Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng

Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

Tính cấp thiết của đề tài

Trong bốiacảnh kinh tế thế giới đang diễn biến phức tạp, nền kinh tế trong nước tiếp tục đối mặt với những khó khăn nhiều năm qua như sức mua trên thị trường thấp, khả năng hấp thụ vốn thấp, sức ép nợ xấu còn nặng nề đã ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng tín dụng, thì nay ảnh hưởng đại dịch Covid 19 còn làm tình hình kinh tế cảng trở nên khó khăn, phức tạp, khó dự báo hơn.

Trong điều kiện thị trường vốn Việt Nam mới hình thành, cơ sở pháp lý và công cụ của thị trường còn chưa nhiều bất cập, chưa đa dạng dẫn tới phần lớn nhu cầu vốn của KH được đáp ứng chủ yếu thông qua hệ thống NHTM. Từ lâu, NHTM đã thể hiện vai trò cốt yếu trong hệ thống tài chính của đất nước, thông qua hoạt động huy động và phân bổ nguồn vốn nhịp nhàng, như “mạch máu” dẫn vốn cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả và ổn định.

Hoạt động cho vay (cụ thể hóa việc phân bổ nguồn vốn) là nghiệp vụ chủ yếu hệ thống NHTM ở nước ta, hoạt động này ước tính mang đến 60-70% thu nhập của mỗi NH. Trong đó, nhu cầu CVTD của KH đang phát triển ngày càng mạnh mẽ trong những năm gần đây.

Trong những năm qua, hoạt động CVTD tại Việt Nam đã và đang trên đà phát triển, cùng sự phối hợp giữa nhiều TCTD và các công ty tài chính. Dù còn ở mức khiêm tốn nhưng tổng dư nợ và tỷ trọng CVTD so với tổng tín dụng đối với nền kinhotế đã đạt được thành tựu đáng kể. Theo NHNN, đến cuối tháng 6/2022, dư nợ CVTD phục vụ đời sống tăng 14,12% so với cuối năm 2021 (cuối năm 2021 tăng 13,4%, cùng kỳ năm 2021 tăng 7,24%), chiếm 22,22% dư nợ tín dụng chung. Đây cũng chính là thị trườngotiềm năng mà các NH đang khai thác và phát triển, Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng cũng không ngoại lệ.

Hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản đã giúp Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng đã có một số thành tựu về tăng trưởng quy môitín dụng và lợi nhuận, cụ thể, tốc độbtăng trưởng của hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản tăng từ 8-12%, lợi nhuận đạt 13-15%/năm.

Bên cạnh nhữngykết quả đạt được, hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản tại Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng còn bộc lộ những hạn chế như quy mô đối với KHCN còn rất thấp so với yêu cầu đặt ra, chỉ chiếm 15 – 17% trong tổng dư nợ, trong khi tỷ lệ nợ xấu từ hoạt động này vẫn chưa có xu hướng giảm. Với những đặc thù của hoạt động tín dụng này, Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng đã yêu cầu phải tập trung hoàn thiện hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản nhằm nângvcao hiệu quả HĐKD trong thời gian tới. Qua đó, tìm ra những ưu, nhược điểm và từ đó hướng đến những giải pháp để hoàn thiện hoạt động CVTD không có bảo đảm bằng tài sản tại Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng.

Vì vậy, tôi quyếttđịnh chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản tại các NHTM.

Đánh giá thực trạng hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản tại Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng.

Đề xuất những giải pháp, kiến nghịpnhằm hoàn thiện hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản tại Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượngnnghiên cứu: Hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản.

– Đối tượng khảo sát: CBTD, nhân viên NH và KH sử dụng dịch vụ CVTD không có đảm bảo bằng tài sản.

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Không giangnghiên cứu: Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng.

+ Thời gianinghiên cứu: Đề tài sẽ phân tích trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2022, đề xuất giải pháp hoànfthiện hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản tại Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng giai đoạn tiếp theo.

+ Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu và giải quyết các vấn đề về lý luận và thực tiễn hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản tại Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng. Nội dung nghiên cứu không bao gồm cho vay không có đảm bảo bằng tài sản theo hình thức gián tiếp và vay ngoại tệ.

Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp thu thập dữ liệu

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu được thu thập từ báo cáo thường niên của Vietinbank nói chung vàbbáo cáo tàizchính của Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng, bản công bố thông tin, báoocáo thường niên của NHNN và một số NHTM, tạp chí chuyên ngành kinhhtế, tài chính ngân hàng và xử lý thông tin về thựcftrạng phátotriển tínndụng tại Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng.

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn sâu mộtjsố cán bộlcủa Chi nhánh và khảo sát để thăm dò ý kiến KHCN tại Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng. Cụ thể:

STTĐối tượngSố lượng (người)Phương pháp thu thập thông tinCách thức chọn mẫu
1CBTD khách hàng cá nhân của Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng.5Phỏng vấn sâu5 Cán bộ tiếp làm hồ sơ
2KHCN sử dụng sản phẩm CVTD không có đảm bảo bằng tài sản183Điều tra khảo sát bằng bảng hỏiNgẫu nhiên

Nội dung khảo sát:

Thông tin chi tiết về phiếu khảoơsát đượcvtrình bày ở phần phụ lục, bao gồm:

+ Quy trình hoạt động CVTD không cóođảm bảo bằng tài sản đối với KHCN.

+ Chất lượng hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản đối với KHCN.

+ Cảm nhận của KH đối với hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản của NH.

Phỏng vấn sâu sẽ thực hiện với các CBTD và lãnh đạo NH, nội dung chủ yếu về các đặc điểmccơ bản của CVTD không có đảm bảo bằng tài sản, những nhânttố ảnh hưởng đến hoạt động này, từ đó đưa raagiải pháp cải thiện cho Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng.

Phương pháp so sánh, thống kê

Phương pháp so sánh: Các số liệu được chọn lọc, xử lý và đưa vào nghiên cứu này dưới dạng các bảng thống kê. Nội dung phân tích các số liệu này bao gồm phân tích so sánh giá trị giữa các giai đoạn, ở đây là theo từng năm.

Phương pháp thống kê: lựa chọnkmô hình phù hợp với đề tài nghiên cứu, sau đó thiết kế thang đo tương ứng dựa trên dữlliệu sơ cấp đã thu thập được. Dữ liệu sau khi thudthập sẽ được xửklý bằng phần mềm ứng dụng Microsoft Excel.

Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Vietinbank – Chi nhánh Đà Nẵng.

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng
Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG KHÔNG CÓ ĐẢM BẢO BẰNG TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. CHO VAY TIÊU DÙNG KHÔNG CÓ ĐẢM BẢO BẰNG TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Cho vay tiêu dùng

a. Khái niệm

“Cho vay tiêu dùng là việc ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một lượng giá trị bằng tiền trên nguyên tắc khách hàng sẽ hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian xác định đã thoả thuận để sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống.” (Trương Lê Ngân Giang, 2021)

b) Phân loại

CVTD không có đảm bảo bằng tài sản đối với KH được phân loại dựa các căn cứ như sau:

Căn cứ vào mục đích vay vốn

– Cho vay tiêu dùng cư trú: đáp ứng nhuucầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạofnhà ở của KHCN, hộ gia đình.

– Cho vay tiêu dùng phi cư trú: chủ yếu phục vụ các hoạt động như đi học, mua sắm đồ gia dụng, xe cộ, du lịch giải trí, …

Căn cứ vào phương thức hoàn trả

– Cho vay tiêu dùng trả góp: KH trả nợ cho NH (cả số tiền gốc và lãi) theo những kì hạn nhất địnhhtrong thời hạn vay.

– Cho vay tiêu dùng phi trả góp: vốn gốc được thanh toánnmột lần khi khoản vay đến hạn.

– Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: KH được sửodụng thẻ tínidụng hoặc loạisséc được phép thấuuchi dựa trên tài khoản vãngglai. Trong thời hạn tínidụng được thỏapthuận trước, tuỳ theo hạn mức tínhdụng, nhu cầu chi tiêu và thu nhập, KH được phéppvay và trả nợ nhiều kỳzmột cách tuầnhhoàn.

Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ

– Cho vay tiêu dùng gián tiếp: NH tài trợ cho các công ty bán lẻ để họ bán hàng trả góp cho KH, bằng cách mua lại các khoản nợophát sinh do cácccông ty này đã bánhchịu hàng hóaihay dịch vụ cho KH.

– Cho vay tiêu dùng trực tiếp: NH giao dịch và thu nợ từ KH vay.

Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay

– Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: NH cho vay không cần TSĐB và chủ yếupdựa vào uyytín KH về năng lực trả nợ của họ để phục vụ cho nhu cầu riêng.

– Cho vay cầm cố: NH dành cho người đi vay có tài sản để đảm bảo cho khoản vayxcủa mình với điều kiện KH phải chuyển giao TSĐB sang NH trong thời gianicam kết. Các thông tin cụ thể về sản phẩm cầm cố sẽ được ghi rõ trên hợp đồng cầm cố, khi nào KH trả nợ hết sẽ được quyền nhận lạiltài sản của mình. Bên nhậnacầm cố chỉ được giữ tài sản khi người cầm cố không thể trả được khoản nợ.

– Cho vay thế chấp: TSBĐ được dùng để thếpchấp và thuộc quyềnssở hữu của người đivvay trong suốt thời gian vay nợ. Khi đi vay, giấy tờ chứnggminh quyền sở hữu của TSĐB sẽ được NH giữ lại và quyền sởohữu tài sản vẫn thuộc về người đi vay. Một số TSĐB phổ biến được dùng để vay thế chấp tại NH là quyềnssử dụng đấtvvà tài sản gắn liềnnvới đất, giấy tờ có giá, tài sản hình thành trongttương lai, xe cộ, thiết bị máy móc, vật tư, …

– Cho vay đảm bảo bằng tài sản hình thành từ tiền vay: KH dùng tàiisản hình thànhhtừ vốn vay để bảoođảm thực hiện nghĩaavụ trả nợ cho chínhhkhoản vay đó đối với NH.

Căn cứ vào thời hạn cho vay

– Cho vay ngắn hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng, chủ yếu để chi tiêu ngắn hạn của các cá nhânvvà hộ gia đình.

– Cho vay trung hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời gian dài hơn, từ 1 đến 5 năm với mục đích chủ yếu để đầu tư như mua sắm vậttdụng gia đình, ô tô, …

– Cho vay dài hạn: NH cấp tín dụng trên 5 năm. Mục đích của khoản vay chù yếu cho các hoạt động dài hạn như xây nhà, sửa chữa, mua đất dự án, …

Căn cứ vào phương thức cho vay

– Cho vay theo hạn mức tín dụng: NH sẽ cấp một hạn mức vay nhất định, KH duy trì mức dư nợ không vượt quá mức đã cấp. Hình thức choyvay này yêu cầu TSĐB, thônggthường là bất động sản, giấyytờ có giá hay những tài sản khác mà NH chấp nhận.

– Cho vay từng lần: còn gọi là cho vay theo món, KH thực hiện các thủ tục vaycvốn một lần, giải ngân một hay nhiều lần, khi thu hết nợ thì thanh lý.

1.1.2. Cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản

a. Khái niệm

Cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản là việc NH cấp tiền cho KH có năng lực tài chính vững mạnh, có uy tín cao, hoặc số tiền cho vay nhỏ so với tài sản KH để đáp ứng chi tiêu theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi mà KH không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.

b. Đặc điểm

CVTD không có đảm bảo bằng tài sản đối với KHCN là một hoạt động quan trọng với một NH. Mặc dù rủi ro cao nhưng các NH lại luôn chú trọng phát triển, nhất là trong bối cảnh dịch vụttruyền thống đang ngày càng bão hòa. Vay không có TSBĐ có những đặc điểmiriêng khác như sau:

Quy mô khoản vay nhỏ: các khoản vay không có TSBĐ của KHCN có quy mônnhỏ và khối lượng cũng không lớn, do mục đích chủ yếu là tiêukdùng hoặc thực hiện các hoạt động SXKD nhỏ nên nhu cầu vốn thấp.

Mục đích vay: để tiêu dùng hoặc SXKD nhỏ của KHCN và hộ gia đình.

Rủi ro đối với CVTD không có đảm bảo bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân cao: CVTD không có đảm bảo bằng tài sản là hoạt động rủiiro nhất của NH. Trong vài tình huống, để được cấp tín dụng, nhiều KH cung cấp các thông tin sai lệch về sức khoẻ và công việc nên NH dễ gặp phải rủi rodđạo đức khi cho vay (thông tin bất đối xứng). Đồng thời, khoản tín dụng này có rủiiro cao nên NH thường kiểm tra kỹ trước khi phê duyệt và ký kết hợp đồng.

Lãi suất cho vay cao: với giá trị khoản vay bất kỳ, CVTD vẫn phải thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình tín dụng, dẫn tới chiiphí quản lí món vay này bằng với chi phí cho doanhhnghiệp vay một món lớn để phục vụ hoạt động SXKD.

Hạn mức cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản: là số tiền tối đa mà NH cho vay. Hạn mức này được tính toán dựa trên các yếuetố như: nhu cầu vốn, sự uy tín của KH.

c. Các rủi ro trong cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản

Rủi ro tín dụng

RRTD phát sinh khi KH không có khả năng thực hiện mộtpphần hoặc toàn bộnnghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến hạn của các giao dịch.

Hoạt độnggtín dụng là hoạt độnggcơ bản, cũng là hoạt động đem lại nguồn thu chính của các NHTM. Tuy nhiên, hoạt động nàyttiềm ẩn rất nhiều RRTD. Nó gây ra tổn thất về kinh tế, giảm giá trị NH trên thị trường, ở trường hợp phức tạp hơn có thể làm HĐKD của NH bị thua lỗ, cao hơn nữa có thể đưa NH đến bờ vực phá sản.

Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất xảy ra khi phát sinh chênh lệch giữa lãi suất huy động đầu vào và lãi suất đầu ra do biến động của thịttrường và chênh lệch giữa các kỳ hạn huy động và kỳ hạn đầu tư. Sự biến động của lãi suất thị trường có thể tác động tiêu cực tới lợi nhuận NH do làm tăngcchi phí, giảm thu nhập của NH.

Để thực hiện quản lí rủi ro lãi suất, trước tiên cần hoạt động giám sát của quản lí cấp cao về rủi ro lãi suất trên sổ NH liên quan đến cơ cấu tổ chức thực hiện quản lí, ban hành chiến lược, chính sách, quy định về quản lírrủi ro, xác định khẩu vị rủi ro, giám sát về việc tổ chức thực hiện quản lí. Nội dung của quản lí rủi ro lãi suất trên sổ NH có thể tóm tắt thành các bước: (i) Nhận dạngrrủi ro; (ii) Đánh giá và đo lường rủi ro; (iii) Theo dõi và kiểm soát rủi ro. Trong đó, nhận dạng rủi ro bao gồm các hoạt động xác định ranh giới sổ NH và sổ kinh doanh, xác định các nguồn phát sinh rủi ro lãi suất trên sổ NH. Đánh giá và đo lườngrrủi ro bao gồm các hoạt động liên quan đến việc lựa chọn mô hình và phương pháp đo lường tác động của rủi ro lãi suất trên sổ NH thông qua tác động đến giá trị kinh tế của vốn chủ sở hữu (EVE – Economic value of Equity) và/hoặc thông qua tác động đến lợi nhuận thông qua thu nhập lãi thuần (NII – Net Interest Income). Theo dõi và kiểm soát rủi ro lãi suất trên sổ ngân hàng bao gồm các hoạt động giám sát, báo cáo trạng thái và đưa ra cácbbiện pháp kiểm soát kịp thời.

Rủi ro tỷ giá

Rủi ro tỷ giá do sự thayfđổi giá trị của tiền tệ gây ra dựa trên ảnh hưởng của sự thay đổi liên tục và thường xuyên biến động trong cân bằng cung cầu trên toàn thế giới. Rủi ro tỷ giá phát sinh khi cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi sự thay đổi tỷ giá có chiều hướng bất lợi cho NH.

Rủi ro tác nghiệp

Rủi ro tác nghiệp tồn tại trong hầu hết các bộ phận của NH có thực hiện nghiệp vụ giao dịch kinh doanh, cungdcấp dịch vụ hoặc các hoạt động chấp nhận rủi ro.

Theo Hiệp ước vốn Basel II: “Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bên ngoài. RRTN bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”.

Rủi ro tác nghiệp là rủi ro phát sinh do yếu tố con người, các vấn đề về đạo đức, chẳng hạn như gian lận của nhân viên ngân hàng, lỗi cẩu thả, sự yếu kém trong hệ thống côngrnghệ thông tin do lỗi hệ thống hoặc mất điện, sự thiếu chặt chẽ trong quy trình nghiệp vụ hoặc các lý do khác dẫn đến sai sót ở một NH mà không thể phân loại vào các rủi ro khác. RRTN có thể dẫn đến những hậu quả đối với các hoạttđộng nghiệp vụ.

Quản lý của NHNN đối với hoạt động rủi ro của NHTM là sự tác động của định hướng, có mục đích, có kế hoạch của NHNN đối với các rủi ro của NH nhằm kiểm soát và kịp thời đưa ra chính sách can thiệp để có thể giúp hoạt động ổn định, an toàn trong kinh doanh. Quản lý của NHNN đối với hoạtiđộng rủi ro tác nghiệp của các NHTM bao gồm một số nội dung sau:

Thứ nhất, xây dựng hệethống các chính sách, phương pháp quản lý của NHTM đối với rủi ro tác nghiệp của mình.

Thứ hai, tổ chức thực hiện quản lý của NHNN đối với RRTN của các NHTM.

Thứ ba, giám sát, thanh tra và kiểm tra, kiểmssoát rủi ro tác nghiệp của các NHTM và xử lý vi phạm đối với rủi ro thanh khoản của các NHTM.

Thứ tư, công cụ quản lý của NHNN đối với rủi ro tác nghiệp của NHTM.

d) Vai trò cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản

Đối với người tiêu dùng

Nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng phong phú và đaadạng hơn. Các nhu cầu hưởng thụ dịch vụ công cộng và trải nghiệm sống cũng được củng cố. KH đôi lúc phát sinh nhu cầu vượt quá tiềm lực tài chính ở hiện tại. Vì vậy, coningười thường chọn tận hưởng khi về hưu. Tuy nhiên, lúc này nhu cầu hưởng thụ có xu hướng giảm dần. Với hình thức kinh doanh thẻ tín dụng tín chấp bằng tài sản của NH, người dân có thể tận dụng các dịch vụ, tiện ích này mộtncách nhanh chóng trước khi khách hàng có đủ tiền vì thay vì phải trả một khoảnftiền lớn ngay khi mua sản phẩm, dịch vụ.

Kích thích khách hàng làm việc hiệu quả hơn

Các khoản vay không có TSBĐ khuyến khích người KH nhanh chóng trả nợ cho NH và trở thành chủ sở hữu thựcssự của hàng hóa và dịch vụ. Thông thường, KHCN và hộ kinh doanh được hưởng lợi nhiều nhất từ sản phẩm này.

Nền kinh tế của nước nhà

Chi tiêu người dân ảnh hưởng rấtllớn đến các quyết định điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Nền tài chính tiền tệ ổn định sẽ tạo tiền đề cho hoạt động tínddụng phát triển, giúp nền kinh tế gia tăng, từ đó phát sinh nhiều mong muốn và trải nghiệm bản thân hơn của người dân. Việc CVTD theo hình thức tín chấp sẽ đóng vai trò là một đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển kinhhtế và xã hội.

Ngân hàng thương mại

Trách nhiệm của NHTM là nhận tiền gửi của KH và tìm mọi cách huy động vốnvđể cho KH vay. Để thực hiện điều này, các NH cần khai thác các thị trường CVTD. NH có uy tín hay không phụ thuộc vào quảng cáo của KH. Vì vậy, các NHTM cần quan tâm đến KH thông qua nghiệpvvụ CVTD tín chấp để giúp mở rộng thị phần trên thị trường.

1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG KHÔNG CÓ ĐẢM BẢO BẰNG TÀI SẢN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1. Mục tiêu hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản

– Tăng trưởng về quy mô: nâng caoochất lượng hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản, nhờ đó phát triển thị phần, gia tăng số lượng KH, quy mô cho vay, tănggtrưởng dư nợ.

– Nâng cao chất lượng dịch vụ: CVTD không có đảm bảo bằng tài sản giúp đáp ứng nhanh cầu vốn của KH. Để tạo được niềm tin, nâng cao tính cạnh tranh, NH cần phải quan tâm đến không ngừngccải thiện chất lượng dịch vụ như chuẩn hoáqquy trình, giảm các thủ tục, hồ sơ không cần thiết, giải quyết các vấnnđề nhanh chóng và chính xác, đồng thời đưa được hình ảnh thương hiệu gần gũi hơn với KH.

– Cơ cấu cho vay hợp lý: đa dạng hoá về thời gian cho vay, địa điểm, ngành nghề cho vay, … giúp NHTM giảmcthiểu rủi ro khi không tập trung vốn quá nhiều vào một KH, một ngành nghề hay khu vực địa lý cụ thể.

– Tăng cường bánnchéo sản phẩm: các NHTM hiện nay đang khai thác các sản phẩm, dịchhvụ đi kèm với các khoản vay như dịch vụ bảo hiểm, dịch vụtthanh toán, thẻ, internet banking, … Điều này giúp NH đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao hiệu quả tài chính. Ngoài ra, NHTM cũng có thể bán chéossản phẩm thông qua liên kết với các đối tác kinh doanh, xây dựng mối quan hệ bền chặt sau này.

– Gia tăng thu nhập của NHTM: tăng trưởngttín dụng đối với CVTD không có đảm bảo bằng tài sản giúp gia tăng thu nhập, nâng caollợi nhuận, thúc đẩy sự phát triển của NH. Tuy nhiên, không vì thế mà thực hiện tăng trưởng nóng CVTD không có đảm bảo bằng tài sản, vì yêu cầu đặt ra phải đi kèm với việc bảo đảm quản trị, tối thiểu rủi ro nhằm tối đa hoá lợi nhuận.

– Kiểm soát RRTD: quy mô CVTD tỷ lệ thuận với rủirro từ hoạt động cho vay. Khi NH tập trung vào phát triển quyemô cũng như tăng dư nợ vay nhưng không chú trọng vào kiểm soát ở các giai đoạn trước, trongdvà sau cho vay sẽ gây ra nhữngghậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, kiểm soát hoạt động rủi ro phải được chú trọng để đảm bảo hoạt động cho vay hiệu quảavà an toàn. NH phải thắt chặt quy trìnhtthủ tục cho vay, thẩm định KH và kiểm tra sau cho vay để ngăn ngừa những tổnnthất gây ra.

1.2.2. Nội dung hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản

a. Nghiên cứu và đánh giá nhu cầu khách hàng

Để có cái nhìn tổngbquan về thị trường mà mình đang nhắm đến, NH phải nghiên cứu và đánhggiá KH, điều tra những điều mà người dân đang tìm kiếm.,. Muốn cung cấp sản phẩm dịch vụ đến KH thì điều cần thiết đầu tiên là phải hiểu rõ nhu cầu của KH, những điều KH thiếu, KH cần. Vì vậy, NH cần phải chủ động phân công các cán bộ phụ trách từng địa bàn, thu thập các thôngitin cần thiết, nắm bắt, cập nhật thường xuyên sự thay đổi nhu cầu của KH để kịppthời đưa ra các sản phẩm phù hợp, thu hút KH, mở rộng thị phần.

b. Đưa ra các sản phẩm cho vay tiêu dùng đa dạng

Việc KH có quyết địnhesử dụng sản phẩm hay không phụ thuộc vào việc những đặc điểm, sự tiện lợi của sản phẩm có gây ấn tượng với KH hay không và đáp ứngnnhu cầu của KH như thế nào. Từ việc nghiên cứu đó, NH có thể đưa ra những sản phẩmqphù hợp với từng loại hình KH, những sản phẩm có thể thay đổi linh hoạt, đáp ứng nhu cầu từng cá nhân, từ đó gia tăng mức độ hài lòng, tạo uy tín, niềm tin, xây dựng sự gắn kết với NH.

Đối với KH, một trong những yếuutố ảnh hưởng nhiều nhất đến quyết định sử dụng sản phẩm chính là giáccả hàng hoá. Trong hoạt động tínndụng, lãi suất và các chi phí liên quan chính là giá cả hàng hoá. KH có quyền so sánh giá cả giữa các NH với nhau và lựa chọn nơi có chính sách giá thấp hơn nhưng vẫn cung cấp sản phẩm dịchkvụ tương tự. Vì vậy, khi quyết định lãi suất cho vay và biểu phí sản phẩm, NH cần xem xét đến các chi phí bỏ ra cho dịch vụ này, đặc biệt là những chi phí ẩn, đồng thời tìm hiểu giá cả các sản phẩm tương tự trên thịitrường để đưa ra mức giá hợp lý, có tính cạnh tranh cao.

c. Đẩy mạnh quảng bá và kênh phân phối

Không chỉ NH mà các côngity hay các tập đoàn lớn luôn chú trọng đến quảng báasản phẩm, thương hiệu cũng như phát triển kênh dẫn vốn. Mạng lưới dẫn vốn của NH là tập hợp các yếu tố trực tiếp tham giavvào quá trình đưa sản phẩm dịchhvụ của mình đến KH. Ngân hàng đã phát triển một số kênh phânbphối khác nhau như chi nhánh, phòng giao dịch, thậm chí sử dụng các kênh hiện đại như NH điện tử. Từ đó, hoạt động truyền thông và lan truyền thông tin sản phẩm cũng dễ dàng và in sâu tâm trí KH hơn.

d. Nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản

Dù các sản phẩm có được quảng bá rộng rãi trên thịttrường nhưng đến khi cung cấp lại không đảm bảo chất lượng, không thoả mãn được nhu cầu KH thì sẽ không thể nào tồn tại lâu dài. Môi trường cạnh tranhjgiữa các NH ngày càng khốc liệt, các sản phẩmkgần như tương tự nhau, vì thế nâng cao chất lượng sản phẩm, chăm sóc KH là một trong những yếu tố đầu tiên được chú trọng quan tâm để gia tăng sự gắn bó, trung thành của KH. Trong CVTD không có đảm bảo bằng tài sản có thể thực hiện một số biện pháp sau:

– Xây dựng niềm tin: bằng việc nâng cao độ chính xác trong các thao tác, nghiệp vụ, đơn giản hoá thủ tục vay vốn, xử lý hồ sơ nhanh chóng, đầy đủ, không để ra lỗi trong quá trình làm việc.

– Khảo sát sự hài lòng của KH: có thể thực hiện qua nhiều phương pháp để thực hiện như: quan sát, phỏng vấn nhóm, phỏng vấn cá nhân, tham khảo ý kiến các nhà chuyênnmôn hoặc các nhà quản lý cấp cao.

– Đầu tư hạ tầng, cơ sở vật chất, cải tiến khoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin, nâng cao chấttlượng sản phẩm, tạo sự thuận tiện cho KH, tăng mức độ an toàn, bảoimật, chính xác trong giao dịch.

– Xây dựng đội ngũ nhânvviên chuyên nghiệp: tăng cường mở các lớp đào tạo, tập huấn, bổ sung kiến thứcvchuyên môn nghiệp vụ, tác phong giao dịch, luôn vui vẻ, thân thiện, xử lý tình huống nhanh chóng, hợp lý mà vẫn đáp ứng đúng nhu cầu KH.

e. Tổ chức các hoạt động kiểm soát khoản vay không có tài sản bảo đảm

Kiểm soát là chức năng không thể thiếu của quản lý nói chung, quản lý CVTD không có đảm bảo bằng tài sản đối với KHCN nói riêng là quá trình giám sát, đo lường việc thực hiện dịch vụ, qua đó phát hiệnfvà sửa chữa kịp thời các saissót nhằm bảo đảm hoạt độngwtín dụng này được thực hiện đúng quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả CVTD không có đảm bảo bằng tài sản đối với KHCN, hạn chế rủiiro cho NHTM và khách hàng. Bao gồm:

– Kiểm soát việc chấp hànhhcác quy định pháp luật, các quy chế, quy trình, … của NHTM phải thật sự khoa học và công bố công khai cho cả nhân viên NH và KH. Đặc biệt, các quy định củappháp luật, của NHNN phải được phổ biến đến từng nhân viên.

– Kiểm soát tình hình thực hiện các chỉ tiêuukế hoạch về doanh số CVTD không có đảm bảo bằng tài sản đối với KHCN hằng năm của NHTM giao cho các phòng kinh doanh và các nhân viên.

– Kiểm soát các tiêu chuẩn chất lượng của CVTD không có đảm bảo bằng tài sản đối với KHCN đã được xác lập, góp phần cách cải tiến quyutrình hoạt động, nâng cao chấttlượng của sản phẩm thông qua việc phát hiện các lỗi hệhthống trong quá trình kiểm soát, tiếp nhận thônggtin phản hồi từ phía KH và các đơn vị nội bộ, hướng tới hiệu quả và an toàn. Ngăn ngừa thiếu sót trong hệ thống xử lý nghiệp vụ, ngăn chặn kịppthời các sai sót, nhầm lẫn vô tình hay cố ý có thể gây thất thoát của KH và NH, gây ra thiệt hại trong kinh doanh.

1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản

a. Quy mô cho vay

Quy mô CVTD được đánh giáequa dư nợ, số lượng KH vay tiêu dùng và dư nợ bình quân CVTD trên từng KH vay. Ngân hàng so sánh cácichỉ tiêu vềqquy mô CVTD này so với chỉ tiêu kếxhoạch đề ra để đánh giá được kết quả về quy mô trong năm.

Dư nợ cho vay và tăng trưởng dư nợ cho vay

Dư nợ CVTD không có đảm bảo bằng tài sản phản ánh số dư tài khoản cho vay của KH tại NH ở một thời điểm. Đây là tổng số tiềnncho vay đối với KH còn phải thu hồi tại một thờiiđiểm.

Tốc độttăng trưởng dư nợ CVTD không có đảm bảo bằng tài sản là phần trăm hay số lần thay đổi của dư nợ tại một thờiiđiểm so với thời điểm trước đó. Tốc độ tănggdư nợ CVTD không có đảm bảo bằng tài sản của các TCTD gồm:

a) Tốc độ tăng CVTD không có đảm bảo bằng tài sản bằng Đồng Việt Nam: loại ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

b) Tốc độ tăng CVTD không có đảm bảo bằng tài sản bằng ngoại tệ: loại ngắn hạn, trung hạnvvà dài hạn.

Tốc độ tăng dư nợ CVTD không có đảm bảo bằng tài sản cuối kỳ báo cáo so với cuối quý trước/cuối năm trước/cùng kỳ năm trước (%) = Dư nợ cho vay không có đảm bảo bằng tài sản cuối kỳ báo cáo / Dư nợ choivay không có đảm bảo bằng tài sản (cuối quý trước, cuối năm trước, cùng kỳ năm trước) × 100.

Số lượng khách hàng và tăng trưởng số lượng khách hàng vay

Khi số lượng KH của CVTD không TSBĐ tăng lên, nó thể hiện lượng KH sử dụngddịch vụ qua các năm tại NH đang tăng lên về số lượng, điều nàykchứng tỏ thị phần cho vay tiêu dùng của NH đang được mở rộng.

Với tinh thần nâng cao chất lượng thị trường CVTD không TSBĐ, các TCTD liên tục triểnskhai các biện pháp nhằm mở rộng tiếp cận nguồn vốnttín dụng chính thống tới người dân như: Đẩy mạnh chuyển đổi số; đầu tư cơ sởlhạ tầng, nhân lực để mở rộng mạng lưới hoạt động; phát triểnccác sản phẩm cho vay đa dạng nhằm phục vụ nhu cầu KH và tạo điều kiện cải thiện đờiisống kinh tếexã hội. Trong đó, hoạt động mở rộng mạng lưới KH được các TCTD xác định phục vụ tối đa cho mục tiêu gia tăng độ phủ sóng thương hiệu nhưng vẫn phải đảm bảo bài toán quản lý chi phí và lợi nhuận.

Dư nợ bình quân và tăng trưởng dư nợ bình quân cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản trên một khách hàng vay

Dư nợ bình quân trên một KH là tổng dư nợ CVTD không có đảm bảo bằng tài sản trên tổng số lượng KH vay tiêu dùng không TSBĐ. Tỷ lệ này càng caotthì hoạt động này của NH đang tăng trưởng hiệu quả.

Tăng trưởng dư nợ bình quân CVTD không có đảm bảo bằng tài sản là chỉ số phản ánh tốccđộ tăng dư nợ của NH. Sự tăng lên này kéo theo rất nhiều sự thay đổi: khả năng tiếp cận nguồn vốn của các chủ thể cần vốn có xu hướngttăng lên, nguồn cung tiền cho các hoạt động đầu tư cơ sởshạ tầng, cho đầu tư phát triển, máynmóc thiết bị, công nghệ, phần mềm, nguồn nhân lực, … cũng vì thế màităng lên.

Công thức tính tốc độ tăng dư nợ tín dụng:

Tốc độ tăng dư nợ tín dụng = (Dư nợ tín dụng kỳ này – Dư nợ tín dụng kỳ trước) / Dư nợ tín dụng kỳ trước.

b. Thị phần cho vay

Thị phần CVTD không có đảm bảo bằng tài sản là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà NH đó chiếm lĩnh.

Thị phần = Dư nợ / Tổng dư nợ CVTD không có đảm bảo bằng tài sản các NHTM khác trên thị trường.

Ý nghĩa: Thị phần nói rõ phầnssản phẩm tiêu thụ của riêng NH so với tổng sản phẩm tiêuuthụ trên thị trường. Để giành giật mục tiêu thịiphần trước đối thủ, NH thường phải có chínhcsách giá phù hợp thông qua mức giảm giá cần thiết, nhất là khi bắt đầu thâm nhậpothị trường mới.

c. Cơ cấu cho vay

Cơ cấu CVTD không có đảm bảo bằng tài sản phản ánhhmức độ đapdạng hoá hoạt động CVTD. Phân tích cơ cấu này giúp xem xét tương quan về tỷ trọng của từng loại hình theo các tiêu chí phù hợp. Tuỳ vào điều kiện về số liệu hiện có, các loại cơ cấu sau thường được chú ý trong phân tích:

– Theo kỳ hạn.

– Theo sản phẩm.

– Theo hình thức bảo đảm tiền vay.

– Theo quy mô.

– Theo địa bàn.

– Theo tiền tệ.

d. Thu nhập hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản

Hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản của NH với hướng đến gia tăng lợiinhuận cho NH trong bối cảnhicạnh tranh ngày càngggay gắt. Việc tăng doanh thu về cho vay KHCN phải có kết quả làttăng lợi nhuậnqtrên tổng doanh sốbcho vay thì hoạt động phát triển này mới được xem là hiệugquả.

e. Kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng

Kết quả kiểm soát RRTD trong CVTD không có đảm bảo bằng tài sản được phản ánh qua các chỉ tiêu sau:

– Tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5.

Đối với các NHTM Việt Nam, việc phân loại theo nhóm nợ thể hiện mứchđộ đánh giá rủiiro của khoản nợ. Theo quy định NHNN, trừ nợ nhóm 1 – nợ đủ tiêu chuẩn, các khoảnhnợ từ nhóm 2 trở lên được xem là các khoản dư nợ có RRTD. Vì vậy, tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 trên tổng dư nợ tín dụng cho phép đánh giá toàn bộ các biểu hiện RRTD tại một NH nhất định.

Ngoài ra, chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 đánh giá toàn bộ các biểu hiện khác nhau của RRTD, nhưng do tính không đồng nhất về mức độ rủi ro của các nhóm nợ, nên chưa đánh giá được chuẩn xác mức độ RRTD tổng thể của NH. Vì vậy, trong nhiều trường hợp cần phân tích thêm về cơ cấuncác nhóm nợ.

– Tỷ lệ nợ xấu

Nợ xấu được phân loại từ nhóm 3 đến nhóm 5, tức là các nhómynợ dưới tiêu chuẩn, nhóm nợ nghi ngờ và nhóm nợ có khả năng mất vốn.

Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu phảnbánh tương đối RRTD của ngân hàng, vì nó tập trung chú ý các khoản nợ đã có biểu hiện RRTD ở mức độ cao. Tuy nhiên, chỉ tiêu này có nhược điểm là nó bao gồm cả 3 nhóm nợ có mức độ RRTD khác nhau. Do đó, cần kết hợp với việc xem xétzbiến động trong cơ cấu nhóm nợ để thấy cụ thể hơn mức độ RRTD.

– Tỷ lệ trích lập dự phòng

Dự phòng rủioro là số tiền được tríchilập và hạchetoán vào chi phí hoạt động để giảm thiểu cho những rủifro trong trường hợp chúng xảy ra đối với NH hay chi nhánh NH nước ngoài. Dự phònghrủi ro gồm dự phònggcụ thể vàidự phòng chung.

Dự phòng chung là số tiền được trích lậppđể dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra nhưng chưa xáccđịnh được khi trích lập dự phòng cụ thể.

Dự phòng cụ thể là sốotiền được trích lập để dự phònggcho những rủi ro có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể. Tỷ lệ trích lậpddự phòng đối với từng nhóm nợ cụ thể như sau:

+ Nhóm 1 tỷ lệ 0%.

+ Nhóm 2 tỷ lệ 5%.

+ Nhóm 3 tỷ lệ 20%.

+ Nhóm 4 tỷ lệ 50%.

+ Nhóm 5 tỷ lệ 100%.

Tuỳ theo mức độ rủi ro của khoản vay mà có những mức trích lập khác nhau. Một NH có tỷ lệstrích lập càng cao thì rủi ro càng cao, khả năng thuthồi nợ thấp. Đặc biệt đối với CVTD không có đảm bảo bằng tài sản, NH luôn kiểm soát chặt chẽ RRTD để hạn chế tối đa mức trích lập dự phòng này.

– Tỷ lệ xoá nợ ròng

Chỉ tiêucnày cho biết có bao nhiêu phần trăm dự nợ trong tổng dư nợ được xử lý xoá nợ. Đây là những khoản cho vay mà KH mất khả nănglthanh toán nợ và NH sử dụng nguồn dự phòng RRTD đã trích lập để thực hiện xoá nợ. Các khoản vay này được chuyển theo dõi ngoại bảng và NH sẽ áp dụng các biện pháp mạnh để thu hồi nợ. Tỷ lệ xoá nợ ròng càng caoocho thấy hoạt động tín dụng của NH có dấu hiệu tổn thất càngllớn, HĐKD không hiệu quả.

Tỷ lệ xoá nợ ròng = Các khoản xoá nợ ròng / Tổng tài sản có * 100%

1.2.4. Chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản

Nhân tố bên trong

– Sự đáp ứng: là chỉ tiêu thể hiện khả năng giải quyết vấn đề nhanh chóng, đáp ứngccác yêu cầu của KH, cụ thể như: Nội dung các biểu mẫu đơn giản và dễ hiểu; Thời gian xử lý hồ sơ nhanh chóng; Phương thức CVTD phù hợp; Thời hạn CVTD và kỳ hạn trả nợ đúng nhu cầu; Lãi suất linh hoạt.

– Phương tiện hữu hình: là hình ảnh bên ngoài của các cơ sởnvật chất, thiết bị, máy móc, phong thái của đội ngũ nhân viên, tài liệu, sách hướng dẫn và hệ thống thông tin liên lạc của NH, cụ thể như: Trụ sở, Phòng giao dịch hiện đại; Trang thiếtibị, phương tiện làm việc hiện đại; Cách sắpvxếp bố trí các phòng ban, bộ phận giao dịch ngăn nắp và thuận tiện; Tài liệu, sách hướng dẫn phong phú, chứa đựng nhiều thông tin có giá trị; Trang phục của nhân viên thanh lịch.

– Sự cảm thông: là nhân tố phản ánh khả năng cung ứng dịch vụ chính xác, đúng giờ và uy tín, tôn trọngecác cam kết, giữ lời hứa với KH, cụ thể như: Các thông tin về dịch vụ CVTD được thể hiện rõ ràng, minh bạch; NH giải ngân vốn vay tiêu dùng đúng thời điểm và đúng số lượng; NH bảo mật thông tin KH tốt; NH có các kênh tiếp nhận khiếu nại và giải đáp một cách kịp thời; NH có ứng dụngkcông nghệ tài chính vào hoạt động dịch vụ CVTD nhanhrchóng, chính xác.

– Sự đảm bảo: là nhân tố thể hiện khả năng thực hiện tốt yêu cầu của KH, cụ thể như: Nhân viên có kiến thứccchuyên môn giỏi; Nhân viên có phong thái làm việc chuyên nghiệp; Nhân viên hướng dẫn thủ tụciđầy đủ, dễ hiểu; Nhân viên có khả năngiứng dụng công nghệ tài chính; Nhân viên hiểu KH khi thực hiện vay tiêu dùng.

Đánh giá bên ngoài

Mức độ hài lòng là là sự phản ứng của KH khi được đáp ứng mong muốn đối với chất lượng CVTD không có đảm bảo bằng tài sản của NH. Nếu sảnbphẩm cho vay tốt, NH sẽ tạo được sự tin tưởng và giúp KH cảm thấy thoải mái hơn khi đến vay vốn. Mức độ này càng caoithì khả năng thu hút KH mới sử dụngddịch vụ càng nhiều, đồng nghĩa khả năngemở rộng của NH càng tốt và ngược lại. Ngoài ra, khả năngngia tăng uy tín vàemức độ nhận biết thương hiệu NH đánh giá mức độ hiểu biết của KH về các hoạt động của mình. NH phải điều tra xem KH biết đến mình như thế nào, từ đó thương hiệu của NH được định vị trongttâm trí của KH và họ sẽ tìm đến khi có nhu cầu. Đây là điều rấtjcần thiết từ đó đưa ra các chiến lượccmarketing phù hợp cho các sản phẩm CVTD.

1.3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG KHÔNG CÓ ĐẢM BẢO BẰNG TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.3.1. Các nhân tố bên ngoài ngân hàng

Thứ nhất, đặc điểm thị trường nơi ngân hàng hoạt động: Nhu cầuvvay vốn của KH sẽ cao hơn ở những khu vực thành phố hoặc đông dân cư, nơi có thu nhập bình quân và trình độ học vấn cao so với các vùngvnông thôn và vùng sâu vùng xa.

Thứ hai, môi trường kinh tế, chính trị: Khi nền kinh tếpphát triển, thu nhập bình quân đầuzngười cao và môi trường chính trịiổn định thì CVTD đối với KH cũng sẽ diễn ra thôngpsuốt, phát triển vững chắchvà hạn chế rủi ro.

Thứ ba, nhân tố từ khách hàng

  • Năng lực tài chính: Khả năngttrả nợ là mộtttrong nhữngdvấn đề cần quan tâm đối với CBTD. Một khoản vay vốn được NHTM được phê duyệt khi KH đáp ứng đầy đủunhững yêu cầu về tàiichính để thực hiện nghĩa vụqtrả nợ. Các thông tin này nhiều lúc cần phải được NH xác minh rõ hơn.

– Nhu cầu, thóitquen và đạo đức: Nếu KH chủ động là luôn trả nợ đúng hạn, rủiiro cho vay thấp, điều này sẽ kích thích NH mở rộng hoạtyđộng cho vay, các quy địnhhcho vay cũng dần được nới lỏng.

1.3.2. Các nhân tố bên trong ngân hàng

Thứ nhất, chiến lược kinh doanh: Chiến lượckkinh doanhiliên quan đến khả năng cạnhHtranh thành công trênithị trường. Nó là tập hợp các quyết định chiếnolược về đáp ứng nhu cầu KH, khai thác và tạo raacác cơ hội mới, lựa chọn sản phẩm, tranh giànhilợi thế cạnh tranh so với cácdđối thủ, … Dựa trên chiến lược đã đề ra đó, NH sẽ chuyển nó thànhvhành động, lập ra nhữngskế hoạch chi tiết để giữ cho những mục tiêu đã đề ra đi đúng hướng; đặc biệt có các phương thức ảnh hưởngftrực tiếp đến hiệu quả cho vay như: kế hoạch tăng trưởng CVTD không có đảm bảogbằng tài sản đối với KH, kế hoạch marketing, chính sáchbnhân sự, …

Thứ hai, các chính sách, quy định của ngân hàng: Đó làcchính sách chăm sóc KH trước và sau chovvay; Các quy định về lãi suất và phí caoohay thấp, có linh hoạt và phù hợp vớiithu nhập bình quân hay không; Các quy định vềtthời hạn và kỳrhạn nợ, TSĐB, phương thức giảinngân và thanh toán, sự đơn giản của thủ tụcxxin vay vốn, thời gian thẩmdđịnh hồ sơ vayvcó kéo dài không, …

Thứ ba, chất lượng cán bộ tín dụng: CBTD là người trực tiếp gặp gỡ, tiếp nhậnxhồ sơ, hướng dẫn cáctthủ tục vay vốn, thu thậpvvà xử lý thông tin về KH đểnđưa ra quyết định cũng như giám sát sau khiicho vay và thu nợ. Do đó, mỗi CBTD phải có trình độxchuyên môn, khảnnăng nghiệp vụ, khả năngpphân tích, đánh giá, có tráchtnhiệm trong công việc trên cơ sởllựa chọn được những KH có đủ năng lựcupháp lý, có đủ năng lựcctài chính, có tư cách đạovđức tốt, … Nhờ đó, các khoản cho vayjdiễn ra an toànfvà hiệu quả hơn, hoạt độngccho vay cũng nhanh chóng và thuận tiện hơn.

Thứ tư, công tác thông tin: Trênocơ sở nguồn thông tin thulthập được, NH đánh giá khả năng chogvay và tiềm năng của KH về sử dụng vốn, cũng như khả năng hoàn trả vốn vay. NH sẽ lường trước những tình huống có thể dẫn đến rủi ro và các bước kiểmssoát của NH về các rủi ro đó, dự kiến phương thức phòng tránh và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra, từ đó có cơ sở để ra quyết định cho vay đối với KH.

Thứ năm, công nghệ của ngân hàng: Côngjnghệ hiện đại giúp KH trải nghiệm các dịch vụpđa dạng và hiện đại. Trong khi đó, số lượng KH tham gia vào CVTD không đảm bảo bằng tài sản rất lớn, NHTM phải thẩm định, phê duyệt và quản lý số lượng lớn hợp đồng. Do đó, nếu hệ thốngicông nghệ của NH hiện đại sẽ tiết kiệm được thời gian côngksức của CBTD, vừa nhằm hạn chếitối đa sự nhầm lẫn, saissót trong quá trình giao dịch với KH.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1, luận văn đã cung cấp những lý luận cơ bản về hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản tại NHTM thông qua hệ thống khái niệm, theo đó: Cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản đối với KH là việc Ngân hàngccấp tiền cho KH có năng lực tài chínhivững mạnh, có uy tín cao, hoặc món vay tươngvđối nhỏ so với vốn của người vaynnhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của KH theo thỏaathuận với nguyên tắc hoàn trả gốccvà lãi mà KH không có tài sản thế chấp, cầmccố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba.

Luận văn cũng đã nêu lên các mục tiêu, nội dung và chỉ tiêu đánh giáihiệu quả, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động CVTD không có đảm bảo bằng tài sản tại NHTM.

Các lý thuyết cơ bản này làm cơ sở để phân tích trong chương sau, từ đó đánh giá, xác định đúng thực trạng của NH để có giải phápvnâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU NĂM 2023\TÀI LIỆU CHƯA ĐỔI TÊN/ Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Ngân hàng   Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Ngân hàng  Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản tại Ngân hàng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *