Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt

Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt

MỞ ĐẦU

I. LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của internet, nhu cầu trao đổi thông tin qua mạng đã trở nên ngày càng phổ biến trên mọi lĩnh vực. Trong lĩnh vực Thư viện thì vấn đề trao đổi dữ liệu liên thư viện là rất quan trọng, khi mà lượng dữ liệu nhập vào thư viện rất lớn thì việc trao đổi dữ liệu từ xa sẽ giúp ích rất nhiều cho người quản lý thư viện và thư viện hoạt động có hiệu quả hơn. Một vấn đề đặt ra cho các thư viện trong thời đại thông tin là thư viện phải có khả năng tra cứu các dữ liệu có tại các thư viện khác (hay còn gọi là liên thư viện).

Để các thư viện có thể trao đổi được với nhau thì thông tin của một tài liệu được lưu trữ phải tuân theo một chuẩn nào đó, không nằm ngoài mục đích phát triển đó với mục tiêu xây dựng một giải pháp ứng dụng Công nghệ thông tin cho công tác thư viện. Đề tài của em sẽ đưa ra những giải pháp cụ thể và thiết thực hỗ trợ khâu biên mục sách và tài liệu theo chuẩn MARC 21. Với việc biên mục bằng chuẩn MARC 21 thì khả năng lưu trữ, xử lí thông tin của máy tính, công tác quản lí của thư viện sẽ trở nên dễ dàng và chính xác.

MARC 21 trở thành chuẩn quốc tế và hệ thống thư viện trên cơ sở sử dụng Tiếng anh, sự lợi ích của MARC 21 cho phép máy tính sắp xếp và lựa chọn dữ liệu biên mục có nghĩa là cho phép người sử dụng truy câp truy cập mạnh mẽ hơn các biểu ghi, in ra dữ liệu biên mục với các thư viện khác trên thế giới, đây là một lợi ích to lớn mà chúng ta không thể phủ nhận vai trò của MARC 21 mang lại khi biên mục tập trung.

Áp dụng MARC 21 cho tất cả các thư viện thì chúng ta tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức cho một công việc mà hàng ngàn thư viện trên thế giới lặp đi, lặp lại khi biên mục một tài liệu mà đáng lẻ ra chỉ một nơi làm ra bản ghi đó và tất cả các thư viện lấy về cập nhật vào cơ sở dữ liệu của thư viện mình. Tuy nhiên, việc biên mục MARC 21 vẫn còn điểm thiếu thống nhất giữa các thư viện trong nước và thư viện Quốc hội Mỹ, điều đó được thực hiện rõ nét tại thư viện Đại học Quốc tế Tp. Hồ Chí Minh.

Để giúp người đọc và cán bộ thư viện nhìn rõ những khác biệt cơ bản trong xử lý MARC 21 của Thư viện Đại học Đà Lạt và bản MARC 21 của thư viện Quốc hội Mỹ, từ đó có cách biên mục đúng theo chuẩn quốc tế, chính từ thực tiễn đó em xin nghiên cứu đề tài: “Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt”

Về phương pháp nghiên cứu em đã sử dụng các phương pháp sau:

  • Phương pháp so sánh
  • Phương pháp phân tích,tổng hợp
  • Phương pháp quan sát
  • Phương pháp thống kê

II. NỘI DUNG

CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BIÊN MỤC MÔ TẢ

1. Một số khái niệm

1.1. Khái niệm biên mục

Biên mục là quá trình tập hợp các thông tin về tài liệu như nhan đề, tác giả, nhà xuất bản, năm xuất bản, tóm tắt… nhằm cung cấp một cách đầy đủ nhất các thông tin trên đến độc giả.

1.2. Khái niệm biên mục mô tả

(Descriptive cataloging) còn gọi là mô tả thư mục hay mô tả hình thức tài liệu là ghi lại một cách ngắn gọn các yếu tố mô tả thư mục của một tài liệu lên phích/thẻ hoặc biểu ghi, tuân theo các quy định của bộ quy tắc mô tả (AACR2,ISBD,RDA),giúp bạn đọc khi chưa tiếp xác với tài liệu cũng hình dung được hình thức và nội dung của chúng, nhằm lựa chọn được nhanh chóng,dễ dàng chính xác tài liệu họ cần tìm trong hệ thống mục lục truyền thống và hiện đại ( mục lục phích/thẻ, mục lục trên máy OPAC, OCLC).

Nói cách khác, biên mục mô tả là một bộ phận của quá trình biên mục có liên quan tới việc nhận dạng một tư liệu và ghi lại những thông tin về tư liệu trong một phiếu phích/thẻ mô tả (hoặc biểu ghi) sao cho có thể tìm kiếm tài liệu một cách chính xác và không lầm lẫn với các tư liệu khác.

Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt
Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt

1.3. Khái quát các chuẩn biên mục ISBD,AACR2,RDA

+Quy tắc mô tả thư mục theo tiêu chuẩn quốc tế ISBD (International Standard Bibliographic Description)

Quy tắc mô tả thư mục theo tiêu chuẩn quốc ISBD được Liên đoàn Quốc tế các Hội và cơ quan Thư viện (IFLA – International Federation of Library Association an Instituition) thông qua nghị quyết về biên soạn vào năm 1969 tại Hội nghị chuyên gia biên mục được tổ chức ở Đan Mạch.

ISBD chỉ đề cập tới các yếu tố được sắp xếp dưới tiêu đề mô tả. Với nội dung đó, ISBD sẽ phản ánh đầy đủ mọi thông tin cần thiết về tài liệu kể cả các chi tiết về tác giả giúp việc xác định tài liệu được dễ dàng.

Tiêu đề mô tả trong ISBD không mang tính bắt buộc. Tuy nhiên, để phù hợp với yêu cầu sắp xếp tài liệu trong mục lục chữ cái cũng như đáp ứng yêu cầu tra cứu của bạn đọc, tại thư viện của một số nước, tiêu đề mô tả đã trở thành yếu tố bắt buộc đối với việc mô tả tài liệu. Những thông tin cần thiết để xác định tài liệu được sắp xếp thành 8 vùng mô tả. Trong mỗi vùng có nhiều yếu tố khác nhau, có những yếu tố bắt buộc và những yếu tố không bắt buộc. Điều này thể hiện tính mềm dẻo của ISBD phù hợp với công tác mô tả ở tất cả các loại hình thư viện từ nhỏ đến lớn.

Các vùng mô tả gồm:

1. Vùng nhan đề và các thông tin về trách nhiệm (Nhan đề chính, nhan đề song song, thông tin liên quan đến nhan đề, các thông tin về trách nhiệm)

2. Vùng lần xuất bản và thông tin về trách nhiệm có liên quan đến lần xuất bản.

3. Vùng thông tin đặc thù (cho xuất bản phẩm nhiều kỳ và tư liệu chuyên dụng).

4. Vùng địa chỉ xuất bản (nơi xuất bản, nhà xuất bản, năm xuất bản).

5. Vùng đặc trưng số lượng (khối lượng: số trang, tờ, cột, minh hoạ hoặc khổ sách, tài liệu kèm theo).

6. Vùng tùng thư (Nhan đề chính của tùng thư, nhan đề song song của tùng thư, các thông tin bổ sung cho nhan đề tùng thư, thông tin về trách nhiệm của tùng thư, số tập).

7. Vùng phụ chú.

8. Vùng số tiêu chuẩn quốc tế của tài liệu.

Bao gồm: ISBN: kiểu đóng, giá tiền, ISSN…

* Hệ thống các ký hiệu: Hệ thống các ký hiệu dấu của ISBD để nhận dạng các vùng và các yếu tố nhằm tạo điều kiện để nhận biết chúng trong phiếu mô tả một cách dễ dàng. Mỗi dấu được quy định đặt trước hoặc sau một vùng hoặc một yếu tố. Việc dùng các ký hiệu dấu này không ảnh hưởng tới các dấu chính tả thông thường.

Có hai loại dấu ký hiệu:

– Ký hiệu dùng chung cho các vùng như: dấu chấm gạch ngang (. -); dấu ngoặc đơn, dấu ba chấm…

– Ký hiệu dùng riêng cho từng yếu tố như: dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm phẩy…

Có thể nói rằng áp dụng ISBD để mô tả tài liệu cũng không ảnh hưởng gì đến vấn đề tổ chức kỹ thuật của thư viện, không đảo lộn hệ thống các mục lục đã có sẵn trong thư viện, bởi vì ISBD chỉ quy định lại trật tự sắp xếp các yếu tố và cho mỗi yếu tố một ký hiệu dấu nhất định. Còn tiêu đề mô tả áp dụng trong mục lục vẫn giữ nguyên theo các quy định mô tả cũ. Tiêu chuẩn này nhanh chóng được áp dụng vào các thư viện quốc gia, nơi phải thực hiện mô tả đầy đủ cho các thư mục quốc gia và ngày càng được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước. Ở Việt Nam, chuẩn ISBD đã được áp dụng rộng rãi trong các thư viện từ năm 1985 cho đến nay.

Trải qua một quá trình chỉnh sửa và bổ sung, một loạt quy tắc mô tả theo ISBD chuyên dụng ra đời như:

– ISBD (M – Monographic): Mô tả ấn bản phẩm chuyên khảo.

– ISBD (CM – Cartographic Materials): Mô tả tư liệu bản đồ.

– ISBD (NBM – Non book Materials): Mô tả tư liệu không phải là sách báo.

– ISBD (S – Serial): Mô tả ấn bản phẩm định kỳ.

– ISBD (CF – Computer files): Mô tả tệp tin hay cơ sở dữ liệu.

– ISBD (A- Antiquarrial): Mô tả sách cổ.

– ISBD (PM – Printed music): Mô tả nhạc phẩm in.

– ISBD (G – General): Mô tả chung.

– ISBD (CP – Component Parts): Mô tả trích.

Hiện nay ISBD (CF) đã chuyển thành – ISBD (ER – Electronic Resource) để bao quát thêm nguồn tin điện tử.

+ Quy tắc biên mục Anh Mỹ – AACR2 (Anglo-American Cataloguing Rules)

Năm 1967, người Mỹ và người Anh đã hợp tác biên soạn và xuất bản một bộ quy tắc chung gọi tắt theo tiếng Anh là AACR dành cho các thư viện nghiên cứu lớn. AACR đưa ra các quy tắc mô tả đối với các tư liệu không phải sách báo. Quy tắc này nhấn mạnh các thông tin trên trang nhan đề, chú trọng lập tiêu đề theo các loại tên người hơn là thể loại các tác phẩm, không nhấn mạnh tới việc biên soạn các quy tắc riêng theo từng loại hình tư liệu, phân biệt mô tả chính và mô tả bổ sung, phân biệt hai hình thức trình bày mô tả: theo tác giả và theo nhan đề.

AACR còn đề cập đến hình thức mô tả với tiêu đề tác giả tập thể, là tên gọi cho các cơ quan, tổ chức và những quy định đối với việc đưa tên gọi của các cơ quan cấp trên vào tiêu đề. Song AACR còn nhiều nhược điểm khi có những quy định bổ sung và ngoại lệ mang tính chắp vá.

Năm 1974, đại diện của các hội thư viện và các thư viện quốc gia Anh, Mỹ, Canada đã họp và soạn thảo một bộ quy tắc hoàn toàn mới – AACR2, khắc phục tình trạng chắp vá nói trên, tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng mục lục nhanh chóng tìm được tư liệu và cải thiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực biên mục.

Bộ quy tắc AACR2 gồm 19 chương, chia làm 2 phần:

Phần I: Từ chương 1 đến chương 13 là phần Mô tả thư mục. Phần này quy định cách mô tả các loại hình tài liệu khác nhau và dựa trên quy định của ISBD (Quy tắc mô tả thư mục theo tiêu chuẩn Quốc tế).

Phần II: Từ chương 21 đến chương 26 là phần Tiêu đề, tên sách thống nhất và tham chiếu.

AACR2 đặt nền tảng cho sự hợp tác biên mục trên phạm vi quốc gia và quốc tế, cải tiến các dịch vụ thư mục và tiết kiệm được giá thành. Do cung cấp một hệ thống mô tả chuẩn mực thống nhất cho tất cả các loại hình tư liệu nên quy tắc này đã tạo khả năng thực hiện mục lục tích hợp đa phương tiện. Nhìn chung không có gì khác biệt nhiều giữa AACR2 và ISBD về 8 vùng mô tả và dấu phân cách. Tuy nhiên, AACR2 tạo nhiều điểm truy cập và quy định khá chi tiết trong lập tiêu đề cũng như trong một số yếu tố mô tả. Bên cạnh đó, đây là bộ quy tắc chuẩn quốc tế đã được đa số các thư viện trên thế giới dùng. Do vậy, một thư viện khi muốn hội nhập với cộng đồng thư viện thế giới thì nên sử dụng bộ quy tắc biên mục AACR2.

+Quy tắc biên mục RDA ( resource Description Access )

RDA là bộ quy tắc biên mục mới được soạn thảo để thay thế cho bộ quy tắc biên mục Anh-Mỹ (AACR2) nhằm giúp cho việc mô tả và truy cập các nguồn lực thông tin, đăc biệt là tài nguyên điện tử và trên web. RDA được đánh giá là bộ quy tắc biên mục cho thế kỉ XXI

Đặc điểm của RDA:

  • Một tiêu chuẩn mới cho việc mô tả và truy cập tài nguyên
  • Được thiết kế cho môi trường số
  • Sản phẩm dựa trên web (cũng có bản in)
  • Mô tả và truy cập tất cả tài nguyên số
  • Tạo ra những biểu ghi có thể sử dụng trong môi trường số (internet,web OPAC,vv…)
  • Tiêu chuẩn có nội dung đa quốc gia cung ứng việc truy cập và mô tả thư mục.
  • Dành cho tất cả mọi phương tiện
  • Độc lập với khổ mẫu (vd: MARC21) được dùng để chuyển tải thông tin

Bộ quy tắc biên mục RDA đang trong giai đoạn áp dụng thử nghiệm.

1.4 Các khổ mẫu dữ liệu MARC21 và dublincore.

MARC21 ( Machine Readable Cataloguing-Twenty first century – Biên mục đọc bằng máy – thế kỷ 21) là khổ mẫu sử dụng để lưu trữ, vận hành dữ liệu thư mục.

Dublincore là khổ mẫu để lưu trữ, vận hành dữ liệu toàn văn.

2. Mục tiêu kiểm soát thư mục quốc gia, kiểm soát thư mục toàn cầu

Tài liệu sắp xếp trong thư viện phải được dễ dàng tìm thấy bất cứ lúc nào để cung cấp thông tin khi độc giả cần.Những phương pháp tối ưu mà cán bộ thư viện cần phải thực hiện để đáp ứng yêu cầu trên bao gồm:

– Xếp tài liệu trên giá theo môn loại.

– Ấn định mỗi tài liệu một hay nhiều tiêu đề đề mục để phản ánh nội dung và đưa vào hệ thống mục lục thư viện.

– Liệt kê tài liệu trong một thư mục theo yêu cầu độc giả.

– Cung cấp thông tin về tài liệu trong những cơ sở dữ liệu ngoài thư viện.

– Phân tích nội dung và ấn hành chi tiết từng phần của tài liệu in và điện tử,thường là bài tập chí.

Việc ghi chép những dữ liệu cần thiết nhằm giúp cho độc giả tìm thấy thông tin khi cần chính là kiểm soát thư mục.

3. Nhiệm vụ xây dựng hệ thống mục lục và bộ máy tra cứu

Ngày nay mục lục thư viện coi là một công cụ để phản ánh toàn bộ nội dung vốn tài liệu của thư viện,nó như người chỉ đường,như chiếc chìa khóa để giúp bạn đọc mở các kho thư viện.Người ta còn gọi hệ thống mục lục chính là môi giới trung gian giữa người đọc và kho sách hay còn gọi là chiếc cầu nối để người đọc nắm vững nội dung thành phần kho sách.

Hệ thống mục lục thư viện là công cụ hợp lý hóa công tác bạn đọc,quy trình cho mượn sách.

Hệ thống mục lục trả lời cho bạn đọc các câu hỏi về tên sách, tác giả, nội dung.

Hệ thống mục lục giúp ta nắm được thành phần cơ cấu như:

  • Hệ thống mục lục giúp cho công tác biên soạn thư mục.
  • Thông qua hệ thống mục lục người cán bộ thư viện hướng dẫn việc đọc cho người đọc.
  • Hệ thống mục lục giúp cho chỉnh lý kho sách (bổ sung kho sách theo tỉ lệ thích hợp).

4. Biên mục đọc máy MARC21, Dublincore.

4.1. Biên mục đọc máy MARC21.

4.1.1 Khái quát về biên mục đọc máy MARC21.

Lịch sử ra đời MARC21.

Khổ mẫu MARC21 được chính thức ra đời năm 1997, là bước phát triển tiếp theo khổ mẫu MARC của Thư viện Quốc Hội Mỹ. Năm 1964, bản ghi chi tiết của khổ mẫu cho một biểu ghi thư mục được đưa ra, đó chính là MARC I. Đầu năm 1968, MARC I được hoàn thiện gọi là MARC II (hay còn gọi là LC MARC). MARC II sử dụng các trường tương ứng theo quy tắc biên mục Anh – Mỹ (AACR2). Ngay sau khi ra đời, khổ mẫu này thu hút được sự quan tâm chú ý của các tổ chức cũng như thư viện của các quốc gia trên thế giới.

Khổ mẫu MARC trở thành một tiêu chuẩn quốc tế dưới sự bảo trợ của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO. MARC II không ngừng được hoàn thiện, lúc đầu nó là khổ mẫu biên mục dành cho dữ fliệu thư mục, cung cấp những thông tin về bản thân tài liệu, những thông tin mô tả tài liệu, những thông tin cần thiết nhất của tài liệu, được thể hiện qua công tác biên mục, xử lý trực tiếp tài liệu.

Cuối những năm 1970, khổ mẫu MARC cho tác giả ra đời, đó là bước phát triển và cải tiến mới của MARC, cung cấp các thông tin liên quan về các điểm truy cập tự động chủ đề và tên tác giả sau khi các biểu ghi chính đã được thiết lập. Đầu những năm 80. MARC II tiếp tục được mở rộng với sự ra đời của 3 loại khổ mẫu. Các khổ mẫu này có khả năng tích hợp với nhau và tích hợp trực tiếp với khổ mẫu MARC thư mục. Do đó Thư viện Quốc hội Mỹ đã tích hợp các khổ mẫu MARC để sử dụng chung cho tất cả các tài liệu khác nhau. Đến năm 1993, khổ mẫu MARC tích hợp được đưa ra ứng dụng.

Đầu những năm 90, Thư viện Quốc hội Mỹ và Thư viện Quốc gia Canada đã nghiên cứu để xây dựng một khổ mẫu mới lấy tên là MARC 21. Năm 1997, MARC 21 ra đời trên cơ sở kết hợp hai khổ mẫu USMARC và CANMARC. MARC 21 là sự hoàn thiện của MARC II, do vậy nó kế thừa và phát huy cấu trúc của MARC II.

MARC 21 bao gồm 5 thành phần hoàn chỉnh hỗ trợ và bổ sung lẫn nhau để hoàn chỉnh việc biên mục và kiểm soát dữ liệu thư mục. Khổ mẫu này còn mang nhiều yếu tố đặc trưng quốc gia (Mỹ). 5 thành phần đó là:

– MARC 21 Format for Authory Data: Khổ mẫu MARC 21 cho dữ liệu tác giả.

– MARC 21 Format for Bibliographic Data: Khổ mẫu MARC 21 cho dữ liệu thư mục.

– MARC 21 Format for Classification for Data: Khổ mẫu MARC 21 cho dữ liệu phân loại.

– MARC 21 Format for Communty Informstion: Khổ mẫu MARC 21 cho thông tin cộng đồng.

– MARC 21 Format for Holdings Data: Khổ mẫu MARC 21 cho dữ liệu về vốn tư liệu.

MARC 21 không ngừng mở rộng phạm vi ứng dụng và liên kết. Trong đó, khổ mẫu thư mục MARC 21 giữ vai trò chủ đạo, với một cấu trúc hoàn thiện, có những ưu điểm và đặc điểm nổi bật, vì vậy nó thu hút được sự quan tâm của ngành thư viện thế giới nói chung và các thư viện Việt Nam nói riêng. Khổ mẫu MARC là công cụ không thể thiếu của quá trình biên mục tự động, cho phép các thư viện chuẩn hoá các dữ liệu biên mục, tích hợp trao dổi dữ liệu, mở rộng các phương thức tiếp cận và tra tìm tài liệu thuận tiện.

Lịch sử ra đời MARC21 tại Việt Nam.

Từ ngày 7/5/2007 với chủ trương chuẩn hóa, hội nhập và phát triển ngành thư viện Việt Nam bộ văn hóa đã ban hành văn bản 1598/BVHTT – TV quyết định chính thức việc áp dụng chuẩn biên mục MARC21, AACR2 và DDC trong các hệ thống thư viện công cộng, hệ thống thư viện chuyên ngành đa ngành ở Việt Nam.

Định Nghĩa Marc 21:

MARC 21 (Machine Readable Cataloging: biên mục đọc được bằng máy) là tiêu chuẩn định dạng cho phép máy tính trình bày, lưu trữ, truy xuất và trao đổi thông tin thư mục, kể cả những thông tin liên quan dưới dạnh máy tính có thể đọc.

Được cán bộ biên mục sử dụng làm khổ mẫu làm việc: Nhập, xóa, cập nhật, trao đổi dữ liệu, in phích mục lục, biên soạn thư mục…theo “ tài liệu hướng dẫn… MARC 21 VIỆT NAM/TTTTKH&CNQG” (2002).

Vai trò của MARC21:

Là khổ mẫu nổi tiếng và được cộng đồng thông tin thư viện sử dụng rộng rãi trên thế giới. Đến nay đã có một khối lượng khổng lồ các biểu ghi theo MARC 21 hiện đang được lưu trữ trong các mục lục liên hợp của Hoa Kỳ (800 triệu biểu ghi), của Thư viện Quốc hội Mỹ ( 20 triệu biểu ghi ). MARC đang trở thành tiêu chuẩn quốc tế vì hầu hết các hệ quản trị thư viện lớn và nhỏ trên thị trường hiện nay đều sử dụng khổ mẫu MARC 21 như một sự lựa chọn tối ưu nhất.

Việc sử dụng khổ mẫu MARC 21 chuẩn sẽ đưa lại những lợi ích cho thư viện Việt Nam như sau:

– Hỗ trợ cho việc phát triển mục lục liên hợp và là nền tảng cho việc chia sẻ nguồn tư liệu.

– Cho phép việc trao đổi, chia sẻ dữ liệu, thư tịch, giảm công sức cũng như chi phí nhờ việc sao chép thư tịch đã được các thư viện khắp nơi trên thế giới và trong nước biên mục sẵn.

– Dễ dàng hòa nhập dữ liệu biên mục từ một hệ thống quản lý thư viện này sang một hệ thống quản lý thư viện khác.

– Sử dụng các phần mềm tích hợp để tự động hóa thư viện.

– Đảm bảo được dữ liệu vẫn tương thích khi chuyển từ phần mềm quản lý này sang phần mềm quản lý thư viện khác.

Mục tiêu của MARC21.

– Khắc phục những rào cản về mặt ngôn ngữ, thông qua hệ thống dấu hiệu triển khai trong bộ quy tắc mô tả (AACR2, ISBD…).

– Giúp tạo lập các công cụ: mục lục, thư mục, ấn phẩm tóm tắt, cơ sở dữ liệu.

– Giúp bạn đọc và người dùng tin có khái niệm nhất định về tư liệu khi chưa tiếp xúc với nó và nhanh chóng tìm ra tư liệu trong các hệ thống tìm tin truyền thống (mục luc, thư mục,…) và mục lục tin học hóa (OPAC, OCLC,CSDL,CD-ROM,…)

– Tiến hành trao đổi thông tin thư mục giữa các thư viện và đơn vị thông tin với nhau, nhằm kiểm soát thư mục toàn cầu.

– Áp dụng cơ khí hóa, tự động hóa trong công tác thư viện – thông tin.

Các mục tiêu này chỉ được thực hiện một cách chính xác, hoàn hảo dưới tác động của công nghệ thông tin đó chính là khổ mẫu MARC21.

Phạm vi áp dụng và các loại biểu ghi xử lý của khổ mẫu thư mục MARC21:

Khổ mẫu MARC 21 cho dữ liệu thư mục được thiết kế để làm một công cụ chứa thông tin thư mục về các tài liệu văn bản được in và bản thảo, tệp tin, bản đồ, bản nhạc, xuất bản phẩm nhiều kỳ, tài liệu nghe nhìn và các tài liệu hỗn hợp. Dữ liệu thư mục thông thường bao gồm nhan đề, chủ đề, chú giải, dữ liệu về xuất bản, thông tin mô tả vật lý của đối tượng. Khổ mẫu thư mục chứa các yếu tố dữ liệu cho các loại hình tài liệu sau:

Sách (BK) – sử dụng cho các tài liệu văn bản được in, bản thảo và các tài liệu vi hình có bản chất chuyên khảo.

Xuất bản phẩm nhiều kỳ (SE) – sử dụng cho tài liệu văn bản được in, bản thảo và các tài liệu vi hình mà nó được sử dụng ở dạng từng phần với phương thức xuất bản lặp lại (như ấn phẩm định kỳ, báo, niên giám,…).

Tệp tin (CF) – sử dụng cho phần mềm máy tính, dữ liệu số, các tài liệu đa phương tiện định hướng sử dụng bằng máy tính, hệ thống hoặc dịch vụ trực tuyến. Các loại nguồn tin điện tử khác được mã hoá theo khía cạnh quan trọng nhất của chúng. Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hoặc xuất bản nhiều kỳ.

Bản đồ (MP) – sử dụng cho tài liệu bản đồ được in, bản thảo và vi hình, bao gồm tập bản đồ, bản đồ riêng lẻ và bản đồ hình cầu. Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hoặc xuất bản nhiều kỳ.

Âm nhạc (MU) – sử dụng cho bản nhạc được in, bản thảo và vi hình cũng như nhạc ghi âm và những tài liệu ghi âm không phải nhạc khác. Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hoặc xuất bản nhiều kỳ.

Tài liệu nhìn (VM) – sử dụng cho những loại tài liệu chiếu hình, không chiếu hình, đồ hoạ hai chiều, vật phẩm nhân tạo hoặc các đối tượng gặp trong tự nhiên ba chiều, các bộ tài liệu. Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hoặc xuất bản nhiều kỳ.

Tài liệu hỗn hợp (MX) – sử dụng chủ yếu cho những sưu tập lưu trữ và bản thảo của hỗn hợp các dạng tài liệu. Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hoặc xuất bản nhiều kỳ. (Ghi chú: trước năm 1994, tài liệu hỗn hợp (MX) được tham chiếu như là tài liệu lưu trữ và bản thảo (AM).

Các loại biểu ghi xử lý:

– Tài liệu chuyên khảo.

– Bản thảo tài liệu chuyên khảo.

– Tệp tin.

– Tài liệu bản đồ.

– Bản thảo tài liệu bản đồ.

– Bản nhạc có chú giải.

– Bản thảo bản nhạc.

– Ghi âm không phải âm nhạc.

– Ghi âm âm nhạc.

– Tài liệu chiếu hình.

– Đồ hoạ không chiếu hai chiều.

– Vật phẩm nhân tạo ba chiều và đối tượng tự nhiên.

– Bộ tài liệu.

– Tài liệu hỗn hợp.

– Tài liệu vi hình, bất kể là dạng bản gốc hoặc sao, không được xác định là một loại biểu ghi đặc thù. Khía cạnh vi hình chỉ có tính chất thứ cấp đối với loại tài liệu của đối tượng gốc (thí dụ dạng sách,..) từ đó tạo ra tài liệu vi hình. Điều này cũng áp dụng tương tự với một số loại tệp tin mà ở đó khía cạnh tệp tin chỉ là thứ cấp; tuy nhiên, một số dạng nguồn tin điện tử sẽ được gán mã đúng ở dạng tệp tin.

4.1.2. Nội dung của quy tắc biên mục MARC21

Cấu trúc MARC21

Một biểu ghi MARC 21 gồm 3 phần chính: Đầu biểu, danh mục, các trường độ dài biến động, cụ thể như sau:

  • Đầu biểu (Leader):

Đầu biểu của một biểu ghi MARC 21 gồm các phần tử cho phép chương trình xử lý các phần còn lại của biểu ghi (Thư mục, các trường…). Đầu biểu là một chuỗi liên tục gồm 24 ký tự được quy định những chức năng riêng biệt, để từ đó máy tính nhận dạng và xử lý biểu ghi. Chuỗi ký tự này đứng đầu tiên trong dãy ký tự mã hoá biểu ghi của máy tính, tiếp đó là thư mục, cuối cùng là dữ liệu thư mục.

  • Danh mục (Directory):

Danh mục của một biểu ghi thư mục MARC 21 là một chuỗi các mục có độ dài nhất định theo ngay sau đầu biểu để xác định nội dung của biểu ghi. Danh mục được tạo ra bởi máy tính, căn cứ vào biểu ghi thư mục, cho thấy trong biểu ghi thư mục bao gồm các nhãn trường nào, vị trí bắt đầu của trường, độ dài của trường. Danh mục chỉ được sử dụng bởi người lập trình máy tính, nội dung của danh mục được mã hoá bằng chữ số

  • Nhóm các trường (Fields) có độ dài biến động:

Dữ liệu trong biểu ghi thư mục MARC được tổ chức thành trường có độ dài biến động, mỗi trường được xác định bằng một nhãn trường ba ký tự, được lưu trong mục trường tương ứng của trường tại vùng Danh mục. Mỗi trường kết thúc bằng một ký tự kết thúc trường. Trường có độ dài biến động cuối cùng trong biểu ghi kết thúc bằng một ký tự kết thúc trường và một ký tự kết thúc biểu ghi (mã ASCII 1D hex).

Trường kiểm soát có độ dài cố định:

Trường nhóm 00X. Những trường này được xác định bằng một nhãn trường trong Danh mục nhưng chúng đồng thời không có cả vị trí chỉ thị lẫn mã trường con. Những trường kiểm soát có độ dài cố định có cấu trúc khác với các trường dữ liệu có độ dài biến động. Chúng có thể chứa hoặc một yếu tố dữ liệu đơn trị hoặc một loạt những yếu tố dữ liệu có độ dài cố định được quy định bằng vị trí ký tự tương ứng

Trường dữ liệu có độ dài biến động:

Những trường còn lại được xác định trong khổ mẫu. Cùng với việc được xác định bằng một nhãn trường trong Danh mục, trường dữ liệu có độ dài biến động chứa hai vị trí chỉ thị ở đầu của mỗi trường và mã trường con dài hai ký tự trước mỗi trường dữ liệu bên trong trường.

Trường dữ liệu có độ dài biến động được sắp xếp thành khối trường theo ký tự đầu tiên của nhãn trường. Ký tự này, ngoại trừ một vài ngoại lệ, xác định chức năng của dữ liệu bên trong biểu ghi. Kiểu thông tin trong trường được xác định bằng những phần còn lại của nhãn trường.

0XXThông tin kiểm soát, định danh, chỉ số phân loại,v.v.
1XXTiêu đề chính
2XXNhan đề và thông tin liên quan đến nhan đề (nhan đề, lần xuất bản, thông tin về in ấn)
3XXMô tả vật lý, v.v.
4XXThông báo về tùng thư
5XXChú giải
6XXCác trường về truy cập chủ đề
7XXTiêu đề bổ sung, không phải chủ đề hoặc tùng thư; trường liên kết
8XXTiêu đề tùng thư bổ sung, sưu tập, v.v.
9XXDành cho ứng dụng nội bộ.

Bên trong các khối trường 1XX, 4XX, 6XX, 7XX và 8XX, có dự phòng một số cặp định danh nội dung. Những nội dung sau, ngoại trừ một vài ngoại lệ, được dành cho hai ký tự cuối của nhãn trường.

X00 Tên cá nhân

X10 Tên tổ chức

X11 Tên hội nghị

X30 Nhan đề đồng nhất

X40 Nhan đề tùng thư

X50 Thuật ngữ chủ đề

X51 Tên địa lý

Vị trí chỉ thị:

Hai vị trí ký tự đầu tiên trong trường dữ liệu có độ dài biến động chứa thông tin để diễn giải hoặc bổ sung cho dữ liệu bên trong trường. Giá trị của chỉ thị được diễn giải một cách độc lập, nghĩa là ý nghĩa của của từng giá trị của hai chỉ thị sẽ không liên quan với nhau. Giá trị của chỉ thị có thể được nhập ở dạng chữ cái hoặc số. Một khoảng trống (mã ASCII SPACE), thể hiện trong tài liệu này bằng dấu thăng (#), được sử dụng cho vị trí chỉ thị không xác định. Trong vị trí chỉ thị nhất định, một khoảng trống có thể thông báo ý nghĩa hoặc có nghĩa là “không có thông tin”.

Mã trường con:

Hai ký tự để phân biệt những yếu tố dữ liệu bên trong một trường khi chúng đòi hỏi được xử lý riêng biệt. Một mã trường con gồm một ký tự phân cách trường (mã ASCII 1F hex), được ký hiệu trong tài liệu này bằng ký tự $, tiếp sau là một định danh phần tử dữ liệu. Định danh phần tử dữ liệu có thể là một ký tự chữ cái dạng chữ thường hoặc một ký tự dạng số. Mã trường con được xác định độc lập cho từng trường, tuy nhiên những ý nghĩa tương tự sẽ được duy trì bất kỳ lúc nào có thể (thí dụ trong các trường 100, 400 và 600 Tên cá nhân). Mã trường con được quy định với mục đích để xác định, mà không phải để sắp xếp. Thứ tự trường con thường được xác định bằng tiêu chuẩn cho nội dung dữ liệu, thí dụ quy tắc biên mục.

Dữ liệu của các trường:

Dữ liệu của các trường không thuộc quy định của khổ mẫu mà tuân thủ các chuẩn mô tả bên ngoài khổ mẫu (thí dụ chuẩn mô tả ISBD hay AACR2 hoặc RDA). Ðây là dữ liệu thực tế của của biểu ghi để trao đổi theo khổ mẫu MARC 21 Việt Nam rút gọn.

Mã kết thúc trường:

Mã kết thúc trường là ký tự cuối cùng của trường thông báo trường đã kết thúc.Thí dụ mã kết thúc trường có thể là ^ $.

Mã kết thúc biểu ghi:

Khi hết một biểu ghi theo khổ mẫu MARC 21 Việt Nam rút gọn có một mã thông báo kết thúc biểu ghi. Mã này phải không trùng với dữ liệu thực tế của biểu ghi.Thí dụ mã kết thúc biểu ghi có thể là dấu gạch chéo ngược (\)

4.2 Biên mục đọc máy Dublincore:

4.2.1. Khái niệm:

Chuẩn Dublin Core viết tắt là DC, là cách gọi ngắn gọn của Dublin Core Metadata (Dublin là tên của thành phố ở Bang Ohio, Hoa Kỳ, nơi cuộc họp đầu tiên được tổ chức vào năm 1995) là chuẩn dùng để mô tả dữ liệu trong các Metadata nhằm khai thác các tài nguyên thông tin điện tử và các thông tin về các tài nguyên ở những dạng khác với cách thức như sử dụng mục lục thư viện.

Chuẩn Dublin Core bao gồm 15 thành tố được thiết lập từ các cuộc hội thảo mang tầm cỡ quốc tế và mang ý nghĩa kết hợp của các ngành khoa học: thư viện, tin học, bảo tàng, mã hoá văn bản và các lĩnh vực khác có liên quan.

Những thành tố có thể được cải tiến trong quá trình sử dụng. Tất cả những thành tố đều có thể lập lại khi cần thiết và gắn kết thêm các các yếu tố mở rộng.

4.2.2. Lịch sử Dublin Core – Metadata

Dublin Core Metadata là một trong những sơ đồ yếu tố siêu dữ liệu phổ biến và được nhiều người biết đến. Bộ yếu tố này được hình thành lần đầu tiên vào năm 1995 bởi sáng kiến yếu tố siêu dữ liệu Dublin Core (Dublin Core Metadata Element Initiative). Tập hợp yếu tố siêu dữ liệu này được gọi là “cốt lõi” (core) vì nó được thiết kế đơn giản và chỉ bao gồm 15 yếu tố mô tả cốt lõi nhất (trong khi Marc21 có hơn 200 trường và rất nhiều trường con).

Phạm vi quốc tế: tháng 11 – 1999, đã có phiên bản của hơn 20 thứ tiếng: Phần Lan, Na Uy, Thái Lan, Nhật, Pháp, Đức, Hy Lạp, Indonesia, Tây Ban Nha. Tổ chức WWW phát triển Chuẩn Dublin Core trên nền tảng kết hợp đa ngôn ngữ, phục vụ cho môi trường tài nguyên thông tin điện tử mang tính chất đa văn hoá và đa ngôn ngữ.

Tháng 9/2001 bộ yếu tố siêu dữ liệu Dublin Core được ban hành thành tiêu chuẩn Mỹ, gọi là tiêu chuẩn “The Dublin Core Metadata Element Set” ANSI/NISO Z39.85-2001. (tham khảo: –http://www.niso.org/standards/resources/ZHYPERLINK “85%22http://www.niso.org/standards/resources/ZHYPERLINK%20%22http://www.niso.org/standards/resources/Z39-85%2239HYPERLINK%20%22http://www.niso.org/standards/resources/Z39-85%22-HYPERLINK%20%22http://www.niso.org/standards/resources/Z39-85%2285″39HYPERLINK “85%22http://www.niso.org/standards/resources/ZHYPERLINK%20%22http://www.niso.org/standards/resources/Z39-85%2239HYPERLINK%20%22http://www.niso.org/standards/resources/Z39-85%22-HYPERLINK%20%22http://www.niso.org/standards/resources/Z39-85%2285”-HYPERLINK “85%22http://www.niso.org/standards/resources/ZHYPERLINK%20%22http://www.niso.org/standards/resources/Z39-85%2239HYPERLINK%20%22http://www.niso.org/standards/resources/Z39-85%22-HYPERLINK%20%22http://www.niso.org/standards/resources/Z39-85%2285″85.pdf)

4.2.3. Tính năng của Dublin Core Metadata

Đơn giản trong tạo lập và bảo trì: được thiết kế nhằm phục vụ những người không chuyên; dễ sử dụng và rẻ nhưng mang lại hiệu quả lớn.

Ngữ nghĩa thông dụng: khắc phục những khó khăn trong việc hiển thị các thuật ngữ. Vd.: yếu tố <tác giả> (Creator) được gán cho người tạo lập, nhà soạn nhạc, đạo diễn, trong vai trò là tác giả chính.

Khả năng mở rộng: với cơ chế mở, chuẩn Dublin Core có thể được mở rộng bởi các chuyên gia bằng việc gắn kết thêm các yếu tố mở rộng. Khả năng này còn được thực hiện một cách đơn giản thông qua việc kết nối nhiều CSDL khác nhau thông qua mạng Internet.

Là một phương thức mô tả nguồn thông tin, đặc biệt là nguồn thông tin điện tử một cách có hiệu quả. Dublin Core càng đặc biệt phát huy tác dụng khi được sử dụng để mô tả tư liệu điện tử vốn khó xác định được loại hình và nội dung các yếu tố cần thể hiện.

Thay thế cho các dạng thức trình bày thông tin trước đây như MARC do sự đơn giản trong cấu trúc mà người sử dụng có thể tự thiết kế theo yêu cầu của riêng mình.

Cung cấp cho người sử dụng một phương án tiếp cận thông dụng thông qua các giao diện quen thuộc như Web.

Tạo cho người cán bộ thư viện sự thuận tiện trong công tác khi không còn phải gò bó trong các trường, các yếu tố vốn đa dạng và phức tạp

4.2.4. Các Thành tố của Dublin Core – Metadata (15 Trường)

4.2.4.1. Phân loại các thành tố

DC đưa ra cơ cấu tìm tài liệu dựa trên 15 thành tố mô tả, có thể chia thành 3 nhóm:

• Nhóm các thành tố liên quan đến nội dung của nguồn tài liệu (7 thành tố)

• Nhóm các thành tố liên quan đến tài nguyên được xem như có sở hữu trí tuệ (4 thành tố)

• Nhóm các thành tố liên quan đến một tài liệu cụ thể (thuyết minh): dạng thức, thể loại, nhận dạng (4 thành tố)

Nội dungSở hữu trí tuệThuyết minh
Nhan đề (Title)-1Tác giả (Creator)-2Ngày tháng (Date) -7
Đề mục (Subject)-3Tác giả phụ (Contributor)-6Mô tả vật lý (Format)-9
Mô tả (Description)-4Xuất bản (Publisher)-5Định danh (Identifier)-10
Loại hình (Type)-8Bản quyền (Rights)-15Ngôn ngữ (Language)-12
Nguồn gốc (Source)-11
Liên kết (Relation)-13
Diện bao quát (Coverage) – 14

4.2.4.2. Các thành tố cơ bản của Dublin Core

Các thành tố cơ bản của Dublin Core đều mang thuộc tính lựa chọn và có thể lặp lại. Mỗi thành tố cũng có một giới hạn những hạn định, thuộc tính nhằm diễn giải chính xác ý nghĩa của các thành tố.

(1) Nhan đề (Title): Tên của nguồn thông tin thường do tác giả hoặc nhà xuất bản đặt cho tài liệu.

(2) Tác giả (Creator): Người hoặc cơ quan chịu tránh nhiệm chính về nội dung trí tuệ của nguồn thông tin

(3) Đề mục (Subject): Chủ đề của nguồn thông tin và được thể hiện bằng từ vựng có kiểm soát gồm tiêu đề đề mục, số phân loại,…

(4) Mô tả (Description): Phần thể hiện nội dung của nguồn thông tin bao gồm cả phần tóm tắt của tư liệu văn bản hoặc nội dung của tư liệu nghe nhìn .

(5) Xuất bản (Publisher): Cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm tạo lập, xuất bản nguồn thông tin trong định dạng thực.

(6) Tác giả phụ (Contributor): Cá nhân hay tổ chức có những đóng góp về mặt trí tuệ cho tư liệu nhưng không phải là tác giả chính.

(7) Ngày tháng (Date): ngày tháng có liên quan đến việc tạo lập, xuất bản hay công bố tư liệu.

(8) Loại hình (Type): hình thức vật chứa nội dung tư liệu.

(9) Mô tả vật lý (Format): Định dạng vật lý và kích thước của tư liệu như kích cỡ, thời lượng,.. Định dạng cũng còn được dùng để chỉ rõ phần mềm và phần cứng cần thiết để sử dụng tư liệu.

(10) Định danh tài liệu (Identifier): Là một dãy ký tự hoặc số nhằm thể hiện tính đơn nhất của tài liệu như: URLs và URNs, ISBN, ISSN,…

(11) Nguồn gốc (Source): Nguồn gốc mà tư liệu được tạo thành, yếu tố này có thể bao gồm siêu dữ liệu về nguồn thông tin thứ hai nhằm khai thác tư liệu hiện hành.

(12) Ngôn ngữ (Language): Ngôn ngữ của nội dung tư liệu, được thành lập theo quy tắc RFC 1766.

(13) Liên kết (Relation): Một định danh cho nguồn thứ hai và những mối quan hệ của nó với tư liệu hiện hành. Yếu tố này thể hiện những kết nối giữa những nguồn tư liệu có liên quan.

(14) Diện bao quát (Coverage): Những đặc tính về không gian và/hoặc thời gian của tư liệu. Không gian nơi chứa chỉ ra một vùng sử dụng địa danh hoặc toạ độ. Đặc tính thời gian trong yếu tố này chỉ ra khoảng thời gian mà tư liệu đề cập tới và thường sử dụng tên thời kỳ.

(15) Bản quyền (Rights): Thông tin về tình trạng bản quyền, kết nối tới thông tin về tình trạng bản quyền hoặc dịch vụ cung cấp thông tin bản quyền cho tư liệu.

4.2.4.3. Các thành tố mở rộng của Dublin Core

Thực tế sử dụng Dublin Core cho thấy mỗi thành tố cơ bản còn gộp chứa trong nó một vài thành tố phụ nhằm diễn đạt chi tiết hơn nội dung chính thành tố đó. Các thành tố phụ được coi là các thành tố mở rộng và được thể hiện thông qua những khung mã hoá cụ thể. Ví dụ khi thể hiện nội dung của một tài liệu, người ta cung cấp một vài cách tiếp cận khác nhau như qua ký hiệu phân loại, tiêu đề đề mục, từ khoá.

YẾU TỐYẾU TỐ MỞ RỘNGKHUNG MÃ HOÁ
Nhan đềNhan đề thay thế
Tác giả
Đề mụcLCSH, MeSH; DDC,LCC, UDC
Mô tảMục lục (Table of Contents)

Tóm tắt (Abstract)

Xuất bản
Tác giả phụ
Ngày thángTạo lập (Created)

Có giá trị (Valid)

Có hiệu lực (Available)

Xuất bản (Issued)

Hiệu đính (Modified)

Bảng thời kỳ của DC

Định dạng ngày tháng của W3C

Loại tài liệuThuật ngữ về loại hình

của Dublin Core

Mô tả vật lýKích thước và thời lượng (Extent)

Vật mang tin (Medium)

IMT loại tư liệu
Định danhURI Uniform Resource Identifier
Nguồn gốcURI Uniform Resource Identifier
Ngôn ngữISO 639-2

RFC 1766

Liên kết
Diện bao quát
Bản quyền

4.2.4.4. Các Quy tắc sử dụng

Kiểm soát từ vựng: Từ vựng được sử dụng khi mô tả biểu ghi Dublin Core phải là từ vựng có kiểm soát, được lựa chọn trong các hệ thống tiêu đề đề mục như LCSH, MeSH,… nhằm mục đích kiểm soát tính nhất quán trong các hệ CSDL và hỗ trợ việc tìm kiếm, biên mục tự động.

Sử dụng Khung mô tả nguồn (RDF – Resource Description Framework): RDF là một khuôn mẫu trao đổi và thể hiện thông tin trong môi trường Web. Ngoài ra, RDF còn được coi là khung chuyển đổi giúp nhận biết nội dung các yếu tố cho dù chúng ở trong nhiều loại CSDL khác nhau.

Hồ sơ áp dụng: Trên lý thuyết, tất cả 15 trường đều mang thuộc tính lựa chọn và lặp lại. Tuy nhiên, mức độ tối thiểu theo khuyến cáo của các tổ chức có liên quan bao gồm các yếu tố như: Nhan đề, Tác giả, Ngày tháng, Mô tả, Ngôn ngữ. Tùy theo mức độ chi tiết được đòi hỏi trong việc mô tả dữ liệu, người ta cũng có thể nhập thêm một số yếu tố bổ trợ từ các Metadata khác. Trong trường hợp đó, thuật ngữ sử dụng để mô tả cần được định nghĩa một cách chặt chẽ.

4.2.5. Ứng dụng Dublin Core

Trên thực tế Dublin core sử dụng rộng rãi cho tất cả các CSDL của các ngành các lĩnh vực, Thư viện chỉ là một phần trong ứng dụng của Dublin Core. Trong khi đó MARC chỉ ứng dụng cho các CSDL của Thư viện. Nói đúng hơn Dublin Core là chuẩn của trao đổi dữ liệu và biên mục ngành Công nghệ thông tin cho các tài liệu số hóa và MARC.

Hầu hết các phần mềm quản lý điều sử dụng Dublin Core, nhưng việc vận dụng các trường có khác nhau cũng như người sử dụng phần mềm không hề biết đến chuẩn này. Các nhà thiết kế phần mềm thường thiết kế các biểu nhập liệu khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu của từng loại hình tài liệu cũng như quan niệm của họ, người biên mục thường theo các trường có sẵn mà nhập dữ liệu, trong khi đó biểu nhập MARC thường thể liệt kê từ nhỏ đến lớn nên người biên mục MARC thường thấy sự thể hiện MARC rất rõ ràng.

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MARC 21 TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC QUỐC TẾ TP HỒ CHÍ MINH.

1. Giới thiệu chung về thư viện đại học Quốc tế tp. HCM.

1.1 Lịch sử hình thành thư viện Trường Đại học Quốc tế tp. HCM.

Trường Đại học Quốc tế là một trong bảy trường đại học thành viên trực thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập vào tháng 12 năm 2003. Đây là trường đại học công lập đa ngành đầu tiên và duy nhất hiện nay tại Việt Nam sử dụng hoàn toàn tiếng Anh trong công tác đào tạo giảng dạy và nghiên cứu.

Hiện nay, Nhà trường đang đào tạo hệ chính quy bậc đại học và sau đại học. Nhà trường tập trung đào tạo các ngành học thuộc lĩnh vực mũi nhọn như như kinh tế, quản lý, kỹ thuật công nghệ. Mô hình hoạt động của trường được xây dựng hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế về đội ngũ giảng viên, giáo trình, chương trình học có định hướng và liên thông với các trường đại học có thứ hạng cao ở các nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Châu Âu và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Mục tiêu của Trường Đại học Quốc tế là trở thành một trong những trường đại học nghiên cứu hàng đầu tại Việt Nam và trong khu vực, có khả năng đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển và hội nhập của đất nước.

Với mục tiêu nêu trên, thư viện trường đại học Quốc tế tp Hồ Chí Minh – IUL cũng đã được thành lập vào năm 2003, Thư viện IU đã trở thành một phần không thể thiếu của trường Đại học để hỗ trợ một nền văn hóa học tập, giảng dạy và nghiên cứu sôi động. Thư viện gồm 2 tầng, rộng hơn 1.000m2, trang thiết bị hiện đại, hệ thống quản lý thư viện tự động.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ TIEU LUAN Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt

Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt  Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt  Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt Công tác Biên mục mô tả MARC21 tại thư viện Đại học Đà Lạt

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *