Biện pháp rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh lớp 7 tại trường THCS

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

Biện pháp rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh lớp 7 tại trường THCS

I. SƠ LƯỢC LÝ LỊCH TÁC GIẢ:

II. SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐƠN VỊ:

III. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI, SÁNG KIẾN:

1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:

Thực tế trong các giờ dạy Ngữ văn 7 tại trường, bản thân tôi nhận thấy khả năng dùng từ của các em trong khi nói và viết còn bị hạn chế. Các em học sinh vẫn bị mắc các lỗi thường gặp như: lặp từ, thừa từ, dùng từ có ý nghĩa sáo rỗng, câu văn đơn điệu thiếu hình ảnh, dùng sai từ, dùng văn nói… Do đó, bài văn lủng củng và khô khan, không có giá trị gợi hình, gợi cảm. Việc tìm hiểu về các lỗi sai khi dùng từ để viết và nói, nguyên nhân và cách khắc phục các lỗi sai đó cho học sinh giúp các em mở rộng vốn từ và sử dụng từ ngữ linh hoạt, sáng tạo để đặt câu, để viết là một việc làm rất cần thiết của các giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn. Từ đó góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn. Trong qua trình giảng dạy, gần gũi và tiếp xúc với học sinh, tôi nhận thấy, các em HS lớp 7 tại trường THCS Tân An khi nói và viết mắc một số lỗi chủ yếu sau:

+ Lỗi lặp từ.

+ Lẫn lộn các từ gần âm.

+ Dùng từ không đúng nghĩa.

+ Dùng sai quan hệ từ.

+ Chọn từ, ngữ sai phong cách ngôn ngữ văn bản.

+ Chọn từ, ngữ sáo rỗng.

Đặc biệt, “Bệnh” nghiện Facebook và các trang mạng xã hội đã dẫn tới một hệ lụy đó là học sinh có hiện tượng viết, nói sai về chuẩn Tiếng Việt: như sử dụng kí hiệu viết tắt nhiều, thêm bớt, thay thế chữ cái, sử dụng tiếng lóng, sử dụng xen kẽ tiếng Việt và tiếng nước ngoài… mà học sinh tự gọi là: Ngôn ngữ mạng.

Ngôn ngữ mạng của học sinh đã có những biến thể lạ lẫm, kỳ dị từ cấu trúc câu đến lối sắp xếp chữ cái. Những dòng trạng thái trên Facebook như: “Hum nAi chO?i đEpj cóa ay mun đy chOji zỚi tuy hOng?” (Hôm nay trời đẹp có ai muốn đi chơi với tôi không?) lan nhanh như hiệu ứng dây chuyền. Giới trẻ nhanh chóng “sáng tạo” ra nó, nhiều thanh thiếu niên, học sinh xem đó như là “phát minh”, một thứ ngôn ngữ riêng mà họ tự hào.

Bên cạnh đó, nhiều HS thích thể hiện bản thân trong việc sử dụng tiếng nước ngoài cũng không ngần ngại chêm lung tung vào trong câu nói, dòng viết tiếng Việt, hoặc ghép nghĩa của một số từ đơn tiếng Anh mà không cần quan tâm đến ngữ pháp, cấu trúc câu để thể hiện điều mình muốn nói. Ví dụ, trên mạng đang thịnh hình lối viết: no table – miễn bàn; lemon question – chanh + hỏi = chảnh; like afternoon – thích thì chiều… Rồi cả những cách viết tắt “bí ẩn” mà nếu không được các em HS tiết lộ thì không thể đoán được nó có nghĩa là gì. “Cmnr”, “cmnl”, “vcc”, “vk”, “ck”… hết sức lộn xộn!

images loi-chuc-ngu-ngon-danh-cho-nguoi-yeu-moi-va-hay-nhat-1

Qua khảo sát và dạy học môn Ngữ văn trên lớp, tôi còn nhận thấy một thực tế, nhiều khi đọc, chấm bài kiểm tra, bài thi của học sinh, có những câu văn không hiểu các em muốn diễn đạt vấn đề gì, vì câu chữ quá ngắn, lủng củng và sử dụng khá nhiều ngôn ngữ ký tự, ký hiệu, như: “ah” (à), “ko” (không), “bit” (biết), “thik” (thích), “wa” (quá), “bih” (bây giờ)… Đấy là chưa kể, do sử dụng ngôn ngữ mạng thành quen nên các em rất hay viết tắt, viết sai chính tả. Như vậy, việc lạm dụng ngôn ngữ “chat” trong học tập với thời gian dài có thể khiến học sinh quên đi cách sử dụng từ ngữ theo đúng chuẩn mực, và xa hơn, khi thường xuyên sử dụng ngôn ngữ mạng một cách dễ dãi, bừa bãi, ít nhiều sẽ ảnh hưởng tới tính cách như: tùy tiện, hời hợt, cẩu thả…

Nhìn nhận ở khía cạnh ngôn ngữ thì rõ ràng đã có sự lai căng, nhiễu loạn, thiếu chuẩn mực, gây nên nhiều nguy cơ mất trong sáng trong nói và viết tiếng Việt.

Tôi tiến hành khảo sát lỗi dùng từ của học sinh thông qua bài viết Tập làm văn số 01 của học sinh lớp 7 tại trường vào đầu năm học 2019 – 2020 và thu được kết quả như sau:

LớpLỗi lặp từLẫn lộn các từ gần âmDùng từ không đúng nghĩaDùng sai quan hệ từChọn từ, ngữ sai phong cách ngôn ngữ văn bảnChọn từ, ngữ sáo rỗng.Lạm dụng ngôn ngữ mạngViết tắt bừa bãi
7A115 HS10 HS05 HS05 HS
7A210 HS05 HS10 HS05 HS05 HS

Đứng trước thực trạng sử dụng từ tiếng Việt của HS trong khi nói và viết còn nhiều tồn tại như trên, tôi đã nghiên cứu và thực nghiệm đề tài: BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG DÙNG TỪ CHO HỌC SINH LỚP 7 TẠI TRƯỜNG THCS TÂN AN và bước đầu đem lại nhiều kết quả đáng mừng. Sau đây tôi xin phép được trình bày nội dung các biện pháp.

2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến:

Trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, Ngữ văn là một trong những môn học chiếm vị trí quan trọng và chiếm số tiết nhiều nhất. Học Ngữ văn sẽ giúp các em học sinh trang bị đầy đủ nhất các kiến thức cơ bản về tiếng mẹ đẻ, rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thành thạo. Thông qua bộ môn này, học sinh sẽ được rèn luyện công phu về khả năng cảm thụ, rèn khả năng diễn đạt và dùng từ ngữ chính xác để viết thành một bài văn hay, giàu tính nghệ thuật, làm cho tâm hồn, trí tuệ người đọc thêm phong phú, giúp ta cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế sâu sắc. Để tạo nên những bức tranh sinh động với những gam màu ấn tượng bằng ngôn từ, các em học sinh cần có kiến thức và kỹ năng về sử dụng từ ngữ trong nói và viết.

Như chúng ta đã thấy, ở bất kì một xã hội nào thì việc học và dạy văn cũng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống. Học văn tốt chính là chìa khoá vàng để đạt tới thành công bởi trên thực tế, ngành nào, lĩnh vực nào cũng cần đến năng lực nghe, nói, đọc, viết. Trong đó kĩ năng nói và viết là vô cùng quan trọng. Nói và viết sao cho người nghe hiểu là điều không phải ai cũng thực hiện tốt. Muốn vậy, trong giờ học Ngữ văn, người dạy phải hướng dẫn rèn luyện cho các em, tập cho các em mạnh dạn trước tập thể ngay cả khi nói và viết. Nhiều khi các em có dự kiến trong đầu sẽ nói gì nhưng lại không nói ra và viết ra được. Vô hình chung, người thầy sẽ không nhận xét đánh giá đúng về sự tiếp thu, cảm thụ của các em trong giờ học Ngữ văn. Vậy rèn kĩ năng dùng từ cho học sinh là việc làm thiết thực vừa góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn vừa hình thành phong cách cho học sinh giúp các em mạnh dạn trước tập thể, có kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn trân trọng và giữ gìn tiếng Việt. Người khẳng định: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao?”. Bác luôn là tấm gương trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc (ngay cả trong khi nói và viết).

IV. NỘI DUNG SÁNG KIẾN:

1. Tiến trình thực hiện: Để đề tài có hiệu quả cao, chúng ta cần có phương pháp đúng đắn, tôi đã tiến hành thực hiện theo các tiến trình sau:

– Trước tiên phải có sự quan sát đánh giá tình hình của học sinh, chất lượng học tập, ý thức học tập của các em học sinh.

– Khi đánh giá được tình hình học tập của học sinh, tôi lựa chọn nội dung nghiên cứu, từ đó tôi quyết định tìm tòi tài liệu phù hợp phục vụ cho đề tài, tiếp theo tôi tìm hiểu, tham khảo ý kiến của đồng nghiệp.

– Cùng với tài liệu đã thu thập được, tôi viết đề cương sau đó đưa ra tổ chuyên môn cùng thảo luận.

– Được sự đóng góp ý kiến của tổ chuyên môn, tôi thực hiện viết đề tài.

– Qua quá trình nghiên cứu đề tài trên lý thuyết kết hợp với thực tế học sinh, tôi kết hợp điều chỉnh các thiếu sót, bất cập nảy sinh.

– Nói chung phương pháp cơ bản để tôi chọn đề tài này đó là phương pháp:

+ Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.

+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.

+ Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.

Cụ thể như sau:

+ Điều tra: Lấy ý kiến của đồng nghiệp, ý kiến của học sinh.

+ Tổng hợp: tổng hợp từ kết quả thực hành trên lớp của HS, tổng hợp từ ý kiến của đồng nghiệp.

+ Nhưng điều quan trọng là phải đảm các nguyên tắc sau:

. Trước tiên phải đảm bảo mục tiêu bài học.

. Không làm quá tải chương trình, quá tải nội dung bài học.

. Không phá vỡ nội dung môn học

. Không đưa những nội dung luyện nói quá xa lạ đối với bài học.

. Tiết luyện nói phải tự nhiên, không gò ép.

. Có sự liên kết, gần gũi với cuộc sống đời thường của HS.

2. Thời gian thực hiện:

Tôi tiến hành thực hiện trong khoảng thời gian hai năm, từ năm học 2018 – 2019 đến năm học 2019 – 2020. Với mục đích và đối tượng học sinh: khi lựa chọn đề tài này, tôi hướng đến mục tiêu nghiên cứu là: rèn kỹ năng dùng từ trong nói và viết cho học sinh lớp 7 trường THCS Tân An. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn.

3. Biện pháp tổ chức:

3.1. Rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh thông qua giảng dạy các tiết Tiếng Việt:

Trong chương trình phân môn Tiếng Việt lớp 7, HS được học các đơn vị kiến thức về: Từ, Từ loại, Cách sử dụng từ, Các kiểu câu và một số biện pháp tu từ. Ở mỗi tiết dạy, tôi luôn cố gắng đảm bảo mục tiêu của bài học cũng như rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh vừa đảm bảo về ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa.

Ví dụ: Bài “Chuẩn mực sử dụng từ” (Ngữ văn 7, Tập 1) có mục tiêu bài học là giúp HS hiểu được yêu cầu của việc sử dụng từ và biết sử dụng từ đúng chuẩn mực trong giao tiếp. Để đạt được mục tiêu trên, tôi đã tổ chức hoạt động khởi động bài học như sau: HS Đọc văn bản “Quyết định độc đáo” và trả lời các câu hỏi (bằng hình thức thảo luận nhóm lớn).

+ Vì sao những công chức nước Anh lại bị phạt tiền? Và mỗi lần mắc lỗi bị phạt bao nhiêu?

+ Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Anh, Ông Chủ tịch hội đồng thành phố đã dùng biện pháp gì?

Quyết định độc đáo

“Cách đây không lâu, lãnh đạo Hội đồng thành phố Nót- tinh- ghêm ở nước Anh đã quyết định phạt tiền các công chức nói hoặc viết tiếng Anh không đúng chuẩn. Theo quyết định này, mỗi lần mắc lỗi, công chức bị phạt 1 bảng. Ông Chủ tịch Hội đồng thành phố tuyên bố sẽ không kí bất cứ văn bản nào có lỗi ngữ pháp và chính tả. Đây là một biện pháp mạnh nhằm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Anh.”

(Theo báo Công an nhân dân)

Từ việc tìm hiểu bài văn này, tôi đã giúp cho các em hiểu rằng ở đất nước nào cũng vậy, việc mắc lỗi dùng từ sẽ làm cho người đọc, người nghe không hiểu đúng những gì mình đã viết, thậm chí còn làm cho người đọc cảm giác khó chịu và xem thường người viết.

Từ đó tôi dẫn vào nội dung tiết học. Học sinh sẽ làm các bài tập về lỗi dùng từ trong SGK để từ đó nhận biết được 5 lỗi cơ bản khi dùng từ là:

  1. Sử dụng từ chưa đúng âm, đúng chính tả.
  2. Sử dụng từ chưa đúng nghĩa
  3. Sử dụng từ chưa đúng tính chất ngữ pháp của từ.
  4. Sử dụng từ chưa đúng sắc thái biểu cảm, chưa hợp phong cách
  5. Lạm dụng từ địa phương, từ Hán Việt.

Ngoài các bài tập trong sgk, ở hoạt động luyện tập tôi còn đưa thêm 1 số bài tập để HS củng cố và khắc sâu kiến thức.

Bài 1. Tìm lỗi về dùng từ trong các câu sau. Cho biết đó là những lỗi gì và chữa lại các lỗi đó.

          a) Ông linh cảm có điều bất chắc sắp xảy ra.

b) Sau những ngày làm việc vất vả, mẹ Nam đi ăn dưỡng ở Vũng Tàu.

          c) Trong rừng có rất nhiều muôn thú.

          d) Đã thương thì thương cho chót.

          đ) Đây là một bộ phim trưởng rất hay.

Bài 2: Do hiểu sai nghĩa của từ nên có bạn viết như sau:

          a) Những đôi mắt ngây ngô, trong sáng chăm chú nhìn vào nét phấn của cô giáo.

          b) Con luôn ghi nhớ những điều mẹ dặn trong suốt hành trang của mình.

          c) Muốn có bài văn hay, phải thường xuyên xâm nhập đời sống thực tế của xã hội.

          d) Dưới danh nghĩa phục hồi văn hoá truyền thống, nhiều nơi đã vô tình làm sống lại những thủ tục thời phong kiến.

          đ) Không chịu được gian khổ là yếu điểm duy nhất của anh ta.

          Hãy tìm các từ bị dùng sai nghĩa trong những câu trên. Tìm các từ thích hợp thay thế cho các từ dùng sai đó.

Bài 3: Đặt câu với mỗi từ sau (mỗi từ đặt 01 câu): ngây ngô, hành trang, xâm nhập, yếu điểm.

Bài 4: Tìm các từ bị dùng sai trong các câu sau và chữa lại các câu đó cho đúng.

          a) Giải được bài tập này, tôi thấy nhẹ nhàng cả người.

          b) Đây là lĩnh vực kinh doanh béo bổ.

          c) Rừng cây rậm rạp, không nhìn thấy một khoảng trống vắng nào.

Bài 5. Từ đẹp có thể kết hợp với những từ ngữ: đẹp kinh khủng, đẹp chết người.

          Các cách kết hợp như thế có được chấp nhận không ?

Bài 6. Chọn từ cho trong ngoặc đơn cho thích hợp:

          a) Nhìn hai cánh tay (cỏm rỏm, gầy còm, còm cõi, rũ rượi) của người phụ nữ, anh thấy động lòng thương.

          b) Ở nơi đây đã từng (diễn biến, diễn ra, trình diễn) những trận quyết chiến chiến lược.

          c) Trước đây tôi qua lại con sông này (thường trực, thường thường, thường xuyên) nên biết rất rõ các luồng lạch của nó.

          d) Đó là những (dẫn chứng, chứng minh, chứng cớ) sinh động vê tình đoàn kết quân dân.

          đ) Các bạn lớp tôi (luân lưu, luân chuyển, luân phiên) trực nhật.

  Bài 7. Tìm các từ bị dùng sai trong các câu sau. Chữa lại chúng.

          a) Tên sĩ quan bắt đầu thấy trong con người yếu ớt ấy một nghị lực phi thường.

          b) Mẹ đã đỡ đần con bước đi những bước đầu tiên.

          c) Các bạn nhất trí cười vui vẻ và đua nhau mượn quyển sách ấy.

          d) Anh cứ giữ cái thái độ lạnh lẽo ấy nên mọi người không gần anh là phải.

          đ) Tôi giả vờ không hiểu câu hỏi, tôi nói bơ vơ chỗ ấy chắc còn xa.

          e) Tình hình ở đây rất yên tâm.

  Vì thời gian trên lớp không đủ cho HS làm bài và chữa bài, tôi có thể giao nhiệm vụ cho HS về nhà hoàn thiện. Và tôi sẽ kiểm tra – chữa bài ở những tiết sau.

Như vậy, chỉ qua 1 tiết học tiếng Việt, tôi đã góp phần giúp HS lớp 7 hiểu được yêu cầu của sử dụng từ và sử dụng từ đúng chuẩn mực trong nói và viết.

3.2. Rèn kỹ năng dùng từ và trau dồi vốn từ cho học sinh thông qua giảng dạy các tiết văn bản:

Trong giờ học văn bản: Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh hiểu nghĩa của một số từ cần thiết, hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa văn chương của từ ngữ, từ đấy học sinh có thể học tập cách dùng từ của tác giả; cần chỉ ra các từ ngữ đặc sắc để phân tích cái hay, cái đẹp, cái sáng tạo của nhà văn khi dùng chúng.

Để đạt được mục tiêu trên, tôi chú trọng vào các hoạt động đọc và tìm hiểu chú thích cho học sinh. Trong quá trình tìm hiểu văn bản, tôi giúp HS tìm hiểu, khai thác các từ ngữ ngữ đặc sắc, có hiệu quả nghệ thuật cao mà tác giả đã sử dụng.

Ví dụ: Khi dạy bài Mùa xuân của tôi – Vũ Bằng, để giúp HS cảm nhận được cách dùng từ đặc sắc, tài hoa độc đáo của nhà văn Vũ Bằng, đầu tiên ở hoạt động đọc văn bản tôi sẽ hướng dẫn HS đọc diễn cảm văn bản và tìm hiểu chú thích để nắm được ý nghĩa của các từ. Sau đó, trong quá trình tìm hiểu văn bản, tôi sẽ giúp HS khai thác hiệu quả sử dụng 1 số từ ngữ, câu văn đặc sắc của nhà văn như:

Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng…

GV có thể đặt các câu hỏi:

+ Em hiểu thế nào là mưa riêu riêu, gió lành lạnh?

+ Nhận xét về cách dùng từ ngữ trong đoạn này của nhà văn.

Qua đó đã giúp học sinh mở rộng vốn từ và vận dụng vào bài văn sau này cũng như sử dụng trong giao tiếp hàng ngày.

3.3. Rèn kỹ năng dùng từ và mở rộng vốn từ cho học sinh thông qua các tiết Tập làm văn:

Trong giờ Tập làm văn: GV cần giúp học sinh nhìn nhận mọi sự vật ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của các em. Giáo viên không nên đưa ra những bài văn mẫu hoàn chỉnh làm các em bắt chước, sao chép, dễ tạo cho các em cách làm văn sáo rỗng, na ná như nhau và không nâng cao được vốn từ mà nên đưa ra những đoạn văn của những tác giả khác nhau. Cùng trong một tiết học, có thể đưa ra nhiều đoạn văn toàn diện, phong phú hơn và từ đó các em sẽ biết chắt lọc, tìm tòi những từ ngữ đặc sắc, học tập được các từ hay, cách dùng biện pháp tu từ thú vị, cách diễn đạt hợp lý cho bài làm của mình.

Để nâng cao hiệu quả của việc rèn kĩ năng này cho học sinh, giáo viên cần hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng diễn đạt, viết câu, đặc biệt là biết vận dụng các biện pháp tu từ, các từ tượng thanh, tượng hình, từ láy… để viết văn. Ngoài ra, việc rèn luyện có thể thông qua bằng cách cho học sinh làm bài tập thực hành về sửa lỗi của từ trên chính các bài văn của các em trong các tiết trả bài văn để từ đó các em tự thấy được lỗi sai và rút ra kinh nghiệm cho mình ở những bài văn sau. Công việc tưởng chừng đơn giản nhưng lại mất khá nhiều công sức và thời gian để uốn nắn cho các em. Vì vậy, giáo viên cần phải kiên nhẫn, vững vàng, dùng hết lòng nhiệt tình yêu nghề để giúp các học sinh yêu quý của mình phát huy hết khả năng của các em. Tôi rất chú ý đến khâu trả bài/ chữa bài tập làm văn, trả bài/ chữa bài thi học kỳ cho HS. Tôi sử dụng nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học, với các hoạt động như:

– Bước 1: Nhận xét khái quát ưu – khuyết điểm trong bài làm của HS.

– Bước 2: HS đọc tráo bài làm của nhau.

– Bước 3: HS tự chỉ ra và chữa lỗi trong bài làm của bạn, đặc biệt là lỗi dùng từ.

– Bước 4: HS đọc trước lớp những bài làm khá, giỏi (bài mẫu) để các bạn cùng học tập.

3.4. Rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh thông qua dạy tiết Luyện nói:

Rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh là một việc khó, nhưng dù khó thế nào, yêu cầu kĩ năng nói cũng phải luôn luôn được coi trọng. Nếu như nghe và đọc là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin, thì nói và viết là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyền đạt thông tin cần được rèn luyện và phát triển trong nhà trường. Luyện nói trong nhà trường là giúp cho học sinh có thói quen nói trong những môi trường giao tiếp khác nhau và qua đó rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh. Nó được thực hiện một cách hệ thống, theo những chủ đề nhất định, gắn với những vấn đề quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày.

3.5. Biện pháp đối với giáo viên và học sinh:

* Biện pháp đối với giáo viên:

– Thời gian để học sinh chuẩn bị cho tiết luvện nói ít nhất một tuần.

  • Khi ra đề, giáo viên cần linh hoạt: đề ra phải gắn với thực tế, gần gũi với học sinh không nhất thiết phải là những đề bài ở tiết luyện nói mà sách giáo khoa yêu cầu; thuận lợi nhất là giáo viên chọn những đề mà học sinh đã tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn ở những tiết trước.
  • Giáo viên yêu cầu học sinh về nhà chuẩn bị: tìm hiểu đề, lập dàn ý, dự kiến nội dung bài nói và cách thức nói sao cho phù hợp với từng kiểu bài. Đặc biệt chú ý đến việc chuẩn bị tư thế nói của học sinh: Tư thế thoải mái, tự nhiên; kết hợp nói kèm với cử chỉ, điệu bộ, giọng điệu để bài nói sinh động hơn (đây là khâu quan trọng nhất của tiết luyện nói nên giáo viên yêu cầu học sinh phải luyện tập trước ở nhà).
  • Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài nói: Mở đầu (Giới thiệu tên, lớp, bài nói của mình cho thầy cô và các bạn nghe). Nội dung chính (dựa vào dàn ý). Kết thúc (có lời kết thúc, cảm ơn).
  • Khi tổ chức cho học sinh luyện nói, giáo viên cần chú ý đến nhiều đối tượng học sinh, không nhất thiết phải chọn học sinh khá, giỏi nói mà có thể chọn ngẫu nhiên bằng hình thức bốc thăm hoặc gọi tên theo thứ tự a,b,c….
  • Giáo viên cần tạo cho học sinh có nhu cầu muốn nói, muốn được bộc lộ. Điều này tưởng chừng như đơn giản nhưng tương đối khó thực hiện, bởi đa số học sinh rất ngại nói hoặc không tự tin khi nói trước đông người (nhất là học sinh lớp 6,7). Vì thế điều quan trọng là bên cạnh việc chuẩn bị tốt về kiến thức, kỹ năng; giáo viên cần gần gũi thân thiện với học sinh để các em có thể nói được và có nhu cầu nói.
  • Giáo viên không nên cho một học sinh nói quá dài mà mỗi học sinh chỉ cần nói một ý nhỏ của thân bài hoặc nói một phần của bài như mở bài hay kết bài.
  • Học sinh trình bày xong bài nói của mình; giáo viên nên cho học sinh khác nhận xét và giáo viên cần định hướng cụ thể cho học sinh nội dung nhận xét như: kiểu bài, nội dung bài nói đầy đủ chưa? Bài nói có mạch lạc không? Giọng nói như thế nào? Ngôn ngữ diễn đạt ra sao? Tư thế nói có tự nhiên, thoải mái không? Sau đó, giáo viên nhận xét cụ thể, rõ ràng giúp các em trình bày sau không lặp lại những khuyết điểm mà các em trước mắc phải. Giáo viên cần nhận xét khéo léo, tế nhị, không nên chê bai các em, các em khác sẽ ngại không dám nói.
  • Đối với những học sinh có phong cách nói tốt, giáo viên tuyên dương và cho điểm tốt để khuyến khí các em.

* Biện pháp đối với học sinh: Học sinh khi chuẩn bị bài nói cần lưu ý:

  • Không viết thành bài văn, chỉ cần soạn dàn ý thật kĩ, chi tiết.
  • Dựa vào dàn ý chi tiết, HS luyện nói trước gương ở nhà, tưởng tượng mình đang nói trước các bạn; chú ý luyện tập tư thế nói: tự tin, thoải mái; đứng ngay ngắn,vẻ mặt tươi tắn, mắt nhìn vào mọi người.
  • Ngôn ngữ giản dị, sử dụng từ ngữ thuộc văn nói.
  • Nói mạch lạc, có đầu có đuôi, không rời rạc, lộn xộn.

– Giọng nói to, rõ đủ cho cả lớp nghe. Khi nói cần kết hợp với điệu bộ.

* Tiến trình dạy một tiết luyện nói:

  • Hoạt động 1: GV có thể giới thiệu bài bằng cách nêu lên vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng nói trước tập thể đối với mỗi học sinh.
  • Hoạt động 2 : GV cho học sinh nhắc lại kiến thức cũ và kiểm tra việc chuẩn bị dàn bài của HS ở nhà theo đề bài mà GV đã cho trước.
  • Hoạt động 3: Tổ chức cho HS chuẩn bị nội dung nói: chia nhóm (số lượng học sinh ở mỗi nhóm tuỳ theo GV) để học sinh trao đổi, thống nhất và hoàn chỉnh dàn ý của bài nói mà học sinh đã chuẩn bị ở nhà. Giáo viên chọn một dàn ý tốt nhất và bổ sung, hoàn chỉnh.Tuy nhiên không phải kiểu bài nào cũng trao đổi và thống nhất dàn ý chung cho cả nhóm hoặc cả lớp. Ví như kiểu bài Phát biểu cảm nghĩ thiên về cảm xúc, tư duy cá nhân thì bài nói sẽ dựa trên dàn ý của mỗi cá nhân (phần này chỉ cần khoảng 10 phút)
  • Hoạt động 4: Tổ chức cho HS nói:

+ Bước 1: Nói trong nhóm

HS dựa trên dàn ý đã xây dựng, luyện nói với nhau trong nhóm. Các bạn trong nhóm sẽ nhận xét, góp ý về nội dung bài nói (Bài nói đã đủ ý chưa? Bài nói có mạch lạc không? Ngôn ngữ diễn đạt như thế nào? Phong cách nói ra sao? Giọng nói có rõ ràng, tự nhiên không?…)

+ Bước 2: Nói trước tập thể lớp

– GV gọi một số HS lên trình bày bài nói của mình trэớc lớp. GV phải chъ ý đến nhiều đối tượng HS hoặc có thể cho HS cử đại diện của nhóm lên trình bày trước tập thể lớp, không nhất thiết phải là HS khá, giỏi.

– HS trong lớp theo dõi và nhận xét (ưu điểm, khuyết điểm) qua phần trình bày của bạn.

– GV theo dõi, nhận xét cụ thể, nêu hướng khắc phục và cho điểm đối với những HS có bài nói tốt. Giáo viên cần nhận xét đầy đủ, ngắn gọn, cụ thể, rõ ràng những khuyết điểm của học sinh. (Ở hoạt động này đòi hỏi giáo viên phải nhạy bén , linh hoạt; luôn trân trọng sự sáng tạo của học sinh).

  • Hoạt động 5: GV tổng kết và nhắc nhở những lỗi cần tránh trong việc nói trước tập thể; uốn nắn và gợi ý sửa chữa để HS khắc phục trong những tiết luyện nói sau.

Như vậy, với biện pháp này đã góp phần không nhỏ vào rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh đồng thời giúp học sinh mạnh dạn, tự tin hơn rất nhiều trước đông người.

3.6. Rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh thông qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo:

Có thể nói, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một hoạt động học tập bổ ích, có hiệu quả đối với học sinh ở nhà trường phổ thông. Thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo, học sinh được phát huy vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo trong hoạt động học tập của mình. Bồi dưỡng và phát triển năng lực đặc thù của môn học như năng lực đọc hiểu, năng lực thưởng thức, cảm thụ văn chương, năng lực đánh giá cái hay, cái đẹp của văn chương, năng lực vận dụng ….. Từ đó có thể tham gia vào quá trình giao tiếp văn học, giao tiếp đời sống một cách có hiệu quả.

Bên cạnh đó tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo còn phát huy sự trải nghiệm sáng tạo thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học ở chính mỗi bản thân học sinh. Qua hoạt động trải nghiệm, mỗi học sinh sẽ có những cảm nhận riêng, mới mẻ và bổ ích, có những cách nhìn nhận về cuộc sống, về con người khác nhau. Mỗi bài học trải nghiệm sẽ là một bài học làm người giúp các em sống tốt hơn, hoàn thiện và phát triển nhân cách, năng lực chủ thể học sinh. Hơn ai hết học sinh biết kết nối và luôn có ý thức trải nghiệm để thẩm thấu sâu sắc những giá trị tác phẩm, làm phong phú hơn vốn sống, vốn hiểu biết xã hội của bản thân, hình thành nên động cơ, niềm tin và giá trị sống.

Tôi đã xây dựng các bước tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo như sau:

Các bướcNội dung công việc
Bước 1Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo (cần phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện nhà trường).
Bước 2Đặt tên cho hoạt động: múa, hát, kể chuyện, đóng kịch, vẽ tranh, tham quan trải nghiệm…
Bước 3Xác định mục tiêu của hoạt động.
Bước 4Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động.
Bước 5Lập kế hoạch.
Bước 6Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy.
Bước 7Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động.
Bước 8Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh.

Trong năm học 2022 – 2023, tôi đã tham mưa với Ban Lãnh đạo nhà trường, Đoàn Đội tổ chức cho HS lớp 7 tham gia ngoại khóa cuộc thi: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt bằng hình thức dẫn HS đi Du khảo về nguồn.

Mục đích: rèn kỹ năng dùng từ cho HS, giáo dục HS ý thức giữ gìn và phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt.

Nội dung: HS trải qua các phần thi

+ Thi hiểu biết về Tiếng Việt (từ loại, ngữ pháp, các biện pháp tu từ…)

+ Thuyết trình các chủ đề:

Em cần làm gì để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.

Suy nghĩ của em về hiện tượng nói tục chửi bậy của một bộ phận học sinh hiện nay.

Suy nghĩ của em về hiện tượng học sinh lạm dụng ”ngôn ngữ mạng” khi nói và viết.

Cuộc thi đã thu hút đông đảo HS tham gia, đến từ nhiều đội thi trong khối 7. Qua cuộc thi đã góp phần không nhỏ vào rèn kỹ năng dùng từ cho HS.

Trải nghiệm sân khấu hóa tác phẩm văn học. Sân khấu hóa các tác phẩm văn học là một hình thức trải nghiệm bổ ích, hấp dẫn, phát huy khả năng sáng tạo của học sinh thông qua việc các em được tự chọn lựa tác phẩm, được tham gia vào quá trình sáng tác kịch bản, được cùng đưa ra ý kiến thiết kế sân khấu… Sân khấu hóa tác phẩm chính là một hình thức đưa các tác phẩm văn học vào đời sống, giúp tác phẩm văn học gần gũi hơn các các em học sinh, giúp các em một lần nữa khắc sâu được kiến thức bài học. Sân khấu hóa văn học cũng giúp học sinh và giáo viên được đặt mình vào “trường sáng tạo” và “trường thưởng thức” các tác phẩm, từ đó có cách cảm nhận, đánh giá tốt hơn về những giá trị của văn học.

Với đối tượng học sinh lớp 7 trường THCS Tân An, tôi đã tổ chức các hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học dưới các hình thức như:

– Thi tiếng hát dân ca: học sinh hát các làn điệu dân ca theo chủ đề tự chọn (dân ca quan họ Bắc Ninh, dân ca Nam Bộ, dân ca Bắc Bộ…)

– Thi sáng tác ca dao, dân ca: học sinh tự sáng tác bài ca dao hoặc sáng tác các làn diệu dân ca.

– Đóng kịch: Cuộc chia tay của những con búp bê; Sống chết mặc bay…

Ví dụ: trích một đoạn kịch bản.

KỊCH BẢN: CUỘC CHIA TAY CỦA NHỮNG CON BÚP BÊ

(Chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Khánh Hoài)

Diễn viên chính: Thành, Thủy, mẹ.

Diễn viên phụ: cô giáo, các bạn học sinh, tốp thanh niên (hư hỏng)

Đạo cụ: 2 con búp bê (Em Nhỏ, Vệ Sỹ), bộ tú lơ khơ, bàn cá nhựa, những con ốc biển và bộ chỉ màu…

Nhạc: buồn không lời.

Cảnh 1: Diễn ra tại nhà 2 anh em vào buổi sáng sớm.

Thủy (ngồi dưới gốc cây hồng xiêm, tay cầm con Én Nhỏ, vừa vuốt ve, vỗ về con búp bê vừa sụt sùi): Em Em Nhỏ của chị ơi, đêm qua Vệ Sỹ có canh gác cho anh Thành ngủ không? Anh Thành sợ ma lắm đấy, không có Vệ sỹ bảo vệ là Thành lại ngủ mơ gặp ma. (Hic hic).

Thành (rón rén đi ra vườn, ngồi xuống cạnh em mình, vuốt tóc em và hỏi): sao em dậy sớm vậy? Không ngủ thêm đi em?

Thủy (vừa mếu máo và trả lời): còn anh nữa, sao anh cũng dậy sớm vậy?

Thành: Em khóc cả đêm qua phải không? Mắt của em sưng hết lên rồi này…

Thủy: Không phải, em khóc 1 ít thôi, mẹ khóc nhiều hơn em đấy anh ạ. Đêm qua, lúc ngủ, em thấy mẹ cứ ôm em, mẹ vuốt tóc em, rồi mẹ lại khóc.

Thành: ừ anh biết rồi, anh thương mẹ và em lắm.

Thủy: anh ơi, đêm qua em cứ lạy trời, đây chỉ là một giấc mơ. Một giấc mơ thôi.

(bỗng có tiếng mẹ từ trong nhà vọng ra quát)

Mẹ: Thằng Thành, con Thủy đâu?

(Hai anh em giật mình, líu ríu dắt nhau đứng dậy)

Mẹ: Đem chia đồ chơi ra đi!

(Thủy mở to đôi mắt như người mất hồn, loạng choạng bám vào cánh tay anh. Thành dìu em vào trong nhà)

Thành: Không phải chia nữa. Anh cho em tất.

(Thấy em không nói gì, Thành nhắc lại hai ba lần, Thủy mới giật mình nhìn xuống)

Thủy: Không, em không lấy. Em để hết lại cho anh.

Mẹ (quát và giận dữ đi về phía cổng): Lằng nhằng mãi. Chia ra!

Thủy sụt sịt bảo: Thôi thì anh cứ chia ra vậy.

(Thành lấy đồ chơi ra chia, khi Thành vừa lấy hai con búp bê từ trong tủ ra, đặt sang hai phía thì Thủy bỗng tru tréo lên giận dữ)

Thủy: Anh lại chia rẽ con Vệ Sĩ với con Em Nhỏ ra à? Sao anh ác thế!

Thành (nhìn em buồn bã): Thì anh đã nói với em rồi. Anh cho em tất cả.

(Thành đặt con Vệ Sĩ vào cạnh con Em Nhỏ giữa đống đồ chơi của Thủy). Thủy: Nhưng như vậy lấy ai gác đêm cho anh? Để em bắt con Vệ Sĩ gác cho anh.

Thủy: (đặt 2 con búp bê cạnh nhau, bỗng trở nên vui vẻ): Anh xem chúng đang cười kìa!

Thành (cố vui vẻ theo em, nhưng nước mắt đã ứa ra): Ừ, anh biết rồi, anh cảm ơn em.

Thủy (lại xị mặt xuống): Sao bố mãi không về nhỉ? Như vậy là em không được chào bố trước khi đi.

Thành: Hay anh dẫn em đến trường một lát.

(Hai anh em đứng dậy, Thành lấy chiếc khăn mặt ướt đưa cho em. Thủy lau nước mắt rồi soi gương, chải lại tóc. Hai anh em nắm chặt tay nhau và đi chầm chậm đến trường – bật nhạc buồn)

Cảnh 2: tại lớp học

Cô giáo (đang giảng bài): Ôi, em Thủy!

Thủy (bước vào lớp): Thưa cô, em đến chào cô… – Thủy nức nở

Cô giáo (ôm chặt lấy Thủy): Cô biết chuyện rồi. Cô thương em lắm!

(cô quay xuống lớp): Bố mẹ bạn Thủy bỏ nhau. Thủy phải xa lớp ta, theo mẹ về quê ngoại.

(Cả lớp sững sờ, “ồ” nổi lên kinh ngạc. Mấy đứa bạn thân của thủy khóc thút thít. Có bạn mạnh dạn bỏ chỗ ngồi, đi lên nắm chặt lấy tay Thủy như chẳng muốn rời…)

Cô giáo (gỡ tay Thủy, đi lại phía bục, mở cặp lấy một quyển sổ cùng với chiếc bút máy nắp vàng đưa cho Thủy): Cô tặng em. Về trường mới, em cố gắng học tập nhé!

Thủy (đặt vội quyển sổ và cây bút lên bàn): Thưa cô, em không dám nhận… em không được đi học nữa.

Cô giáo (sửng sốt): Sao vậy?

Thủy: Nhà bà ngoại em ở xa trường học lắm. Mẹ em bảo sẽ sắm cho em một thúng hoa quả để ra chợ ngồi bán.

Cô giáo: Trời ơi!

(cô giáo tái mặt và nước mắt giàn giụa. Lũ nhỏ cũng khóc mỗi lúc một to hơn.)

Thủy (ngẩng đầu lên, nức nở): Thôi, em chào cô ở lại. Chào tất cả các bạn, tôi đi.

(Thành dắt Thủy ra khỏi lớp. Vừa tới nhà, nhìn thấy một chiếc xe tải đỗ trước cổng. Mấy người hàng xóm đang giúp mẹ tôi khuân đồ đạc lên xe Cuộc chia tay đột ngột quá. Thủy như người mất hồn, mặt tái xanh như tàu lá)

Thủy (chạy vội vào trong nhà mở hòm đồ chơi của nó ra. Hai con búp bê tôi đã đặt gọn vào trong đó. Thủy lấy con Vệ Sĩ, rồi bỗng ôm ghì lấy con búp bê, hôn gấp gáp lên mặt nó và thì thào): Vệ Sĩ thân yêu ở lại nhé! Ở lại gác cho anh tao ngủ nhé! Xa mày, con Em Nhỏ sẽ buồn lắm đấy, nhưng biết làm thế nào…

Thủy (khóc nức lên và chạy lại nắm tay Thành dặn dò): Anh ơi! Bao giờ áo anh có rách, anh tìm về chỗ em, em vá cho, anh nhé…

Thành: (khóc nấc lên): ừ anh biết rồi.

Mẹ: (từ ngoài đi vào, vuốt tóc Thành và nhẹ nhàng dắt tay Thủy): Đi thôi con.

Thủy: (bỗng lại tụt xuống chạy về phía Thành, tay ôm con búp bê.Thủy đi nhanh về chiếc giường, đặt con Em Nhỏ quàng tay vào con Vệ Sĩ và nói): Em để nó ở lại. Anh phải hứa với em không bao giờ để chúng nó ngồi cách xa nhau. Anh nhớ chưa? Anh hứa đi!

Thành: Anh xin hứa.

Thủy: tạm biệt anh trai của em, tạm biệt Én Nhỏ và Vệ Sỹ.

Thành (vừa khóc và cố nói nói thật to): anh lúc nào cũng nhớ và thương em nhất, em gái – Thủy của anh!

(Thủy đi vào sân khấu, bê mẹt hoa quả, đầu đội nón rách, bật nhạc buồn)

Cảnh 3: Thủy không được đi học, phải đi bán hoa quả dong gặp phải đám thanh niên hư hỏng, em bị xâm hại.

Thủy: (1 tay bê mẹt hoa quả, 1 tay thấm hồ hôi): bác ơi, bác mua xoài, mua táo cho cháu đi ạ, xoài vừa tươi vừa ngon bác ơi.

(không có ai mua)

Thủy: (vẫn vừa bê mẹt quả vừa mời hàng, giọng mệt mỏi): cô ơi, cô mua xoài, mua táo cho cháu đi ạ, xoài vừa tươi vừa ngon cô ơi.

(Thủy mệt quá, ngồi xuống vệ đường).

Tốp thanh niên (2 – 3 người, mặc quần áo ngổ ngáo, xăm trổ, hút thuốc phì phèo): ê chúng mày ơi, xem đằng kia có con bé nào mấy hôm nay mới thấy xuất hiện.

  • Ờ được đấy. để tao qua xem “chén” được không.

Thanh niên 1: cô em ở đâu đến đây bán xoàn vậy?

Thủy: cháu chào chú, chú mua xoài cho cháu đi ạ.

Thanh niên 1: Xoài này nhìn đã biết là chua

Thủy: không chua đâu chú ạ, xoài chín rồi, ngọt lắm ạ, cháu cho chú ăn thử nhé.

Thanh niên 1: Ừ ăn thử nào, ăn thử này (miệng nói, tay kéo người Thủy lại để ôm)

Thủy: (gào lên) không , không, cháu xin chú, chú đừng làm vậy, anh Thành ơi, cứu em, anh Thành ơi.

(Tiếng kêu cứu trong vô vọng của Thủy vang mãi, vang mãi…: anh Thành ơi, cứu em…………anh Thành ơi!!!!!!!!!!)

Cuộc chia tay của những con búp bê

Như vậy, thông qua hình thức sân khấu hóa đã đưa những tác phẩm văn học trong chương trình ngữ văn đến gần hơn với các em học sinh; giúp các em có thể đồng sáng tạo với nhà văn và tạo ra sân chơi bổ ích cho các em học sinh; làm cho những tiết học văn thú vị, hấp dẫn hơn rất nhiều đồng thời góp phần to lớn vào việc rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh.

V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN:

Sau một thời gian áp dụng biện pháp nêu trên, kết quả thu lại rất khả quan. Số lượng học sinh có những liên tưởng, có những cái nhìn sai lệch về các tác phẩm văn chương đã giảm nhiều. Đặc biệt kỹ năng dùng từ trong nói và viết của các em tăng lên rõ rệt.

Tôi tiến hành khảo sát lỗi dùng từ của học sinh thông qua bài viết Tập làm văn số 5 của học sinh lớp 7 tại trường vào năm học 2019 – 2020 và thu được kết quản như sau:

LớpLỗi lặp từLẫn lộn các từ gần âmDùng từ không đúng nghĩaDùng sai quan hệ từChọn từ, ngữ sai phong cách ngôn ngữ văn bảnChọn từ, ngữ sáo rỗng.Lạm dụng ngôn ngữ mạngViết tắt bừa bãi
7A102 HS05 HS07 HS03 HS02 HS
7A202 HS06 HS08 HS04 HS03 HS

Qua kết quả khảo sát trên ta có thể nhận thấy rằng số lượng học sinh nắm được cách dùng từ tăng lên rõ rệt khi tiết dạy có sử dụng các biện pháp rèn kỹ năng dùng từ. Học sinh ít vi phạm trong quá trình sử dụng từ khi nói và viết, cách diễn đạt của các em cũng rõ ràng, mạch lạc, trôi chảy hơn, ít mắc các lỗi thường ngày như lặp từ, dùng từ không đúng nghĩa… Cụ thể tỉ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi tăng lên và số học sinh bị điểm yếu giảm đi. Điều này chứng tỏ việc sử dụng biện pháp này vào trong các tiết học sẽ mang lại hiệu quả rất lớn. Từ kết quả trên, góp phần nâng dần tỉ lệ học sinh Khá Giỏi của Tổ và của đơn vị trường THCS Tân An. HS không còn quá lo ngại về việc học Ngữ văn, không còn mắc quá lỗi dùng từ trong khi nòi và viết.

TTLỚPSĨ SỐGIỎIKHÁTRUNG BÌNHYẾU
SLTL%SLTL%SLTL%SLTL%
17A1391435,89%1128,2%1333,33%12,5%
27A2381334,21%1231,57%1231,57%12,6%

VI. MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG:

Khả năng dùng từ, sử dụng ngôn ngữ của HS được cải thiện rõ rệt. HS không còn dùng sai quá nhiều các từ ngữ, sử dụng các từ trong ngôn ngữ 4.0,… Từ đó có tác động rất tích cực trong việc giảng dạy phân môn Ngữ văn ở đơn vị trường THCS Tân An hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. Đề tài sáng kiến này, nếu được áp dụng một cách hợp lý, có thể lan tỏa sang các bộ môn học khác trong đơn vị, ở Hội đồng bộ môn cấp thị xã và cấp tỉnh và ngay cả cấp THPT. Chỉ cần HS có thói quen đọc nhiều sách báo, tài liệu và GV cần hướng mạnh mẽ HS đến khâu dùng từ.

VII. KẾT LUẬN:

Với biện pháp “Rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh lớp 7 trường THCS Tân An”, bản thân tôi đã đi sâu vào phân tích và chỉ ra các lỗi mà các em thường xuyên mắc phải. Từ đó, mạnh dạn đề xuất một số biện pháp mới dựa trên những nguyên tắc dùng từ, ứng dụng vào trong cả ba phân môn: Văn bản, Tiếng việt, Tập làm văn của bộ môn Ngữ văn 7. Có thể nói, biện pháp có thể sử dụng rộng rãi trong quá trình dạy học môn Ngữ Văn. Áp dụng được và có hiệu quả không chỉ ở khối lớp 7 mà còn ở tất cả các khối lớp khác, ngay cả cấp THPT.

Tôi mạnh dạn đề nghị các cấp quản lí giáo dục cần tổ chức thêm chuyên đề rèn luyện kĩ năng dùng từ với nhiều hình thức khác nhau cho học sinh để giáo viên được học tập, nâng cao chuyên môn; qua đó giúp cho việc rèn kĩ năng dùng từ cho học sinh đạt hiệu quả hơn.

Cần đầu tư thêm trang thiết bị, cơ sở vật chất đầy đủ đáp ứng những nhu cầu của giáo viên và học sinh.

Trên đây là đề tài sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi đã được thực hiện ở trong nhà trường và có hiệu quả nhất định. Hi vọng với các giải pháp tôi đã trình bày trên sẽ được nhiều giáo viên áp dụng thì hiệu quả của sáng kiến ngày càng cao và bền vững hơn. Tuy nhiên đề tài tôi đưa ra vẫn là ý kiến chủ quan của cá nhân cũng không thể tránh được thiếu sót, hạn chế cũng như vấn đề tranh cãi bàn luận. Rất mong nhận dược sự góp ý chân thành của đồng nghiệp.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2025 – RAR archive, unpacked size 96,047,738 bytes/ BÁO CÁO SK DÙNG TỪ HS 7

Biện pháp rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh lớp 7 tại trường THCS Biện pháp rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh lớp 7 tại trường THCS  Biện pháp rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh lớp 7 tại trường THCS  Biện pháp rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh lớp 7 tại trường THCS  Biện pháp rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh lớp 7 tại trường THCS Biện pháp rèn kỹ năng dùng từ cho học sinh lớp 7 tại trường THCS 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *