Nhân thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm từ việc phân tích những đặc điểm nhân thân người phạm tội sẽ giúp cho Nhà nước nói chung kịp thời đề ra những chính sách pháp luật phù hợp, nhằm giảm bớt những mâu thuẫn trong xã hội, đưa ra những biện pháp phòng ngừa xã hội phù hợp, giúp cho công tác đấu tranh chống
tội phạm đạt được những kết quả bền vững, làm cơ sở xã hội để giảm tỷ lệ tội phạm trong khi vẫn bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế, giữ nền chính trị ổn định nhất làở những thành phố lớn có vai trò trọng điểm trong nền kinh tế quốc dân.
Về mặt lý luận, nhân thân người phạm tội là một đề tài được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu. Hiện nay, có nhiều biện pháp đồng bộ được sửdụng nhằm phòng ngừa tình trạng phạmtộiđang gia tăng, trongđócác biện pháp tácđộngảnhhưởngtớinhân thânngườiphạm tội. Nghiêncứunhân thân người phạm tội cho phép chỉ ra quá trình hình thành những đặc điểm nhân thân tiêu cực của người phạm tội, chỉ ra quá trình hình thành các nguyên nhân và điều kiện của tộiphạm, bên cạnhđónghiêncứuvềnhân thânngườiphạmtộicũng cho phép chỉ ra sự chuyển biến các đặc điểm nhân thân người phạm tội làm biến đổi thành các nguyên nhân và điều kiện hình thành tội phạm. Từ đó, có thể phân loại từng đặc điểm nhân thân để có các hệ thống biện pháp phòng ngừa theo từng loại tội, từng nhóm đối tượng hiệu quả từ góc độ nhân thân người phạm tội.
Về mặt thực tiễn, Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm chính trị – xã hội lớncủa cảnước,là đầucầucác hoạtđộngkinhtếcủa đấtnước, vớidiện tích 2.095,06 km², có 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành. Theo thống kê của Tổng cục Thống kê năm 2016, dânsốThànhphốHồChí Minh có khoảng 9.224.000 người, nhưng căn cứ trên số lượng dân cư không đăng ký và dân nhập cư, có khoảng hơn 14 triệu người, mậtđộdân số3.809 người/km². Đặc trưng dân cư tại Thành phố Hồ Chí Minh phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các quận nội thành. Với vị thế là trung tâm hoạt động kinh tế xã hội, Thành phố HồChí Minh luôn được Nhà nước ưu tiên nhiều chính sách và chủ trương phát triển kinhtếxã hội, là cơ sởđểThànhphốHồChí Minh kêugọicác nguồnđầutư, đây cũng là nguồn giải quyết việc làm của người dân. Trong những năm qua, với sự phát triển vượt bậc về kinh tế, chất lượng đời sống của người dân ngày càng nâng cao, bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế đạt được, Thành phố HồChí Minh đangđốimặtvớihàng loạtvấnđềxã hội, điểnhình là tình hình gia tăng tội phạm xảy ra ngày càng nhiều và diễn biến ngày càng phức tạp. Một bộphận nhân dân có đời sống kinh tế khó khăn, không việc làm hoặc việc làm khôngổnđịnh;sựphân hóa giàu nghèo vàsựxâm nhập văn hóađộchại,lốisống thực
dụng, các tệ nạn xã hội ngày càng tăng… đang làm cho tình hình trật tự an toàn xãhộihếtsứcphức tạp, làđiềukiện thuậnlợilàm phát sinhtộiphạm trênđịabàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội trên địa bàn ThànhphốHồChí Minhmớichỉdừng lại ởmức độcá nhân, mà yêucầucủa công cuộc đấutranh phòng, chống tội phạmđòihỏi việc nghiêncứunhân thân người phạm tội phải khái quát ở mức độ nhóm và cao hơn là mức độ tình hình
tội phạm, để nhận thức đúng nhất nguyên nhân của tình hình tội phạm và đề xuất được các giải pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạmmộtcách hữuhiệu nhất vàmong muốn góp phần làm giảm tình hình tội phạm, vì vậy nghiên cứu sinh chọn đề tài“Nhân thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”,để làmđề tài luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án có mục đích làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó chỉ rõ thực trạng cácđặc điểm của nhân thân tiêu cực của người phạm tội trên địa bàn Thành phố HồChí Minh và những hiện tượng xã hội tiêu cực trong đời sống kinh tế xã hội tácđộng làm hình thành nhân thân người phạm tội; qua đó đề xuất xây dựng những giải pháp phòng ngừa tội phạm bằng cách hạn chế, khắc phục, loại bỏ các hiện tượngtiêu cực tác động hình thành đặc điểm nhân thân tiêu cực của người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
Với mục đích nghiên cứu nói trên, Luận án có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
– Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài về nhân thân ngườiphạmtộiđểxác địnhcác vấnđềkếthừa, tiếp thu và nhữngvấnđềcần tiếp tục nghiên cứu và làm rõ trong luận án.
– Hệ thống hoá, phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu như nhân thân con người, nhân thân người phạm tội, các đặc điểm của nhân thân người phạm tội làm nền tảng lý luận và phương pháp luận cho Luận án.
– Khảo sát, đánh giá thực trạngđặc điểmnhân thân ngườiphạmtộitrênđịa bàn thànhphốHồChí Minh, chỉra nhữngđặc điểmtiêu cực nào tácđộng hình thànhđặc điểmnhân nhân thân tiêu cực của ngườiphạmtộitrên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
– Đề xuất các giải pháp phòng ngừa hiệu quả tình hình phạm tội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ góc độ nhân thân người phạm tội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn nhân
thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2018.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tàinghiên cứu là những vấn đề lý luận nhân thân người phạm tội dưới góc độchuyên ngànhtộiphạmhọcvà phòng ngừatộiphạmdựatrên thực tiễn tình hìnhtộiphạmtạiThànhphốHồChí Minh giaiđoạn2009 – 2018vớihai nhóm tội là các tội phạm về ma túy và các tội xâm phạm sở hữu, do hai nhóm tội này chiếm tỷ lệ cao (76,5%) trên tổng số vụ án đưa ra xét xử hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vềđấutranh phòng, chốngtộiphạm trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, áp dụng và bảo vệ pháp luật trong thời kỳ đổi mới liên quan đến nhân thân người phạm tội làm phương pháp luận nghiên cứu.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháphệthống, phương pháp luật học so sánh,
phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp thống kê… Phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua tổng hợp và phân tích tài liệu, phương pháp nghiên cứu trực tiếp thông qua khảo sát thực tế, tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với các nhà nghiên cứu, cũng như phỏng vấn trực tiếp người phạm tội tại trại giam Chí Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh.
– Phương pháp thống kê: Phương pháp nàyđược sửdụng và thu thậpsốliệu thống kê vềtộiphạm, các báo cáo tổng kết, các sốliệu thống kê, các bản
án… của Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minhđể phân tích và làm rõ các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, từ đó chỉ ra các yếu tố tác động và hệ thống các giải pháp nhằm loại bỏ, ngăn chặn các yếu tốtiêu cực này ra khỏi đời sống xã hội.
– Phương pháp nghiên cứu điển hình: Luận án sử dụng phương pháp này nhằm đánh giá các bản án điển hình về tội phạm ma tuý và xâmphạm sở hữu đãđược Toà án nhân thành phố Hồ Chí Minh xét xử điển hình nhất trong giaiđoạn 2009 – 2018, nhằm phản ánh về tính chất, mức độ, đặc điểm của nhân thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
– Phương pháp so sánh: Trong luận án, phương pháp này được sử dụng đểso sánh tình hình nhân thânngườiphạmtộitrongđịa bàn ThànhphốHồChíMinh so với vùng miền khác.
– Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được sử dụng trong luận ánđểtiến hành các buổi trao đổicác ýkiến chuyên gia,vớinhữngngườicó kinh
nghiệm, với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán…. để làm rõ hơn về thực trạng phòng ngừa tội phạm từ khía cạnh nhân thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
– Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này đươc thực hiện bằng các bảnghỏiđốivớingườiphạmtộiđangbịgiamgiữtạitrại giam Chí Hòa. Mục đích nghiên cứunhằm khảo sát thực trạng cácđặc điểmnhân thân người phạm tội, các nguyên nhân dẫn đến họ thực hiện hành vi phạm tội và khả năng phòng ngừa tái phạm tội.
5. Những đóng góp mới về khoa học của Luận án
Luận án là công trình nghiêncứuchuyên sâu, toàn diện, cóhệthốngvề“Nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm. Những điểm mới của luận án thể hiện:
Thứnhất, sửdụng phương pháp nghiên cứutiếpcậnliên ngành luật học để giải quyết các vấn đề trọng tâm của luận án, đặc biệt là cách tiếp cận triết học pháp luật; tâm lý học tội phạm kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể, luận án phân tích, đánh giá làmrõ đặcđiểmnhân thânngườiphạmtộitrên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh;
Thứ hai, phân tích làm rõ những đặc trưng của nhân thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có tính đến yếu tố địa lý học tội phạm (đặc thù của nhân thân người phạm tội trong mối liên hệ với yếu tố dân số, văn hóa, phong tục, truyền thống, lối sống …);
Thứba, phân tích làm rõ những tácđộngtừmôi trường gia đình, nhà
trường, bạnbè… trong việc hình thành các đặc điểmnhân thân tiêu cực của người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2018;
Thứ tư, chỉ ra điểm khác biệt của đặc điểm nhân thân người phạm tội giữa các nhóm tội khác nhau trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh;
Thứ năm, kiến nghị được những giải pháp tăng cường phòng ngừa tội phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ góc độ nhân thân người phạm tội;
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quảnghiên cứucủa luận án cóýnghĩa quan trọng trên khía cạnh lýluận và thực tiễn trong công tác phòng ngừa tộiphạm nói chung và công tác phòng ngừa tội phạm tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
– Dựa trên sự phân tích làm rõ lý luận về nhân thân người phạm tội và ứng dụng vào thực tiễn tình hình tội phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận án góp phần bổ sung thêm lý luận khoa học tội phạm học và phòng ngừa tội phạm nói chung cũng như lý luận về nhân thân người phạm tội.
– Đề tài là một công trình góp phần bổ sung thêm phương pháp tiếp cận từviệc nghiêncứuthực tiễn nhân thânngườiphạmtộikhái quát thành lý luận phòng ngừa tình hình tội phạm.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những giải pháp được đề xuất trong đề tài sẽ là tài liệu có giá trị giúp các cơquan áp dụng pháp luật tham khảo, nghiêncứuvàvậndụng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng, chống tội phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Những kết quả nghiên cứu trong Luận án góp phần bổ sung thêm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, học tập của các cơ sở đào tạo luật và góp phần bổsung, hoàn thiện lý luận nhân thân người phạmtộichuyên ngànhtộiphạm học nói chung và lý luận phòng, chống tội phạm nói riêng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phầnmởđầu, kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo và phầnphụlục, luận án được kết cấu gồm 4 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2. Những vấn đề lý luận cơ bản về nhân thân người phạm tội Chương 3. Thực trạng và những hiện tượng tiêu cực tác động hình thành
nhân thân người phạm tội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4. Dựbáo và các giải pháp phòng ngừa tộiphạm trênđịa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ khía cạnh nhân thân người phạm tội.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhân thân người phạm tội tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Để có thể nghiên cứu nhân thân người phạm tội trênđịa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu sinh đã tham khảo các công trình nghiên cứu trên thế giới, cụ thể như sau:
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận nhân thân người phạm tội
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng nhân thân người phạm tội
1.1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu vềcác giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm từ khía cạnh nhân thân người phạm tội
1.2. Những nghiên cứu trongnước
1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận nhân thân người phạm tội
1.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về các vấn thực tiễn nhân thân người phạm tội
1.2.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về các giải pháp phòng ngừa tội phạm từ khía nhân thân người phạm tội.
1.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục được nghiên cứu trong Luận án 1.4.1. Những vấn đề đặt ra về lý luận, thực tiễn và giải pháp
Ngoài những nội dung đã thống nhất ở trên sẽ được kế thừa trong Luận án, Luận án cần giải quyết các nội dung sau đây:
Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứulàm rõ nhữngvấn đềlý luận về nhân thân người phạm tội ma tuý và xâm phạm sở hữu, rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội, phân loại nhân thân người phạm tội; làm rõ và chỉ ra nhân thân người phạm tội gồm những đặc điểm gì và có những hiện tượng xã hội tiêu cực nào tác động làm hình thành nhân thân người phạm tội.
Thứhai, trên cơsởlý luậnvềnhân thânngườiphạmtộinói chung và các nghiên cứu nhân thân người phạm tội trên các địa bàn khác làm rõ thực trạng đặc điểm
nhân thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009 – 2018;
Thứba,từthực trạngđặc điểmnhân thân người phạmtộitrênđịa bàn ThànhphốHồChí Minh, bằng khảo sát xã hộihọc tácgiảchỉra những hiện tượng xã hội tiêu cực nào trong thực tế đời sống xã hội và thuộc về người phạm tộitác động hình thành nênđặcđiểmnhân thân tiêucực ởngườiphạmtộilàm thúc đẩy hành vi phạm tội.
Thứ tư, từ những kết quả nghiên cứu lý luận và kết quả nghiên cứu thực tiễn và thực trạng đặc điểm nhân thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ ChíMinh, trên cơ sở những yếu tố tiêu cực tác động hình thành những đặc điểm nhân
24
thân tiêu cực thúc đẩy hành vi phạm tội, nghiên cứu sinh đề xuất những giải pháp nhằm phòng ngừa tình hình phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
1.4.2. Câu hỏi nghiên cứu
– Làm rõ những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội? – Phân loại nhân thân người phạm tội gồm những loại nào?
– Thực trạng đặc điểm nhân thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh từ năm 2009 – 2018.
– Có những hiện tượng xã hội tiêu cực nào tác động làm hình thành nhân
thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009 – 2018?
– Trong thời gian tới, tình hình đặc điểm và những hiện tượng tiêu cực tácđộng hình thành nhân thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh sẽ như thế nào?
– Địa nhân thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cóđặc trưng gì?
-Vớinhữngđặc điểmđịa nhân thânngườiphạmtộitrên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh như vậy, những giải pháp nào phù hợp với đặc điểm địa lý học tội phạm nhằm phòng ngừa tình hình tội phạm hiện nay?
1.4.3. Giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài tác giả đưa ra một số giả thuyết như sau:
– Nhân thânngườiphạmtộitrên địa bàn ThànhphốHồChí Minh giaiđoạn năm 2009 – 2018 có một số đặc điểm sau: Tội phạm chủ yếu nam giới, tuy nhiên ở tội phạm ma túy, số lượng nữ chiếm tỷ lệ không chênh lệch nhiều so với nam, có sự phân hoá giới tính namnữ ở tội xâmphạm sở hữu; độ tuổi từ 18 đến 45, không có nghề nghiệp ổnđịnh, trìnhđộhọcvấnthấp;sốđông là những người không có thói quen lao động, có nhu cầu và sở thích lệch lạc; thường có
tiền án tiền sự, tái phạm, tái phạm nguy hiểm…
– Nghiên cứu và phân tích thực trạng những hiện tượng tiêu cực tácđộng đến quá trình hình thành nhân thân người phạm tội, nghiên cứu các hiện tượng từ
các lĩnhvựcmôi trường sống: văn hoá, kinh tế, xã hội, gia đình, nhà trường… những hiện tượng tiêucực từ cánhân người phạm tội như: Ý thức pháp luật, sở
thích, nhu cầu… từ đó áp dụng các biện pháp phòng ngừa được hiệu quả.
25
– Từ thực tiễn nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhân thân người phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đề xuất một số giải pháp phòng ngừa tối ưu, phù hợp với thực tế góp phần hạn chế tình trạng phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó bao gồm các giải pháp loại bỏ những yếu tố tiêu cực tácđộng đến quá trình hình thành đặc điểm nhân thân người phạm tội.
Kết luận chương 1
Hiện nay, phòng ngừa tộiphạm là mộttrong nhữngvấn đề được ưu tiên hàng đầu do số lượng tội phạm ngày càng gia tăng. Đề công tác phòng ngừa tội phạm này hiệu quả, một trong những biện pháp cần được chú trọng trong đó làsựchuyển biến tích cực trong nhữngđặcđiểmnhân thân tiêu cực củangười phạm tội. Nghiên cứu và tìm hiểu đặc điểm nhân thân người phạm tội cho phép xác định được những yếu tố tiêu cực tác động đến việc hình thành đặc điểm tiêu cực ở con người dẫn đến hành vi phạm tội, đây là cơ sở để nghiên cứu sinh đềxuất các biện pháp ngăn ngừa hiệu quả từ góc độ nhân thân người phạm tội.
Nghiên cứu vấn đề nhân thân người phạm tội, nghiên cứu sinh làm rõ tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhân thân người phạm tội qua các tài liệu trong và nước ngoài để tiếp cận theo hướng liên ngành, khái quát nhất, toàn diện nhất về nhân thân người phạm tội.
Trong những năm qua,được các ngành chức năngnỗlực quan tâm vàcông cuộc đấutranh phòng, chốngtộiphạm hình sự, giữvững an ninh trậttựtrên địa bàn đã có những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, công tác phòng ngừa tội phạm vẫn còn những hạn chế nhất định. Để đạt hiệu quả cao trong hoạt động phòng ngừa tội phạm, việc nghiên cứu đặc điểm nhân thân người phạm tội cóýnghĩa rấtquan trọng. Bằng những nghiêncứutổng quátvềnhân thân người phạm tội, tác giả phân tích làm rõ đặc điểm sự hình thành nhân cách sai lệch của người phạm tội, dưới sự tác động trong quá trình sống, sinh hoạt và làm việc, tìm ra hoàn cảnh cụ thể đã đưa đến việc thực hiện tội phạm. Đồng thời, tác giả làm rõ thực trạngvậndụngđặc điểmnhân thânngườiphạmtộiphụcvụhoạtđộng phòng ngừa tội phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
26
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI
2.1. Khái niệm,đặcđiểmvàýnghĩa nghiên cứu nhân thân người phạm tội
2.1.1. Khái niệm nhân thân con người và nhân thân người phạm tội
Theo quanđiểmcủachủnghĩa Mác – Lê nin:“…bảnchất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [22, tr.19].
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin cho thấy, các đặc điểm riêng của các cánhân trong xã hội luôn chịu sự tác động của hoàn cảnh xã hội. Giữa con người
với xã hội luôn có mối quan hệ tương tác lẫn nhau: “…con người tạo ra hoàn cảnhđếnmứcnào thì hoàn cảnh cũngtạora conngườiđếnmức ấy”[22, tr.55]. Khái niệm “con người” được nhìn nhận từ tổng thể những khía cạnh khác nhau trongbảnchất của nó: xã học, sinh học, lịch sử- văn hóa,đạođức,giáo dục. Con người từ khi sinh ra đã là một thực thể sinh vật, con người phải tham gia vào quá trình lao động, sinh hoạt để duy trì sự tồn tại của bản thân như: ăn,
uống, ngủ, vui chơi, giải trí, học tập, lao động… Quá trình lao động, sinh hoạt cótác động rất lớn đến sự hình thành các đặc điểm nhân thân của con người.
Chủnghĩa Mác – Lêninđãchỉ rõ nội dung của nhân thân, vai trò của nótrong việc tác động đến các hành vi xử sự của con người trong đời sống xã hội. Mỗiconngườimang mộtđặc trưng nhân thân khác biệt. Trong các đặc điểm nhân thân của con người, có nhữngđặc điểmnhân thân mang giá trịtích cực thúc đẩy các hành vi tốt làm phát triển xã hội, tuy nhiên cũng có những đặc điểm nhân thân tiêu cực làm phát sinh các hành vi tiêu cực, cản trở sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, cần hiểu, cái tạo thành giá trị đích thực của nhân thân không phải là nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, trình độ hiểu biết của con người mà là ở đạo đức,nhân cách, quan điểm, lập trường xã hội, tính tích cực cá nhân những đóng góp của cá nhân vào sự phát triển chung của xã hội.
Cácđặc điểm“nhânthân” còn baogồmcảcác yếutốtâm lý, tình cảm
như: nhu cầu, cảmxúc, hammuốn….cácyếu tốnày là khía cạnh tâm lý, khía cạnh tinh thần trong nhân thân con người. Mỗi con người đều có một tập hợp các
27
nhucầucơ bảnvềtâm lý, tìnhcảmmà việc đápứngnhữngđòihỏicủa chúng
gắn liền với lĩnh vực ý thức phong phú, những cảm xúc, lợi ích, ham muốn…của con người. Chính quá trình hoạt động của con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu này xácđịnhđược phạm vi nhận thức, xác địnhtâm trạng, quyđịnhkhuynh hướng hành vi của con người.
Một dấu hiệu quan trọng của nhân thân con người là ý thức. Khi tham gia các mốiquan hệxã hội, yếutốnày đóng vai trò quan trọngtạothành tính tích cực cá nhân, là khâu trung gian hóa sự tác động của các hoạt động xã hội sao cho phùhợpvớigiá trịcủa cá nhân, đồngthời trongmỗitình huốngcụthểnó lựa chọn cách hành xử khác nhau cho phù hợp. Các hiện tượng tâm lý đan xen một cách hữu cơ với cuộc sống toàn vẹn của cá nhân, vì chức năng cơ bản của mọi hiện tượng và quá trình tâm lý là điều tiết hoạt động của con người.
Bản chất của nhân thân thể hiện ở chỗ không bị quy về các đặc thù tâm lýcá nhân của con người, mà là sựthống nhất giữa cái chung, cáiđặcthù và cái riêng trong sự phát triển và hình thành nên nhân thân kế thừa và phản ánh kinh nghiệm xã hội của mọi thế hệ trước. Ngoài ra, nhân thân cũng thể hiện các đặc điểm của một chế độ xã hội nhất định trong ý thức giai cấp, trong thế giới quan, lý tưởng chính trị của mình. Cuối cùng, nhân thân con người là sự thể hiện cácđặc điểm cánhân không trùng lặp, phản ánh sự phát triển của con người, sự tồn tại cá nhân của nó – đó là sự tồn tại được quy định bởi một nội dung cụ thể của
các mối quan hệ gia đình, sản xuất, xã hội… Đó cũng chính là môi trường, trongđó con người sống và phát triển với tư cách là một cá nhân trong xã hội.
Tự sự phân tích trên, có thể hiểu: Nhân thân người phạm tội là người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm, được hiểu là tổng thể các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với hoàn cảnh điều kiện bên ngoài tác động dẫn đến hành vi phạm tội.
Nghiên cứu nhân thân người phạm tội cũng chính là nghiên cứu nhân thân con người ở dạng cụ thể: Nhân thân của những người đã thực hiện hành vi phạm tội, là chủthểcủa tộiphạm. Nhân thân con người, theo quan điểmchủnghĩa Mác – Lênin là mộtphạm trù xã hộilịch sử. Nó là sảnphẩm của mộtthờiđại nhất định, được quy định bởi những điều kiện lịch sử cụ thể của hiện thực xã hội.
28
Nếunhân thân conngườilà tổnghợpcác đặc điểmxã hội, dấuhiệuthểhiện bản chất con người tham gia vào mối quan hệ xã hội, khi đề cập đến nhân thân người phạm tội là nói đến nhân thân con người thực hiện tội phạm. Đây làmột trường hợp đặc biệt của nhân thân con người. Trong nhân thân người phạm tội, ngoài những dấu hiệu nhân thân con người nói chung, còn có những dấu hiệu đặc điểm đặc trưng của nhân thân người phạm tội và chính những đặc điểm dấu hiệu này thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của nhân thân người phạm tội.
Xét về mặt ngôn ngữ, khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành từkhái niệm“nhân thân”và khái niệm“ngườiphạmtội”.Như vậy, khái niệm nhân thân người phạm tội được hiểu là nhân thân người có lỗi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự coi là tội phạm, nên khi nghiên cứu khái niệm nhân thân người phạm tội cần phải bắt đầu từ khái niệm nhân thân con người.
Đểhiểu rõ hơn khái niệm nhân thânngườiphạmtộicầnphải phân biệt khái niệm này với khái niệm chủ thể của tội phạm. Chủ thể của tội phạm là khái niệm pháp lý hình sự, là mộttrong những yếutốcấuthànhtộiphạm. Chỉcóngườicó năng lực trách nhiệm hìnhsựvà đạtđộtuổi nhấtđịnhvào thờiđiểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhộimớiphải chịu trách nhiệm hìnhsựvềhành vi trái pháp luật hình sự của mình.
Nhân thân người phạmtộilà nói đến nhân thâncủacon người thực hiện tội phạm, là trường hợp cá biệt của nhân thân con người. Trong nhân thân người phạm tội, ngoài nhữngdấuhiệu của nhân thân conngườinói chung, còn cónhữngđặc điểm, dấuhiệuđặc trưng của nhân thânngườiphạmtộivà chính những đặc điểm dấu hiệu này thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của nhân thân người phạm tội.
Dấuhiệuđặc trưng trong nhân thânngườiphạmtộikhácvớinhân thân con người bình thường, trước hết là nhân thân của họ có đầy đủ các dấu hiệu chủthể của tội phạm theo quy định của Luật Hình sự, tại thời điểm họ thực hiện tội phạm, họ là những con người cụ thể đang sống, có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định và đặc biệt là họ đã thực hiện hành vi phạm tội.
Gắn liền với sự việc phạm tội là toàn bộ những đặc điểm đặc trưng có liên quan đến sự việc phạm tội đó như: Mối tương quan giữa bản chất tốt xấu trong nhân
29
thân con người đó, thể hiện ở phẩm chất đạo đức, các trạng thái tâm lý, ý thức pháp luật, thái độ xử sự nói chung cho đến các đặc điểm cụ thể như động cơ, mục đích
thực hiện hành vi phạm tội, thái độ đối với các giá trị đạo đức, pháp luật… Những đặc điểm đó phần lớn được hình thành trước thời điểm thực hiện tội phạm, trong đóđặc biệt phải chú ý đến các phẩm chất tiên cực của cá nhân.
Nhân thân người phạm tội là những đặc điểm dấu hiệu đặc trưng phản ánh bản chất của người phạm tội, những đặc điểm dấu hiệu này tác động với những tình huống và hoàn cảnh khách quan kháctạora xửsự phạmtộicủa ngườiđó. Những đặc điểm đó có thể là độ tuổi, nghề nghiệp, thái độ làm việc, thái độ trong quan hệ với những người khác, trình độ văn hóa, lối sống, hoàn cảnh gia đình và
đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, tôn giáo, tiền án, tiền sự…
Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa nhân thân người phạm tội nhưsau: Nhân thân người phạmtộilà tổng hợpnhững đặcđiểm, dấuhiệu thể hiện bản chất xã hội của con người đã thực hiện tội phạm.
* Phân biệt khái niệm nhân thân người phạm tội (dưới góc độ tội phạm học) với một số khái niệm liên quan đến nhân thân con người
– Nhân thân người phạm tội và cá nhân người phạm tội
Khi đề cập đến khái niệm “cá nhân”là nói đến một con người cụ thể với tưcách là một cá thể trong xã hội, là sản phẩm của sự phát triển xã hội, là chủ thể của lao động, của mọi quan hệ xã hội, mang những đặc điểm cơ bản của điều kiện văn hóa lịchsửxãhộinhấtđịnh.Trongmỗicá nhân bao hàmcảnét riêng biệt mang tính riêng và nét chung của cộng đồng và chúng có sự thống nhất với nhau.
Như vậy, “cánhân người phạmtội”là kháiniệm được dùng để chỉ một cáthểngườitrong xãhộiđã thực hiệntộiphạm. Mặc dù, trongmỗicá nhân người phạm tội đều phản ảnh những nét chung của con người xã hội nói chung, song khái niệm cá nhân người phạm tội lại sử dụng để chỉ một con người cụ thểcó những đặc điểm riêng có của mỗi con người phạm tội. Những đặc điểm riêngđónói lên tính cá biệt của cá nhânngườiphạm tội. Cho nên, cóthểnói rằng, khái niệm “nhânthânngườiphạmtội”thuộc phạm trù chung, còn khái niệm “cánhân người phạm tội” là cái riêng [31, tr 103].
30
– Nhân thân người phạm tội và nhân cách người phạm tội
Nhân cách không chỉ là khái niệm tâm lý học mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác như: xã hội học; giáo dục học;đạo đức học;
triếthọc…Nhân cách là khái niệm được nhiều ngành khoa học quan tâm, luận bàn. Nhân cách là tư cách làm người, là “tư cách và phẩm chất, đạo đức của con người”[90, tr.1238]. Có nhiều quanđiểmkhác nhauvềnhân cách, mỗingành khoa học đưa ra khái niệm và phương pháp tiếp cận khác nhau, phổ biến nhất vàđược nhiều nhà khoa học chấp nhận là quan điểm “tâmlý hóa nhân cách”, xem nhân cách như những cá nhân độc lập trong sự tồn tại, tham gia trong các nhóm xã hội “Nhâncách làtổhợpcác thuộc tính tâm lý củamộtcá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị của người ấy”.
“Nhâncách người phạmtội”là một khái niệmđược dùng đểchỉtổ hợp những thuộc tính tâm lý của một cá nhân đã thực hiện tội phạm, biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội tiêu cực của cá nhân đó. “Nhân cách người phạm tội”được hình thành trong quá trình thực hiện tội phạm, quá trình tác động lẫn nhau giữa cá nhân và môi trường sống, đặc biệt là môi trường xã hội tiêu cực. Nhân cách người phạm tội khác với nhân cách khác trong xã hội, là “nhân cách không thích hợp”không đáp ứngđược những yêucầuđòihỏicủa xã hội, là đặc trưng chođặc điểmtiêu cực của tâm lý conngườitrong xã hội. Cácđặc điểmđặc trưng trong nhân cách người phạm tội thường được nghiên cứu là những đặc trưng về
nhu cầu, hứng thú, tính cách, năng lực, thới quen, niềm tin, lý tưởng sống… của người phạm tội.
Phân loại “Nhân cách người phạm tội”, có nhiều cách phân loại khác nhau:
– Cách thứ nhất theo AI. Đôngôva, có 3 loại: Loại nhân cách phạm pháp cóhệ thống, người có nhân cách này họ không chỉ lợi dụng hoàn cảnh mà bản thân còn tự tạo ra hoàn cảnh, vượt qua mọi trở ngại để thực hiện âm mưu tội lỗi, hành vi phạm tội đã trờ thành thói quen xử sự ở họ; Loại hình nhân cách phạm pháp do chuẩn mực đạo đức, pháp luật lỏng lẻo không nghiêm. Lối sống đã hình thành trước đâytrongsựtác độngvớitình huống chuẩn mực đạođứcpháp luật lỏng lẻo, không nghiêm đã dẫn đến hành vi phạm tội; Loại hình nhân cách bối cảnh,
31
người có nhân cách loại này thường có hành vi phạm tội xảy ra trong hoàn cảnh xung đột. Ở đây hành vi phạm tội xảy ra tựa như kích thích phản ứng. [22]
– Cách thức hai, căn cứ vào mức độ của những đặc điểm, phẩm chất tâm lý tiêu cực để phân loại về nội dung vác cách chia cũng tương tự như trên: Nhân cách tội phạm toàn thể, người có nhân cách loại này thường có tháiđộ xấu với xã hội, hành vi phạmtộiđược địnhhình, thường xuyên toan tính, hoạtđộng phạm tội, không dao động ngả nghiêng trong hoạt động phạm tội; Nhân cách tội phạm cục bộ, có sự phân đôi các phẩm chất, vừa có những phẩm chất hợp chuẩn, vừa có những phẩm chất không hợp chuẩn (thường có ở những tội phạm tham ô, hối lộ..); Nhân cách tội phạm cục bộ, trong loại nhân cách này có vài phẩm chất tâm lý tiêu cực mà trong tình huống nhất định đã thúc đẩy cá nhân phạm tôi.
– Nhân thân người phạm tội và chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là khái niệm của khoa học pháp lý hình sự, là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm, là điều kiện tất yếu để truy cứu trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộimộtcách cốýhoặc vô ý, có đủtrách nhiệm năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định. Ngoài ra,đối với chủ thể đặc biệt của tội phạm còn phải có thêm các dấuhiệu như giới tính, lứa tuổi, chức vụ, nghề
nghiệp, quan hệ gia đình….
Khái niệm nhân thân người phạm tội bao gồm tất cả các dấu hiệu mà luật hìnhsựquyđịnhvềchủthểthường cũng như chủthểđặc biệt của tộiphạm, nhưng trong khái niệm nhân thân người phạm tội thì dấu hiệu đó được thể hiện rộng hơn, chi tiết hơn. Chẳng hạn, dấu hiệu độ tuổi trong nhân thân người phạm tội không chỉ là yếu tố xác định năng lực hành vi của con người (tuổi chịu trách nhiệm hình sự – Điều 12 Bộ Luật Hình sự), mà còn được xem là một đặc điểm cóliên quan tới những biến đổi về tâm, sinh lý, kinh nghiệm sống và các vai trò, vịthế xã hội khác nhau. Đặc điểm tâm lý (dấu hiệu bên trong) của nhân thân người phạm tội là cả đời sống tâm lý, sự hình thành và phát triển nhân cách của họ với tấtcảnhữngcảmxúc, tình cảm, ý chí, xu hướng, tính cách thói quen, nhu cầu,
ước vọng… Còn trong chủ thể của tội phạm chủ yếu xem xét các dấu hiệu lý trívà ýchí biểu hiện ởkhảnăng nhận thức và điềuchỉnh hành vi, làm cơ sởxác
32
định năng lực trách nhiệm hình sự và lỗi của một người khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội [31, tr.104]
Ngoài ra, khái nhiệm nhân thânngườiphạmtộicòn có cảnhữngđặc điểm, dấu hiệu mà trong khái niệmchủthể của tộiphạm không có hoặc không cần thiết phải quy định về mặt pháp lý, như những dấu hiệu về mặt trình độ học
vấn, dân tộc, tôn giáo, quan hệ xã hội…tháiđộ của họ đối với các giá trị xã hội và với chính bản thân mình.
2.1.2. Các đặc điểm của nhân thân người phạm tội
Nhân thân người phạm tội trước hết bao hàm các đặc điểm nhân cách tiêu cực dẫnđếnthực hiện hành vi phạmtộiđược hình thành trong quá trình tương tác giữa môi trường sống với đặc điểm tâm sinh lý mỗi cá nhân. Ngoài ra, trong cấu trúc của nhân thân người phạm tội còn có các đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng cho chính nhân thân đó mà trong một con người bình thường không có. Cácđặc điểm dấu hiệu này có vai trò quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Cũng cần phải lưu ýrằngbảnchấtsựkhác nhau giữa nhân thânngườiphạmtộivà nhân thân người không phạm tội được xem xét trong tổng thể các đặc điểm dấu hiệu nhất định của nó chứ không phải được xác định bởi các dấu hiệu riêng biệt (như
trình độ học vấn thấp, lợi ích hẹp hòi, thái độ không tốt đối với lao động…), vìcác dấu hiệu này không chỉ riêng có ở những người phạm tội, mà chúng thể hiện ở ngay cả trong nhân thân của những người không phạm tội.
Cơ sởnghiêncứunhằm xácđịnhcác đặc điểm, dấuhiệu của nhân thân ngườiphạmtộiđểchỉra mốiquan hệhay quy luật của hành vi phạm tội, tìm hiểu những nguyên nhân xã hộitiêu cực tác động, nhữngđặc trưng khác của nhân thân người phạm tội, từ đó mới có những biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa được hiệu quả. Để chỉ ra những nhóm đặc điểm đặc trưng cho nhân nhân người phạm tội trước hết phải làm sáng tỏ mối quan hệ giữa đặc điểm sinh học và đặc điểmxã hộitrong nhân thânngườiphạm tội. Như vậy, trước hếtphải dựa vào những hoạt động thực tế của người đó. Những hoạt động này phải được đánh giá trongmộttậphợpnhấtđịnh:hành vi phạm tội, độngcơ phạm tội; mục đích
phạm tội và các dấu hiệu khácnhư đạo đức – tâmlý của người phạm tội. Có thểnói cấu trúc của nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu mà
33
xét về mặt tổng thể đặc trưng cho chính nhân người đã thực hiện hành vi phạm tội. Các đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng này đều có liên quan đến việc thực hiện tội phạm của con người đó.
Đốivớicác đặc điểmnhân thân tiêu cực của ngườiphạmtộiđược hình thành thông qua những hoạtđộngthực tếcủa ngườiđó, trong quá trình hoạt động đó thì các yếu tố thuộc về bản thân người phạm tội và các yếu tố thuộc vềmôi trường sống dẫn đến việc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội sẽ khác so với đặc điểm nhân thân các nhóm tội phạm khác.
Có nhiều cách phân loại các nhómđặcđiểmnhân thânngườiphạm tội khác nhau, đề làm rõ một cách toàn diện về nhân thân người phạm tội và để đánh giá được đặc điểmnhân thân trong tổng hoà các mốiquanhệxãhộicũng nhưđặc điểm tâmsinh lý của người phạm tội, chúng ta có thể phân loại thành 03 đặc điểm như sau:
– Đặc điểm xã hội – nhân khẩu;
– Đặc điểm xã hội – tâm lý;
– Đặc điểm xã hội – pháp lý.
Để chỉ ra đặc điểm nhân thân người phạm tội, chúng ta phải làm rõ cơ sởlý luận của 3 nhóm đặc điểm trên của người phạm tội.
2.1.2.1. Đặc điểm xã hội – nhân khẩu
Đặc điểm xã hội – nhân khẩu là những đặc điểm mang dấu hiệu bên ngoài
như: Giới tính, lứa tuổi, nơi ở, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình…. Bản thân mỗi ngườichúng ta đều mang nhữngđặc điểm xã hôi nhân khẩu như vậy, bảnthân các đặc điểm này không khẳng định cá nhân ai đó phạm tội. Một cá nhân nào đóphạm tội khi có các đặc điểm nhân thân tiêu cực được hình thành trong quá trình sống và khi gặp tình huống dẫn đến hành vi phạm tội thì những đặc điểm này ởmột chừng mực nào đó ảnh hưởng nhất định đến quá trình hình thành nhân thân tiêu cực của người phạm tội.
Giới tính: Đặc điểm giới tính xác định người phạm tội là nam giới hay nữgiới. Lịch sử thống kê tội phạm và thực tế của cuộc đấu tranh tội phạm đã chỉ ra rằng có các quy luật nhất định về tương quan số lượng giữa nam giới và nữ giới trong tổngthểnhữngngườiphạmtộinói chung và trong các nhóm, loại người
34
phạmtộiriêng biệt. Qua nghiêncứutỷlệgiữa nam giới và nữgiới trong việc phạm tội, tỷ lệ nam giới phạm tội bao giờ cũng cao hơn và mang tính chất “ổn định” hơn. Cho thấy có thểxácđịnhđược đặc trưng của nam giới là dễbịảnh hưởngcủa môi trường và điều kiện sống đểhình thành những đặc điểmtâm lýtiêu cực hoặc dễ bị thói hư tật xấu trong xã hội nhiều hơn nữ giới. Trong thực tếcuộc đấu tranh chống tội phạm ở nước ta, cứ 100 người phạm tội, nữ giới chỉ có 6 đến 10 người [31, tr.110].
Tuy nhiên trong những năm gần đây, cơ cấu phạm tội theo giới tính đang có sự thay đổi. Tỷ lệ phạm tội nữ giới có xu hướng tăng lên và các loại tội phạm do họ thực hiện ngày càng đa dạng. Ngoài những tội phạm chủ yếu mà trước đây nữ giới thường phạm tội là: tội trộm cắp tài sản; tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
hay tội đầu cơ…, hiện nay trong danh mục đó có thêm nhiều loại tội phạm nguy hiểm như:tộibắtcóctrẻem, tộichứamạidâm, tộimua bán trái phép chất ma
túy… đặc biệt xuất hiện một số băng nhóm tội phạm có sự tham gia của phụ nữ, thậm chí là vớivai tròcầmđầu, đã gây ra nhiềuvụphạmtộirấtnghiêm trọng
như giết người, cướptàisản, bắtcóc tốngtiền… làm tình hình trậttựxã hội ngày càng thêm phức tạp. Điều này cho thấy, đến nay cơ cấu giới tính của người phạm tội đã có sự thay đổi.
Lứa tuổi: Cùng với sự biến đổi của độ tuổi là quá trình diễn ra sự thayđổi của bản thân nhân thân. Các giai đoạn phát triển khác nhau của nhân thân không phụthuộc vào các đặc điểmđộtuổi, mà chủyếuphụthuộc vào các hình thức hoạt động thực tế có nội dung cụ thể của con người. Nghiên cứu về độ tuổi trong
tội phạm học chỉ ra tội phạm phổ biến ở độ tuổi nào. Sự phát triển về thể chất,
tâm lý, nhận thức, tìnhcảm…củamỗilứatuổi khác nhausẽcó nhữngđặcđiểm riêng khác nhau. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến hành vi con người. Tội phạm học nghiên cứu lứa tuổi nhằm xác định hai vấn đề quan trọng là: lứa tuổi nào phạm tộinhiều nhất, phânbốvà diễn biếncủatộiphạm theolứatuổi và cơcấucủatội phạm theolứatuổi. Nghiêncứuđặcđiểmlứatuổi giúp cho việcsắpxếpưu tiên trong các biện pháp giáo dục cải tạo, đấu tranh phòng ngừa tội giết người.
Thực tế cuộc đấu tranh chống tội phạm cho thấy người phạm tội ở độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là những người từ 31 đến 45 tuổi
35
và những người chưa thành niên (từ 14 đến dưới 18 tuổi), còn những người trên 45 tuổi phạm tội chiếm tỷ lệ ít hơn. Đối với từng lứa tuổi khác nhau, cơ cấu tội phạmđược thực hiện cũng có nhữngđặc trưng khác nhau. Chẳnghạncác tội phạm mà ngườichưa thành niên thực hiện nhiều nhất phảikểđếncác tộixâm phạm sở hữu trong đó chủ yếu là trộm cắp, saumới đến các tội cướp, tội cướp giật và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trình độ học vấn: Thể hiện mức độ hiểu biết, kiến thức của con người vềthế giới khách quan, về xã hội về các mối quan hệ và những lĩnh vực khấc nhau trong đời sống. Tất cả những sự hiểu biết này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển trí tuệ, đến quá trình hình thành phát triển nhân cách của các nhân. Có thểnói trình độ học vấn có sự tác động rất lớn lên hành vi ứng xử và cách giải quyết mâu thuẫn trong cuộc sống của mỗi người. Trong nhiều trường hợp do trình độhọc vấn thấp đã tao ra nhiều hạn chế trong việc một cá nhân xử lý các tình huống phát sinh trong cuộc sống hàng ngày, làm cho nhiều người có suy nghĩ lệch lạc, từ đó họ cónhững hành vi sai trái với những quy đình của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.
Nghiên cứu trình độ học vấn của người phạm tội không chỉ hạn chế ở việc phân tích thành phần người phạm tội nói chung và so sánh với trình độ học vấn của dân số, mà cần phải nghiên cứu trình độ học vấn của từng nhóm, loại người phạm tội riêng biệt, đồng thời phải chỉ ra các mối liên hệ và phụ thuộc giữa trìnhđộ học vấn và xu hướng phạm tội của các nhóm, loại phạm tội đó. Trên thực tế, nhữngngườiphạm tội ởcác nhóm khác nhau cũng có trìnhđộhọc vấnkhác nhau. Nhữngngườicó trìnhđộhọc vấnthấp thường phạmtộicó tính chất bạo lực, cônđồhoặc các tộiphạm xâm phạm trậttựan toàn xã hội, còn những tội phạm xâm phạm kinh tế, các tội phạm chức vụ hoặc có động cơ vụ lợi do những người có trình độ văn hóa cao hơn thực hiện.
Nghề nghiệp, địa vị xã hội: Địa vị xã hội và nghề nghiệp là một đặc điểm quan trọng của nhân thân con người và nhân thân người phạm tội nói riêng. Địa vị xã hội thường gắn liền với nghề nghiệp của người đó và phụ thuộc vào trìnhđộ học vấn của họ. Đối với người có nghề nghiệp ổn định, có địa vị xã hội cao sẽdễ dàng có được nhữngđiều kiệnthuậnlợicho sự phát triển nhân cách, những
36
nhu cầu cơ bản của đời sống được bảo đảm thì sẽ hạn chế được việc xảy ra mâu thuẫn. Nghiên cứuđịa vịxã hộivà nghề nghiệpchỉra nhómngườilàm việc ởnhững ngành, lĩnh vực nào trong xã hội dễ thực hiện tội phạm và loại tội phạm họ thực hiện. Một số nhóm tội mà đặc điểm nghề nghiệp và địa vị xã hội có ảnh hưởng khá lớn đến hành vi phạm tội như là nhóm các tội xâm phạm trật tự quản
lý kinh tế, nhómtộitham nhũng… Dấuhiệuvềđịa vịxã hộichỉra nhóm tội phạm nào phổ biến, đồng thời chúng cũng định hướng cho việc tìm hiểu và chỉra các yếu tố phát sinh tội phạm vốn đặc trưng cho các nhóm nghề nghiệp khác nhau của cư dân, cho các ngành kinh tế, các hình thức sản xuất khác nhau.
Trong nhân thân con người nói chung, nghề nghiệp, địa vị xã hội có ảnh hưởngrấtlớnđến hành viứng xửcủa mỗingườivà nó thườngthểhiện những phong cách riêng của từng loại người xét theo nghề nghiệp, địa vị xã hội. Theo thống kê tộiphạm, đa sốngườiphạmtộilà ngườikhông có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định, địa vị trong xã hội rất thấp [31, tr.112]. Đặc biệt làđốivớinhữngngườiphạmtộithuộc loại tái phạm, tái phạm nguy hiểm thìthường chỉ số này rất cao.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


