước EVFTA Việt Nam vẫn đượchưởng cơ chế ưuđãithuế quan phổ cập (GSP) của EU, nhưng không cócamkết đặtbiệt như trong EVFTA. Các phân tích cho mức thuế được EU áp dụng đối vớihàng dệt may cóthểnhập khẩutừViệt Nam trong giaiđoạntrướcEVFTA nằmở biên độtừ8% đến 12%. Tuy nhiên, mặc dùlợithế thuế bắt đầu hình thành, ngành dệt may vẫn phải chịu một số ràocản: đầuvào nguyên liệu phụ thuộc lớn vào nhập khẩu (sợi, vải, phụ liệu), năng lực nội địa hóa thấp, chi phí logistics vàlao động tăng, đồng thời khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật người mua châuÂu về môi trường, lao động và truy xuất nguồn gốc còn hạn chế.

•So sánh với ngành dệt may, một số ngành xuất khẩu kháccủaViệt Nam

sang EU trước EVFTA cũng có đặc điểm riêng.

Sốliệu thống kê ghi sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam tăng trưởng ổnđịnh trong giai đoạn năm 2015 – 2020, giá năm 2020 là 12,37 tỷ USD tăng 16,2%

50

so với năm 2019. Năm 2020 cũng được xem là năm kỳ tích của ngành gỗ Việt Nam khi lần đầu tiên vươn lên đứng thứ 6 về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cảnước,bất chấp cảnh thương mại toàn cầu chịu ảnh hưởng nặng nềbởi đại dịch và các giánđoạnchuỗi cungứngkhiến hoạtđộngxuất khẩu hàng hóa gặprất nhiều khó khăn.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2026\Đề tài NCKHSV_2026\Đề tài NCKHSV_2026 – RAR archive, unpacked size 20,750,944 bytes/ 3. Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam

Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam Ảnh Hưởng của EVFTA lên hoạt động sản xuất xanh tại Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *