Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế rất quan trọng và phức tạp; là ngành trực tiếp sản xuất ra lương thực, thực phẩm cho xã hội và cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngành kinh tế khác, tạo được nhiều việc làm cho người dân lao động nông thôn; góp phần rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội, ổn định an ninh lương thực ở mỗi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam.

Sau hơn 30 năm đổi mới toàn diện nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế nước ta đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng của công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng của nông nghiệp trong cơ cấu GDP. Nông nghiệp nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn và tương đối toàn diện. Song, nhìn một cách tổng thể, năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của nông nghiệp vẫn còn thấp. Những hạn chế này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, mà chủ yếu do tư duy chậm đổi mới, bất cập trong quản lý nhất là quản lý quy hoạch làm cho sản xuất tràn lan dẫn đến tình trạng được mùa mất giá, được giá mất mùa, chưa có sự gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp; quản lý chất lượng nông lâm sản, chất lượng vật tư nông nghiệp và bên cạnh đó quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã lấy đi nhiều tài nguyên, hy sinh nông thôn để phát triển đô thị. Ngoài ra, chính sách chưa “mở”, chưa tạo cơ hội thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nên nhiều nguồn lực trong sản xuất, phát triển kinh tế chưa được khai thác và huy động.

Đak Đoa là huyện biên giới, miền núi, nằm ở cực Bắc Tây nguyên, có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển nông nghiệp. Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp chiếm hơn 90% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng, khu dược liệu, khu công nghệ cao. Bên cạnh đó, còn có những vùng rộng lớn phù hợp với việc phát triển đàn gia súc, gia cầm, góp phần khai thác thế mạnh của huyện.Trong những năm qua dưới sự quan tâm nỗ lực của các cấp, các ngành của huyện trong công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp đã phát huy được tiềm năng cũng như lợi thế về điều kiện vị trí địa lý, tự nhiên, kinh tế xã hội đã đưa ngành nông nghiệp đạt được những kết quả tích cực. Phát triển ngành nông nghiệp gắn với mục tiêu xây dựng nông thôn mới, chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, phát triển kinh tế hộ và kinh tế trang trại, nhân rộng các mô hình sản xuất thành công, từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của huyện.

Mặc dù, có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp nhưng trong những năm vừa qua, huyện Đak Đoa vẫn chưa khai thác triệt để các thế mạnh này, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp còn chậm, nền nông nghiệp phát triển với quy mô nhỏ lẻ, manh mún, đa phần người nông dân còn nghèo, thiếu vốn và hạn chế trong việc áp dụng khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng nông nghiệp chưa phát triển; vẫn còn để tình trạng hoang hóa, phát triển nông nghiệp thiếu chiến lược, định hướng ngắn hạn, cơ cấu phát triển nông sản giữa các vùng còn chưa hợp lý,… Xuất phát từ những hạn chế, bất cập vừa nêu trên, để khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của huyện phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nâng cao giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác, nâng cao thu nhập của người nông dân, đòi hỏi cần phải tăng cường hơn nữa việc quản lý nhà nước đối với vấn đề phát triển nông nghiệp của huyện. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.

Tác giả hy vọng rằng thông qua nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp ở huyện, từ đó có thể đề xuất định hướng, giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng công tác quản lý nhà nước đối với nông nghiệp ở huyện Đak Đoa.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với nông nghiệp.

– Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp tại huyện Đak Đoa thời gian qua để xác định những thành công, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa.

– Xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về nông nghiệp tại huyện Đak Đoa thời gian đến.

3. Câu hỏi nghiên cứu

– Nội hàm của công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp là gì?

– Thực trạng công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp huyện Đak Đoa thời gian qua như thế nào?

– Những thành công, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp ở Đak Đoa thời gian qua như thế nào?

– Giải pháp nào nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp vận dụng vào điều kiện cụ thể của một địa phương. Ngành nông nghiệp được đề cập trong luận văn bao gồm các nhóm ngành: trồng trọt và chăn nuôi.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

– Không gian nghiên cứu: Các hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp tại huyện Đak Đoa.

– Thời gian nghiên cứu: Các dữ liệu thứ cấp trong thời gian 5 năm: từ năm 2013 đến năm 2017.

– Ngành nông nghiệp được đề cập trong luận văn bao gồm các nhóm ngành: Trồng trọt, chăn nuôi.

– Nội dung nghiên cứu: Các giải pháp đề xuất ở góc độ cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện.

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa
Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa

5. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp khảo sát, thu thập dữ liệu:

+ Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thông qua các thông tin từ Cục Thống kê huyện, các báo cáo nông nghiệp của Ủy ban nhân dân huyện, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đak Đoa. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các kết quả đã được công bố như sách, báo, tài liệu, các website liên quan đến quản lý nhà nước ngành nông nghiệp.

+ Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:

Khảo sát, phỏng vấn các cá nhân về công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn qua các phiếu phỏng vấn chuẩn bị sẵn.

Địa điểm khảo sát: bao gồm thành phố và 9 huyện trên địa bàn huyện Đak Đoa.

Đối tượng khảo sát: chọn 150 cá nhân trên địa bàn để phỏng vấn, thăm dò ý kiến của họ về tình hình thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn theo mẫu câu hỏi đã chuẩn bị sẵn.

Các phiếu khảo sát được xây dựng trên cơ sở áp dụng thang đo thái độ Likert 5 mức: (5): Rất hài lòng; (4): Hài lòng; (3): Không ý kiến; (2): Không hài lòng; (1): Rất không hài lòng để khảo sát sự đánh giá của người được hỏi về các chỉ tiêu nghiên cứu, tập trung vào nội dung quản lý nhà nước về nông nghiệp. Mẫu phiếu điều tra sử dụng để khảo sát được trình bày tại Phụ lục 01.

Chọn mẫu khảo sát: Chia ra hai nhóm đối tượng, nhóm 1 là các cán bộ thực hiện công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp, nhóm 2 là các cá nhân, tổ chức tham gia sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa.

  • Nhóm 1: Tại cấp huyện chọn 20 cán bộ tại Ủy ban nhân dân huyện, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn và các chi cục trực thuộc. Tại cấp huyện chọn 30 cán bộ tại 9 huyện tại phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn và các hạt kiểm lâm, trạm thú y các huyện. Tại cấp xã chọn 10 cán bộ có liên quan đến quản lý nông nghiệp gồm: chủ tịch xã, trưởng ban nông nghiệp ủy ban nhân dân xã, cán bộ nông nghiệp xã.
  • Nhóm 2: Gồm 100 cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp để lấy ý kiến đánh giá của người dân về công tác quản lý nhà nước của chính quyền.

– Phương pháp xử lý, phân tích số liệu:

+ Phương pháp so sánh: so sánh sự phát triển nông nghiệp qua các năm. Mục đích của phương pháp nhằm tìm hiểu những kết quả trên thực tế của công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp ở huyện hiện nay.

+ Phương pháp thống kê mô tả: Mô tả và trình bày thực trạng quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa trên cơ sở những số liệu về nguồn lực, về trình độ phát triển, về các điều kiện phát triển…, từ đó phân tích và tổng hợp số liệu làm rõ những ưu điểm và hạn chế của vấn đề để có thể đưa ra giải pháp quản lý hữu hiệu nhất.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

– Hệ thống cơ sở lý luận của công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp.

– Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp ở huyện trong thời gian qua; phân tích những thành công, hạn chế và nguyên nhân.

– Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về nông nghiệp ở huyện Đak Đoa trong tương lai.

7. Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương với tên gọi như sau:

– Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp.

– Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp tại huyện Đak Đoa thời gian qua.

– Chương 3: Các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp tại huyện Đak Đoa.

8. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về nông nghiệp

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP

1.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP

      1. 1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về nông nghiệp

Trong cuốn Giáo trình Kinh tế nông nghiệp, tác giả Vũ Đình Thắng  cho rằng: “Quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện và tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của đơn vị kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; điều tiết các lợi ích giữa các vùng, các ngành, sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát đối với tất cả các hoạt động trong nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn làm ổn định và lành mạnh hóa mọi quan hệ kinh tế và xã hội…” [21, tr.298].

Trong Luận án tiến sỹ của Hoàng Sỹ Kim, tác giả cho rằng: “Quản lý nhà nước về nông nghiệp là hoạt động sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra… của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương tới địa phương đối với lĩnh vực nông nghiệp trên cơ sở nhận thức vai trò, vị trí và đặc điểm kinh tế – kỹ thuật, chuyên môn của ngành Nông nghiệp để khai  thác và sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nước, nhằm đạt được mục tiêu xác định với hiệu quả cao nhất.” [10, tr.16]. 

Từ những quan niệm ở trên, luận văn đưa ra khái niệm: quản lý nhà nước về nông nghiệp là một bộ phận trong quản lý kinh tế quốc dân, thể hiện sự tác động chi phối, có định hướng bằng quyền lực và thông qua bộ máy nhà nước; thực hiện bằng các biện pháp, công cụ quản lý để nông nghiệp đạt được mục tiêu kinh tế, hiệu quả xã hội, sự vận hành phù hợp với các quy luật khách quan. 

      1. 1.1.2. Vai trò của quản lý nhà nước về nông nghiệp

Quản lý nhà nước về nông nghiệp có vai trò to lớn không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, bắt nguồn từ yêu cầu khách quan, nội tại của sự phát triển nền nông nghiệp, nông thôn.

a. Định hướng chiến lược cho sự phát triển nông nghiệp, phù hợp cho từng giai đoạn phát triển kinh tế đất nước

Quản lý nhà nước về nông nghiệp có vai trò nhiều mặt về kinh tế, xã hội của đất nước. Việc đảm bảo sự phát triển hài hòa cân đối giữa các lĩnh vực trong cơ cấu kinh tế quốc dân đòi hỏi phải xác định chiến lược phát triển của ngành phù hợp với chiến lược phát triển toàn bộ nền kinh tế. Trên cơ sở xác định chiến lược phát triển, nhà nước cụ thể hóa thành các chương trình, các kế hoạch định hướng phát triển trung hạn và ngắn hạn để hướng dẫn sự phát triển của nông nghiệp. Các chiến lược và kế hoạch phát triển nói trên được xây dựng cụ thể cho toàn bộ nền nông nghiệp ở từng cấp trong bộ máy quản lý nhà nước.

b. Bảo đảm môi trường thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

Nền nông nghiệp hàng hoá trong cơ chế thị trường chỉ có thể phát triển ổn định trong môi trường kinh tế, chính trị xã hội, đối ngoại thuận lợi và ổn định. Thế nhưng, với mặt trái của cơ chế thị trường lại sinh ra những yếu tố cản trợ sự phát triển của ngành nông nghiệp, cụ thể: Huy động và sử dụng nguồn lực không hợp lý do chạy theo lợi nhuận, như tình trạng phá rừng trồng
cà phê ở Tây Nguyên, chuyển đất một vụ lúa sang nuôi cá ở một số vùng huyện đồng bằng sông Cửu Long không có kế hoạch…, điều này đã làm hủy hoại môi trường sống; Tình trạng lũng loạn thị trường bằng việc buôn lậu, hàng giả, kém chất lượng đối với cả vật tư hàng hoá đầu vào cho sản xuất và sản phẩm đầu ra làm ảnh hưởng tới cả người sản xuất và người tiêu dùng nông sản, thực phẩm trong nước và xuất khẩu,… Ngoài ra còn rất nhiều yếu tố liên
quan đến môi trường cho phát triển nông nghiệp như diễn biến bất thường của thời tiết, các loại dịch bệnh, sự kém ổn định chính trị ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới,…

Với tất cả những diễn biến phức tạp về môi trường phát triển của nông nghiệp nói trên chỉ có thể được khống chế những mặt tiêu cực; duy trì và phát huy những mặt tích cực thuận lợi nhờ có sự quản lý của Nhà nước.

c. Nhà nước đảm nhận những mặt, những khâu hay một số hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp bằng thực lực của nền kinh tế Nhà nước

Vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp không chỉ ở sự điều tiết, khống chế định hướng bằng pháp luật, bằng các chính sách và bằng đòn bẩy kinh tế mà còn bằng chính thực lực của kinh tế Nhà nước. Trong nông nghiệp, có nhiều hoạt động mà các tổ chức kinh tế không được phép làm hoặc không làm được, đó là những hoạt động mà Nhà nước không hoặc rất khó kiểm soát nhưng xã hội vẫn cần như sản xuất và lưu thông những sản phẩm có thể gây nguy hiểm cho xã hội; khai thác và đánh bắt bừa bãi tài nguyên rừng, biển, đặc biệt là các sản phẩm quý hiếm; bảo tồn và xây dựng các khu rừng cấm quốc gia,… Các hoạt động không làm được xuất phát từ lý do về phía những đơn vị, tổ chức kinh tế trong nông nghiệp như non ý chí, kém về tri thức, thiếu phương tiện hay thiếu vốn chẳng hạn,… mà họ không hoặc chưa thể làm được; bên cạnh đó, xuất phát từ lý do về phía Nhà
nước phải nắm giữ những khâu hoặc những hoạt động then chốt trong nông nghiệp, nông thôn,…như công nghệ sinh học và công nghệ sau thu hoạch.

Vì vậy, trong nền nông nghiệp cũng sẽ có một lực lượng doanh nghiệp Nhà nước đảm bảo một số vị trí then chốt để chi phối phương hướng hoặc tạo nên động lực phát triển cho toàn bộ các ngành nông nghiệp trong quá trình hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

      1. 1.1.3. Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với nông nghiệp

Một là, nông nghiệp là một hệ thống luôn luôn vận động phát triển và biến đổi không ngừng. Trong quá trình phát triển nó cần có sự quản lý kiểm soát và điều khiển một cách khoa học. Do đó cần có sự quản lý nhà nước đối với nông nghiệp.

Hai là, quản lý nhà nước về nông nghiệp nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong phát triển nông nghiệp cả ở hiện tại và tương lai. Quản lý nhà nước về nông nghiệp tốt nhằm đảm bảo tính ổn định và phát triển bền vững trong phát triển nông nghiệp hướng đến nền nông nghiệp theo hướng chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp hàng hóa.

Ba là, cần phải tăng cường quản lý nhà nước về nông nghiệp để đảm bảo sự công bằng xã hội trong phát triển nông nghiệp.

Bốn là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp để khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng của đất nước do đặc điểm của nông nghiệp mang lại. Các nguồn lực của quốc gia là vô cùng to lớn, việc có tận dụng tối đa các nguồn lực đó vào trong phát triển kinh tế, phát triển nông nghiệp hay không phụ thuộc nhiều vào công tác quản lý của các cơ quan có thẩm quyền. Các nguồn lực gồm có nhân lực, vật lực, tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa … nếu biết vận dụng và khai thác chúng có hiệu quả thì đây sẽ là nguồn lực vô cùng to lớn, thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng.

Năm là, quản lý nhà nước về nông nghiệp góp phần định hình sự phát triển nền nông nghiệp theo hướng phát triển hàng hóa, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, thúc đẩy nông thôn phát triển.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP

      1. 1.2.1. Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp

Trên cơ sở chiến lược phát triển ngành nông nghiệp đã được hoạch định trong đường lối của cấp trên, chính quyền địa phương cấp huyện tiến hành tổ chức xây dựng quy hoạch, kế hoạch cụ thể nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của địa phương mình. Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng quyết định sự phát triển nông nghiệp huyện.

  1. Khái niệm quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp

“Quy hoạch phát triển nông nghiệp là cụ thể hóa chiến lược phát triển nông nghiệp, là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động sản xuất, kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp gắn với phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để chủ động sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho từng thời kỳ xác định.

Kế hoạch phát triển nông nghiệp là một bộ phận của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, phải nằm trong kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của cả nước và của địa phương, là định hướng phát triển nông nghiệp trong từng thời kỳ (hằng năm và 05 năm).” [13].

Kế hoạch phát triển nông nghiệp có chức năng cụ thể hoá các tầm nhìn chiến lược phát triển và mục tiêu của quy hoạch để từng bước thực hiện và biến chiến lược, quy hoạch thành thực tế cuộc sống. Kế hoạch phát triển nông nghiệp phân chia chiến lược và quy hoạch thành các lộ trình ngắn hơn, xác định nhiệm vụ cần phải đạt được trong từng giai đoạn phát triển, đặt ra một cách cụ thể hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu và những giải pháp, chính sách thích hợp cho thời kỳ kế hoạch.

Quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của huyện cũng như chiến lược phát triển ngành Nông nghiệp của Chính phủ, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.

  1. Xây dựng và thực hiện triển khai quy hoạch, kế hoạch

Bảng 1.1. Quy trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch

STTCác bước tiến hànhQuy hoạchKế hoạch
1Ban hành chủ trươngThực hiệnThực hiện
2Lập nhiệm vụ và dự toán kinh phíThực hiệnKhông thực hiện
3Tham vấn, hoàn chỉnh nhiệm vụ và dự toán kinh phíThực hiệnKhông thực hiện
4Phê duyệt nhiệm vụ và dự toán kinh phíThực hiệnKhông thực hiện
5Lập dự thảo quy hoạch, kế hoạchThực hiệnThực hiện
6Tham vấn, hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạchThực hiệnThực hiện
7Trình HĐND thông qua và ban hànhThực hiệnThực hiện

Trình tự triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch:

  • Tổ chức công bố công khai với nhiều hình thức: Hội nghị, hội thảo, họp
    công bố quy hoạch; Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; In ấn…
  • Tuyên truyền, giáo dục người dân về ý thức chấp hành pháp luật.
  • Hướng dẫn, đôn đốc các cấp triển khai thực hiện các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền.
  • Giám sát các địa phương trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ.
  • Lấy ý kiến phản hồi của người dân trong quá trình triển khai thực hiện để có sự điều chỉnh khi cần thiết.
  • Tổ chức hội nghị sơ kết hằng năm, hội nghị tổng kết để rút kinh nghiệm triển khai thực hiện thời gian tiếp theo.
  1. Đánh giá việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch

“Đánh giá quy hoạch, kế hoạch là đánh giá về nguồn lực, hoạt động triển khai, kết quả, hiệu quả, tác động dự kiến đạt được hoặc đã đạt được từ quá trình thực thi quy hoạch, kế hoạch sẽ diễn ra hoặc đã diễn ra. Đánh giá quy hoạch, kế hoạch thường được chia thành hai loại:

– Đánh giá dự báo: Đánh giá trước quá trình thực thi quy hoạch, kế hoạch (ex-ante evaluation), được thực hiện trong giai đoạn lập quy hoạch, kế hoạch. Đánh giá dự báo quy hoạch, kế hoạch thường do tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch thực hiện, gắn với quyền lợi và trách nhiệm cụ thể trong hợp đồng lập quy hoạch, kế hoạch.

– Đánh giá thực thi quy hoạch, kế hoạch bao gồm: đánh giá giữa kỳ và đánh giá cuối kỳ. Đánh giá thực thi quy hoạch, kế hoạch thường do chính quyền các cấp hoặc các chuyên gia thực hiện, kết quả đánh giá thực thi quy hoạch, kế hoạch liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của chính quyền các cấp nên có tính nhạy cảm cao.

+ Đánh giá giữa kỳ: Đánh giá trong quá trình thực thi (on-going evaluation), còn được gọi là đánh giá giữa kỳ, được thực hiện trong kỳ quy hoạch, kế hoạch; nhằm rút kinh nghiệm cho việc thực thi quy hoạch, kế hoạch trong giai đoạn tiếp theo;

+ Đánh giá cuối kỳ: Đánh giá sau quá trình thực thi (ex-post evaluation), được thực hiện sau khi kỳ quy hoạch, kế hoạch kết thúc, so sánh với các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch đề ra, nhằm nhận định về sự thành công của quy hoạch, kế hoạch.” [8]

Đánh giá thực thi quy hoạch, kế hoạch có vai trò quan trọng đối với: việc lập quy hoạch, kế hoạch trong tương lai; việc điều chỉnh kịp thời quy hoạch, kế hoạch trong bối cảnh kinh tế – xã hội luôn thay đổi; điều chỉnh, ban hành các chính sách trong thực thi quy hoạch.

  1. Tiêu chí đánh giá

Các chỉ tiêu phản ánh:

– Cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học: Quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp phải có đủ cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học. Chấp hành các văn bản pháp luật về trình tự, nội dung, hồ sơ lập quy hoạch. Các số liệu, tư liệu phải có mức độ tin cậy cao.

  • Mức độ phù hợp: Các quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội; quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp tại huyện.
  • Hiệu quả kinh tế: Trong một quỹ thời gian và nguồn lực có hạn, có thể tiến hành được nhiều nội dung và đạt được hiệu quả cao nhất phù hợp với ý muốn và mục tiêu phát triển không ngừng. Đánh giá hiệu quả và tác động của việc thực thi quy hoạch sẽ làm rõ chất lượng quy hoạch, làm rõ sự đóng góp của kết quả thực thi quy hoạch vào phát triển nông nghiệp.
  • Tính khả thi: Quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp cần có đủ khả năng ngân sách, nguồn lực, có tính thực tiễn và tính nhạy bén với thị trường. Đánh giá qua số lần, mức độ điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch.
      1. 1.2.2. Xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai chính sách tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp.

a. Nội dung chính sách phát triển nông nghiệp

“Chính sách nông nghiệp là tổng thể các giải pháp và công cụ do nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội xây dựng và tổ chức thực hiện để giải quyết những vấn đề chính sách nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp.” [13].

Chính sách nông nghiệp tạo lập môi trường thuận lợi, phát huy quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân, góp phần quan trọng trong việc giải phóng mọi năng lực sản xuất. Nó huy động và thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực như vốn, đất đai, khoa học công nghệ, sức lao động… để thúc đẩy kinh tế, nông nghiệp phát triển.

Dựa trên tình hình thực tế của nông nghiệp, nông thôn nước ta cũng như địa phương nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu một số chính sách sau:

  • Chính sách tổ chức sản xuất và thị trường: Là các chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa qua hợp đồng, khuyến khích việc liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản. Cụ thể: Quy định về giá sản phẩm hàng hóa nông sản, hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm nông sản của nông dân, xây dựng, duy trì mối liên kết giữa các nhà nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp để ổn định thị trường đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp…
  • Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp: Đây là một chính sách kịp thời nhằm thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào lĩnh vực nông nghiệp. Cụ thể: Ưu đãi về đất đai, hỗ trợ tiền thuê đất, ưu đãi về thời gian thuê đất, hỗ trợ cước phí vận tải, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu (gồm đường giao thông, thủy lợi, điện) …
  • Chính sách hỗ trợ về tài chính, tín dụng: Trong nông nghiệp, Nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, người nông dân về tài chính – tín dụng để tạo điều kiện nguồn lực cần thiết, hợp lý nhất cho các đối tượng này sản xuất kinh doanh, qua đó, phát triển nền nông nghiệp của địa phương. Cụ thể: Quy định về cơ chế cho vay, mức độ ưu đãi đối với nhu cầu vay vốn trong lĩnh vực nông nghiệp. Quy định về ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện, thời hạn vay vốn đối với nông nghiệp nhằm góp phần xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hóa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp.
  • Chính sách hỗ trợ về khoa học, công nghệ: Nội dung chính sách hỗ trợ về khoa học, công nghệ cho ngành nông nghiệp rất đa dạng, bao gồm: hỗ trợ về mô hình sản xuất, hỗ trợ về con giống, hỗ trợ về máy móc thiết bị, hỗ trợ về công nghệ sản xuất tiên tiến.. nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ sinh học trong nông nghiệp.
  • Chính sách đào tạo nguồn nhân lực: Chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ mà chính quyền địa phương sử dụng để hỗ trợ cho doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân trong việc hình thành, cập nhật kiến thức, kỹ năng làm việc, sản xuất. Cụ thể: Xây dựng và phát triển triển hệ thống trường, trung tâm dạy nghề theo quy hoạch phát triển của địa phương. Tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân, người lao động của doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp được tiếp cận với các chương trình đào tạo, nâng cao kiến thức trong các nhóm nghề nông nghiệp. Thực hiện được mục tiêu trên sẽ giải quyết được tình trạng người nông dân thiếu kỹ năng nghề, tạo việc làm cho người lao động.

b. Xây dựng và triển khai thực hiện chính sách

Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp đã được xây dựng, chính quyền cấp huyện ban hành hệ thống chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện.

Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu, ban hành, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật chung của Trung ương cũng như địa phương cho phù hợp với điều kiện của huyện, sẽ khai thác được tiềm năng và lợi thế so sánh về phát triển nông nghiệp.

Quy trình hoạch định chính sách của Hội đồng nhân dân huyện được thực hiện một cách chặt chẽ, thông qua nhiều khâu:

Thông qua chính sách

Thẩm định chính sách

Soạn thảo chính sách

Thiết lập chương trình

Hình 1.1. Quy trình xây dựng chính sách công

Phổ biến, tuyên truyền

Phân công, phối hợp thực hiện

Đôn đốc thực hiện

Tổng kết thực thi

Xây dựng kế hoạch triển khai

Hình 1.2. Quy trình tổ chức thực thi chính sách

c. Đánh giá việc thực hiện chính sách

Cùng với hoạch định và triển khai thực hiện, thì đánh giá chính sách là một khâu không thể thiếu của quy trình chính sách. “Đánh giá chính sách là xem xét, nhận định về giá trị các kết quả đạt được khi ban hành và thực thi một chính sách.” [22]. Đánh giá việc thực hiện chính sách là loại hình đánh giá các giải pháp và công cụ chính sách có được thực hiện đầy đủ hay không? Chính sách được thực hiện đến đâu? Mục tiêu chính sách có hoàn thành không? Tác động của chính sách đối với phát triển nông nghiệp? Việc thực hiện của các chủ thể tham gia chính sách như thế nào? Nguồn lực bố trí để thực hiện chính sách có đầy đủ không? Cần điều chỉnh gì đối với chính sách mới không?…

Để có thể đi vào cuộc sống, chính sách công được thể chế hóa thành các quy định pháp luật. Do đó, việc nhìn nhận và đánh giá chính sách thường gắn với sự đánh giá những quy định pháp luật của chính sách này có phù hợp với những yêu cầu của cuộc sống hay không và chúng được vận hành như thế nào trên thực tế, tác động như thế nào đến sự phát triển của nông nghiệp. Tuy nhiên, chính sách công không chỉ thể hiện trong các quy định pháp luật, chúng còn nằm trong các chương trình, kế hoạch, chủ trương hoạt động của nhà nước.

“Đánh giá chính sách cho phép xem xét, nhận định không chỉ về nội dung chính sách, mà còn về quá trình thực thi chính sách, từ đó có biện pháp điều chỉnh phù hợp với đòi hỏi thực tế để đạt các mục tiêu mong đợi.” [22]. Đánh giá chính sách công nhằm cung cấp thông tin cho các cơ quan nhà nước những thông tin hữu dụng và kịp thời để quản lý, hướng dẫn các nguồn lực, đồng thời đưa ra những điều chỉnh.

d. Tiêu chí đánh giá

– Tính khả thi: Đánh giá tính khả thi cần đánh giá đầy đủ khả năng ngân sách, nguồn lực con người, tính thực tiễn và nhạy bén với thị trường để triển khai chính sách và những đảm bảo về lợi ích vượt qua chi phí. Ngoài ra, cần đo lường, dự báo về mức độ công chúng chấp nhận, ủng hộ đề xuất chính sách.

– Tính hiệu quả: Phần lớn chính sách đều sử dụng ngân sách, chi tiêu bằng tiền công, chính vì vậy, xem xét tính hiệu quả của chính sách là xem xét kết quả thu được từ việc sử dụng nguồn lực cố định. Đánh giá hiệu quả và tác động của việc thực thi chính sách sẽ làm rõ chất lượng của chính sách, làm rõ sự đóng góp của kết quả thực thi chính sách vào phát triển nông nghiệp.

– Tính kinh tế: Là khả năng tiết kiệm nhất các nguồn lực đầu vào của chính sách. Biểu hiện của tính kinh tế trong chính sách công còn là việc tối đa hóa lợi ích của Nhà nước, xã hội trong điều kiện không điều chỉnh tăng nguồn lực đầu vào.

– Tính công bằng: Tạo ra những tác động không thiên vị cho các đối tượng trong xã hội cả về quyền lợi và nghĩa vụ.

      1. 1.2.3. Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực nông nghiệp

a. Khái niệm

Kiểm tra, giám sát trong quản lý nhà nước về nông nghiệp là đánh giá việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp theo các đề án, chương trình, kế hoạch đã đề ra, đồng thời phát hiện những sai lệch của các đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp (kiểm soát giết mổ, vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, vật tư nông nghiệp…) để có biện pháp điều chỉnh.

Để làm tốt công tác này, chính quyền cấp huyện xây dựng bộ máy tổ chức, cán bộ kiểm tra, thanh tra ở Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với các cơ quan chuyên ngành, sử dụng các phương pháp, hình thức kiểm tra, giám sát đa dạng, phù hợp với hệ thống pháp luật của Nhà nước.

Việc kiểm tra, giám sát giúp cho cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện phát hiện một số nguồn lực chưa được sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả, không đúng mục đích nhằm bãi bỏ, điều chỉnh, bổ sung những quy định, chính sách không phù hợp với thực tế hay “lệch hướng” chung , hoặc kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các hoạt động của các đơn vị sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời. Đồng thời, khuyến khích, động viên, tạo điều kiện cho những điển hình sản xuất, kinh doanh giỏi, nêu gương và nhân rộng, tạo sức lan tỏa một số mô hình tiên tiến để người dân thấy rõ yếu tố thuận lợi và hiệu quả kinh tế của các chính sách, chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn.

b. Nội dung kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm

Kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm lĩnh vực nông nghiệp gồm có các hoạt động:

Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành về vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm.

“Vật tư nông nghiệp: bao gồm giống cây trồng, giống vật nuôi, phân bón hữu cơ và phân bón khác, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóa chất, chế phẩm sinh học, chất xử lý, cải tạo môi trường trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản.” [23]

Nội dung công tác kiểm tra VTNN, ATTP trên lĩnh vực nông nghiệp thực hiện cụ thể như sau:

– Cơ sở vật chất, trang thiết bị.

– Nhân lực tham gia sản xuất, kinh doanh và quản lý chất lượng, ATTP.

– Chương trình quản lý chất lượng, ATTP .

– Lấy mẫu kiểm nghiệm: Việc lấy mẫu kiểm nghiệm được thực hiện khi
nghi ngờ sản phẩm không bảo đảm chất lượng, ATTP; tập trung lấy mẫu kiểm
nghiệm đối với cơ sở có dự kiến kết quả xếp loại C. Việc chỉ định chỉ tiêu
phân tích dựa trên đánh giá nguy cơ về chất lượng, ATTP và tập trung vào nội
dung kiểm tra đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng, ATTP không đạt yêu
cầu theo quy định. Việc lấy mẫu, phân tích mẫu phải thực hiện theo đúng quy
định hiện hành.

Thanh tra việc chấp hành pháp luật về kiểm soát giết mổ, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật và kiểm tra vệ sinh thú y.

– Kiểm soát giết mổ là việc kiểm tra trước và sau khi giết mổ động vật để phát hiện, xử lý, ngăn chặn các yếu tố gây bệnh, gây hại cho động vật, sức khỏe con người và môi trường;

– Kiểm tra sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật là kiểm tra việc làm sạch, pha lóc, phân loại, đông lạnh, ướp muối, hun khói, làm khô, bao gói hoặc áp dụng phương pháp chế biến khác để sử dụng ngay hoặc làm nguyên liệu chế biến thực phẩm, thức ăn chăn nuôi hoặc dùng cho mục đích khác.

– Kiểm tra vệ sinh thú y là việc kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu nhằm bảo vệ sức khỏe động vật, sức khỏe con người, môi trường và hệ sinh thái. Kiểm soát vệ sinh thú y gồm:

+ Địa điểm, cơ sở vật chất, nhà xưởng, trang thiết bị, dụng cụ

+ Nguyên liệu đầu vào để sản xuất kinh doanh, nước để sản xuất.

+ Con người tham gia sản xuất, kinh doanh và quản lý chất lượng.

+ Chương trình quản lý vệ sinh thú y đang áp dụng.

+ Việc quản lý và xử lý chất thải rắn, nước thải và các nội dung khác theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

+ Lấy mẫu kiểm nghiệm (nếu cần).

c. Quy trình thanh tra, kiểm tra

Bước 1: Hằng năm, xây dựng kế hoạch về nội dung và kinh phí.

Bước 2: Lập và ban hành quyết định thành lập Đoàn kiểm tra, kế hoạch kiểm tra tại các cơ sở.

Bước 3: Tổ chức họp Đoàn kiểm tra và thông báo kế hoạch kiểm tra.

Bước 4: Triển khai kiểm tra tại các cơ sở, lập biên bản, họp kết thúc và thông báo kết quả kiểm tra.

Bước 5: Tổng hợp kết quả kiểm tra.

Bước 6: Xử lý các vi phạm, công khai các cơ sở không vi phạm, vi phạm trên cổng thông tin.

Tiêu chí đánh giá

– Kết quả thực hiện kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm lĩnh vực nông nghiệp.

– Mức độ hài lòng của người dân, cán bộ quản lý.

1.3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP

      1. 1.3.1. Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên là nhân tố tác động mạnh mẽ đối với tất cả các hoạt
động của sản xuất nông nghiệp. Môi trường tự nhiên với các nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, như đất, nước, khí hậu, thời tiết, ánh sáng… cung cấp những tư liệu sản xuất cơ bản để con người tiến hành sản xuất nông nghiệp, tạo ra lương thực, thực phẩm. Điều kiện tự nhiên ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có những sự khác biệt, có nơi khó khăn và có nơi thuận lợi, song nếu chúng ta biết khai thác hợp lý vẫn có thể khai thác từ tự nhiên để tạo ra những nông phẩm có giá trị kinh tế. Do vậy, để có được một nền nông nghiệp phát triển, con người phải biết dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa vào lợi thế của từng vùng, miền để xây dựng những chiến lược phát triển nông nghiệp cho phù hợp.

Tuy nhiên, tự nhiên cũng là một trong những tác nhân đe doạ lớn cho phát triển nông nghiệp như những thiên tai: động đất, sóng thần, lũ lụt, hạn hán, mưa đá, sương muối… Những đe dọa thiên tai đang gây ra cho nông nghiệp, có một phần nguyên nhân do chính những hoạt động của con người gây ra, như: phá rừng, làm thủy điện, phát thải công nghiệp, khai thác tài nguyên đất không khoa học… Do vậy, con người phải tính toán và cân đối trong sự lựa chọn của mình để đem lại hiệu quả về lâu dài cho nông nghiệp
phát triển, cũng chính là bảo vệ lợi ích lâu dài của mình .

      1. 1.3.2. Điều kiện kinh tế – văn hóa xã hội

Điều kiện kinh tế – xã hội có tác động lớn tới sự phát triển nền nông nghiệp. Đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển, các điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp hiện đại sẽ dễ dàng hơn. Còn đối với các nước đang phát triển, việc hình thành một nền nông nghiệp phát triển sẽ gặp nhiều khó khăn, trở ngại do yếu kém về khoa học, công nghệ, thiếu vốn, thiếu những người nông dân có trình độ và sự hậu thuẫn của Nhà nước để hỗ trợ cho nông dân trước những rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ nông phẩm.

Bên cạnh đó, quá trình phát triển kinh tế – xã hội cũng có những tác động tiêu cực tới nền nông nghiệp, như: Huỷ hoại môi trường nặng nề; tài nguyên bị khai thác kiệt quệ, lãng phí, chất lượng sản phẩm không được đảm bảo, dư lượng chất hoá học trong nông sản cao; quỹ đất nông nghiệp dần thu hẹp,…

Vì vậy, các quốc gia này cần phải có chiến lược phát triển kinh tế – xã hội cho phù hợp, có sự cân đối giữa công nghiệp, nông nghiệp với dịch vụ và phát huy thế mạnh của từng vùng để quản lý nền nông nghiệp đạt được mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững

      1. 1.3.3. Nhận thức của các chủ thể tham gia sản xuất nông nghiệp, chủ thể quản lý nhà nước về nông nghiệp

Trong quản lý, phát triển nông nghiệp, yếu tố nhận thức và hành động của các chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, kinh doanh nông sản. Nếu có nhận thức đúng đắn, sâu sắc và thống nhất về các nội dung của quản lý, phát triển nông nghiệp, các nhà lãnh đạo, quản lý sẽ đưa ra các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế, đáp ứng các yêu cầu khách quan giữa hai yếu tố ổn định và phát triển. Ngược lại, nếu có những chính sách không phù hợp sẽ làm kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp. Trong phát triển nông nghiệp, khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng nhất để gia tăng giá trị hàng hóa nông sản, đem lại hiệu quả tối đa cho sản xuất nông nghiệp. Do vậy, việc đầu tư và ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào nông nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Bởi, với những tìm tòi khoa học trong lai tạo cây, con giống cho năng suất, chất lượng tốt, giá thành cao, chống chịu được sâu bệnh và điều kiện thời tiết khắc nghiệt; nghiên cứu chế tạo các loại máy móc làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất… sẽ làm tăng thu nhập cho người nông dân, đồng thời, góp phần xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại. Để xây dựng được nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, hiện đại và có khả năng cạnh tranh cao, yếu tố doanh nghiệp cũng hết sức quan trọng trong vai trò gắn kết sản xuất với chế biến – thị trường và tạo sự gắn kết một cách đồng bộ, thống nhất giữa các yếu tố đầu vào của sản xuất (vốn, giống, vật tư, đất đai, lao động) và đầu ra của sản phẩm (mua bán nguyên liệu, dự trữ, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm sau chế biến).

Người nông dân là chủ thể không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp, bởi nông dân là một yếu tố cơ bản cấu thành lực lượng sản xuất trong nông nghiệp. Người nông dân Việt Nam không chỉ có số lượng đông đảo và những đức tính tốt trong lao động sản xuất, mà còn là một giai cấp quan trọng trong quá trình tiến hành cách mạng dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay. Hệ thống chính trị cần có những tác động để phát huy sức mạnh, cũng như giúp người nông dân hạn chế được một số nhược điểm để có thể làm tròn nhiệm vụ, vai trò của mình. Chúng ta cần làm tốt công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao nhận thức cho người nông dân, giúp họ vượt qua những tác phong tiểu nông và tập quán cũ lên vị trí của người làm chủ khoa học, kỹ thuật, cũng như làm chủ các nguồn lực mà xã hội dành cho họ.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa\CHUYỂN VÙNG/ Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện Đak Đoa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *