MỐI QUAN HỆ GIỮA CẢM NHẬN VỀ BỔN PHẬN VỚI TỔ CHỨC VÀ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
- Sự cần thiết của chuyên đề nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa cảm nhận về bổn phận với tổ chức và mức độ hoàn thành công việc của người lao động ở Việt Nam, trước tiên người nghiên cứu cần phải làm rõ các lý thuyết làm cơ sở cho việc xác định các nội dung cũng như quy trình và các bước công việc cần phải triển khai để thực hành nghiên cứu. Điều này đã đặt ra cho tác giả một yêu cầu cấp thiết đó là phải thực hiện một chuyên đề nhằm xây dựng khung lý thuyết trong đó làm rõ mối quan hệ giữa cảm nhận về bổn phận với mức độ hoàn thành công việc của người lao động trong tổ chức. Nội dung của nghiên cứu này là trên cơ sở các lý thuyết về tâm lý học hành vi đã được công bố kết hợp với các nghiên cứu trước đó, tác giả tiến hành phân tích, đánh giá và tổng hợp để làm rõ các khái niệm và nội hàm liên quan đến cảm nhận về bổn phận, về mức độ hoàn thành công việc của nhân viên trong tổ chức có gắn với điểu kiện đặc thù của Việt Nam. Trên cơ sở các lý thuyết và thực tiễn các nghiên cứu đã được công bố, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp để hình thành khung nghiên cứu trong đó chỉ rõ các nội dung phải thực hiện, tiến trình thực hiện cũng như mối quan hệ giữa các nội dung nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu mà đề tài luận án đã đặt ra. Chuyên đề này cũng hướng vào việc xác định các thành phần cấu thành và thang đo để đo lường mức độ cảm nhận về bổn phận cũng như thang đo để đo lường mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người lao động trong tổ chức từ đó hình thành nên các giả thuyết và mô hình nghiên cứu để nghiên cứu mối quan hệ giữa cảm nhận về bổn phận với tổ chức và mức độ hoàn thành công việc của người lao động ở Việt Nam.
Về mặt nội dung, chuyên đề này sẽ bao gồm các nội dung liên quan đến các lý thuyết và các nghiên cứu đã công bố về liên quan đến bổn phận và cảm nhận về bổn phận của người lao động; các yếu tố tác động đến cảm nhận bổn phận của người lao động; mức độ hoàn thành công việc của người lao động và mối quan hệ giữa chúng.
Phần thứ hai trong chuyên đề này sẽ là sự tổng hợp về các yếu tố cấu thành và thang đo nhân tố để đo lường sự cảm nhận về bổn phận và mức độ hoàn thành công việc của người lao động trong tổ chức.
Phần thứ ba của chuyên đề đó là hình thành các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình lý thuyết làm cơ sở cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cảm nhận về bổn phận với tổ chức và mức độ hoàn thành công việc của người lao động ở Việt Nam.
Hệ thống hóa cơ sở lý luận để nghiên cứu mối quan hệ giữa cảm nhận về bổn phận và mức độ hoàn thành công việc nhằm ứng dụng vào nghiên cứu mối quan hệ giữa cảm nhận về bổn phận và mức độ hoàn thành công việc của người lao động ở Việt Nam.
Để thực hiện được mục tiêu tổng quát ở trên, mục tiêu cụ thể của chuyên đề này được xác định như sau:
- Làm rõ các khái niệm, nội hàm của cảm nhận về bổn phận của người lao động với tổ chức và mức độ hoàn thành công việc;
- Tổng hợp các lý thuyết làm cơ sở cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cảm nhận về bổn phận của người lao động với tổ chức và mức độ hoàn thành công việc;
- Xây dựng các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cảm nhận về bổn phận của người lao động với kết quả thực hiện công việc của người lao động trong tổ chức;
(vi) Dự kiến thang đo và đề xuất quy trình nghiên cứu nhằm xác định mối quan hệ giữa sự cảm nhận về bổn phận của người lao động với kết quả thực hiện công việc của người lao động trong tổ chức ở Việt Nam.
- Lý thuyết nào là phù hợp đề nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cảm nhận về bổn phận của người lao động với tổ chức và mức độ hoàn thành công việc?
- Mô hình nào để nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cảm nhận về bổn phận của người lao động với tổ chức và mức độ hoàn thành công việc ở Việt Nam?
- Thang đo và quy trình nào được áp dụng để nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cảm nhận về bổn phận của người lao động với tổ chức và mức độ hoàn thành công việc ở Việt Nam?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề 1 là các lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa cảm nhận về bổn phận của người lao động với tổ chức và mức độ hoàn thành công việc của người lao động trong các doanh nghiệp.
Chuyên đề 1 được thực hiện trong phạm vi nội dung, thời gian và không gian như sau:
– Về nội dung: Chuyên đề 1 tập trung nghiên cứu các lý thuyết, các nghiên cứu đã công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án;
– Về không gian: các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án.
– Về thời gian: Các công trình nghiên cứu được công bố từ trước đến năm 2022.
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, Chuyên đề 1 đã khảo cứu tư liệu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về bổn phận, các nhân tố tác động đến cảm nhận về bổn phận, và cảm nhận về bổn phận của người lao động tác động đến mức độ hoàn thành công việc; các lý thuyết nền, … tham khảo các bài báo khoa học quốc tế được công bố trên các tạp chí có uy tín để đề xuất mô hình nghiên cứu.
Chuyên đề 1, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kết cấu của Chuyên đề 1 được tổ chức thành bốn (04) mục như sau:
1. Các khái niệm liên quan đến bổn phận và cảm nhận về bổn phận của người lao động, mức độ hoàn thành công việc của người lao động
2. Các lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa cảm nhận về bổn phận với mức độ hoàn thành công việc của người lao động
3. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa cảm nhận về bổn phận và mức độ hoàn thành công việc của người lao động

1.1. Tình hình phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam
1.1.1. Doanh nghiệp đang hoạt động
1.1. Quy mô và tốc độ tăng của doanh nghiệp đang hoạt động tại thời điểm 31/12/2022
Theo số liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến thời điểm 31/12/2022, cả nước có 895.876 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 4,5% so với cùng thời điểm năm 2021.
Theo địa phương, có 44/63 địa phương có tốc độ tăng doanh nghiệp đang hoạt động thời điểm 31/12/2022 so với thời điểm 31/12/2021 cao hơn bình quân cả nước (4,5%), trong đó một số địa phương có tốc độ tăng cao là Lai Châu tăng 11,2%; Bắc Giang tăng 11%; Tuyên Quang tăng 10,4%; Thanh Hóa tăng 10%; Bình Định tăng 9,7%; Vĩnh Phúc và Tiền Giang tăng 9,3%… Có 18/63 địa phương có tốc độ tăng doanh nghiệp đang hoạt động thời điểm 31/12/2022 so với thời điểm 31/12/2021 thấp hơn bình quân cả nước. Có duy nhất tỉnh Bạc Liêu có số doanh nghiệp đang hoạt động tại thời điểm 31/12/2022 giảm so với cùng thời điểm năm 2021, giảm 0,5%.
Biểu đồ 01: Doanh nghiệp đang hoạt động[1]

Các địa phương có số doanh nghiệp đang hoạt động năm 2022 cao, gồm: Thành phố Hồ Chí Minh có 274.067 doanh nghiệp, chiếm 30,6% số doanh nghiệp đang hoạt động của cả nước, tăng 2,1% so với năm 2021 và có số lượng doanh nghiệp tăng trong năm 2022 nhiều thứ hai cả nước, tăng 5.602 doanh nghiệp; Hà Nội có 187.007 doanh nghiệp, chiếm 20,9%, tăng 4,8% và có số lượng doanh nghiệp tăng đứng đầu cả nước, tăng 8.514 doanh nghiệp; Bình Dương có 40.736 doanh nghiệp, chiếm 4,5%, tăng 8,1%; Đồng Nai có 25.847 doanh nghiệp, chiếm 2,9%, tăng 3,2%; Đà Nẵng có 25.419 doanh nghiệp, chiếm 2,8%, tăng 2,9%; Hải Phòng có 20.730 doanh nghiệp, chiếm 2,3%, tăng 4,7% so với năm 2021.
1.2. Mật độ doanh nghiệp đang hoạt động bình quân trên 1000 dân
Năm 2022, bình quân cả nước có 9 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 dân. Có 7/63 địa phương có mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 dân cao hơn bình quân cả nước gồm: Thành phố Hồ Chí Minh có 29,2 doanh nghiệp; Hà Nội có 22,2 doanh nghiệp; Đà Nẵng có 20,8 doanh nghiệp; Bình Dương có 14,7 doanh nghiệp; Bà Rịa – Vũng Tàu có 10,1 doanh nghiệp; Bắc Ninh có 10 doanh nghiệp; Hải Phòng có 9,9 doanh nghiệp. Có 56/63 địa phương có mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 dân thấp hơn bình quân cả nước, trong đó những địa phương có mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 dân thấp nhất cả nước gồm: Hà Giang có 1,4 doanh nghiệp; Sơn La có 1,6 doanh nghiệp; Điện Biên có 1,7 doanh nghiệp; Tuyên Quang và Bắc Kạn cùng có 2,2 doanh nghiệp; Cao Bằng có 2,3 doanh nghiệp; Bạc Liêu, Yên Bái và Sóc Trăng cùng có 2,4 doanh nghiệp.
Biểu đồ 02: Mật độ doanh nghiệp đang hoạt động bình quân trên 1000 dân
Doanh nghiệp/1000 người

So với năm 2021, những địa phương có tốc độ tăng mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 dân cao nhất là Lai Châu 10,3%; Bắc Giang 10,1%; Bình Định 10%; Tuyên Quang và Thanh Hóa cùng tăng 9,8%; Tiền Giang 8,9%; Vĩnh Phúc 8,8%; Phú Thọ 8,6%; Ninh Bình 8,4%; Hòa Bình 8,3%; Thái Bình 8%. Có 02 địa phương giảm mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 dân: Bạc Liêu giảm 0,9%; TP. Hồ Chí Minh giảm 0,3%.
So với bình quân giai đoạn 2017-2020, những địa phương có tốc độ tăng mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 dân cao nhất: Ninh Thuận 28,9%; Trà Vinh 28,6%; Bình Phước 27,1%; Hâu Giang 26%; Sóc Trăng 25,8%; Tuyên Quang 25%; Thanh Hóa 24,9%; Bắc Giang 24,2%… Có 2 địa phương giảm mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 dân: Hải Phòng giảm 3,9%; Điện Biên giảm 0,7%.
1.3. Mật độ doanh nghiệp đang hoạt động bình quân trên 1000 lao động
Năm 2022, bình quân cả nước có 18,6 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 lao động[2]. Có 7/63 địa phương có mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 lao động cao hơn bình quân cả nước gồm: Thành phố Hồ Chí Minh có 61,8 doanh nghiệp; Hà Nội có 48,5 doanh nghiệp; Đà Nẵng có 42,1 doanh nghiệp; Bình Dương có 22 doanh nghiệp; Hải Phòng có 20,5 doanh nghiệp; Bà Rịa – Vũng Tàu có 20,2 doanh nghiệp; Bắc Ninh có 19,2 doanh nghiệp. Khánh Hòa có mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 lao động bằng mức bình quân chung cả nước là 18,6 doanh nghiệp. Có 55/63 địa phương có mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 lao động thấp hơn bình quân cả nước, trong đó những địa phương có mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 lao động thấp nhất gồm: Sơn La và Điện Biên có 3,5 doanh nghiệp; Hà Giang có 3,6 doanh nghiệp; Đồng Tháp có 4,3 doanh nghiệp; Tuyên Quang có 4,6 doanh nghiệp; Bắc Kạn có 4,8 doanh nghiệp.
Biểu đồ 03: Mật độ doanh nghiệp đang hoạt động bình quân trên 1000 lao động
Doanh nghiệp/1000 lao động

So với năm 2021, có 6/63 địa phương tăng mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 lao động, bao gồm: Hà Nam tăng 5,5%; Hải Dương và Quảng Nam cùng tăng 0,7%; Bạc Liêu và Bà Rịa-Vũng Tàu cùng tăng 0,3%; Yên Bái tăng 0,2%. Có 57/63 địa phương giảm mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 lao động, trong đó giảm nhiều nhất là các địa phương: Lai Châu giảm 46,2%; Cao Bằng giảm 26,9%; Sơn La giảm 15,5%; Bắc Kạn giảm 15,2%; Đồng Tháp giảm 14,7%; Điện Biên giảm 10,3%; Hà Giang giảm 9,6%; Thái Nguyên giảm 8,7%; Đà Nẵng giảm 7,3%.
So với bình quân giai đoạn 2017 – 2020, những địa phương có tốc độ tăng mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 lao động cao nhất: Cao Bằng tăng 86,6%; Lạng Sơn tăng 79,6%; Yên Bái tăng 62,8%; Hà Giang tăng 53,1%; Tuyên Quang tăng 51,8%; Bắc Kạn tăng 48,4%; Hà Tĩnh tăng 42,3%; Hà Nam tăng 38,1%; Trà Vinh tăng 37,3%; Thanh Hóa tăng 36,6%. Những địa phương có tốc độ tăng mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 lao động thấp nhất: Bình Dương tăng 5,2%; Đà Nẵng tăng 6,6%; Thừa Thiên – Huế tăng 9,6%; Khánh Hòa tăng 11,4%; Đồng Nai tăng 11,8%; Quảng Ninh tăng 12%; Điện Biên tăng 12,5%. Một địa phương giảm mật độ doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 lao động là Hải Phòng, giảm 2,1%. (Sách trắng doanh nghiệp, 2023).
1.1.2. Doanh nghiệp thành lập mới
Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tại một số địa phương có quy mô doanh nghiệp lớn như sau: Thành phố Hồ Chí Minh có 45.425 doanh nghiệp, chiếm 30,6% tổng số doanh nghiệp thành lập mới cả nước, tăng 40,4%; Hà Nội có 29.720 doanh nghiệp, chiếm 20%, tăng 23,7%; Bình Dương có 6.494 doanh nghiệp, chiếm 4,4%, tăng 22,7%; Đồng Nai có 4.203 doanh nghiệp, chiếm 2,8%, tăng 36,2%; Đà Nẵng có 4.000 doanh nghiệp, chiếm 2,7%, tăng 21,4%; Thanh Hóa có 3.852 doanh nghiệp, chiếm 2,6%, tăng 4,8%.
Năm 2022, cả nước có 148.533 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 27,1% so với năm 2021.
Biểu đồ 04: Doanh nghiệp thành lập mới

Theo khu vực kinh tế: Khu vực dịch vụ có số doanh nghiệp thành lập mới năm 2022 nhiều nhất với 110.285 doanh nghiệp, tăng 31,9% so với năm 2021. Trong đó, một số ngành có tốc độ tăng số doanh nghiệp thành lập mới rất cao: ngành Hoạt động dịch vụ khác tăng 73,8%; ngành Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 66,3%; ngành Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội và ngành Nghệ thuật, vui chơi và giải trí cùng tăng 65,5%. Khu vực công nghiệp và xây dựng có 36.289 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 16,1%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có 1.959 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 2%.
Theo địa phương, có 58/63 địa phương có số doanh nghiệp thành lập mới năm 2022 tăng so với năm 2021; trong đó tăng cao nhất là: Khánh Hòa tăng 62,6%, Tiền Giang tăng 62,3%, Hậu Giang tăng 60,6%, Đồng Tháp tăng 53,1%, Lai Châu tăng 51,6%. Có 5/63 địa phương có số doanh nghiệp thành lập mới năm 2022 giảm so với năm 2021; trong đó giảm nhiều nhất là Điện Biên, giảm 12,4%, Yên Bái và Lạng Sơn cùng giảm 6,1%, Sơn La giảm 3,4%, Bạc Liêu giảm 2,1%.
1.1.3. Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động
Năm 2022 cả nước có 59.835 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 38,8% so với năm 2021.
Biểu đồ 05: Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Theo khu vực kinh tế: Khu vực dịch vụ có 43.374 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 39% so với năm 2021; trong đó, một số ngành có tốc độ tăng số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động rất cao là ngành Hoạt động dịch vụ khác tăng gấp 4,2 lần; ngành Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 82,2%; ngành Giáo dục và đào tạo tăng 78,5%. Có 15.650 doanh nghiệp công nghiệp và xây dựng, 811 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thủy sản quay trở lại hoạt động, tăng lần lượt là 37,5% và 51,3%.
Theo địa phương: 60/63 địa phương có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm 2022 tăng so với năm 2021: Trà Vinh tăng 95,5%; Tây Ninh tăng 94,6%; Phú Yên tăng 91,2%; Khánh Hòa tăng 82,9; Gia Lai tăng 80,9%; Ninh Thuận tăng 80%… 3/63 địa phương có số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động năm 2022 giảm so với 2021 gồm: Điện Biên giảm 78,3%; Tiền Giang giảm 18,1%; Bắc Giang giảm 15,8%…
Một số địa phương có số lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm 2022 lớn: Thành phố Hồ Chí Minh có 19.586 doanh nghiệp, tăng 51,7% so với năm 2021; Hà Nội có 12.112 doanh nghiệp, tăng 18,8%; Đà Nẵng có 2.125 doanh nghiệp, tăng 61,7%; Bình Dương có 1.873 doanh nghiệp, tăng 49,5%; Hải Phòng có 1.569 doanh nghiệp, tăng 28,1%; Thanh Hóa có 1.568 doanh nghiệp, tăng 23,5%.
1.1.4. Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký
Trong năm 2022, tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký trên phạm vi cả nước là 73.801 doanh nghiệp, tăng 34,3% so với năm 2021.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Bối cảnh nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Mối quan hệ giữa Cảm nhận về bổn phận với Tổ chức và Mức độ hoàn thành công việc của Người lao động ở Việt Nam


