Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay

Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay

Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự những năm qua, sự tham gia tố

tụng dân sự của người đại diện của đương sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệquyền, lợiíchhợppháp của đươngsự, cũng như việc làm rõsựthậtcủavụviệc dân sự, ngày càng chứng tỏ là một trong những thành phần không thể thiếu trongtốtụng dân sự.. Chếđịnh đạidiện của đươngsựdânsựcũng đã và đang khẳng định ý nghĩa và vai trò của mình trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự, Việc xácđịnh đúngđắnvai trò cũng như hoàn thiện các quy định pháp luậtvềngười đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự là một việc làm cần thiết và cóýnghĩa quan trọng. Bởilẽ, vớitư cách là ngườitham gia tốtụng dân sự,hoạt động của người đại diện cho đương sự có tác động không chỉ đến hoạt động của những người tham gia tố tụng khác, mà còn tácđộng đến cả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, góp phần thúc đẩy sự dân chủ, tiến bộ của xã hội, hoàn thiện và bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Người đại diện của đương sự là người tham gia tố tụng dân sự, thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Việc tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ án dân sự, đặc biệt trong trườnghợpđươngsựkhôngtựthực hiện các quyền và nghĩa vụtốtụng của mình. Những quy định về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự được quy định lần đầu trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 và được tiếptụcquyđịnhtrongBộluậtTốtụng dânsự(BLTTDS) năm 2004. Gầnđâynhất, là chếđịnhvềngườiđạidiện của đươngsựđược quyđịnhtại BLTTDS năm 2015. Theo quyđịnhcủa pháp luậttốtụng dânsựViệt Nam, ngườiđạidiện trongtốtụng dânsựbaogồmngườiđạidiện theo pháp luật vàngười đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quyđịnhcủa Bộluật Dânsự(BLDS). Tuy nhiên, khácvớiquyđịnhvềngười đại điện được quy định trong BLDS là người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện để xáclập, thực hiện giao dịch dân sự, thì người đại điện của đương sự trong tố tụng dân sự được quy định là người tham gia tố tụng dân sự, thay mặtđươngsựthực hiện các quyền, nghĩa vụtốtụngđểbảovệquyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án.Người đại diện của đương sự tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự có vai trò rất quan trọng, đólà, việc tham gia tốtụng của ngườiđạidiện của đương sựcó tác dụngbảovệquyền, lợiích hợppháp của đươngsự, nhất là trong trườnghợphọlà người bịhạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, việc tham gia

tốtụng của ngườiđạidiện của đươngsựcòn có tác dụng nhấtđịnhtrong việc làm rõ sự thật về vụ việc dân sự.

Thực tiễn hoạt động tố tụng trong những năm gần đây cho thấy, việc quyđịnhchếđịnhngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dânsựlà hếtsức cần thiết, nhằmđảmbảohoạtđộngtranh tụngđược diễn ra theo đúng trình tự, thủ

tục pháp luật quy định, kịpthờibảovệquyền và lợiích hợppháp cho các bênđươngsự. Sốlượngcácvụviệc cóngườiđạidiện chođươngsựtham gia vào quá trìnhtốtụng dân sư ngày càng tăng và có tính chuyên nghiệp hơn. Thông thường là hình thức đạidiện theoủyquyềnvớisựtham gia của các luật sư lànhữngngườitranh tụng chuyên nghiệp, nên chấtlượngcủabảnán, quyếtđịnh của Tòa án cũng được nâng cao. Việc thực hiện các quy định về người đại diện cho đương sự được thực hiện khá nghiêm túc.Đồngthời, Tòa án cũng đã phối hợp, giúp đỡ góp phần nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện, kiểm tra, giám sát các quyđịnhvềngườiđạidiệncủađươngsự. Tuy nhiên, trải qua thực tiễn áp dụng, những quyđịnhvềngườiđạidiện của đương sựtrongtốtụng dânsựđã bộc lộ một số điểm bất cập, chưa cụ thể, thiếu tính thống nhất, cónhững vấn đềcần thiết nhưng chưa được luật hóa, bên cạnh đó, những khó khăn từ thực tiễn áp dụng pháp luật cũng làmảnh hưởng đến hoạt động tố tụng dân sự và lợi ích hợp phápcủađươngsựkhôngđược đảmbảonhư trong việc xácđịnhvai trò của

người đại diện, quyền và nghĩa vụ của người đại diện…

Xuất phát từ vai trò của người đại diện của đương sự, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, việc tìm hiểu, nghiên cứu về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự đã trở thành một nhu cầu cấp bách. Cho nên, việc nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện các quyđịnhcủa pháp luật liên quan đến người đạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt độngtốtụng dânsự, từđó, đề xuấtcác giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về vấn đề này, nâng cao hiệu quả của hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích cho các bên tranh chấp là rất cần thiết.

Với các lý do được phân tích ở trên, nên nghiên cứu sinh đã lựa chọn đềtài: “Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay”đểnghiên cứu và làm Luận án Tiến sĩ luật học.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mụcđích nghiêncứucủaluận án là trên cơsởnghiêncứucácvấnđềlýluận và thực tiễn pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sựtheo quy định của pháp luật Việt Nam, từ đó, đề xuất định hướng và giải pháp cụthể nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:

– Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án nhằm làm rõ các vấn đề, nội dung sẽ được kế thừa và các nội dung cần tiếp tục phải nghiêncứuvà giải quyết trongnộidung luận án; làm rõ cơ sởlý thuyết nghiên cứu đề tài luận án;

– Nghiên cứu, phân tích, làm sángtỏnhữngvấnđềlý luận pháp luật vềngười đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự;

– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự; chỉ ra những hạn chế, vướng mắc, bất cập trong thực trạng pháp luật và trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự có người đại diện của đương sự tham gia tố tụng dân sự;

– Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận ánđề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về người đại diện trong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đốitượngnghiêncứucủa luận án là nhữngvấnđềlý luận và thực tiễn pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự; hệ thống các quyđịnh của pháp luật Việt Nam về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, đểlàm rõ hơncác vấn đềnghiên cứu, luận án cũng khảo cứu kinh nghiệm pháp luật mộtsốnước vềchếđịnhngười đạidiện của đươngsựtrong tố tụng dân sự.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luậtvềngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dân theo quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự theo đúng yêu cầu của nội hàm đề tài.

Vềkhông gian: Luận án tậptrung nghiên cứu hệthống pháp luật Việt Namvềngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dân sự, cũng như thực tiễn thực thi pháp luậtvềngườiđạidiện của đương sựtrongtốtụng dânsựtạicác Tòa án nhân dân ở Việt Nam. Việc khảo cứu kinh nghiệm pháp luật các nước vềchế định đạidiệncủađươngsựtrongtốtụng dân sự qua tài liệuthứcấp chỉlà làm rõ hơn mô hình lý luận pháp luật về vấn đề này.

Vềthời gian: Luận ántậptrung nghiên cứucác vấnđềliên quanđến ngườiđạidiện của đương sựtrongtốtụng dânsựtheoBộluậtTốtụng dânsựnăm 2015. Tuy nhiên, phần nghiên cứu về thực tiễn thực thi pháp luật có liên hệvới các vụ việc đã diễn ra ở các thời điểm trước đó.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận ánđược nghiêncứutheo phương pháp luận của triếthọcMác – Lênin, đồng thời, sử dụng các phương pháp truyền thống có độ tin cậy như phân tích tổng hợp, lịch sử cụ thể và các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như:

phương pháp phân tích quy phạm, khảo sát thực tiễn, thống kê, so sánh…

Đểgiải quyết nhiệmvụnghiêncứuđặtra trong từng chương của đềtài, những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sẽ được tác giả áp dụng như sau:

– Trong chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát nhằm tổng quan tình hình nghiên cứu, làm rõ nhữngvấnđềđã được giải quyết, nhữngvấnđềluận án tiếp tục nghiên cứu, từđóđưara cơ sởlý thuyết

nghiên cứu, xác định câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu…

– Trong chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát nhằm làm rõ kháiniệm, đặc điểm người đại diện của đươngsự trong tố tụng dân sự, từ đó phân tích làm rõ những vấn đề lý luận phápluật về người đại diện của đương sựtrongtốtụng dân sự.Đồngthời phương pháp so sánh, đốichiếu được sửdụng nhằm tìm hiểuchếđịnhvềngườiđạidiện của đươngsựtrong pháp luậttốtụng dânsựcủa mộtsốnướctrên thếgiới nhằm làm rõ thêm môhình lý luận pháp luật về vấn đề này.

– Trong chương 3, tácgiảsửdụng phương pháp phân tích quy phạm, đểphân tích làm rõ các quy định của pháp luật, để thấy được những điểm tiến bộ, đồngthờichỉra nhữnghạnchế, bấtcậpcủa pháp luật hiện hành..Mặtkhác, phương pháp khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, phương pháp nghiên cứu điển hình một số vụ án cụ thể được sửdụngđểđánh giá nhữngvấnđềnảysinh trong thực tiễn áp dụng pháp luậtvềngười đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.

– Trong chương 4, các phương pháp phân tích và dự báo khoa học được sửdụng chủ yếu trong việc đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về người đại diện của đương sựtrong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay.

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án đã nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thốngvề chế định đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự theo pháp luật Việt Nam, cụ thể:

– Làm rõ các nội dung về phương diện lý luận phápluật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự như: Khái niệm, đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự; căn cứ xáclập đại diện,điều kiện trở thành người đại diện, quyền và nghĩa vụ của người đại diện, hậu quả pháp lý của việc xác lập và chấm dứt đại diện, thời hạn đại diện, phạm vi đại diện của đương sựtrong tố tụng dân sự.

– Luận án cũng đã phân tích và đánh giá khách quan thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luậtvềngườiđạidiện trongtốtụng dân sựtạiViệt Nam; làm rõ những bất cập, chồng chéo và những hạn chế của các quy định pháp luậtvềngườiđạidiện trong việc bảovệlợiích của các bên đương sựtrongtố

tụng dân sự. Những nội dung chủ yếu của các quy định pháp luật Việt Namvềquyền và nghĩa vụ của người đại diện, căn cứ cũng như hậu quả pháp lý của việc xác lập và chấm dứt quan hệ đại diện đã được luận án hệ thống hóa, phân tích vàgiải thích, làm rõ.

– Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn đã được làm sáng tỏ, luận ánđã đưa ra những quan điểm và đề xuất các giải pháp đồng bộ, khoa học để khắc phục nhữnghạnchếvà nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệuquảthực thi pháp luật về người đại diện trong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khái quát và làm rõ hơn những vấn đề lý luận pháp luật về người đại diện của đương sự trong tốtụng dân sự, làm rõnộihàm pháp luật của ngườiđạidiện theo pháp luật và

ngườiđạidiện theoủyquyền của đương sựtrongtốtụng dân sự. Những kết luận, đề xuất, kiến nghị mà luận án nêu ra đều có cơ sở khoa học và thực tiễn. Vì vậy, chúng có giá trị tham khảo trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật tốtụng dân sự.

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ có giá trị tham khảo cho cán bộ, thẩm phán của Tòa án nhân dân khi nghiên cứu, xét xử cácvụviệc dânsựcó ngườiđạidiện của đươngsựtham gia tốtụng; là tài liệu tham khảo có giá trị cho các cơ sở nghiên cứu, giảng dạy, bồi dưỡng pháp luật có liên quan đến chế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.

7. Kết cấu luận án

Ngoài phầnmởđầu, kếtluận và danhmụctài liệu tham khảo, nộidung của luận án được kết cấu gồm bốn chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu. Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về người đại diện của đương

sự trong tố tụng dân sự.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay.

Chương 4:Địnhhướngvà giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềngườiđại diện của đương sự trong tố tụng dân sự ở Việt Nam.

Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay
Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.2.1. Những vấn đề liên quan đến đề tài luận án đã được giải quyết Thông qua việc tổng quan tình hình nghiêncứucác công trìnhởtrong

nước và ngoài nước về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, tácgiảcó một số nhận xét, đánh giá như sau:

Thứ nhất, về nghiên cứu lý luận: Các công trình nghiên cứu đã được công bốliên quanđếnchếđịnhngườiđạidiện của đương sựđã chỉra khái niệm cơ

21

bản, những đặc điểmvà vai trò của ngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dân sự; căn cứ điều kiện xác lập; phạm vi đại diện; quyền và nghĩa vụ của người đại diện, căn cứ chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lý của việc chấm dứt đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự; quan tâm sâu sắc mối quan hệ giữa người đại

diện và người được đại diện trong quan hệ đại diện… Xuất phát từ tính đa dạng của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự nên người đại diện của đương sự trong tố

tụng dânsựđược chia thành:Ngườiđạidiện theo pháp luật vàngườiđạidiện theo ủyquyền. Việc xây dựng các quyđịnhvềngười đạidiện của đươngsựtrong tố tụng dân sự được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc về quyền tự định đoạt của đươngsự và trên cơ sở đảm bảo quyền tham gia tranh tụng tại Tòa ánđể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Bên cạnh đó, việc xây dựng các quy định về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự được tiến hành trên cơsởđảmbảomốiliên hệgiữa BLDS và BLTTDS trong việc quyđịnhvềngười đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, đồng thời phúc đáp đòi hỏi của thực

tiễn tố tụng dân sự tại Tòa án…

Các bài nghiêncứuđã chỉra được nhữngđiểmkhác biệt giữa nộidungđạidiện trong pháp luậttạiViệt Nam và pháp luật của các nướckhác trênthếgiới. Các công trình trên đã phân tích, đánh giá hiện trạng quy định pháp luật vềngười đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự được quy định trong pháp luật Việt Nam và đưa ra một số giải pháp để nâng cao vai trò của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Một số bài viết đăng tải trên các tạp chí còn đềcập đến kinh nghiệm của một số nước để tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Việc này góp phầnđưara nhữngvấnđềcòntồntạitrong pháp luật về đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.

Tuy nhiên, trong một số công trình nghiên cứu trong nước có đề cập phân loại“ngườiđạidiện chođươngsựdo Tòa án chỉđịnh” là mộtloại bên cạnh người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền là chưa chính xác. Xét cho cùng, người đại diện cho đương sự do Tòa án chỉ định cũng chỉ là người đại diện theo pháp luật mà thôi. Bên cạnh đó, không ít công trình nghiên cứu còn chưa phân biệt rõ ràng về người đại diện trong quan hệ dân sự theo quy định của

22

Bộluật Dânsựvà ngườiđạidiện chođươngsựtrongtốtụng dân sựtheo quy

định của Bộ luật Tố tụng dân sự…

Thứ hai, về nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật: Các tài liệu hiện có trong nước đã nghiên cứu các khía cạnh, mặt cắt khác nhauvềđạidiện. Các nghiêncứutrongnước và nước ngoàiđã đềcậptớinội dung lý luận, vai trò của đạidiện nói chung và đạidiện của đươngsựtrongtố

tụng dân sự nói riêng. Trong các nghiên cứu đã chỉ ra một số khó khăn, vướng mắc, tồn tại của pháp luật về đại diện. Đa số các công trình nghiên cứu đã đề cập phân tích thực trạng các quyđịnhpháp luật hiện hànhvềngườiđạidiện của đương sự, cũng như thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về người đại diện của đương sựtrongtốtụng dân sựtừnăm 2005trởlạiđây, từđó rút ra những hạn chế thiếu sót của pháp luật về vấn đề này và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật về người đại diện theo ủy quyền của đương sựtrong tố tụng dân sự Việt Nam.

Đã có mộtsốnghiên cứuđánh giá bằng phương phápđiềutra, khảo sát thực tiễn thực thi pháp luật hiện hànhđối vớiđại diệntrongtốtụng dân sự, cụthểhơn là các công trình đã tìm hiểuvềquyền, nghĩa vụ, vụ việc áp dụng trên thực tế về đại diện. Đây là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích để luận án làm cơsởđưa vào nội dung nghiên cứu.

Qua các nghiên cứucho thấy,mộtsốhạnchế, bấtcậpcủa pháp luậtvềchếđịnhđạidiện, những khó khăn, vướngmắc trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệmvụcủa ngườiđạidiện đã được đánh giá, phản ánhởmức độnhất định. Cùng với đó, mộtsốtài liệuđã đề xuấtgiải phápcảicách quy định pháp luật về chế định đại diện trên cả hai phương diện: Hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự và nâng cao hiệu quả thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề này.

1.2.2. Những vấn đề mà luận án sẽ tiếp tục kế thừa và phát triển

Thứnhất,vềmặtlý luận, nhìn chung, nộidung các tài liệunước ngoàiđều đưara cái nhìn khái quát về nội dung đại diện của đương sự trong dân sự và tố tụng dân sự. Các tác giả đã đưa ra khái niệm về đại diện, các quyền và nghĩa

23

vụmà mộtngườiđạidiện phải thực hiện trong quá trìnhtốtụng tại Toà án, những nguy cơ và rủiro mà mộtngườiđạidiện cóthểgặpphải khi thực hiện công việc thay mặt cho người được đại diện. Tại đây, các tác giả cũng đưa ra tầm quan trọng, vai trò và sức ảnhhưởngcủa ngườiđạidiệnđốivớikhôngchỉlà người được đại diện mà cònđối với toà án và có thể là cả với bên đối phương.

Các tài liệunước ngoàitừcác nguồn vănbảncủahệthống thông luật (common law) và chủ yếu là một số nguồn văn bản của hệ thống dân luật (civil law), cho nênđâylà những tư liệu tham khảo khách quanđểluận án cóthểsửdụng đối chiếu, so sánh và vận dụng trong khi phân tích đề tài.

Nội dung nghiên cứu trong các công trình ở nước ngoài đã cung cấp cách tiếpcậnđa chiều, phong phú về vai tròcủangườiđạidiện trong phạm vi pháp luật dân sự. Cho dùởcác nước thuộc truyền thống pháp luật theohệthốngtố

tụng nào, thì người đại diện đều có chức năng quan trọng trong quá trình tố tụng dânsựlà thaymặtchođươngsựthực hiện quyền và nghĩa vụcủa đươngsự. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong quá trình tố tụng dân sự ở mỗi quốc gia sẽ có sự khác nhau cụ thể phụ thuộc vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế của các nước này. Tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới, có thể khẳng định các quốc giađều xácđịnh sự cần thiết của người đại diện trong hoạt động tố tụng dân sự. Tuy nhiên, các công trình trên chưatậptrung nghiêncứuchuyên sâu, riêng biệtvềngười đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.

Thứhai,vềmặtthực tiễn, những công trình trongnước đềunghiên cứu một cáchtổng thể về chế định nguời đạidiẹn, cũng nhu khai thác đuợc duới gócđọ bảo đảmquyền và lợi ích hợp pháp của đuong sự trong tố tụng hình sự; bảođảmsự tham gia tốtụng của nguời đạidiẹn, nguời bảo vẹquyền, lợi ích hợp pháp của đuong sự… và là co sở để có những công trình nghiên cứu chuyên sâu hon về nguời đại diẹn theo ủy quyền của đuong sự.

Tuy nhiên, chưa có công trình nào tiếpcậnchếđịnhngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dânsựtrong BLTTDS năm 2015vớinhữngđổimới đáng kể và thực trạng áp dụng trực tiếp những chế định đó. Do vậy, luận án sẽ

24

được tiếp cận theohướngchếđịnhngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dânsựtheo BLTTDS năm 2015đểlàm rõ hơnsựthayđổitrong quyđịnhcủa pháp luật và thực trạng áp dụng nó tronghoạt độngtốtụng cósựtham gia của người đại diện của đương sự.

Từnhững phân tích trên, tácgiảnhìn nhậnđược nhữngkếtquảmà các nghiêncứuliên quanđếnđềtàiđãđạtđược, trên cơ sởđó, luận ánsẽtiếp tục nghiên cứu nhằm kế thừa và phát triển nội dung về người đại diện của đương sựtrong tố tụng dân sự.

1.2.3. Những vấn đề mà luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu

Các công trình nghiêncứunước ngoài cóýnghĩa nhấtđịnhtrong việc tham khảovềmô hìnhtốtụng, cũng như rút ra bài học kinh nghiệmđểhoàn thiện pháp luật Việt Nam về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.

ĐốivớiViệt Nam, cầnthiết phải có công trình nghiên cứutoàn diệnvềngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dân sự, nhằm đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu trong nước đã nêu trên chưa nghiên cứu được toàn diện vềchế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.

Ởcác công trình nghiên cứutrongnước,Luận án tiến sĩcủatácgiảNguyễn Công Bình [4] nghiêncứuvề bảo đảmquyềnbảovệcủa đươngsự, đã xây dựng khái niệm quyền bảo vệ và bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong

tố tụng dân sự; chỉ ra các đặc điểm, bản chất, ý nghĩa, các yếu tố quyết định đến bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự và cơ sở pháp luật quyđịnh bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Namvà cảcác góc độ khác như bảo đảm quyền tự bảo vệ của đương sự, bảo đảm quyền của đương sự được người khác bảo vệ và trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự, trong đó có phần nhỏ liên quanđến người đại diện của đương sự. Trong khi đó, Luận án Tiến sĩ luật học của tác giảHồ Ngọc Hiển nghiên cứu đại diệncho thương nhân theo pháp luật thương

25

mại Việt Nam [40]. Đây là quan hệ đại diện trong luật thương mại. Trong công trình nghiêncứunày, tácgiảđã có nghiêncứukhá toàn diệnvềkhái niệmđại diện nói chung, chưa đề cập đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.

Các công trình nghiên cứu khác như Luận văn Thạc sĩ luật học của tácgiảNguyễnThịLan Anh nghiêncứuvềđạidiện không cóủyquyền và đạidiện vượt quá phạm vi ủy quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam [1], là một phần nội dung về quan hệ đại diện và có một phần nhỏ liên quan đến đại diện của đương sự. Luận văn Thạc sĩ luật học của các tác giả Lê Hùng Nhân [54], Trần Thị Hường [44] nghiên cứu về người đại diện theo ủy quyền trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam,đãnghiêncứuđượcnửachếđịnhngườiđạidiệncủađươngsự.Tuy nhiên, công trình này hoàn thành từ năm 2012, do đó, không đánh giá được thực trạng vàthực tiễn thi hành BLTTDS năm 2015 về người đại diện của đương sự.

Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Lê Thị Lộc [48] đã nghiên cứu đúng chủđềcủa luận án làngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dân sự. Công trình này đã đánh giá quy định về người đại diện của đương sự trong BLTTDS năm 2015 trong mối liên hệ so sánh với quy định trong BLTTDS năm 2004, tuy nhiên, chưa có sự phân tích, đánh giá sâu sắc và toàn diện các quy định này hoàn thành trước khi BLTTDS năm 2015 nên chưa đánh giá được thực tiễn thi hành BLTTDS năm 2015.

Các công trình nghiêncứuđược đăng trên các tạpchí chuyên ngànhchỉnghiêncứumộtkhía cạnh, mộivấnđểnhỏtrongchếđịnhngườiđạidiện của đương sự và phân tích nội dung một số vụ án cụ thể về người đại diện của đương sự. Đa số các công trình đều nghiên cứu về quy định và thực tiễn thực hiện các quyđịnhcủa BLTTDS năm 2004 và các văn bảnpháp luật thờikỳtrước. Các công trình nghiên cứu về quy định và thực tiễn thi hành BLTTDS năm 2015 vềchế định người đại diện của đương sự còn hạn chế.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, trong luận án này, tác giả sẽ thực hiện việc nghiên cứuđầyđủvà toàn diện hơnvềchếđịnhngườiđạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự. Các vấn đề nghiên cứu cụ thể như sau:

26

Thứ nhất, Luận án làm sáng tỏ hơn nữa khái niệm công cụ liên quan đến người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, đặc điểm của người đại diện, phân loại người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự; làm rõ mô hình nội dung pháp luậtvềngườiđại diệncủa đương sựtrongtốtụng dân sự; phân biệt người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự và người bảo vệ quyền lợi ích hợppháp của đươngsự, có sựtham khảo kinh nghiệm pháp luậtmộtsốnước trên thế giới để làm rõ mô hình lý luận pháp luật về vấn đề này.

Thứ hai, Luận án nghiên cứu về vấn đề điều chỉnh pháp luật về người đại diệncủa đươngsựtrongtốtụng dânsự và đưara những đánh giá tổng quátvềngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dânsựởViệt Nam hiện nay; phân tích, đánh giá các quy phạm pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố

tụng dânsựởViệt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luậtđểchỉra nhữngđiểm chưa hợp lý, mâu thuẫn hoặc chồng chéo trong pháp luật Việt Nam

Thứ ba, Luận án chỉ rõ yêu cầu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay.

Mặc dù vậy, vẫn cần khẳng định, những vấn đề được các nhà nghiên cứu đi trước nêu rađểphân tích và luận giải là nhữngkếtluận quan trọng, có hàm lượng khoa học, là hệ thống tư liệu phong phú, có giá trị thamkhảo để tácgiả kếthừa và tiếptụcnghiêncứu đềtài“Người đạidiệncủa đương sựtrongtốtụng dân sự Việt Nam hiện nay”.

1.3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 1.3.1. Các lý thuyết nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, Luận án áp dụng các lýthuyết nghiên cứu sau đây:

* Lý thuyết về người đại diện

Jensen và Meckling (1976) trong tác phẩm “Lý thuyết về công ty: Hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện vàcấu trúc sở hữu”đã giới thiệu các quanđiểmcủa mìnhvềlý thuyếtngườiđạidiện. Đây là mộttrong những tác phẩm

27

đượctríchdẫnnhiều nhất tronggần3 thậpkỷqua của giớihọcgiảkinh tế, tài chính khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến người đại diện (agency cost). Lýthuyết này đã được nghiêncứutừtrước và có cơ sởtừtâm lý học đólà: con người vốn có khuynh hướng cá nhân (individualistic), cơ hội (opportunistic), vàtư lợi (self-interest); tuy nhiên, vấn đề ở đây là làm saođể các cánhân dung hòa lợi ích để cùng có lợi và phát triển.

Lý thuyết này cũng có thể áp dụng cho việc nghiên cứu về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Bởi lẽ, trong tố tụng dân sự, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình các đương sự thường tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp người khác có thểtham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự để bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Người tham gia tố tụng dân sự này được gọi là người đại diện của đương sự.

* Lý thuyết về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, các tổchức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của họ đãđược phápluật ghi nhận. Bảo đảmquyền con người tronghoạt độngtốtụng là yêu cầu vô cùng quan trọng, bởi lẽ, hoạt động tố tụng là hoạt động của các chủthểtiến hànhtốtụng và ngườitham gia tốtụng nhằmđưara phán quyết giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu của các đương sự liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ, trong đó có quyền con người. Vì vậy, pháp luật tố tụng phải được xây dựng nhằmhướngtớibảođảmquyền con người, vì con người, lấycon người làm trung tâm. Quyền con người, quyền vàlợiích hợppháp củacá nhânđược Nhà nước bảohộ, trong đó, có quyền đượcyêucầuTòa ánbảo vệmọilợiích, mọi quyền con người của mình khi cho rằng có bất kỳ hành vi xâm phạm nào từphía chủthể khác, không phụ thuộc vào việc lợiích đó đã đượcpháp luậtđiều chỉnh hay chưa. Tòa án còn có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong

28

việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân

sự; bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự…

* Lý thuyết về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

Trong tố tụng dân sự, nguyên tắc tranh tụng được bảo đảm cho đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sựthực hiện quyền tranh tụngtừkhi khởi kiệnthụlývụán chođếnkhi giải quyết xong vụ án trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

Nội dung của tranh tụng là nhằm xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, đặc biệt là quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của đương sự, ngườiđạidiện của đương sự, ngườibảovệquyền vàlợiíchhợppháp của đương sự. Họ có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụlý vụ án dân sự; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, họ cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người đại diện của đương sự, ngườibảovệquyền vàlợiíchhợppháp củađươngsựtheo quyđịnhcủa pháp luật tố tụng dân sự. Trong quá trình tố tụng, các chứng cứ của vụ án phải được công khai, trừtrườnghợpkhôngđược công khai. Các đương sựđềucóquyềnđược biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứngcứdođươngsựkhác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập (trừ tài liệu, chứngcứkhôngđược công khai). Đương sự có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bảnsaođơnkhởi kiện và tài liệu, chứngcứđã giao nộp cho Tòa án (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai).

Bảođảmquyền tranh tụng củađươngsựtrongtốtụng dânsựcũng là cho phép đương sự không trực tiếp tranh tụng trước Tòa nhưng sẽ thực hiện quyền này thông qua ngườiđạidiện, luật sư vàngườibảovệquyền vàlợiíchhợppháp của

29

đươngsự…Sựcómặtcủangườiđạidiện chođươngsựcũng góp phần làm cho

quá trình tiến hành tố tụng dân sự được thông suốt, hiệu quả và khách quan…

Các lý thuyết trênđâysẽđượcáp dụngđểlàm rõ cácvấnđềlý luận vàthực tiễn về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, luận giải về vấn đềđạidiện; vì sao phải có ngườiđạidiện chođươngsựtrongtốtụng dân sự; quyền và nghĩa vụcủa ngườiđạidiện khi thaymặtđươngsựtham gia tốtụng dân sự; ý nghĩa và sự điều chỉnh của pháp luật đối với vấn đề này như thế nào?

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Câu hỏi thứ nhất:

Khái niệm,đặcđiểmvà vai tròcủangườiđạidiện chođươngsựtrongtố

tụng dân sự được hiểu như thế nào? Mô hình lý luận và nội dung pháp luật về người đại diện cho đương sự trong tố tụng dân sự được quy định và luận giải như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu:

Trong thực tiễn hiện nay cũng như qua kết quả của các công trình nghiên cứuđã côngbốcho thấy, khái niệmđạidiện và ngườiđạidiện chođươngsựtrong tố tụng nhìn chung còn chưa thống nhất. Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu để làmrõ khái niệm một cách thống nhất về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Từ khái niệm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sựphải nêulên đượcđặcđiểmcủangườiđại diện, phân loạingười đạidiện, phân tích được vai trò của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.

Mô hình lý luận pháp luậtvềngười đạidiệncủa đươngsựtrongtốtụng dân sự cũng cần được phân tích bổ sung và làm rõ thêm, bao gồm: Điều kiện trởthành người đại diện; căn cứ xác lập đại diện; thời hạn, phạm vi đại diện; quyền, nghĩavụcủangườiđạidiện; chấm dứt đạidiện và hậuquảpháp lý của việc

chấm dứt đại diện…

Câu hỏi thứ hai:

Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay quy định về ngườiđại diệncủa đương sự trong tố tụng dân sự như thế nào? Qua thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về vấn đề này có những hạn chế, vướng mắc gì?

30

Giả thuyết nghiên cứu:

Thực trạng những quy định của pháp luật Việt Namvề vấn đề người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự hiện nay chưa rõ ràng, chưa phù hợp, cónhững vấn đề cần thiết nhưng chưa được luật hóa. Qua thực tiễn xét xử cho thấy, các quy định pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự còn bộc lộ một số điểm bất cập, những khó khăn từ thực tiễn áp dụng pháp luật cũng là một trở ngại khiến cho hoạt động tố tụng chưa thực sự diễn ra hiệu quả.

Câu hỏi thứ ba:

Địnhhướngvà giải pháp hoàn thiện pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự hiện nay ở Việt Nam được xác định như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu:

Đểhoàn thiện các quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự cần xem xét dựa trên những quanđiểmchủđạovà cầnđáp ứngyêu cầucủathực tiễnđời sống xãhộihiện hành, từđóđưara nhữngmụctiêu cầnhướngtớivà các giải pháp phù hợp nhằm thực hiện điều chỉnh pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự trong thời gian tới.

1.3.4. Hướng tiếp cận nghiên cứu

Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự là một chủ thể tham gia

tốtụng dân sự. Tuy nhiên, vớimộtcông trình nghiêncứuvềluật học, việc nghiên cứu để làm rõ nội hàm, ý nghĩa, vai trò của chủ thể này chỉ là những tiền đềđểnghiên cứu và hoàn thiện các quyđịnhpháp luậtvềngườiđạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự.

31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1, tác giả đã thực hiện tổng quan và đánh giá tổng quan kết quảnghiêncứucủa các công trình nghiên cứu được các tácgiảtrong và ngoài nước công bố có liên quan đến đề tài luận án. Qua đó cho thấy, cơ sở lý luận vềngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dân sựđã được hình thành và phát triển trong khoa học pháp lý ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam.

Tác giả cũng tiếp thu có chọn lọc để kế thừa và phát triển những kết quảnghiên cứu này để từ đó nhằm định hình cơ sở lý luận khoa học thống nhất cho việc điều chỉnh pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự tại Việt Nam hiện nay. Tính đến thời điểm hiện tại, tại Việt Nam, đã có những công trình nghiên cứu về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự nhưng các công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tiếp cận riêng rẽ và mang tính chất gợi mở. Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự chưa được nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện trong mối quan hệ biện chứng.

Tác giả đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp để tiếp cận, làm rõ các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu đặt ra của luận án trên cơsở kếthừa và phát triển những kết quả nghiên cứu khoa học đãđạtđượccủa các học giả khác. Từ đó, luận án sẽ làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự tại Việt Nam hiện nay và luận cứ khoa học cho các giải pháp hoàn thiện pháp luật có liên quan.

32

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ

NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.1. Khái quát lý luận vềngườiđạidiện củađương sựtrongtốtụng dân sự

2.1.1. Khái niệm đương sự trong tố tụng dân sự và quan niệm về đại diện 2.1.1.1. Khái niệm đương sự trong tố tụng dân sự

Trong tố tụng dân sự, có nhiều chủ thể tham gia và mỗi chủ thể đóng vai trò khác nhau. Tuy nhiên, có thể nói đương sự là chủ thể có vai trò đặc biệt quan trọngbởilợiích của họvừa là nguyên nhân, vừa là mục đích của quá trìnhtố

tụng. Theo Từ điển tiếng Việt thì “đương sự là người, là đối tượng trực tiếp của một việc đang giải quyết” [108], còn theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt thì đương sự là người có liên quan trực tiếp đến một việc.

Trong khoa học pháp lý, đương sự được hiểu “là người có quyền,nghĩa vụ được giải quyết trong một việc khiếu nại hoặc một vụ án” [118]. Hiểu theo cácđịnhnghĩa này,đươngsựlàngườicó liên quan trực tiếp trongmộtvụviệc nào đó đang được đưa ra xem xét, giải quyết. Nghĩa là các chủ thể được coi là đương sự phải là những chủ thể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp với việc xem xét, giải quyết vụ việc đó. Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác không phải làđươngsựtrongvụviệc khi không có quyền,lợiích liên quan trực tiếp tới vụ việc cụ thể đang được giải quyết. Tùy từng vụ việc mà các chủthểđượcxácđịnhlàđươngsựlà khác nhau.Yếutốquyền,lợiích làyếutốchủyếuđểphân biệtđươngsựvớingườiđạidiệncủahọ[44]. Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, đương sự được hiểu “là người tham gia tố

tụngđểbảovệquyền,lợiíchhợpphápcủamình hoặcbảovệlợiích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự” [43].

33

Như vậy, đương sự trong tố tụng dân sự là chủ thể tham gia vào quá trình Tòa án giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đang có tranh chấp hoặc cần phải xác định.

2.1.1.2. Quan niệm về đại diện

TheoTừđiểnTiếng Việt,“đạidiện là sựthay mặtcho cá nhân, tập thể”[108]. Theo Từ điển Luật học, “đại diện là việc một người, một cơ quan, tổchức xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyềnđạidiện. Người đại diện là người nhân danh và vì các lợi ích của một người khác xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện” [109]. Theo tácgiảNguyễn Thùy Dương trong cuốn “Nhữngvấnđềcơbảnvà thuậtngữcủa BLDS”, Nhà xuấtbảnThànhphốHồChí Minh [25], khái niệm đạidiệnđược địnhnghĩa rõ ràng hơndướidạng là mộthành vi, trongđótồntạihaichủthể: người đại diện và người được đại diện, người đại diện nhân danh người được đại diện thực hiện các giao dịch dân sự trong phạm vi phạm vi thẩm quyền đại diện.

Pháp luật dânsựcủa các nước trênthếgiới có nhiều cách hiểu và định nghĩa về đại diện khác nhau. Điển hình như pháp luật Anh giải thích thuậtngữđạidiện (agency)được sửdụngđểchỉmốiquanhệtồntạikhimộtngườicóthẩm quyền hoặc năng lực đểtạolậpmốiquan hệpháp lý giữa mộtngườigiữvai trò làngườiđượcđạidiện và ngườithứba. Và nóđược giải thích thêm làquan hệ đại diện xuất hiện bất kỳ khi nào một người, được gọi là người đại diện (agent), có thẩm quyền hànhđộngnhân danhngườikhác,được gọilà người được đại diện (principal) và bằng lòng hành động như vậy [100].

Nguợc lại với Luạt La Mã, hệ thống pháp luạt Common Law lại ghi nhạn chế định đạidiẹn và thúc đẩy chế định này phát triển nhu mọt chìa khóa vàng để đẩy mạnhgiao thuong cũng nhu các quan hẹ dân sự vào thế kỷ XV . Đời sống dânsự hếtsứcđa dạng, con nguời đôi khi không thể tự mình tham gia vào các quan hẹ pháp luạt dân sự khi thời gian và nang lực có hạn. Viẹc thông qua mọt nguời khácđể xáclạp, thực hiẹn giao dịch dân sự nhân danh bản thân mình nhu

34

mọtgiải pháphữuhiẹu giải quyếthạnchếnày. Tuy nhiên, chếđịnhđạidiẹn không có tính vạn nang, đối với quan hẹ pháp luạt dân sự nhu quan hẹ về nhân

thân (hôn nhân, lạp di chúc, nhạn con nuôi…….) vấn đề đại diẹn không đuợc đạt

ra vì đây là những quan hẹpháp luạt dân sự có tính đạc thù cần phảiđuợc xác lạp, thực hiẹn bằng chính ý chí của những nguời có quyền lợi liên quan [1].

Quanhệ đại diện được xáclập theo quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền. Trường hợp pháp luật có quy định phải tự mình thực hiện giao dịch dân sựthì cá nhân khôngđượcchongườikhácđạidiện cho mình. Cóthểthấy, cơchế đại diện biểu hiện rõ rệt cho sự linh hoạt, mềm dẻo trong của đời sống pháp lý dân sự. Các giao dịch dân sự luôn có sự đa dạng trong chủ thể tham gia:Chủthể có thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước Cộng hòa xã hộichủnghĩa Việt Nam, và đốivớinhữngchủthểmà quyềnlợimang tính cộng đồng thì việc tham gia quan hệ pháp luật dân sự buộc phải thông qua hành vi của người đại diện, đối với cá nhân, pháp luật dân sự với sự đề cao nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt, được phép tham gia vào các giao dịch dân sự một cách gián tiếp và được hưởng lợi từ giao dịch đó thông qua một người khác.

Chế định đại diện còn là một phương tiện pháp lý hữu ích đối với các cánhân mà theo quy định của pháp luật thì không thể trực tiếp tham gia giao dịch dân sự, đưa họ tham gia vào quan hệ pháp luật dânsự, đảm bảo cácquyền năng cơ bảncủa họmà pháp luật cho phép họ [53, tr.141]. Với nội dungcốtlõi như vậy, chế định đại diện được áp dụng vào hoạt động tố tụng dân sự.

2.1.2. Khái niệm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự

Là mộtdạngcụthểcủa ngườiđạidiện trong khoa học pháp lý dân sự, người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự tham gia quan hệ pháp luật tố

tụng dân sự cũng với ý nghĩa thay mặt đương sự – một loại chủ thể tham gia tốtụng dân sự, nhân danhđươngsựtham gia mộtquanhệpháp luật -cụthểlàquan hệ pháp luật tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệpháp luậtđó- là quyền và nghĩa vụtốtụng của đươngsựnhằmbảovệ bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

35

Trongtốtụng dânsự,ngườiđạidiệnđượcbiếtđếnlà ngườinhân danh người khác trong việc tham gia tố tụng dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đó. Người đại diện trong tố tụng dân sự có thể là cá nhân hoặc pháp nhân nhưng phải là người có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Người đại diện thực hiện hành vi nhân danh người được đại diện nên cần phải có một giới hạn nhất định cho hành vi đó. Giới hạn này được gọi là phạm vi thẩm quyền đại diện. Ngườiđạidiện luôn nhân danhngườikhác và vìlợiích của ngườikhác tham gia tố tụng dân sự trong phạm vi đại diện.

Hoạt động tố tụng dân sự là một hoạt động pháp lý nhằm giải quyết các vụviệc phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thươngmạivà laođộng.Mặt khác,chủthểtham gia các quan hệ pháp luật nội dung thông thường chính làmộtbênchủthểtham giatốtụng dânsựvớitưcách là đương sự, do vậy, tính đa dạng và đòi hỏi linh hoạt về người tham gia quan hệ pháp luật của cácchủthể đó đã đặt ra yêucầuáp dụng chế định đại diện trong tố tụng dân sự. Đương sự trong tố tụng dân sự là những người tham gia tố tụng dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng,lợiíchcủaNhànướcthuộc lĩnhvựcmìnhphụtrách do cóquyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dânsự[110]. Theo TS. Nguyễn Công Bình phân tích trong Giáo trình Luậttốtụng dânsựViệt Nam, thìngườiđại diệncủađươngsựđược hiểu“làngườitham giatốtụng dânsự,thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chođươngsựtrướcTòaán”[5]. Trong khiđó,Giáo trình Luậttốtụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm người đại diện của đươngsựnhư sau:“Ngườiđạidiệncủađươngsựlàngườitham giatốtụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án” [110].

Tácgiảhoàn toàn đồngtìnhvớikhái niệmngườiđạidiện của đươngsựtrong tố tụng dân sự mà TS. Nguyễn Công Bình và Trường Đại học Luật Hà Nội

36

đã đưara. Khái niệm này đã bao hàmđược đầy đủ ngữ nghĩa,đặc điểm về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.

Thứ nhất, về tư cách chủ thể, xét trong hoạt động tố tụng, người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự được hiểu là “người tham gia tố tụng” là một chủthểcủa tốtụng dânsựtheo quyđịnhcủa pháp luậttốtụng dân sự. Chữ“người” trong khái niệm này cũng được hiểu trong lĩnh vực pháp lý là bao gồm cá nhân và pháp nhân có năng lực chủthểtheo quyđịnhcủa pháp luật. Người đại diện trong tố tụng dân sự có thể tham gia tố tụng dựa trên những mối quan hệpháp lý đã tồn tại trước đó như quan hệ đại diện của pháp nhân và người đứngđầu pháp nhân, giữa chủ hộ với các thành viên của hộ gia đình, tổ trưởng tổ hợp tácvớitổ hợptác; quan hệ giữa người đại diện, giámhộ vớicá nhân không có

năng lực hành vi dân sự… Người đại diện này cũng có thể tham gia tố tụng theo sự chỉ định của Tòa án hoặc bằng chính sự ủy quyền của đương sự hay người đại diệnhợppháp của họ. Ngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dân sựlà người do pháp luật quy định hay được đương sự ủy quyền mà tham gia tố tụng dân sự, thaymặtđươngsựthực hiện các quyền và nghĩa vụtốtụngđểbảovệquyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự mà mình đại diện trước Toà án.

Thứ hai, về quyền, nghĩa vụ của người đại diện là thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự đã được pháp luật quy định. Bản chất của quan hệ đại diện là việc người đại diện thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự nên quyền và nghĩa vụ của người đại diện cũng phụ thuộc vào nội dung quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Người đại diện của nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụtốtụng của nguyên đơn, ngườiđạidiện của bịđơnthực hiện các quyền và nghĩa vụtốtụngcủa bịđơn. Tuy nhiên, người đại diện của đương sự có thể có một phần hoặc toàn bộ quyền và nghĩa vụcủa đương sựtrongtốtụng dân sự, vấnđềnàyphụthuộc vào nội dung của giao dịch về đại diện.

Thứba, khái niệmđãnêu rõ vai tròcủa ngưởiđạidiện là bảo vệquyền,

lợiích hợppháp của đươngsựtrước Tòa án. Ngườiđạidiện tham gia tốtụng

37

tham gia tố tụng như một cầu nối kết nối giữa đương sự và cơ quan tiến hành tố

tụng. Đốivớiđươngsự, ngườiđạidiện thay mặtđươngsựthực hiện những quyền, nghĩa vụ tố tụng mà đáng ra họ phải tự mình thực hiện, trên cơ sở bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Qua đó, đương sự vừa được đảm bảo quyền và lợiích hợppháp của mình vừa được thực hiệnhộnhững quyền và nghĩa vụ của bản thân. Đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người đại diện giúp họkết nối được với đương sự một cách thuận lợi và hiệu quả nhất.

Như chúng ta đều biết, không phải tất cả các loại chủ thể có thể tham gia một cách trực tiếp vào quan hệ tố tụng dân sự, hoặc họ là một tổ chức hoặc họkhôngđủ khảnăng hoặc khôngđủ kiếnthức haymộtvài lý do chủ quan khác. Trong những trường hợp đó, để giải quyết được vụ việc liên quan đến những chủthể đó, họ đã sử dụng cơ chế ủy quyền để kết nối mình vào quan hệ tố tụng đểbảo vệ lấy quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân. Nhờ vậy, cơ quan tiến hành tố tụng có thể nhanh chóng tiếp cận được với sự thật khách quan, giải quyết vụ

việc theo đúng chức năng của mình, đặc biệt là chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội [48].

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *