Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam.
Đaadạng hoá lànxu thế tất yếu trong quá trình phátatriển hoạtođộng thương mại nói chung và hoạtođộng NH nóipriêng, nhất là khi đối diện với các yêu cầu mới và cấp bách của việc hội nhập kinh tế và cạnh tranh và, ngành NH phải không ngừng phát triển, tìm kiếm và lựa chọn những con đường đi mới phù hợp nhằmađáp ứng ngày mộtatốt hơn những nhuncầu thiết yếu của KH, cũng như tạo dựng chỗ đứngavững chắcatrên thị trường. Bêna cạnhođó, ngànhekinh tế thịntrường của VN đang từng ngày đi lên, mức thu nhậpacủa NTD ngày càngunâng cao kéo theo đó là chất lượng cuộc sống của ngườindân cũng ngày càngađượcacải thiện. Khi mức sống củahngười dân có chiều hướng gia tăng, nhu cầu đối với những phương tiện, những tiện ích phục vụ cho cuộcosốnguhiện đại cũng ngàyymột tăng thêm. Nhận thức được xu hướng này, các NHTM Việt Nam đã có động thái quan tâm hơn đến hoạt động CVTD, cụ thể bằng những hành động như nghiên cứu phát triển và cung cấp các sản phẩm CVTD phong phú, nhằm mục tiêu đáp ứng tối đa mọi nhu cầu của NTD và đó cũng là một phương thức để chiếm lĩnh thị trường đầy tiềm năng này.
Trong giai đoạn kinh tế khó khăn do tácođộng của dịch bệnh Covid-19, ngoài những công tác hỗ trợ từ Chính phủ, người dân rất cần nguồn vốn vay cùng với chính sách lãi suất tốt, thủ tục đơn giản, nhanh gọn từ các NHTM, công ty tài chính… để dần ổn định cuộc sống, nhất là tránh rơi vào “bẫy” tín dụng đen.
Quảng Nam là tỉnh đang vươn mình phát triển mạnh mẽ với nhiều khu công nghiệp, dịch vụ, đô thị… do đó nhu cầu vốn tại địa phương đang tăng cao. Trong bối cảnh thị trường CVTD rất nhiều tiềm năng sinh lợi, cùng với đó là những TCTD khác cũng đang cạnh tranh gay gắt để gia tăng thị phần, tìm kiếm lợi nhuận, Vietcombank luôn liên tục phát triển và cải tiến chất lượng cácadịch vụ và sảnaphẩm CVTD nhằm phục vụ những nhu cầu thiết yếu ngày càng cao của KH và đẩy mạnh năngolựcacạnh tranh.
Tuy nhiên, thị phần CVTD của Vietcombank Quảng Nam vẫn còn khá thấp nếu được để lên bàn cân so sánh với các TCTD khác trên địa bàn tỉnh, chưantương xứng với tiềmanăng, lợi thế vốn có của CN. Đứng trong bối cảnh đó, Vietcombank Quảng Nam đã nhận thấy mức độ quanatrọng của việc xây dựng mối liên hệ với tệp KH vay tiêu dùng trong khu vực. Vì vậy, việc nắm được thực trạng CVTD tại CN để từnđóntìmarancác biện phápanhằm khắc phục, cải thiệnahoạtađộng CVTD là cực kỳ cần thiết. Bắt nguồn từnthựcatiễn trên, tácagiả chọnađề tài “Hoànathiện hoạtađộng cho vay tiêu dùngatại Ngân hàng TMCPaNgoại thươngaViệt Nam – Chi nhánh QuảnguNam” làmeđề tài luận văn thạcosĩ, với mongamuốn gópophần nângacao, cải thiệnuhoạt động CVTD tạinCN trong thời gian đến, từ đó giúp CN có sự phátatriển ổnađịnh và vữngachắc hơn trong tương lai.
Phân tích thực tiễn công tác CVTD tại Vietcombank Quảng Nam, phân tích thể hiện cácamặtacòn hạnachế và từnđó, đềnxuất những khuyến nghịngóp phần vào công cuộc hoànathiện hoạtađộng CVTD tại Vietcombank Quảng Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn nhằm tập trung giảinquyết các vấnađề sau đây:
– Xác định và hệnthốngahoáncơnsởnlýnluậnnvànthực tiễn về hoạt động CVTD tại NHTM
– Phân tích cũng như đánhagiá công tác triển khai hoạtođộng CVTD tại Vietcombank Quảng Nam trongathời gian từ 2020 – 2022. Qua đó, đưaaraanhữngathànhatựuâđạtađược, nhữngamặtacònâhạn chế và nguyên nhân phát sinh nhữngahạnachế đó;
– Đềnxuất các khuyến nghị nhằmohoàn thiệnahoạt động CVTD tại Vietcombank Quảng Nam trongathời gian đến.
- Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung giải quyết cácucâu hỏi nghiênacứu sau:
– Những nộindung cơ sởnlý luận về hoạtađộng CVTD tại NHTM là gì?
– Thựcatrạng hoạt động CVTDutại Vietcombank Quảng Nam trong giai đoạn 2020 – 2022 như thế nào? Các kếtaquảađạtađược như thế nào? Những mặt hạnachế là gì? Nguyênanhânacủaanhữngahạnachế là gì?
– Để hoànathiện hoạtađộng CVTD tại Vietcombank CN Quảng Nam thì cần có những khuyến nghị nào?
Luậnavăn tập trunganghiên cứu nhữnguvấn đề lý luận về hoạtađộng CVTD của NHTMCP và thực tiễn hoạt động CVTD tại Vietcombank Quảng Nam.
- Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện khảo sát, nghiên cứu tại Vietcombank Quảng Nam, đóng trênađịa bàn Thànhophố Tam Kỳ.
– Phạm vinvề thời gian: Luậnavăn nghiên cứu thu thập sốnliệu trong giai đoạna03 năm (từ năma2020 đến năma2022) và các khuyến nghị đề xuất được đưa ra cho khoảng thời gian đến năm 2025.
– Số liệu thứ cấp: Từ các số liệu báo cáo tổng kết, báo cáo HĐKD, BCTD hàng năm của Vietcombank Quảng Nam trong giai đoạn 2020 – 2022, BCTC, kế hoạch kinh doanh và định hướng hoạt động của CN trong những năm tiếpatheo.
– Sốnliệu sơ cấp: Sốnliệu được thunthập từ việcakhảo sát ý kiến KH, tham khảo ý kiến của các cán bộ, trưởng phòng thuộc thuộc bộ phận tín dụng, các phòng ban liên quan đến công tácnCVTD tại Vietcombank Quảng Nam và một số PGD trực thuộc theo các hình thức khácnnhau. Mục tiêu là nhận thức đượcanhững thuậnolợi và khónkhăn trong công tác thẩm định, tiếp cận KH, theo dõi và giám sát quá trình cho vay để đưa ra các nhận định và đánhogiá kết quảnhoạt động CVTD tạinCN. Từ đó đưa ra những khuyến nghị thíchnhợp.

- Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
– Dựa trên cơ sở những sốnliệu thứacấp đã thuathập được từ các tài liệu của Vietcombank Quảng Nam như các báo cáo tín dụng hàng kỳ, báo cáo về khách hàng vay tiêundùng, báoncáo kinhodoanh hàng năm, từ đó phân tíchađược thựcatrạng hoạt động CVTD tại ngânahàng trong thời gian từ 2020 – 2022.
– Sửmdụng phươngapháp phân tích, tiổngahợp, tổng kết, suy luận logic, đểnkiểm chứng thựcatiễn, thểnhiệnatính nhấtoquán giữa kiếnathức lý luận, kiếnathức thực tiễn và cácagiải phápuđề xuất.
Bên cạnh phầnamở đầu và phần kếtaluận , nộindung của đềntài được triểnakhai làmo3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động CVTD của NHTM
Chương 2: Thực trạng hoạt động CVTD tại Vietcombank Quảng Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động CVTD tại Vietcombank Quảng Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
Khái niệm về hoạt động cho vay
Có nhiều khái niệm khác nhau về cho vay ngân hàng:
“Tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời tồn tại và phát triển của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa. Tín dụng ra đời là một yếu tố khách quan của sự phát triểnnKT-XH. Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu lại được lượng giá trị lớn hơn ban đầu.” (Nguồn: Giáo trình tín dụng ngân hàng, Học viện Ngân hàng, NXB Thống kê – TS Hồ Diệu (2001)).
Theo từ điển thuật ngữ tín dụng có nghĩa là: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay tới kỳ hạn trả nợ có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc hàng hóa đã vay, có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi”.
“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” – (Nguồn Luật các TCTD, luật Ngân hàng Nhà nước; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay của TCTD, CN NH nước ngoài đối với KH.)
Có thể hiểu tín dụng Ngân hàng hoạt động dựa trên quan hệ tín nhiệm giữa người đi vay và bên cho vay, ở đây cụ thể là khách hàng và Ngân hàng. Theo khoản 1, điều 2, Thông tư”quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng số 39/2016/TT-NHNN”quy định: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Đặc điểm của cho vay ngân hàng
Cho vay NH là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa NH với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó NH giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Đây là quan hệ cho vay gián tiếp mà người tiết kiệm thông qua trung gian là NH thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn. Vì vậy các khoản cho vay đều phải có thời hạn và người đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện để đảm bảo cho NH hoàn trả vốn huy động khi khách hàng gửi tiền cần rút hoặc NH có thể sử dụng nguồn vốn đó cho khách hàng khác vay.
Cho vay NH có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do NH có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay. Những mục đích vay khác nhau của khách hàng đã dẫn đến những nhu cầu vay hết sức đa dạng về thời hạn và quy mô… nên phạm vi đối tượng cho vay rất rộng. Ngoài ra, NH cũng có rất nhiều phương thức cho vay và với mỗi phương thức là tập hợp các kỹ thuật tác nghiệp cụ thể của NH khi thực hiện khoản vay, bao gồm kỹ thuật xác định hạn mức cho vay, thời hạn và định kỳ hạn vay, giải ngân thu nợ và xử lý nợ. Việc lựa chọn phương thức cho vay thích hợp, bảo đảm tốt nhất nhu cầu của khách hàng cũng như hiệu quả của vốn tín dụng tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động, khả năng tài chính và rủi ro đặc trưng của người vay.
Thu nhập từ các khoản cho vay là tiền lãi mà người đi vay trả cho NH. Chỉ có tiền lãi thu được từ hoạt động cho vay mới bù nổi chi phí tiền gởi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh, chi phí quản lý, các khoản phí và chi phí rủi ro đầu tư; ngoài ra nó còn tạo ra lợi nhuận cho NH. Một nửa tổng giá trị tài sản và tổng thu của NH do khoản mục cho vay tạo ra nên cho vay được xem là hoạt động kinh doanh chủ yếu mang lại lợi nhuận cho NH.
Nguồn vốn của cho vay ngân hàng là nguồn vốn được huy động từ nguồn tiền nhàn rỗi của người dân, xã hội với khối lượng và kỳ hạn khác nhau, do đó nó có thể thỏa mãn các nhu cầu vốn đa dạng về thời gian cũng như khối lượng và mục đích sử dụng.
Sự tin tưởng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của quan hệ cho vay NH. Và rủi ro trong hoạt động NH có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản vay; rủi ro có thể gây nên sự phá sản NH. Rủi ro trong công tác cho vay giảm cũng có nghĩa là lợi nhuận của NH tăng lên. Vì vậy, đối với lĩnh vực cho vay, vấn đề mà các NH quan tâm chính và thường xuyên trăn trở là: “Cho ai vay?, Đầu tư vào lĩnh vực nào?, Có an toàn không?, Lợi nhuận như thế nào?”
Phân loại cho vay
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của NH, tuỳ theo yêu cầu của khách hàng và tùy thuộc vào phương thức quản lý của NHTM mà có các cách phân loại sau:
a. Căn cứ vào thời hạn cho vay
Theo”Thông tư số 39/2016/TT-NHNN”về: “Quy định về hoạt động cho vay của TCTD, CN ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng” của Ngân hàng nhà nước (2016), thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ ngày tiếp theo của ngày TCTD giải ngân vốn vay cho khách hàng cho đến thời điểm khách hàng phải trả hết nợ gốc và lãi tiền vay theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng và khách hàng. Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn cho vay là ngày lễ hoặc ngày nghỉ hàng tuần, thì chuyển sang ngày làm việc tiếp theo. Đối với thời hạn cho vay không đủ một ngày thì thực hiện theo quy định tại Bộ luật dân sự về thời điểm bắt đầu thời hạn.
Căn cứ theo thời hạn, cho vay được phân thành các loại sau:
-“Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm”.
-“Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm”.
-“Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm”.
“Phân loại cho vay theo thời hạn phản ánh đầy đủ, chính xác mức độ rủi ro của món vay cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng; từ đó tác động trực tiếp đến mức độ an toàn và khả năng sinh lời của NHTM. Chính vì vậy, phân cho vay theo thời hạn có ý nghĩa rất quan trọng đối với NHTM”.
b. Phân loại theo mục đích sử dụng vốn
Theo”Thông tư số 39/2016/TT-NHNN”về: “Quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng” của Ngân hàng nhà nước (2016), cho vay được chia thành:
– Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với KHCN để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó.
– Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác (sau đây gọi là hoạt động kinh doanh) là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngoài quy định tại khoản 4 Điều này, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân.
c. Phân loại cho vay theo tài sản đảm bảo (TSĐB)
Căn cứ vào tài sản đảm bảo thì cho vay được phần loại như sau:
– Cho vay có TSĐB: Cho vay có TSĐB là sự cam kết của người đi vay trong trường hợp họ không có khả năng tài chính để trả được nợ thì họ sử dụng TSĐB thuộc quyền sở hữu của họ hoặc của bên/bộ phận liên quan thứ ba để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với NH. Trong trường hợp này, khi KH không có khả năng tài chính để trả được nợ hoặc trong trường hợp sử dụng sai mục đích nguồn vốn vay dẫn đến không thanh toán được thì NH sẽ xử lý TSĐB để thu hồi nguồn vốn. TSĐB được áp dụng cho khách hàng có khả năng rủi ro cao như khách hàng mới hay khách hàng có khả năng tài chính không tốt.
– Cho vay không có TSĐB: Cho vay không có TSĐB là loại hình tín dụng có nhu cầu vay vốn với một hạn mức nhất định mà không cần TSĐB. Loại hình cho vay này thường cấp cho khách hàng có uy tín cao, có mối quan hệ tốt và lâu dài đối với NH, họ có tình hình tài chính tốt, có mối quan hệ tốt với các tổ chức tài chính. Cũng có thể các khoản vay theo chỉ thị của Chính Phủ hay Chính Phủ không yêu cầu TSĐB.
d. Phân loại theo hình thái giá trị tín dụng
Cho vay được phân loại theo hình thái giá trị tín dụng như sau:
-“Cho vay bằng tiền: Cho vay bằng tiền là một hình thức cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấp bằng tiền. Đây là loại hình cho vay chủ yếu của các NH và được thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: tín dụng tạm ứng, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp .
– Cho vay bằng tài sản: Cho vay bằng tài sản là hình thức cho vay rất phổ biến và đa dạng, đối với NH cho vay bằng tài sản được áp dụng chủ yếu hình thức tài trợ thuê mua. Theo hình thức này NH hay các công ty thuê mua cung cấp trực tiếp tải sản cho người vay.”
e. Phân loại theo đối tượng cho vay
Căn cứ vào đối tượng, có thể phân loại cho vay thành:
– Cho vay đối với khu vực kinh tế quốc doanh: Cho vay đối với khu vực kinh tế quốc doanh là việc cho vay của NH đối với các cơnquan, tổ chức doanhanghiệp nhàunước
– Cho vay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh: Cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là việc cho vay của NH đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh (Công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, công ty liên doanh…)
Nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại
Nguyên tắc cho vay của NHTM được quy định rõ tại Điều 4 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh NH nước ngoài đối với KH do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành như sau: “Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được thực hiện theo thỏa thuận giữa tổ chức tin dụng và khách hàng, phù hợp với quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan bao gồm cả pháp luật về bảo vệ môi trường. Khách hàng vay vốn tổ chức tín dụng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn đã thỏa thuận với tổ chức tín dụng”.
– Vay vốn phải có mục đích vay và phải được sử dụng đúng mục đích đã thoả thuận: Điều này giúp NH quản lý và rủi ro cho vay được giảm thiểu. NH cho vay để giúp các KH giải quyết vấn đề thiếu vốn của mình trong quá trình kinh doanh, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. NH không thể cung cấp các khoản vay cho KH để họ tham gia vào các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp và không đúng chức năng. NH có quyền dừng cho vay và thu hồi khoản vay nếu KH vi phạm nguyên tắc cho vay này.
– Vốn vay phải được hoàn trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn: NH là một tổ chứcakinh doanhetiền tệ, do đó vốn phải được quay về NH với giá trị lớnahơn giántrị ban đầu. Vì vậy, người đi vay phải hoàn trả cả gốc và khoản lãi do sử dụng nguồn vốn trên và NH mới đảm bảo khả năng thanh toán và hoạt động có lãi.
– Vốn vay phải có TSĐB nhằm giảm thiểu rủi ro cũng như đảm bảo khả năng thu hồi nợ của NH, khi KH không có khả năng trả nợ thì TSĐB là nguồn thu nợ thứ hai của NH. Các tài sản đảm bảo có thể là:
+ TSĐB là tài sản hình thành từ vốn vay
+ TSĐB là tài sản của chính người đi vay
+ TSĐB còn có thể là uy tín hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba.
Vai trò của hoạt động cho vay ngân hàng
Hoạt động cho vay NH tồn tại như một phương tiện luân chuyển dòng tiền từ nơi này sang nơi khác, từ chủpthể này sang chủ thểnkhác để đáp ứng nhu cầu cần thiết và phát triển của xã hội, kinh tế. Vì vậy, hoạt động cấp tín dụng nói chung và cho vay nói riêng của NH là một nhân tố đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế thị trường và được cụ thể hoá như sau:
Đầu tiên, vai trò quan trọng nhất của hoạt động cho vay NH là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên tục, đồng thời góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, cho vay được xem là một trong những nguồn vốn hình thành nên vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp, vì vậy hoạt động cho vay đã góp phần đưa vật tư hàng hóa đi vào sản xuất, giúp đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật, cũng như quá trình tái sản xuất xã hội. Bên cạnh đó, phân phối hoạt động cho vay góp phần điều hòa nguồn vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục. Là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tạo nên động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển.
Thứ hai, hoạt động cho vay NH thúc đẩy quá trình tập trung vốn cho sản xuất, làm cho quá trình từ sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng diễn ra hiệu quả. Hoạt động của NH là tập trung vốn, lượng tiền tệ nhàn rỗi tạm thời chưa sử dụng, trên cơ sở đó để cho vay các công ty, doanh nghiệp đang có nhu cầu về vốn. Mặt khác, quá trình đầu tư tín dụng được thực hiện một cách tập trung, chủ yếu là cho các công ty, doanh nghiệp lớn hay những doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh hiệu quả.
Thứ ba, hoạt động cho vay của NH là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn. Nhà nước ta tập trung tín dụng để tài trợ phát triển các ngành nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp xanh, ưu tiên xuất khẩu, từ đó tạo điều kiện cũng như động lực phát triển các ngành kinh tế khác.
Thứ tư, cho vay NH góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp. Đặc trưng cơ bản của tín dụng là vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức, vì vậy hoạt động này đã kích thích việc sử dụng vốn có hiệu quả. Bằng việc tác động như vậy, các doanh nghiệp khi sử dụng vốn tín dụng phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay vốn, tạo điều kiện nâng cao lợi nhuận của chính doanh nghiệp mình.
Cuối cùng, cho vay NH tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài. Trong điều kiện nền kinh tế mở như hiện nay, tín dụng đã trở thành một trong những phương tiện giúp kết nối các nền kinh tế của các nước lại với nhau, siết chặt mối quan hệ, từ đó cùng nhau phát triển kinh tế cũng như mọi mặt của đời sống xã hội.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Khái niệm cho vay tiêu dùng
“Cho vay tiêu dùng là việc công ty tài chính cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng là cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó. Nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng gồm: mua phương tiện đi lại, đồ dùng, trang thiết bị gia đình; chi phí học tập, chữa bệnh, du lịch, văn hóa, thể dục, thể thao; chi phí sửa chữa nhà ở. Tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng tại công ty tài chính không vượt quá 100 triệu đồng, trừ trường hợp để mua ôtô và sử dụng ô tô đó làm tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đó”. (khoản 1 Điều 3 Thông tư 43/2016/TT-NHNN)
Trong những năm gần đây, CVTD tăng lên do mang nhiều lợi nhuận đến cho NH. Tuy nhiên, không phải NH nào cũng tích cực phát triển hình thức cho vay này, điều này được lý giải thông qua các đặc điểm của CVTD.
Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
– Đặc điểm về quy mô: Quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng khách hàng vay lớn.
Khách hàng của CVTD gồm cá nhân và HGĐ. Do hầu hết các KH thuộc nhóm đối tượng trên đều có nhu cầu không cao đối với những loại thứ xa xỉ hoặc người đi vay đã tích luỹ từ trước một khoản ngân sách lớn và giá trị tài sản lớn nên quy mô các khoản vay nhìn chung nhỏ, thường từ vài triệu đến vài trăm triệu đồng, khoản vay trên hàng chục tỷ thường chỉ chiếm một phần nhỏ. Chính điều này đã khiến cho tổng quy mô CVTD khá lớn.
Trong bối cảnh kinh tế đang trên đà phát triển, nhu cầu chi tiêu của người dân ngày cảng tăng cao, việc đi vay mượn tại các NHTM không còn nhiều rào cản như trước đã khiến cho nhu cầu vay tiêu dùng ngày càng tăng lên đáng kể. Đó là lý do việc các khoản CVTD tăng về số lượng.
– Đặc điểm về rủi ro: Các khoản CVTD thường rủi ro cao.
Các khoản CVTD có độ rủi ro cao bởi không chỉ chịu sự tác động của những yếu tố mang tính khách quan như văn hoá, môi trường XH, kinh tế mà còn bởi yếu tố chủ quan của chính KH. Một vài rủi ro mang tính chủ quan như rủi ro nguồn thu nhập bị giảm sút, tình hình sức khoẻ,… ảnh hưởng đến khả năng tài chính của cá nhân và HGĐ… Vấn đề này khiến các NH đối mặt với những rủi ro lớn. Ngoài ra NH khó có thôngatin đầy đủnvà chuẩn xác của nhóm KH này. Ngoài ra, việc trả nợ cho NH cũng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi yếu tố đạo đức của cá nhân NTD, hay số lượngacác khoản CVTD rất lớnatrongokhi đó cán bộ tín dụng của NH số lượng hạn chế cũng sẽ gây nên những rủi ro tiềm ẩn cho NH.
– Đặc điểm về lãi suất: Lãi suất khoản CVTD thường cao.
Không giống như các khoản vay cho mục đích SXKD có lãi suất biến đổi theo thị trường, lãi suất CVTD được ấn định ở một mức mức lãi suất nhất định, và thường phổ biến với các khoản CVTD trả góp. Việc chia các khoản vay thành nhiều kỳ hạn trả nợ khác nhau (đối với CVTD trả góp) hoặc quá trình vay và trả nợ được thực hiện nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức cho vay (đối với CVTD tuần hoàn như thẻ tín dụng, thấu chỉ), lãi suất của khoản vay được cố định từ khi bắt đầu thời hạn cho vay và gần như không thay đổi trong suốt thời hạn của khoản vay. Do các khoản CVTD có rủi ro cao nên lãi suất CVTD thường khá cao để bao phủ phần bù rủi ro và chi phí. Và vì vậy, các khoản CVTD có mức rủi ro càng cao thì lãi suất càng cao.
– Đặc điểm kinh tế: Có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế
Số lượng các khoản CVTD chủ yếu phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng của dân cư và khả năng chi trả của KH nên các khoản CVTD có tính nhạy cảm theo chu kỳ. Trong thời kỳ kinh tế phát triển, khi thu nhập của người dân ngày càng cao và ổn định, tình hình kinh tế xã hội khả quan thì CVTD sẽ có xu hướng tăng lên. Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, khi nhiều cá nhân và hộ gia đình cảm thấy ít tin tưởng hơn vào tương lai, đặc biệt khi họ thấy thu nhập giảm xuống và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, hoạt động cho vay của NH, nhất là việc vay phục vụ cho mục đích chi tiêu, sẽ bị hạn chế. Và khi đó, KH sẽ có khuynh hướng giảm tiêu dùng và gia tăng tiết kiệm.
– Đặc điểm về chi phí: Chi phí cho các khoản vay lớn
Quy mô CVTD thường nhỏ, NH phải huy động nhiều nguồn lực để thực hiện các quy trình cho vay, chi phí mỗi khoản vay thường chiếm tỷ lệ đáng kể. Ngoài ra, NH còn phải tốn nhiều khoản phí để thẩmmđịnh và xét duyệt khoảnnvay với nguyên nhân là vì dữ liệu về gia cảnh, lý lịch và khả năng tài chính của KH thường tính chính xác không cao và không đầy đủ. Do quy mô các khoản cho vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn nên việc quản lý sau cho vay và thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn. Chính vì những lí do trên, CVTD chính là một trong những khoản mục vay có chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động cho vay của NH.
– Đặc điểm về lợi nhuận: Khả năng sinh lời cao
Tương ứng với mức độ rủi ro cao như vậy thì các khoản CVTD thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong các doanh thu của NH. Số lượng các khoản CVTD khá nhiều làm cho quy mô chung của CVTD rất lớn, và mức lãi suất trên các khoản vay làm cho lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng lợi nhuận của NH. Những sản phẩm dịch vụ bán chéo với các khách hàng vay như ngân hàng điện tử, bảo hiểm nhân thọ, thẻ… cũng mang lại nhiều nguồn thu cho NH.
Phân loại cho vay tiêu dùng
Phân loại CVTD giúp thiết lập các quy trình cho vay thích hợp để hoàn thiện hoạt động CVTD.
a. Căn cứ vào mục đích vay
– CVTD nhà ở (CVTD bất động sản): Là các khoản cho vay được NH thiết kế để đáp ứng nhu cầu xây dựng, mua sắm, sửa chữa nhà ở của KH là cá nhân hoặc HGĐ.
– CVTD phi cư trú (CVTD thông thường): Là các khoản cho vay dành cho các nhu cầu thiết yếu như đi lại, đồ dùng sinh hoạt, du lịch, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ hoặc giải trí… Một số loại hình thức CVTD phổ biến có thể liệt kê như:
+ Cho vay du học: Là khoản cho vay đối với người thân của những học sinh, sinh viên đang du học, hỗ trợ tài chính cho người đi du học (dù là du học tại chỗ trong nước hay nước ngoài).
+ Cho vay mua phương tiện đi lại: Là khoản cho vay dành cho KHCN có nhu cầu mua xe phục vụ nhu cầu sinh hoạt.
+ CVTD khác: Là các khoản vay được thiết kế để phục vụ cho các mục đích khác như chữa bệnh, cưới hỏi, đi du lịch…
b. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
CVTD trả góp: là hình thức vay mà người đi vay trả cho NH một số tiền bằng nhau nhất định trên từng kỳ hạn (hàng tháng, hàng quý hoặc kỷ hạn 06 tháng).
Số tiền thanh toán định kỳ bao gồm tiền gốc vay (là khoản tiền vay chắc chắn phải trả tương ứng mỗi kỳ hạn, thường bằng nhau) và tiền lãi vay dựa trên dư nợ gốc thực tế. Phương pháp này được sử dụng cho các khoản vay lớn hoặc khi thu nhập định kỳ của người đi vay không đủ để trả hết khoản nợ vay một lần. Đây là hình thức cho vay chủ yếu của các NHTM, hình thức cho vay này giúp cho người đi vay không phải chịu áp lực lớn khi đến hạn. Trong hình thức cho vay này, NH thường thỏa thuận với khách hàng một số điều khoản như: Loại tài sản được tài trợ, số tiền trả trước, chi phí khoản vay như lãi vay và các chi phí liên quan khác, điều khoản thanh toán như thời hạn trả nợ, số tiền phải trả cho mỗi kỳ thanh toán và thời hạn cho vay.
CVTD không trả góp: Khách hàng thanh toán khoản tiền vay cho NH một lần duy nhất khi họp đồng cho vay đến hạn. Thông thường, khoản CVTD không trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay nhỏ, thời hạn ngắn (thường dưới một năm), đối tượng KH có khả năng tài chính cao. Các NH sử dụng phương thức này vì nhờ phương pháp này, việc thực hiện thu nợ làm nhiều kỳ của NH sẽ được tiết kiệm thời gian. Trên thực tế, khoản CVTD theo hình thức này là rất ít.
CVTD tuần hoàn: các NH cung cấp khoản vay cho khách hàng một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định và khách hàng có quyền vay và trả nợ nhiều lần mà không vượt quá hạn mức tín dụng. Loại cho vay này thường được áp dụng cho vay thấu chi, thẻ tín dụng. Loại vay tuần hoàn dễ áp dụng, cho phép khách hàng chủ động sử dụng các nguồn vốn một cách linh hoạt.
c. Căn cứ vào đặc điểm tài trợ
CVTD gián tiếp:là một phương thức cho vay mà tại đấy những khoản nợ phát sinh các khoản nợ hình thành do các công ty bán lẻ đã bán chịu dịch vụ hay hàng hoá cho NTD sẽ được các NH mua lại.
Ưu điểm của CVTD gián tiếp:
+ Tạo điều kiện mở rộng quy mô CVTD của NH
+ Giúp NH giảm các loại chi phí cho vay
+ Giúp phát triển mối quan hệ với KH cũng như những NH khác.
Tuy nhiên, hình thức cho vay này cũng có những nhược điểm :
– NH chỉ gián tiếp tiếp xúc với NTD đã đượccbán chịu.
– Thiếuusự giám sát của NH trong lúc các doanh nghiệp bán lẻ tiến hành bán chịu hàng hóia.
– Kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính phức tạp cao
CVTD gián tiếp thường thực hiện thông qua các hình thức:
– Tài trợ truyyđòi toàn bộ: Theo hình thức này khi bánncho NH các khoản nợ mà NTD đã muaachịu, công ty bán lẻ cam kết nếu đến hạn mà người tiêu dùng không thanh toán cho NH thì công ty bán lẻ sẽ trả toàn bộ số nợ cho NH.
– Tài trợ truy đòi hạn chế: Theo hình thức này, đối với các khoản nợ NTD mua chịu và không thanh toán, trách nhiệm của công ty bán lẻ sẽ chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định, tuỳ thuộc vào việc thoả thuận các điều khoản.
– Tài trợ miễn truy đòi: Với hình thức này, công ty bán lẻ sẽ không còn phải chịu trách nhiệm sau khi các khoản vay được bán cho NH. Hình thức này mang lại nhiều rủi ro hơn cho các NH, vì vậy NH thường tính chi phí tài trợ cao hơn so với các phương pháp kể trên và khắt khe hơn trong việc chọn mua các khoản nợ. Bên cạnh đó, phương thức này chỉ áp dụng đối với những công ty bán lẻ được NH đánh giá có mức độ uy tín cao.
– Tài trợ có mua lại: Khi thực hiện CVTD gián tiếp theo hình thức miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần mà NTD không có khả năng trả được nợ thì NH buộc phải tiến hành thanh lý tài sản của KH để thu hồi
nợ. Trong trường hợp này, NH có thể bán lại cho công ty bán lẻ phần nợ mà NH được được thanh toán nếu có thỏa thuận trước.
CVTD trực tiếp: Là hình thức cho vay trong đó NH liên hệ trực tiếp với KH và cho KH vay đồng thời thu nợ trực tiếp từ KH này. Ưu điểm của CVTD trực tiếp là
– NH có thể tận dụng được điểm mạnh của những cán bộ tín dụng, những người đã được đào tạo bài bản qua trường lớp, có trình độ và có thâm niên, kinh nghiệm trong công tác tín dụng/cho vay, vì vậy các quyết định cho vay của NH thường hiệu quả hơn so với những công ty bán lẻ.
– Linh hoạt vì giũa NH và KH có sự thương lượng trực tiếp, NH toàn quyền quyết định có cho vay hay không.
d. Căn cứ vào thời hạn cho vay
– CVTD ngắn hạn: là một phương thức cho vay có thời hạn dưới 12 tháng, được thiết kế để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các KHCN và hộ gia đình. Khoản tín dụng này được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu ngắn hạn trước mắt.
– CVTD trung hạn: là một hình thức cho vay có thời gian dài hơn, từ 01 năm – 05 năm. Hình thức cho vay này chủ yếu được sử dụng cho các khoản đầu tư như mua sắm vật dụng gia đình, vay mua ô tô…
– CVTD dài hạn: là hình thức cho vay trên 05 năm. Khoản vay này được thiết kế để phục vụ nhu cầu dài hạn của khách hàng như xây nhà, vay tiền sửa chữa nhà, mua nhà dự án…
e. Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay
– Cho vay tín chấp: Không cần TSĐB, hoàn toàn dựa vào mức độ uy tín của cá nhân và công ty mà họ đang làm việc để đáp ứng cho những nhu cầu cá nhân.
Hình thức cho vay này chỉ ứng dụng với một số KH nhất định – những KH có nguồn thu nhập đều đặn và thường xuyên.
– Cho vay cầm cố: là phương thức cho vay của NH đối với các KH với điều kiện là KH phải chuyển giao TSĐB cho NH trong thời gian cam kết. Danh mục và điều kiện của TSĐB được NH quy định cụ thể phù hợp với quy định của pháp luật và chính sách tín dụng của từng NH. Các TSĐB là các loại tài sản mà NH có thể kiểm soát và nắm giữ tương đối chắc chắn, cùng với đó việc nắm giữ các TSĐB này sẽ không tác động đến quá trình hoạt động của KH, chẳng hạn như: kim loại quý, các loại GTCG, ngoại tệ mạnh,…
– Cho vay thế chấp: Đối với phương thức cho vay này, người đi vay sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với NH trong thời hạn đã thoả thuận và không chuyển giao tài sản đó cho NH. Đối với thế chấp bằng tài sản thì những tài sản mang thế chấp thường là BĐS như nhà cửa, đất đai… hoặc là những động sản mà việc nắm giữ nó không thuận tiện như xe máy, ô tô,…
– Cho vay đảm bảo bằng tài sản hình thành trong tương lai: Trường hợp khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có TSĐB, hoặc tài sản đó chưa đáp ứng được những yêu cầu từ phía NH thì NH có thể yêu cầu KH sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của NH làm TSĐB. Ví dụ trường hợp khi khách hàng vay tiền mua ô tô, NH có thể yêu cầu lấy chính chiếc ôtô đó làm TSBĐ, khi KH không trả được nợ thì NH sẽ tiến hành thực hiện thủ tục phát mại tài sản là chiếc ô tô đó để thu hồi nợ. Để đảm bảo rằng KH sẽ không tự ý bán hoặc sử dụng không cẩn thận làm giảm giá trị của tài sản, NH thông thường yêu cầu khách hàng phải cam kết bảo quản tài sản, mua bảo hiểm và người thụ hưởng là NH, cùng với đó là chuyển toàn bộ giấy tờ sở hữu tài sản cho NH.
Vai trò của cho vay tiêu dùng
a. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với khách hàng
CVTD là các khoản cho vay được thiết kế để đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của NTD. Vì vậy, KH của CVTD cũng chính là NTD, đặc biệt là những NTD có mức thu nhập tầm trung. Thông qua CVTD, ngay cả khi khả năng kinh tế thời điểm hiện tại chưa cho phép, khách hàng vẫn có thể mua sắm những hàng hoá cần thiết có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và cải thiện đời sống.
Trên thực tế, chúng ta thấy rằng có nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, thiết yếu, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống đối với các KHCN và HGĐ. Những nhu cầu này không sớm thì muộn người tiêu dùng cũng phải thoả mãn. Ví dụ như nhu cầu về mua sắm, sửa chữa nhà cửa, mua các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, mua sắm các phương tiện như xe máy, ô tô, du lịch, học hành…
Tuy rằng những nhu cầu thiết yếu nhưng của cải thì được tích luỹ theo thời gian, do vậy khả năng tài chính thường bị giới hạn. Do đó, làm nảy sinh sự thật là người ta thường mua sắm nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt khi lớn tuổi. Khi lợi ích cảm thụ được từ sự hưởng thụ đều có xu hướng giảm xuống, do đó, người tiêu dùng sẽ tìm cách để phối hợp khéo léo giữa việc thoả mãn các nhu cầu là yếu tố thời gian và khả năng thanh toán của hiện tại và tương lai. Điều này có nghĩa là người tiêu dùng sẽ tìm cách để hưởng thụ trước số tiền sẽ có trong tương lai. Nếu phân tích theo khía cạnh tài chính, việc mượn tiền trước của NH để tiêu dùng khiến chúng ta phải trả lãi thực chất cũng chỉ là cách quy đổi luồng tiền ta sẽ có tại một thời điểm nào đó trong tương lai về thời điểm hiện tại.
Xuất phát từ những lí do trên, việc NH triển khai và hoàn thiện công tác CVTD sẽ mang lại lợi ích tốt nhất cho NTD. Qua đó ta có thể xác nhận chắc chắn rằng NTD là những thành phần được hưởng quyền lợi trực tiếp những lợi ích do hoạt động CVTD mang lại.
b. Vai trò của CVTD đối với ngân hàng
Với sự hoàn thiện của hệ thống NH, đặc biệt là NHTM, vai trò của các NHTM đối với xã hội ngày càng được khẳng định. Nhưng các NH không tránh khỏi sự cạnh tranh ngày càng tăng từ các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ khác. Ngày càng có nhiều tổ chức đang tìm cách cung cấp các dịch vụ mà ngân hàng đã và đang cung cấp. Ngay giữa các NHTM với nhau sự cạnh tranh giành giật thị trưởng và khách hàng cũng ngày càng gay gắt. Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển, các NH phải không ngừng đổi mới, tìm tòi và cung cấp các dịch vụ mới ngày càng có nhiều tiện ích cho khách hàng, từ đó tăng doanh thu cho NH. Thực tế đã chứng minh, một số NHTM lớn trên thế giới đã thu được các khoản lợi nhuận khổng lồ từ việc CVTD. Ngoài ra, nếu xem xét riêng lẻ từng khoản CVTD thì ta thấy CVTD có rủi ro lớn. Tuy nhiên, do giá trị của mỗi khoản CVTD có tương đối nhỏ, đặc biệt là do có nhiều sản phẩm CVTD, nên xét về toàn diện của các khoản CVTD thì rủi ro được xem xét là không đáng ngại. Trên thực tiễn, các món CVTD thường mang lại cho ngân hàng mức lợi nhuận cao, điều này được lí giải từ việc lãi suất ấn định trên các khoản CVTD cao. Do đó, các NHTM cũng có thể mong đợi lợi nhuận thu được cao hơn từ các khoản CVTD.
Hoạt động cho vay này giúp NH cải thiện những mối quan hệ giữa NH và KH, qua đó giúp NH có những ưu thế trong công tác huy động tiền gửi, nhất là huy động tiền gửi từ dân cư. Ngoài ra, trong cộng đồng dân cư, tính lan truyền rất cao nên nhờ các khoản CVTD, các NH có thể đẩy mạnh hoạt động truyền thông, quảng cáo hình ảnh của mình, nhờ vậy thu hút được nhiều hơn những NTD đến và trải nghiệm sử dụng các sản phẩm và dịch vụ khác của NH. Bên cạnh đó, các khoản CVTD có giá trị nhỏ, nhưng ngược lại, nhu cầu vay tieu dụng lại rất lớn nên nếu có thể phát triển thị trường này, những NHTM có thể tận dụng được một số lượng nguồn vốn lớn. Hơn nữa, dân cư là KH tiềm năng lớn của NH, NH phải dựa vào nhóm đối tượng KH này nếu muốn phát triển bền vững. Trong khi cấp các khoản CVTD thì các NH cũng góp phần thúc đẩy tiêu dùng, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển và những NH có thêm những khoản cho vay mới phục vụ ngành sản xuất. Sự phát triển của sản xuất lần lượt đưa ra các sản phẩm mới cho thị trường, làm tăng nhu cầu của NTD.
c. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với nền kinh tế
CVTD có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. CVTD giúp NTD tận hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền và quan trọng hơn, nó rất cần thiết cho những trường hợp khi cá nhân phát sinh những nhu cầu chỉ tiêu Do đó, CVTD là đòn bẩy vô cùng hữu hiệu để kích cầu nhu cầu của NTD. Để đáp ứng nhu cầu này, các nhà sản xuất sẽ tích cực gia tăng sản xuất, cải thiện hoạt động quy mô sản xuất, đóng góp vào sự phát triển của thị trưởng, tạo ra nhiều công ăn việc làm. Đồng thời, tạo ra sự cạnh tranh giữa các hãng sản xuất, các nhà kinh doanh về sản phẩm, mẫu mã, chủng loại và các nhà sản xuất sẽ tìm cách để có thể đáp ứng mọi thị hiếu người tiêu dùng. Một mặt thúc đẩy sản xuất phát triển, một mặt người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn, qua đó tạo sự năng động cho nền kinh tế. Các nhà sản xuất muốn tồn tại thì cũng phải không ngừng cải tiến, tự hoàn thiện mình, làm cho nền sản xuất ngày càng phát triển và phồn thịnh.
Mục tiêu của hoạt động cho vay tiêu dùng
“Mọi hoạt động của ngân hàng đều có mục tiêu chính đó là tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng khả năng sinh lời và mục tiêu của hoạt động cho vay tiêu dùng đó là tăng thu nhập từ hoạt động cho vay, chiếm lĩnh thị phần, kiểm soát, cân bằng giữa các chi phí và lợi ích trong hoạt động vay vốn, qua đó tăng lợi nhuận từ việc cho vay, tăng tỷ suất sinh lời trên dư nợ cho vay. Tùy vào mỗi thời kỳ mà ngân hàng phải tiến hành phân tích các yếu tố trong môi trường kinh doanh như: môi trường kinh tế, môi trường địa lý, chính trị, pháp luật và xu hướng tiêu dùng chung của xã hội, đối thủ cạnh tranh; Từ đó Ngân hàng sẽ đưa ra những chiến lược phù hợp với những ưu tiên khác nhau về mục tiêu. Các mục tiêu không chỉ được Ngân hàng chú ý và phát triển nhất định mà thường được kết hợp các mục tiêu với nhau. Dưới đây là những mục tiêu của hoạt động cho vay tiêu dùng mà ngân hàng có thể hướng đến.”
– Mục tiêu về quy mô:
Quy mô cho vay tiêu dùng được đánh giá qua các chỉ tiêu: Dư nợ cho vay tiêu dùng, số lượng khách hàng vay tiêu dùng và dư nợ bình quân cho vay tiêu dùng trên một khách hàng vay. Để xác định được kết quả về quy mô cho vay tiêu dùng trong năm, ngân hàng thường so sánh các chỉ tiêu về qui mô cho vay tiêu dùng này so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra
– Mục tiêu về phát triển thị phần: Mục tiêu này chẳng những dựa trên tăng trưởng qui mô mà còn đặt trong tương quan so sánh với các ngân hàng khác, thể hiện tỷ trọng (%) cho vay tiêu dùng của ngân hàng trong tổng cho vay tiêu dùng trên địa bàn. Thị phần cảng lớn càng thể hiện năng lực cạnh tranh và vị thế, triển vọng của NH. Ngược lại nếu thị phần nhỏ chứng tỏ NH không có khả năng mở rộng phát triển CVTD.
– Mục tiêu về nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay: Bên cạnh tăng trưởng qui mô, mục tiêu này luôn song hàng để nâng cao uy tin, tạo dựng thương hiệu lâu dài cho ngân hàng, tạo sự hài lỏng, gắn kết bền vững với các khách hàng, quyết định lợi ích lâu dài cho ngân hàng. Xây dựng danh mục cho vay đối với CVTD hợp lý, khoa học nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng một mặt vừa giữ khách hàng cũ thu hút được khách hàng mới, mặt khác đảm bảo được chất lượng cho vay. Tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, tăng cường tính bảo mật và giảm được việc làm thủ công cho đội ngũ cán bộ.
– Mục tiêu kiểm soát rủi ro: Kinh doanh với mục tiêu lợi nhuận luôn gắn liền rủi ro. Qui mô cho vay càng tăng có nguy cơ rủi ro càng lớn. Tăng trưởng qui mô do vậy không thể loại trừ hết rủi ro, nhưng cũng không thể chấp nhận mọi rủi ro, vấn đề là kiểm soát được rủi ro trong giới hạn chấp nhận được và được đánh giá chủ yếu thông qua tỷ lệ nợ xấu cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Ngoài ra, kiểm soát, hạn chế rủi ro bằng cách đa dạng hóa gói vay tiêu dùng. Đa dạng hóa sản phẩm hơn nữa để phù hợp với sức chi trả của từng phân khúc khách hàng.
– Mục tiêu về gia tăng thu nhập: Gia tăng thu nhập là mục tiêu cuối cùng của kinh doanh, và cũng là hệ quả của việc tiến hành các biện pháp đạt các mục tiêu khác.
Với nhiều mục tiêu khác nhau, tùy theo hoàn cảnh kinh doanh từng thời kỳ mà ngân hàng sẽ lựa chọn vài ba mục tiêu ưu tiên kết hợp, các mục tiêu còn lại có thể trở thành thứ yếu.
Tiêu chí đánh giá hoạt động cho vay tiêu dùng
Là 01 đơn vị kinh doanh sản phẩm đặc biệt là tiền tệ, nên mục tiêu ưu tiên số một của NH vẫn là tối đa hóa lợi nhuận dựa trên tối đa hóa lợi ích của khách hàng. Vì vậy, cần xác định được mục đích của việc cung ứng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng, đồng thời đánh giá chất lượng sản phẩm mình cung ứng; xác định chính xác mục đích sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng hiệu quả hơn. Một số tiêu chí để đánh giá kết quả của hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng bao gồm:
a. Quy mô cho vay tiêu dùng thể hiện qua các tiêu chí:
– Dư nợ cho vay tiêu dùng: tiêu chí phản ánh lượng vốn cho vay tiêu dùng của ngân hàng đã được giải ngân tại một thời điểm cụ thể, được tính bằng số tuyệt đối.
– Số lượng khách hàng vay vốn: tổng số khách hàng đến giao dịch vay vốn tiêu dùng tại ngân hàng trong một thời gian nhất định.
– Dư nợ bình quân trên một khách hàng: cho biết dư nợ bình quân trên một khách hàng trong năm T là bao nhiêu, được xác định bằng tổng dư nợ ở một thời điểm so với tổng số khách hàng có tại thời điểm đó.
b. Thị phần cho vay tiêu dùng của Ngân hàng trên thị trường mục tiêu
Thị phần đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng trong cho vay tiêu dùng. Chỉ tiêu này được đánh giá qua tỷ trọng dư nợ cho vay tiêu dùng của ngân hàng đó so với tổng dư nợ cho vay tiêu dùng của tất cả các ngân hàng khác trên cùng địa bàn (thị trường mục tiêu) kể cả dư nợ của chính ngân hàng đó.
c. Cơ cấu cho vay tiêu dùng
Cơ cấu cho vay tiêu dùng phản ánh mức độ đa dạng hóa hoạt động cho vay tiêu dùng. Phân tích cơ cấu cho vay tiêu dùng cho phép xem xét tương quan về tỷ trọng của từng loại hình cho vay tiêu dùng theo các tiêu chí phù hợp. Thông thường, trong hoạt động cho vay tiêu dùng, tùy theo điều kiện về số liệu hiện có, các loại cơ cấu sau thường được chú ý trong phân tích:
+ Cơ cấu cho vay theo kỳ hạn
+ Cơ cấu cho vay theo sản phẩm
+ Cơ cấu cho vay theo hình thức bảo đảm tiền vay
+ Cơ cấu cho vay theo quy mô
+ Cơ cấu cho vay theo địa bàn
+ Cơ cấu cho vay theo loại tiền tệ
d. Hiệu quả sinh lời của hoạt động cho vay tiêu dùng
Hiện nay, do các NHTM Việt Nam vẫn chưa có điều kiện để hạch toán lợi nhuận riêng của từng hoạt động cho vay riêng lẻ nên chưa thể tính toán chính xác được hiệu quả sinh lời riêng của hoạt động cho vay tiêu dùng. Vì vậy, tùy theo điều kiện có thể có của số liệu mà vận dụng các chỉ tiêu thay thế một cách phù hợp. Chỉ tiêu thường được sử dụng là chi tiêu chênh lệch lãi suất bình quân trong hoạt động cho vay tiêu dùng.
e. Chất lượng cung ứng dịch vụ cho vay tiêu dùng
Dịch vụ CVTD có thể được đánh giá qua 2 cách sau:
– Ngân hàng tự đánh giá hoạt động cho vay của mình thông qua việc quan sát thực tế cho vay tại đơn vị, những thành quả đạt được trong lĩnh vực cho vay thông qua số liệu kinh doanh hàng năm, mà từ đó ngân hàng tự đánh giá để xác định được chất lượng dịch vụ mình đang ở mức nào, có đáp ứng tốt nhu cầu của xác hội hay không
– Thông qua khảo sát đánh giá của khách hàng: Ngân hàng sẽ tiến hành phát phiếu điều tra trực tiếp tới khách hàng đã vay vốn. Trên cơ sở các phiếu điều tra được, ngân hàng sẽ tổng hợp các đánh giá của khách hàng để đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng về dịch vụ cho vay tiêu dùng mà ngân hàng đang cung cấp. Qua đó, giúp ngân hàng có những giải pháp để cải thiện chất lượng dịch vụ như: Hồ sơ thủ tục, thời gian xử lý hồ sơ, lãi suất đang áp dụng, chất lượng tư vấn hỗ trợ, thái dộ phục vụ của cán bộ, không gian giao dịch…
f. Kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng
Về lý thuyết, các chỉ tiêu đánh giá kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng bao gồm:
– Tỷ lệ nợ từ nhóm 2 – nhóm 5 trong cho vay tiêu dùng
Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 của Thống đốc NHNN, tỷ lệ nợ nhóm 2 – nhóm 5 là các khoản nợ có phát sinh quá hạn trong nhóm 2 đến nhóm 5 (những khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến trên 360 ngày) theo phân loại nợ của ngân hàng trong cho vay tiêu dùng so với tổng dư nợ cho vay tiêu dùng.
– Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng/tổng dư nợ cho vay tiêu dùng
Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 của Thống đốc NHNN thì nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5. Đây là những khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên mà người đi vay có rất ít khả năng trả nợ, nhiều khả năng ngân hàng bị mất vốn. Tỷ lệ này được tính bằng cách lấy nợ từ nhóm 3 đến 5 chia cho tổng dư nợ cho vay tiêu dùng.
– Tỷ lệ xóa nợ ròng trong cho vay tiêu dùng/dư nợ cho vay tiêu dùng
Khoản cho vay được xóa nợ hay xóa nợ ròng là một số khoản cho vay không còn giá trị và Ngân hàng xóa khỏi sổ sách và được theo dõi ngoại bảng. Nếu một trong các khoản cho vay đó mà cuối cùng ngân hàng cũng thu được thì khoản thu nhập đó sẽ khấu trừ tổng các khoản xóa nợ tạo thành khoản xóa nợ ròng. Khoản xóa nợ ròng là mức tổn thất thật sự, phản ánh rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Đây chỉ là một phương pháp quản lý tài chính của Ngân hàng chứ không phải thừa nhận là khách hàng hết nợ Ngân hàng.
– Tỷ lệ trích lập dự phòng/tổng dư nợ
Là tỷ lệ giữa số tiền ngân hàng phải trích ra từ thu nhập để dự phòng cho tất cả các khoản nợ trên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng.
F:\TÀI LIỆU NĂM 2023\TÀI LIỆU CHƯA ĐỔI TÊN\Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam
Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam


