Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh

Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh

Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Dưới sựlãnh đạo của Đảngvà Nhà nước,trong những năm qua, đấtnước tađã và đang thực hiện đường lối đổi mới vàđãthu được nhiều kết quả: kinh tế luôn tăng trưởng ở mức cao và ổn định, đời sống của nhân dân dầnđược cải thiện, an sinh xã hội được thực hiện ngày càng tốt hơn; an ninh quốc phòng được giữ vững, chính trị ổn định, quan hệ với nước ngoài cũng được mở rộng. Nhưng bên cạnh những kết quả đạt được đó, thì việc mở cửa hội nhập cùng xu hướng toàn cầu hóa cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong đời sống xã hội, đặc biệt làtệ nạn vềma túy. Đâychính là một trong những tệ nạn nhức nhối nhất thu hút sựquan tâm của toàn xã hội. Nó được coi là tệ nạn đáng sợ nhất vì sức dẫn dụ con người không kể tuổi tác và khả năng gây nghiện nhanh chóng. Hơn thế nữa, ma túy còn là ngọn nguồn của những tệ nạn xã hội khác nên đã làm gia tăng tội phạm, khánh kiệt kinh

tế, phá hoại hạnh phúc gia đình, chính ma túy làm băng hoại đạo đức, hủy hoại nhân cách của một bộ phận những con người lỡ dấn thân vào conđườngnghiện ngập, ma túy làm suy thoái nòi giống dân tộc, là nguyên nhân phát sinh nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Không dừng lại ở đó, ma túy còn như một con sâu đục khoét xã hội. Khiến cho an ninh, trật tự, quốc phòng bất ổn.

Cùng với sựphát triển của nền kinh tếthị trường và hộinhập quốc tếtheo chiều hướngtích cực, là đời sống vậtchất, tinh thần của nhân dân được nâng lên. Nhưng, dưới góc độ tội phạm học, là mặt trái của sự phát triển, là tình hình tội phạm ở nước ta cũng gia tăng, trong đó có các tội phạm về ma túy xảy ra ngày càng nhiều và diễn biến phức tạp,một bộphận nhân dân có đời sống kinh tế khó khăn, không việc làm, việc làm không ổn định; sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắcvà sự

xâm nhập văn hóađộc hại,lốisống thực dụng, cáctệnạnxãhộingày càng tăng… đang làm cho tình hìnhtrật tựan toàn xã hội hết sức phức tạp, là điều kiện thuận lợi làm phát sinh tội phạm nói chung và tội phạmvề ma túy nói riêng. Thực tế cho thấy, trên địa bàn quận Phú Nhuận, tình hình tội phạm về ma túy như mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ,vậnchuyển trái phép chất ma túy đang có diễn biến phức tạp, gia tăng cả về số vụ, số đối tượng lẫn tính chất nguy hiểm.

Nghiên cứu nhân thân người phạm tội chính là tái hiện lại cònđường phạm tội của người đó, bởi vì nógiữvai trò quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Vì vậy, để đấu tranh phòng và chống một cách hiệu quả tình hình tội phạm về ma túy thì cần nhận thức một cách đúngđắnvà sâu sắc, đồng thời nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội để xác định thực trạng của tình hình tội phạm tại địa phương, rồi từđóđểxây dựng các biện pháp phòng ngừa một cách hiệu quảtình hình tội pham vềma túy nói riêng và tình hình tội phạm nói chung; đó chính là cơsởcho việc định tội, định khung, quyết định hình phạt một cách chính xác; và cũng là cơsở để đề ra các biện pháp giáo dục, cải tạo hiệu quả đối với người phạmtộicũng như phòng ngừa tội phạm.

Qua những năm gần đây, trong địa bàn quận Phú Nhuận tình hình tội phạm về ma túy diễn ra hết sức phức tạp, có chiều hướng ngày càng gia tăng về số vụ, sốđối tượnglẫn tính chất mức độ phạm tội. Để giữvững tốt tình hình an ninh chính trị, trật tựan toàn xã hội, trấn áp các tội phạm liên quan đến tội phạmvề ma túy trong địa bàn quận đạtđược hiệu quả, Đảng bộ, các cơ quan ban ngành và các cơquan tiến hành tố tụng trên địa bàn quận Phú Nhuận đã phối hợp và xây dựng các giải pháp quản lý, ngăn chặn, phòng ngừa và làm giảm thiểu tình hình tội phạm một cách đồng bộ, quyết liệt. Lãnh đạoCông an quận Phú Nhuận đã tập trung chỉ đạo lực lượng cảnh sát, đặc biệt là cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy, Công an, Dân phòng 15 phường tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, chốt chặn vây bắt nhiều đối tượng phạmtội về ma túy trên, tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân tích tực cung cấptin báo người phạm tội, các lực lượng chuyên môn nhanh chóng xác minh truy bắt các đối tượng phạm tội, thu giữ nhiều vật chứng. Phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụngđiều tra, truytốvà xét xửnghiêm minh đã tạo niềm tin cho nhân dânđối với các cơ quan bảo vệ pháp luật và chính quyền địa phương trong việc phối hợp tham gia công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả cao.

Trên phương diện thực tiễn, các Cơ quan tiến hành tố tụng tại quận PhúNhuậntừlâu đã chú trọng sửdụng các đặc điểmnhân thân người phạm tội trong quá trình giải quyết các vụ án về ma túy. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chỉ dừnglại ởmức độ cánhân, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này dựa trên tình hình thực tế của địa phương, cũng như vai trò của nó trong nguyên nhân vàđiều kiện củaloạitộiphạm này. Việc nghiên cứu nhân thânngườiphạm tộivềma túy phải gắn với nhiềuđặc điểm, trong đó có đặc điểmvề không gian, điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống đạo đức, tập quán, thói quen, văn hóa … Qua đó sẽ rút ra được những đặc điểm xấu về nhân thân của người phạm tộiđểxây dựng các biện pháp hiệu quả nhất trong hoạt động phòng ngừa tội phạm về ma túy trên địa bàn.

Ý thức được tầmquan trọng của nhân thân trong cơ chế hành vi phạm tội,định tội danh, định khung và quyết định hình phạt một cách chính xác và xuất phát từyêu cầu của hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm và ngăn ngừa tội phạm về ma túy phát sinh trong thời gian tới, nhằm hoàn thiện hệ thống lý luận về nhân thân người phạm tội về ma túy, cũng như phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn quận Phú Nhuận, tác giả đã lựa chọn đề tài“Nhân thân người phạm tội vềma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ ChíMinh”, làm đề tài luận văn thạc sĩ.

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làmrõ những đặc điểmnhân thân người phạm tội về ma túy, phân tích thực trạng của tình hình phạm tội về ma túyxảyra trên địa bàn quận PhúNhuận, từ đó, luận văn đề xuất các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận từ khía cạnh nhân thân người phạm tội.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ cơ bản của Luận văn như sau:

– Trước hết là nghiên cứu để làm rõ nhữngvấn đề lý luận vềnhân thân người phạm tội về ma túy;

– Thứ hai là nghiên cứu và phân tích để làm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm tội về ma túy và các yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận giai đoạn 2013- 2017;

– Thứ ba, thực trạng từ nghiên cứu nhân thân người phạm tộivềma túy trênđịa bàn quận Phú Nhuận rút ra những hạn chế, thiếu sót.

– Thứ tư, kiến nghị các giải pháp tăng cường phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận từ khía cạnh nhân thân người phạm tội.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lí luận và thực tiễn từ nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận giai đoạn 2013-2017.Để nghiên cứu về nhân thân người phạm tội về ma túy trên địabàn quận PhúNhuận, tác giả dựa trên các số liệu thống kêđiều tra, truy tố, xét xửhình sựcủa

Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận giai đoạn 2013 – 2017 và tổng hợp các đặc điểm nhân thân người phạm tội về ma túy từ 100 bản án hình sựsơ thẩm của TAND quận Phú Nhuận giai đoạn 2013 – 2017được thu thập một cách ngẫu nhiên.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về nội dung: đề tài luận văn nghiên cứu về nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuậndưới góc độ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm.

– Về không gian: đề tài luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là các vụ ánvềma túy đã được xét xử thực tế tại Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

– Phạm vi về tội danh: Đề tài chỉ nghiên cứu các tội về ma túy quy định tại chương XVIII BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, gồm Tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194), Tội tổ chức sửdụng tráp phép chất ma túy (Điều 197*), Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198).

– Về thời gian, đề tài nghiên cứu được giới hạn từ năm 2013 đến năm 2017

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận

Đề tài nghiên cứu dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vậtlịch sửcủa triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, và các tội phạm về ma túy nói riêng; các tri thức khoa học pháp lý của tội phạm học, pháp luật hình sự, khoa học điều tra hình sự.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của tội phạm học, cụ thểnhư sau:

-Sửdụng các phương pháp nghiên cứu lý luận kết hợp phương pháp phân

tích, so sánh và bìnhluận… khi cầnlàm rõ những vấnđề lý luận chung vềnhân thân người phạm tội về ma túy.

-Sửdụng các phương pháp nghiên cứu lý luận, phân tích, quy nạp,hệthống, diễn dịch, thống kê, đối chiếu, suy luận logic, nghiên cứu tâm lý, nghiên

cứu bản án… khicầnlàm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm tội về ma túy và các yếu tố tác động đến sựhình thành nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa

bàn quận Phú Nhuận giai đoạn 2013 – 2017.

– Sửdụng các phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phân tích, suy luận

logic… để đưa ra kiến nghị việc hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm về ma túy từ góc độ nhân thân người phạm tội.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn,yếu tố mới cần đạt được 6.1. Ý nghĩa lý luận của đề tài

Dựa trênkếtquảnghiêncứu, đềtài mang ý nghĩ lý luận là góp phầnbổsung, hoàn thiện lý luậntộiphạmhọcnói chung và lý luận phòng, chống tội phạm về ma túy nói riêng, bên cạnh đó, còn dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, học tập của các cơ sở đào tạo về luật học.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

-Vềlý luận: kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung lý luận vềnhân thân người phạm tộivề ma túy, nhân thân người phạm tội trong hệ thống lýluận vềTội phạm học.

-Về thực tiễn: dựa trên kếtquảnghiêncứucủađềtài, nhữngngườilàm công tác pháp luật trên địa bàn quận Phú Nhuận có thể vận dụng vào thực tiễn công tác phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng trênđịa bàn.

– Những điểm mới của đề tài: Luận văn là công trình khoa học đầu tiên đi sâu nghiên cứu nhân thân người phạm tội về ma túy từ thực tiễn quận Phú Nhuận

giaiđoạn2013–2017, nghiêncứuvà phân tíchcụthểcác đặc điểm nhân thân người phạm tộivề ma túy cùng các yếutốtác độngđếnsựhình thành nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận một cách có hệ thống, toàn diện và chi tiết, từđóđể đưa ra một sốgiải pháp có tính khả thi nhằm tăngcườngđấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận.

7. Kết cấu của luận văn

Bao gồmphần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu.

Phần nội dung của luận văn được chia thành ba chương:

Chương 1. Những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội về ma túy. Chương 2. Thực trạng nhân thân người phạm tội về ma túy và vận dụng

trong phòng ngừa tộiphạm này trênđịabàn quận Phú Nhuận, thành phốHồChíMinh.

Chương 3. Giải pháp tăng cườngphòng ngừa tội phạmvềma túy trên địa bàn quận Phú Nhuậntừnghiên cứu nhân thân người phạm tội.

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI

VỀ MA TÚY

1.1. Khái niệm, ý nghĩa của nhân thân người phạm tội về ma túy 1.1.1. Khái niệm nhân thân người phạm tội về ma túy

Khái niệm nhân thân người phạm tội, dướigóc độ ngôn ngữ, được hình thành từkhái niệm “nhân thân” và khái niệm“người phạmtội”[48, tr. 147]. Nên khi cần phân tích để làm sáng tỏ khái niệm nhân thân người phạm tội, thì chúng ta phải tìm hiểu về bản chất của con người nói chung với tư cách là một phạm trù lịch sử- xã hội.

Hiểu một cách tổng quát, cho dù một tội phạm được thực hiện nghiêm trọngđến đâuđi chăng nữa, thì người phạm tội cũng là con người của xã hội. Do đó, khiđề cập đến nhân thân người phạm tội là baogồmcác đặc điểmcủa nhân thân của con người vànhững đặc điểm đặctrưng của nhân thân người phạm tội, chính những đặc điểmđặc trưng này thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của họ. “Đối tượng nghiên cứu củatội phạm học là con người phạm tội chứkhông phải là con người nói chung. Người phạm tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm” [49, tr. 149].

Nhân thân người phạm tội bao gồmtoàn bộcác đặc điểmvề tâm, sinh lýgiống như nhân thân con người. Cácđặc điểm đóphụ thuộc vào những điềukiện

sống, của sự giáo dục, của những mối quan hệ… nhất định. Vàdưới sự tác động của các điều kiện, hoàn cảnh và các tình huốngcụ thể, đã tạo động lực để thúc đẩy một con người thực hiện hành vi tội phạm.

Từđó có thể hiểu rằng nhân thân người phạm tội là tổng hòa chung nhữngđặc điểm, dấuhiệu cơ bản của con người kếthợp với điềukiện, hoàn cảnh cụ thểđãdẫn con người đó đến việc thực hiện hành vi phạm tội.

Nghiên cứu nhân thân người phạm tội có ý nghĩa rất lớnnhư đưa ra những kiến nghị góp phần giải quyết chính xác cácvụ ánhình sự, đồng thời phòng ngừa tội phạm và giáo dục, cải tạo người phạm tội. Nhận ra tầm quan trọng đó, nên nhiều ngành khoa học pháp lý như tội phạm học, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, khoa học điều tra hình sự,… đã lấy nhân thân người phạm tội là đối tượng nghiên cứu của mình. Trong khoa học pháp lý có một số quan điểm về nhân thân người phạm tội như sau:

– Theo GS.TS Võ Khánh Vinh: “Nhân thân người phạm tội tức là người cólỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm được hiểu là tổng thể các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong

sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó” [53, tr. 130].

– Theo PGS.TS ĐỗNgọc Quang: “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm, những dấu hiệu, mối quan hệ xã hội về một con người chứa đựng phẩm chất cá nhân tiêu cực trong nhân cách dẫn đến hành vi phạm tội” [20].

– Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa:“Nhân thân ngườiphạm tộitrong luật hình sự được hiểu là tổng hợp nhữngđặcđiểm riêng biệtcủangười phạm tội có ýnghĩa trong việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ” [15].

Nhìn chung các quan điểm trên đều có điểm chung khi khẳng định nhân thân người phạm tội là tổnghợpcác đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con người khi tham gia vào các quan hệ xã hội. Nhân thân người phạmtộivừa thỏa mãn những dấu hiện cơ bản của nhân thân con người, vừa mang dấu hiệu đặc trưng riêng có ở người phạm tội. Dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội khác với nhân thân con người trước hết ở chỗ họ đã thực hiện hành vi phạm tội và là chủ thểcủa tội phạm theo quy định của BLHS. Những đặc điểm nhân thân không phải bẩm sinh, mà được hình thành trong suốt quá trình sống của mỗi con người, cùngvớisựchọn lọc và tiếp nhận bởi chính cá nhân của người phạm tội. Cho nên, cơ sở căn bảnđể hình thành nên hành vi của người thực hiện tội phạm đó là sựkết hợp giữa đặc trưng xã hội của cá nhân tiêu cực và điều kiện, hoàn cảnh khách quan của đời sống xã hội.

Ngoài điểmchung như trên, vềnhân thân người phạm tộicòn có sựkhác nhau giữa các quan điểm.Đốivớiluật hình sự,thì nhân thân người phạm tội bao gồmnhữngđặc điểmriêng biệtcủangười phạmtộicó ýnghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đềtrách nhiệm hình sự mà không bao gồm tất cả các đặc điểm xã hội, tâm lý và sinh học của người phạm tội. Trong luật hình sự, việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội với mục đích làm rõsựảnh hưởng của các đặc điểm nhân thân người phạm tội đối với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và có ý nghĩa trong việc định tội, định khung và quyết định hình phạt.

Dướigóc độ tội phạm học, nghiên cứu nhân thân người phạm tội nhằmmụcđích làm sáng tỏ nguyên nhân, điều kiện phạm tội thuộc về nhân thân người phạm tội chứkhông nhằm mục đích giải quyếtđúng đắnvấnđề trách nhiệm hìnhsựcủa họ mà. Đó là việc xác định và làm sáng tỏ đặc điểm, tính chất và mức độ tác động của đặcđiểm nhân thân trong cơ chế hành vi phạm tội, mối quan hệ giữa cácđặc điểm sinh học và các đặc điểm xã hội của người phạm tội. Điều đó có ý nghĩa đối với việc thực hiện tội phạm, phòng ngừa tội phạm và giáo dục cải tạo người phạm tội.

Từviệc phân tích các khái niệm về nhân thân người phạm tội để rút ra định nghĩa nhân thân người phạm tội về ma túy như sau:

Nhân thân người phạm tội về ma túy là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người và các đặc điểm, dấu hiệu này kết hợp với các điều kiện, hoàn cảnh nhất định đã dẫn đến người đó thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm chính sách của Nhà nước về thống nhất, quản lý, sử dung chất ma túyđược quy định tại chương XVIIIcủa BLHS 1999 và nay là chương XX của BLHS 2015.

1.1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội về ma túy

Tội phạm học với tư cách là một khoa học chuyên nghiên cứu về tội phạm vàngười phạm tội, từ việc tìm ra những nguyên nhân và điều kiện của nó rồi đề ra các biện pháp phòng ngừa, vì vậy, việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội nói chung và nhân thân người phạm tội về ma túy nói riêng được được thực hiện cơ bản, toàn diện, nên đã mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

Trong phạm vi luận văn này, tác giảxin đềcập đến việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội về ma túy với các ý nghĩa chính sau:

Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh
Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh

Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội về ma túy, góp phần làm cho quá trình định tội, định khung và quyết định hình phạt được chính xác.

Các đặc điểm của nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự, định tội danh hoặc định khung hình phạt, quyết định

hình phạt… Do vậy, pháp luật về tố tụng hình sự đã quy định các cơ quan tiến hành tố tụngphải thu thập đầy đủ các đặc điểm nhân thân người phạm tội trong hồ sơvụán, nhân thân người phạm tội cũng phải được ghi rõ trong bản Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và Bản án của Tòa án.

Các đặc điểm nhân thân người phạm tội về ma túy có ý nghĩa trong việc định tội và định khung hình phạt đối với các tội về ma túy, như: động cơ và mục đích thu lợi bất chính là yếu tố định tội của Tội mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, mục đích cất giữ ma túy để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân là yếutố định tội của

tộiTàngtrữtrái phép chất ma túy…theo quyđịnh tại Chương XVIII của Bộ luật hình sự1999; yếu tố “đã bị xửphạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” làtình tiết định tội đối với Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 192); đặc điểm“tái phạm nguyhiểm” đượcquyđịnh là yếu tố định khung mộtsố đasố các tội phạm về ma túy (điểm b, khoản 2 Điều 192; điểm k khoản 2 Điều 193, Điều 200; điểm p khoản 2 của Điều 194; điểm g khoản 2 Điều 195, Điều 196; điểmh khoản 2Điều 197;điểmđkhoản 2Điều 198 của BLHS)… Khi đã định tội và định khung một cách chính xác sẽ

Để việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội về ma túy chính xác, phù hợpvớitính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra, phải dựa trên cơ sở định tộivà định khung chính xác.Đó cũng là cách góp phần vào việc giáo dục và cải tạo người phạmtộivề ma túy một cách hiệu quả, ngăn ngừa phạm tội mới và còn để giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.

Do tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội phụ thuộc phần nào vào tính chất của con người, bởi hành vi và con người luôn có mỗi quan hệ chặt chẽvới nhau. Ta cóthểthấy rõ, các nhà làm luật đã đưanhân thân người phạm tộilàmột trong những căn cứ quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự (Điều 50 Bộ luật

12

hình sựquyđịnh “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứvào quyđịnh của Bộluật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹvà tăng nặng trách nhiệm hình sự”). Bên cạnh đó, những tình tiết thuộc vềnhân thân của người phạm tội cũngđược các nhà làm luật xác định là những tình tiết giảmnhẹhoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự (theo quy định tại Điều 51 và Điều 52BLHS).

Tòa án phải xem xét đặc điểmnhân thân người phạmtộimột cáchđầyđủ, khách quan khi thực hiện việc xét xử, bời vì ngoài việc xem xét các yếu tốcấu thành tội phạm, thì các tài liệu về nhân thân người phạm tội là một trong các cơ sởquan trọng của việc truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt một cáchđúng đắn,khoa học, khách quan.Đó là việc xác định rõ các đặcđiểm cụthểđặc trưng cho cảmặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của người phạm tội có liên quan đến hành vi phạm tội. Bởi vậy, nên khi cùng là tội phạm về ma túy, nhưng mỗi bị cáo cóđộtuổi, nhân thân lai lịch khác nhau, nên Tòa án cũng áp dụng hình phạt không giống nhau. Ngoải ra, chính các đặc điểm, dấu hiệu của từng người phạm tội sẽ biểu hiện cho mức độ nguy hiểm đối với xã hội của hành vi phạm tội đó, cũng như phản ánh rõ nhất khả năng cải tạo, giáo dục người đó trong tương lai.

Thứ hai, việc nghiên cứu nhân thânngườiphạm tộivề ma túy, giúp tìm ra nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội về ma túy.

Mối quanhệtương tác giữa những nhân tốnhưđặc điểmtâm, sinh lý, thói quen, tính cách,…củacon ngườivới các yếu tốthuộc môi trường bên ngoài làm phát sinh tội phạm về ma túy được xác định là nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm ma túy.

Xác định, làm rõ các nguyên nhân và điều kiện củatình hình tội về ma túy chính là việc nghiên cứunhân thân người phạmtộivề ma túy, phân tích bản chất cũng như các đặc điểm và quá trình hình thành nó.

Thứ ba, nghiên cứu vềnhân thân người phạm tộivề ma túy,để tìm ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng.

13

Mục đích của nghiên cứu nhân thân người phạm tội về ma túy, là để xác địnhđược những yếu tố tiêucực từphía người phạm tội và từ môi trường xã hội trongsựtác động qua lại với nhau, từ đó hình thành nên nguyên nhân của tội phạm. Thông qua việc nghiên cứu, chúng ta sẽ tìm ra những phương án, giải pháp phòng ngừa tội phạm hiệu quả bằng cách xác định những tiêucực từmôi trường sống rồi tác động vào đó để làm hạn chế hoặc loại trừcác đặc điểmnhân thân tiêu cực của con người, góp phần quan trọng trong phòng ngừa tội phạm.

Thứ tư, nghiên cứulàm rõ nhân thânngườiphạmtộivề ma túy, còn cóýnghĩa quan trọng trong việc đề ra các biện pháp giáo dục, cải tạo người phạm tội về ma túy.

Giáo dục và cải tạo người phạm tội là một trong những mục tiêu quan trọng, bởi ngoài việc phòng ngừa tội phạm, là còn giúp đỡthiết thực nhất cho một con người, để giúp cho họ sửa chữa lỗi lầm, còn để họ tái hoà nhập cộng đồng ổn định cuộc sống. Xácđịnhmỗi người phạm tội cóđặc điểm,dấu hiệu riêng biệt nên cần thực hiện việc cải tạo, giáo dục khác nhau với mục đích chính là giúp họ trở thành người có ích cho gia đình, cho xã hội và quan trọng nhất là không tái phạm tội nữa.

Nghiên cứu nhân thân người phạm tội về ma túy để có các hình thức, phương

pháp giáo dục, quản lý người phạm tội về ma túy… một cách phù hợp và hiệu quả. Nhờ vào các đặc điểm nhân thân của người phạm tộiđể ápdụng các biện pháp giáo dục, cải tạo phù hợp với từng nhóm người với các đặc điểm nhân thân tương ứng, từđó giúp cải thiện hoặc loại trừcác đặc điểmnhân thân tiêu cực, nhất là các đặc điểm nhân thân có vai trò chính trong việc phát sinh tộiphạmvề ma túy. Sau đó, tiến hành giáo dục, cải tạo họ thành người có các đặc điểm nhân thân tích cực, tránh xa các hành vi phạm tội. Thông qua nghiêncứucác đặc điểm nhân thân người phạm tội, để tìm ra được những nghề nghiệp thích hợp với mỗi phạm nhân, giúp họ có được nhữngnghề nghiệp cơ bản trước khi tái hòa nhậpcộng đồng, để họ có thể tựnuôi sống mình, tránh xa con đường phạm tội.

Thứ năm, việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội về ma túy còn còn có ý nghĩa trong việc cung cấp những thông tin hữu ích cho các ngành khoa học pháp lýkhác: như khoa học luật Tố tụng hình sự, khoa học Điều tra hình sự.

14

– Đối với khoa học luật Tố tụng hình sự: trên cơ sở những thông tin đặc trưng về nhân thân người phạm tội nhưđộ tuổi, giới tính, dân tộc, tiền án, tiền sự, nghề nghiệp, trình độ học vấn,… khoa học luật Tố tụng hình sựđãnghiên cứu rồi đưa ra những quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với cá nhân người phạm tội về ma túy.

– Đối với Khoa học Điều tra hình sự: thì trên cơ sở nghiên cứu thông tin vềnhân thân ngườiphạm tội vềma túy, làm căn cứ để xây dựng phương pháp, chiến thuật điều tra nhằm mục đích thu thập chứngcứmột cách đầy đủ, khách quan làm cơ sở để chứngminh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Việc xác định nhân thân người phạm tội trong hoạt động điều tra phá án chính là để sàng lọc, khoanh vùng xác địnhđối tượng phạm tội; cũng từnghiên cứu nhân thân người phạm tội, để áp dụng các biện pháp ngăn chặn hợp lý, phù hợp với từng loại đối tượng có nhân thân tương ứng. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội, giúp những người tiến hành tố tụng có phương án hỏi cung, phá án được chính xác, nhanh chóng.

1.2. Các đặc điểm nhân thân người phạm tội về ma túy

Nhân thân người phạm tội nói chung vàngười phạm tội vềma túy nói riêng,đều có nhiều đặcđiểm, dấu hiệu.Ở đó, mỗi đặc điểm dấu hiệulại có hình thức biểu hiện, vai trò khác nhau nhưng lại có mối quan hệ qua lại, gắn bó. Tội phạm học, với mục đích tìm hiểu rõ những đặc điểm đặc trưng của người phạm tội,xác định được các yếu tố, điều kiện, môi trường hình thành nên các đặc điểmđókhi nghiên cứu nhân thân người phạm tội. Các đặc điểm này được chia thành 04 nhóm:

1.2.1. Các đặc điểm sinh học của người phạm tội về ma túy

Đặc điểmnày bao gồmgiới tính, độtuổi,… Các đặc điểm này, hình thành những đặc điểmsinh học ảnh hưởng đến thói quen, tính cách, sở thích, năng

khiếu,… của từng người hay từng nhóm người.

Các đặc điểm này được hình thành trong suốt quá trình sinh sống, làm việc và sinh hoạt hàng ngày của con người, chịusự tác độngvà ảnh hưởng lâu dài của môi trường sống xung quanh, tuy nhiên, các đặc điểm nhân sinh học tác động qua

15

lạivớicác điều kiện hình thành nhân cách con người, với nhu cầu và lợi ích, vị trívà mối quan hệ giao tiếp của người đó trong xã hội nên nó cung cấp thông tin đểchúng ta hiểu trọn vẹn về nhân thân người phạm tội và có ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra và thực hiện các biện pháp quản lý, giáo dục, cải tạo người phạm tội nói chung và tội về ma túy nói riêng.

1.2.1.1. Đặc điểm lứa tuổi

Trong việc hình thành nhân cách một con người, lứa tuổi đóng vài trò tối quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp. Việc nghiên cứu đặc điểm về lứa tuổi của người phạm tội về ma túy nhằm mục đích xác định tính chất, mức độ,đặc điểmcủa tội phạm trong từng nhóm tuổi.

Mức độ tâm lývà nhận thức hành viở từngnhóm độ tuổi khác nhau sẽ khác nhau.

– Nhómngười từ đủ 14tuổi đến dưới 18 tuổi: đây là nhóm mà nhận thức tâm lý chưa đầy đủ, đang hạn chế về khả năng điều khiển hành vi, về kinh nghiệm sống còn ít, bởi vậy họ rất dễ bị tác động bởi môi trường bên ngoài.

– Nhóm người từ đủ 18 tuổi đến 30 tuổi: là những người đã hoàn thiện về tâm sinh lý và khả năng điều khiển hành vi nhưng đây là độ tuổi mà mỗi con người đều bắt đầu cho sự nghiệp, công việc và cuộc sống riêng nên diễn biến tâm lý khá phức tạp và dễ bị tác động bởi môi trường sống xung quanh.

– Nhóm người từ30 tuổi đến 45 tuổi: đâylà nhóm tuổi trưởng thành hoàn chỉnh, họ gần như có sự ổn định về gia đình, công việc

– Nhóm người có độ tuổi từ sau 45 tuổi: là độ tuổi mà con người đã có thành tựu về công danh sự nghiệp, gia đình con cái ổn định, con người bắt đầu hưởng thụcuộc sống an nhàn nên họ thường khó bị tác động bởi môi trường xung quanh.

Từ việc xácđịnhtâm, sinh lý tương ứngvới mỗi độ tuổi, để nhận thấy ở mỗi độtuổi khác nhau sẽcó cách suy nghĩ, hành động khác nhau, do vậy các phương thức thực hiện và hành vi phạm tội cũng khác nhau. Điều này góp phần cụ thể hóa và nâng cao hiệu quả của công tác phòng ngừa tội phạm ở từng nhóm người thuộc các nhóm độ tuổi khác nhau.

16

1.2.1.2. Đặc điểm giới tính

Nghiên cứu đặc điểmgiới tính là việc xác định tỷlệ người phạm tội của người phạm tội về ma túy giữa nam và nữ và xác định ảnh hưởng của giới tínhđến việc thực hiện các tội phạm về ma túy. Thực tế hiện nay thì tỷ lệ nữ giới phạm tội về ma túy thấp hơn so với nam giới, thể hiện yếu tố tiêu cực của môi trường sống và dễ phát sinh tâm lý tiêu cực dễ tác động đến nam giới hơn nữ giới.

Sở dĩ có điều đó, là do những đặc điểm tâm sinh lý của nam giới như có tính độc lập cao, mạnh mẽ, thậm chí liều lĩnh khác với đặc điểm tâm, sinh lý của nữgiới. Bên cạnh đó, nam giới cũng dễ bị ảnh hưởng bởi các thói hư tật xấu, dễ bị tiêm nhiễm tệ nạn xã hội và dễ hình thành trạng thái tâm lý tiêu cực hơn so với nữ giới. Từđó xác địnhviệc tổchức phòng ngừa tộiphạm thì cần tậptrung vào nam giới hơn là nữ giới.

1.2.2. Các đặc điểm xã hội của người phạm tội về ma túy 1.2.2.1. Đặc điểm về trình độ học vấn

Tùy thuộc vào hoàn cảnh gia đình, nên mỗi cá nhân có trình độ học vấn khác nhau. Khả năng ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội nói chung vàhành vi phạm tộinói riêngphụthuộc vào trình độhọc vấn của mỗi người. Để có khả năng kiểm soáttốthành vi của mình trong cuộc sống, tránh thực hiện hành vi phạm tội thì những ngươi có trình độ cao thường làm tốt hơn người có trình độ thấp. Tuy nhiên, , bởi về mức độ ảnh hưởng thì ngoài trình độ học vấn, còn phải xem xétđến từng loại tội, từng loại nhóm tội, bởi có những nhóm tội đòi hỏi phải có học vấn nhất định mới thực hiện được hành vi như nhóm tội phạmvềkinh tế, chức vụ và

tham nhũng,… Riêng đối với tội phạm về ma túy, người phạm tội không cần phải có trình độ học vấn cao mới có thể thực hiện được tội phạm. Thực tiễn qua công tácđiều tra, truy tố và xét xử các loại tội phạm về ma túy, hay qua công tác nghiên cứu tội phạm về ma túy, thì những người phạm tội về ma túy phầnlớnđều có trình độhọc vấn thấp.

Dựa vào đặcđiểm trình độ học vấn,ngườiphạmtộivề ma túyđược chia thành các nhóm: Nhóm thứ nhất: là nhóm người không biết chữ và người có trình

17

độ tiểu học, nhóm thứ hai: là nhóm người có trình độ trung học cơ sở, nhóm thứ ba:

là nhóm người có trình độ trung học phổ thông, nhóm thứ tư là nhóm người có trìnhđộ trung cấp, cao đẳng, cuối cùng là nhóm người có trình độ đại học trở lên.

1.2.2.2. Đặc điểm địa vị xã hội và nghề nghiệp

Là việc xác định những nhóm người làm việcở những ngành nghề và lĩnh vực nào trong xã hội thì dễ thực hiện tội phạm đó, như nhóm tội phạm về chức vụ, tham nhũng, nhóm tộixâm phạm trật tựquản lý kinh tế… thì các đặc điểmnghềnghiệp và địa vị xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi phạmtộicủa nhóm tội này. Nhưng đối vớitội phạmvề ma túy, thì địa vị xã hội không ảnh hưởng nhiềuđến hành vi phạm tội, bởi theo số liệu thống kê tội phạm thì hầu hết những người phạm tội về ma túy là những người không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp khôngổn định, do đó địavị xã hội của họ rất thấp.

Khi trình độvăn hóa thấp củamộtngười thấp, họsẽkhó kiếm được một công việc ổn định và có thu nhập cao, cùng lắm chỉ là công việc tay chân tốn nhiều công sức, khi đó, họ sẽ rơi tình huống lười lao động, lười suy nghĩ, muốn làm giàu nhưng không có nền tảng tri thức, và khi họ đã bằng mọi cách kiếm ra tiền nhanh nhất mà không cần phải lao động nên đãtrởthành các đốitượngcó nguy cơ cao thực hiện các tệnạn xã hội, thực hiện các hành động tội phạm gây nguy hại đến cộng đồng, xã hội.

Vấn đề quan trọng nhất là đào tạo nghề nghiệp cho những đối tượng có trìnhđộhọc vấn thấp trong xã hội, tạo cho họkhảnăng tựlaođộng đểkiếm tiềm nuôi sống bản thân, bên cạnh đó là giáo dục đạo đức, giáo dục các quy chuẩn xã hội nhất định. Đối với những ngành nghề có khả năng cao thực hiện hành vi phạm tội, thìcần phải tập trung phòng, chống tội phạm nhiều hơn, do đó cần phải đề ra các biện pháp thiết thực, cụ thể để phòng ngừa nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất.

Từđặcđiểm về nghề nghiệp, cóthểngườichiangườiphạm tộivề ma túy thành các nhóm: không nghề nghiệp, nghề nghiệp không ổn định, nghề nghiệp ổn định. Đối với địa vị xã hội, có thể chia thành người có địa vị xã hội cao và người có địa vị xã hội thấp

18

1.2.2.3. Đặc điểm hoàn cảnh gia đình

Nghiên cứu nhân thân người phạm tội về ma túy ở khía cạnh đặc điểm hoàn cảnh gia đình trong gồm quan hệ gia đình và hoàn cảnh kinh tế gia đình, từ đó xácđịnh tác động của nhữngđặc điểm này đối vớingười phạm tội về ma túy.

– Trước hết là quan hệ gia đình: chính là những thông tin xác định tình trạng hôn nhân của người phạm tội nhưđã kết hôn hay chưa, sống hạnh phúc hay ly

hôn…,là những thông tin về những thành viên khác trong gia đình như cha, mẹ,

anh chị em, con… Qua thực tiễn, cũng như các công trình nghiên cứu, thì những người phạm tội thường sống trong gia đình bất hạnh, thiếu thốn, khó khan về kinh

tế, các thành viên trong gia đình thiếu sựquan tâm chăm sóc lẫn nhau, hoặc sống

trong những gia đình thiếu khuyết ((cha hoặc mẹ chết, ly hôn…), hoặc gia đình cha

mẹ không hạnh phúc…

– Đối với hoàn cảnh kinh tế gia đình: gồm những thông tin về tình trạng kinh tế của gia đình người phạm tội. Chính điều đó đã tác động trực tiếp đến hành vi xử

sựtrong cuộc sốngcủamỗingười, là động cơ, mục đích mà người phạm tội thường ngắm tới. Khi hoàn cảnh kinh tế khó khan, dễ khiến con người nảy sinh tâm lý kiếm tiền bằng mọi giá, bất chấp điều đó có bị pháp luật ngăn cấm hay không. Vì động cơ thỏa mãn nhu cầu vật chất, muốn có tiền tiêu dùng cho bản thân, cho gia đình nên các đối tượngđã thực hiện hành vi phạm tội, đặc biệt là các tội phạmvề ma túy thường cho lợi nhuận lớn.

1.2.2.4. Đặc điểm về nơi cư trú

Nơi cư trú, nơi sinh sống của mỗi người thường có đặc trưng riêng, do vậy, có ảnh hưởng không nhỏ đến hình thành nhân thân người phạm tội. Những người cóchỗ ở không ổn định, tạm trú trong các phòng trọ; những người sống ở địa bàn cónhiều người nghiện hút, nhiều người phạm tội, thì thường phát sinh hành vi phạm tội nhiều hơn.

Trong nghiên cứu tội phạm học, nơi cư trú là nơi sinh sống, lớn lên của mỗi con người, từđó hình thành và phát triển nhân cách, nó thểhiện quá trình xã hội hóa của cá nhân, xác định vai trò, vị trí của mỗi cá nhân trong xã hội.

19

Khi nghiên cứu đặc điểm này, chúng ta xác định được tỉ lệ phạm tội theo khu vực cư trú, cơ cấu củatình hình tộiphạm theo vùng miền, khu vực khác nhau. Ởmôi trường sống lành mạnh, không có tệ nạn nghiện hút, mọi người quan tâm giúpđỡvà cùng nhau chí thú làm việc, thì sẽcó tác động tích cực đến việc hình thành nhân cách của cá nhân, hạn chế sự phát triển nhân cách lệch lạc và ngược lại.

Theo kết quảnghiên cứu, thì tỷlệngười phạm tội ởcác thành phốlớn vẫn chiếm đa số; trong đó, tập trung nhiều ở các khu nhà trọ, các địa bàn vùng ven với tỷ lệ người tạm trú đông, kinh tế khó khan. Về tính chất và mức độ của các hành vi phạm tội ngày càng tăng, cả về số lượng lẫn mức độ có nhiều đồng phạm.

1.2.2.5. Đặc điểm về dân tộc và tín ngưỡng

Đây cũng là đặc điểm có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách con người.

Từđặcđiểmdân tộc, cóthểphân chiangườiphạm tộivềma túy thành nhómngườidântộckinh và nhóm ngườidântộcthiểu số,tuy nhiên,ngườidân tộc Kinh chiếm đa số trong việc thực hiện hành vi phạm tội về ma túy.

Đối với đặc điểm vê quốc tịch, thì có 03 nhóm người Việt Nam,người nước ngoài và người không quốc tịch thực hiện hành vi phạm tội về ma túy. Trong đó, chiếm đa số là người Việt Nam.

Vớiđặcđiểm vềtín ngưỡng,ngườiphạmtộivềma túy gồm có nhóm

không theo tôn giáo nào và nhóm có tôn giáo (như Phật giáo, Thiên chúa giáo…).

1.2.3. Các đặc điểm về đạo đức, tâm lý của người phạm tội về ma túy

Những đặc điểmđạo đức, tâm lý học của người phạmtộivề ma túy gồm:

Quan điểm, thái độ, nhận thức đối với các giá trị đạo đức xã hội, pháp luật; nhu cầu,

sở thích, thói quen; động cơ, mục đích phạm tội,… những đặc điểm này có vai tròquan trọng trong sự hình thành động cơ phạm tội của người phạm tội về ma túy.

1.2.3.1. Quan điểm, thái độ, nhận thức đối với các giá trị đạo đức xã hội, pháp luật

Khi nói đến quan điểm, thái độ, nhận thức đối với Tổ quốc, quyền và nghĩa vụ của công dân, với lao độnghọc tập và cảđối với các mối quan hệ trong xã hội

20

cũng như với chính bản thân mình, đó chính là các đặc điểmvềquan điểm, thái độ, nhận thức đối với các giá trị đạo đứcxã hội, pháp luật của con người. Thông

thường, đối vớingườiphạm tội, các quan điểm củahọ về cái tốt đẹp, cáixấu… trong cuộc sống không đầy đủ,mà họ chỉchú trọng vàolợiích cá nhân, không quan tâm đến lợi ích của người khác, của cộng đồng xã hội, của Đất nước, nên họ đã thực hiện những việc cóthểđem lại lợi ích cho bản thân, nhất là các lợi ích vật chất,kểcả điều đó có thể xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của người khác [49, tr. 156].

Đối với quan điểmvềnhận thức pháp luật của người phạm tội về ma túy, thường thì họ có hiểu biết rất ít về pháp luật, bên cạnh đó còn có thái độ coi thường, bất chấp và thách thức pháp luật. Cũng bởi tâm lí hám lợi, lười lao động nhưng lại muốn có tiền để tiêu xài, hưởng thụnên đã bất chấp pháp luật và kiếm tiền bằng mọi giá (nhất là những người phạm tội mua bán, vận chuyển ma túysố lượng

lớn…). Một số người lại đánh giá cao khả năng trốn tránh pháp luật của mình, thậm chí họ cho rằng hành vi phạm tội là kín kẽ và không thể bị phát hiện.

1.2.3.2. Đặc điểm về nhu cầu, sở thích, thói quen

Mỗi cá nhân con người trong xã hội, đều có những đặc điểmnhu cầu,sởthích, thói quen, nhưng ở những người phạm tội về ma túy thì đa số điều đó là tiêu cực, không lành mạnh.Để đạt được điều đó, họ sẵn sàng thực hiện hành vi phạm tội. Bới chính từnhu cầucủa bản thân, sở thích tiêu cực và thói quen không lành mạnh đã hình thành nên động cơ, mục đích phạm tội. Như những người phạm tội khác là có nhu cầu, sở thích và thói quen tiêu cực, người phạm tội về ma túy thường là những người nghiện ma túy, muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng nhưng lại lười lao động.

1.2.3.3. Động cơ, mục đích phạm tội

Khi thực hiện bất kỳhành vi phạm tộinào, thì ngườiphạm tộiđềuphải cóđộng cơvà mục đích phạm tội. Vì các nhu cầu và sở thích cá nhân, người phạm tộiđã có động cơ thực hiện tội phạm. Vì động cơ, nên người phạm tội hướng tới mục đích đạt được chính là mục tiêu được đặt ra, từđó nảysinh ý chí của người phạm tội, hướng ý chí đó đến việc thực hiện tội phạm.

21

Đối vớinhững người nếu có động cơ phạm tội rõ ràng, mụcđích phạm tội quyết liệt thì thường tạo nên những vụ phạm tội vô cùng nguy hiểm,vớihậuquảcủa tội phạmrấtnghiêm trọng, tác động lớn tới con người, xã hội. Do đó, nghiên cứu về động cơ, mục đích phạm tộichính là tìm nguyên nhân thực hiện hành vi,đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đểtìm ra biện pháp loại trừđộng cơ, ngăn cản mục đích, hạn chế đếnmứcthấp nhất hậu quả mà người phạm tội về ma túy có thể gây ra cho xã hội.

1.2.4. Các đặc điểm pháp lý hình sự của người phạm tội phạm về ma túy

Các đặc điểm pháp lý hình sự trong nhân thân người phạm tội về ma túy bao gồm:

– Phạm tội lần đầu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Nghiên cứu nhân thân người phạm tội là nghiên cứu nhân thân của con ngườiít nhất đã một lần phạm tội. Mộtngười có nhiều tiền án, tiền sự thực hiện hành vi phạm tội thì tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn nhiều so với người mới phạm tội lần đầu,bởi vì họ đã có kinh nghiệm trong việc thực hiện tội phạm cũng như đối phó với các cơ quan tiến hành tố tụng, nên họ phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn người mới phạm tội lần đầu.

Những người có tiền án, tiền sự, tái phạm, tái phạm nguy hiểm là những người coi thường, thách thức, bất chấp pháp luật, cố ý xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể và của cá nhân vì lợi ích của bản thân. Do đó, để hiểu rõ nguyên nhân phát sinh tội phạm cũng như có cơ sở trong việc đề ra các giải pháp phòng ngừa hữu hiệu, bên cạnh viện giúp nhận thức đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thì cần phải nghiên cứu một cách bài bản, đầy đủ các đặc điểm vềtiền án, tiền sự, tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Nhà làm luật đã cân nhắc quy định đặc điểmtái phạm nguy hiểm là yếu tố định khung một số tội về ma túy(điểmb, khoản 2 Điều 192; điểm k khoản 2 Điều 193, Điều 200; điểm p khoản 2 của Điều 194; điểm g khoản 2 Điều 195, Điều 196; điểm h khoản 2 Điều 197; điểm đ khoản 2Điều 198 của BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009. Nay là điểm c, khoản 2 Điều 247; điểm i khoản 2 Điều 248, Điều 253; điểm o khoản 2 Điều 249, Điều 252; điểm

22

p khoản 2 của Điều 250; điểm q khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 2 Điều 254, Điều 255; điểm đ khoản 2 Điều 256; điểm k khoản 2 Điều 257, Điều 258; điểm c khoản 2Điều 259 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

– Tính chất, mức độ lỗi:

Khi nghiên cứu về các đặc điểm pháp lý hình sự, điều tiên quyết là phải xácđịnh lỗi củangườithực hiện hành vi phạm tội, đây chính là yếu tố quan trọng nhất để xác định tính chất nguy hiểm của hành viphạm tội đối với xãhội. BLHS đã chia lỗi ra thành hai loại, là lỗi cố ý (gồm lỗi cố ý bao gồm lỗi cố ý trực tiếp vàlỗi cố ý gián tiếp) và lỗi vô ý (gồm lỗi vô ý do quá tự tin và vô ý do cẩu thả). Khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành

tố tụng căn cứ vào mức độ lỗi và loại lỗi để xác định mức độ nguy hiểm của hành vi đối với xã hội để có mức hình phạt phù hợp và chính xác nhất,

– Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, phải dựa vào khách thể mà tội phạm xâm hại, phương thức, thủ đoạn, công cụ và phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, mục đích của tội phạm. Mặt khác, phải xác định chính xác các yếu tố khác như giá trị của thiệt hại, hình thức lỗi, động cơ, mục đích của người phạm tội để làm căn cứ xác định hình phạt tương xứng đối với cá nhân thực hiện hành vi phạm tội.

Các nhà làm luật cũng căn cứvào tính chất, mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đểlàm cơ sởphân chia tội phạm thành 4 loại: tội phạm ít nghiêm trọng; tội phạm nghiêm trọng; tộiphạm rất nghiêm trọng và tội phạmđặc biệt nghiêm trọng.

– Hình thức phạm tội:đơnlẻ, đồng phạm.

Qua nghiên cứu về hình thức tội phạm, bao gồm loại là tội phạm đơn lẻ vàđồng phạm.

Đối với tội phạm đơn lẻ: đó chính việc một cá nhân tự mình thực hiện hành vi phạm tội mà không có sự giúp sức của người khác. Đây là loại tội phạm xảy ra nhiều trên thực tế.

23

Đối với trường hợp đồng phạm: là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Ở loại tội phạm này, dù xảy ra ít hơn so với loại tội phạm đơn lẻ, nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hình thức đồng phạm thì lớn hơn nhiều, do đồng phạm thì có sự bàn bạc, chuẩn bị từ trước cho hành vi phạm tội.

– Chế tài áp dụng:

Chế tài là mức hình phạt được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạ

tội, do đó, với mỗi người phạm tội khác nhau, thì các chếtài được áp dụng khác nhau. Căn cứ vào trọng lượng, loại ma túy, về nhân thân người phạm tội (như tiền án, tiền sự, tái phạm, tái phạm nguy hiểm) mà có các mức hình phạt khác nhau. Khi dụng các loại chếtài là hình phạt, ngoài việcthểhiện tính nghiêm minh của pháp luật, thì còn đểgiáo dục, cải tạo người vi phạm và răn đe, phòng ngừa chung cho cho toàn xã hội.

1.3. Những yếu tố tácđộng đến quá trình hình thành nhân thân người phạm tội về ma túy

Quá trình hình thành và phát triển nhân thân con người trong bất cứxã hội nào cũng luôn tồntạihai xu hướng: tích cực và tiêu cực.Để hình thành các đặcđiểm nhân thân tốt thì cần đến những yếu tố tích cực, và ngược lại. Sự kết hợp giữa đặc điểm nhân thân tiêu cực với các tình huống, hoàn cảnhcụ thể sẽ làmphát sinh hành vi phạm tội.

1.3.1. Các yếu tố khách quan thuộc môi trường sống 1.3.1.1. Môi trường gia đình

Nhân cách của con người được hình thành và nuôi dưỡng từgia đình, là tế bào của xã hội. Đối với quá trình hình thành nhân cách con người, bắt nguồn từ cái nôi văn hóa đầu tiên, là gia đình. Đối với mỗi cá nhân, các đặc điểm nhân thân tích cực sẽ đượchình thành trong môi trường gia đình trọnvẹnhạnh phúc, đầm ấm, yêu thương chăm sóc lẫn nhau. Ngược lại, sẽ hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực nếu môi trường gia đình khuyết thiếu, không hạnh phúc, không quan tâm chăm

sóc lẫn nhau…

Những yếu tố tiêu cựctác động đến hình thành đặc điểmnhân thân người phạm tội về ma túy từ môi trường gia đình, bao gồm:

24

Thứ nhất, do gia đình có người thân sử dụng, mua bán ma túy trái pháp luật dẫn đến nảy sinh những ý nghĩ sai lệch, xem việc sử dụng, mua bán ma túy là một việc thường thấy và việc kiếm tiền trái đạo đức, trái pháp luật trở thành nhu cầu của họ.

Thứ hai, do gia đình thiếu khuyết (như không đầy đủ cha mẹ, hoặc cha mẹ ly hôn). Điều này tác động trực tiếp đến quá trình hình thành nhân cách con người, nhất là người trẻ, thanh thiếu niên mới lớn. Do không được quan tâm, chăm sóc, giáo dục đầy đủ nên người đó dễ phát sinh những suy nghĩ, thói quen, sở thích lệch lạc.

Thứ ba, do gia đình không hạnh phúc, bạo lực gia đình thường xuyên xảy ra. Những đứa trẻ phát triển trong môi trường này thường có xu hướng bạo lực, không tôn trọng người khác, coi thường pháp luật và hay chống đối.

Thứ tư, sự thờ ơ, không quan tâm giáo dục con cái từ phía gia đình. Ở các giađình khá giả thì cha mẹ chỉ lo đi làm bỏ con cho ông bà, người giúp việc hoặc nhàtrường giáo dục còn các gia đình kinh tế khó khăn thì không có thời gian quan tâm con cái dẫn đến những đứa trẻ không được giáo dục nhân cách một cách đầy đủ.

Thứ năm, do xu hướng quá nuông chiều con cái của đa số các bậc phụ huynh hiện nay dẫn đến con cái có xu hướng muốn gì được nấy, chỉ muốn được thỏa mãn nhu cầu cá nhân, ăn chơi sa đọa của bản thân mà không quan tâm đến các giá trị đạo đức xã hội.

1.3.1.2. Môi trường giáo dục

Nhà trường và môi trường giáo dục được coi là chiếc nôi thứ hai trong việc giáo dục và rèn luyện nhân cách con người, sau gia đình. Ngoài việc truyền thụ kiến thức, thì Nhà trường còn có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện con người cónhân cách toàn diện. Bởi vậy, Nhà trường phải thật sự làm tốt nhiệm vụ của mình,để đào tạo và rèn luyện được những cá nhân có những đặc điểm nhân thân tích cực, có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, khi Nhà trường khôn làm tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, thìcá nhân con người làm hình thành đặcđiểm nhân thân xấu, để khi gặp tình huống tiêu cực họ dễ vi phạm pháp luật.

25

Các đặc điểm tiêu cực xuất phát từ Nhà trường như sau:

Một là, nhà trường chỉ chú tâm về giáo dục kiến thức mà không giáo dục ý thức, đạo đức,pháp luật và kỹ năng cho học sinh, sinh viêndẫn đến đại đasố đều thiếu thốn các kỹnăng sống, ý thức cá nhân và ý thức pháp luật không cao, nhận thức sai lệch, không rõ ràng, coi thường đạo đức, coi thường pháp luật.

Hai là, ởcác cơsởgiáo dục, học sinh đượcquản lý lỏng lẻo, không có sựphối hợp kịp thời giữa nhà trường và gia đình nên khi học sinh bị sai lệch nhận thức thì không kịp thời răn đe, uốn nắn, giáo dục.

Ba là, tình trạng bạo lực học đường ngày càng gia tăng, sự phân biệt đối xửcủa thầy cô, sự thiếu gương mẫu của thầy cô trong lối sống,đạo đức. Điều này dẫn đến sự bi quan, chán nản, sự bất mãn, sự căm phẫn đối với các em, tâm lý chán lớp, chán trường, thiếu tôn trọng thầy cô.

Khi không được quan tâm, quản lý và dạy dỗ đúng mức, bị các đối tượng xấu rủrê, các em có thểsửdụng trái phép chất ma túy, dẫn đến nghiện ngập, và con đường từ nghiện hút đến thực hiện hành vi phạm tội mua bán là rất gần nhau.

1.3.1.3. Môi trường bạn bè

Bạn bè có vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách của người phạm tội. Bạn bè rất dễ ảnh hưởng tác động lẫn nhau, khi chơi cùng bạn tốt, chăm chỉ, sẽcó ảnh hưởng tích cực, tuy nhiên, nếu chơi cùng bạn xấu, bị nghiện hút, thì lại rất dễdàng bị rủ rê, thậm chí bị lừa sử dụng dẫn đến nghiện hút ma túy, rồi tìm mọi cách để có tiền thỏ mãn cơn nghiện và tiêu xài cá nhân.

1.3.1.4. Môi trường kinh tế, xã hội

Nền kinh tế thị trường phát triển là cơ hội để phát triển kinh tế đất nước, làcơ hội để cá nhân làm giàu, nhưng mặt trái của nó, là một bộ phận con người hình thành lối sống hưởng thụ, muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động; hình thànhsựchênh lệch giàu nghèo trong xã hội và ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác. Đểcó tiền, con người ta bất chấp pháp luật, nhất là những loại tội phạm liên quan đến ma túy, là có sức dẫn dụ ghê gớm bởi lợi nhuận cực kỳ lớn, nên nhiều người biết làphạm tội, biết là phải trả giá nặng nề nhưng vì sức hấp dẫn của đồng tiền, nên vẫn bất chấp pháp luật, thực hiện các hành vi phạm tội về ma túy để có tiền.

26

1.4.1.5. Môi trường văn hóa, tư tưởng đạo đức

Bởi sựxuống cấp vềtư tưởng đạo đức, do thói quen, sởthích không lành mạnh, trái pháp luật; môi trường sống xung quanh có nhiều tệ nạn mà bản thân con người không làm chủ được hành động, suy nghĩ của mình nên đã thực hiện hành vi phạm tội.

1.3.2. Các yếu tố chủ quan thuộc về người phạm tội về ma túy

Do đặc điểmnhân thân tiêu cựcđược hình thành là bởisựtác động qua lại giữa các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống và các yếutốtiêu cực thuộc cá nhân con người. Nên cần phải hạn chế và loại trừcác yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống cũng như các yếu tố tiêu cực thuộc về cá nhân. Đây là biện pháp phòng ngừa tội phạm căn bản nhất để bỏ những nguyên nhân hình thành tội phạm.

– Về ý thức, thái độ của người phạm tội: đa số họ đều có ý thức sai lệch, nhu cầu và sở thích không chuẩn mực, đi ngược lại với các giá trị đạo đức xã hội, bên cạnh đó cũng có một sốý thức được mức độnguy hiểm trong hành vi của mình nhưng vẫn cố ý xử sự sai lệch thông qua các hành vi bên ngoài.

– Sai lệch nhu cầu, sai lệch về sở thích cá nhân: đa số người phạm tội về ma túy, đều có các thói quen, sở thích không lành mạnh, như hoạt động ăn chơi tập thể, có nhu cầu tận hưởng các khoái cảm một cách không đúng đắn và để đáp ứng các nhu cầu đó của bản thân thì các tội phạm về ma túy thường chọn cách sử dụng các loại ma túy, thực hiện hành vi mua bán ma túy trái pháp luật để thỏa mãn các nhu cầu và sở thích cá nhân của mình.

– Ngoài ra, Người phạm tội ma túy còn có những hạn chếthuộc vềý thức pháp luật cá nhân bởi họthiếu nhận thứcvềpháp luật dẫn đến khảnăng tựnhận thức về mức độ và tính nguy hiểm trong hành vi của bản thân hoàn toàn không có; ngoài ra, họ còn có tâm lý coi thường, bất chấp pháp luật.

2.4. Vận dụng nghiên cứu nhân thân người phạm tội trong phòng ngừa tội phạm về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận

2.4.1. Kết quả đạt được từ nghiên cứu nhân thân người phạm tội về ma túy

Quận Phú Nhuận là một quận nội thành Thành phốHồChí Minh, cùng với giai đoạnchuyểnđổi cơ chếmởcửa hội nhập kinh tếvà quá trình phát triển của

27

Thành phố nên đã xuất hiện một số loại tội phạm và tệ nạn xã hội làm cho tình hình an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội của địa phương mất ổn định, trong đó nổi cộm lên tình hình tội phạm và tệ nạn về ma túy, đây là hiện tượng nhức nhối đối với các cấp chính quyền của địa phương.

Đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan, tổ chức nào mà trách nhiệm của toàn bộhệthống chính trị. Nhận thức sâu sắc vai trò trách nhiệm trong đấutranh phòng, chống tội phạm về ma túy, giữ gìn an ninh trật tự, trong những năm qua, các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn quận như Công an, Viện kiểm sát và Tòa án quận Phú Nhuận đã tham mưu cho Quận ủy và UBND Quận đề ra các Nghị quyết, Kế hoạch, biện pháp phòng, chống tội phạm và tệ nạn về ma túy, các cơ quan chức năng có nhiều biện pháp để phòng ngừa tội phạm về ma túy như: Công an quậnđã nghiên cứu cải cách, đổi mới, hoàn thiện bộ máy, bố trí cán bộ có trình độ, năng lực

trực tiếp tiến hành các hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm…, Viện kiểm sát, Tòa án thông qua chức năng, nhiệmvụvà hoạt động củacơ quan mìnhđểcó những biện pháp phòng, chống các tội phạm về ma túy hiệu quả.

Chính sự phối hợp nhịp nhàng của tất cả các cơ quan ban ngành trong quận đã phần nào góp phần vào việc phòng, chống tệnạn vềma túy, phòng chống các loại tội phạmvềma túy trên địa bàn quận. Tuy nhiên, việc vận dụng việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội áp dụng trong thực tiễn áp dụng, thực thi pháp luật trên địa bàn quận mà các cơ quan tiến hành tốtụng như Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đã áp dụng thực sự mang lại hiệu quả trong công tác phòng, chống đối với các loại tội phạm nói chung, và tội phạm về ma túy nói riêng.

Trước hết, nhờviệc xác minh cụthể, chi tiết và chính xác nhân thân người phạm tội về ma túy, đã góp phần nâng cao chất lượng của việc định tội, định khung và quyết định hình phạt đối với người phạm tội được chính xác. Qua nghiên cứu tình hình khởi tố,điềutra, truytốvà xét xửvềán ma túy trênđịa bàn quận PhúNhuận trong thời gian từ năm 2013 đến 2017 thì không có vụ án nào có bị can,bịcáo bị đình chỉ vì lý do không phạm tội hay bị Tòa án tuyên không phạm tội; không

28

có vụ án nàobị dưluận xã hội vì bắt, giam, xét xử đối với bị can, bị cáo mà chứng cứyếu, không có vụán nào bịTòa án cấp trên hủyđểđiều tra lại vì xét xửsai khung hình phạt, sai tộ danh.

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, xác minh kỹ, cụ thể, chính xác về nhân thân người phạm tội về ma túy còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định mức án phù hợp với từng bị cáo; có thể có các mức án đủ nặng để răn đe, giáo dục đối với những người có nhiều tiền án, tiền sự, nhân thân quá xấu,đãtừng nhiều lần bị đưađi trại giam nhưng không giáo dục để trở thành người có ích, biểu hiện thách thức pháp luật; và cũng nhờvào việc nghiên cứu nhân thân,đểcó chính sách khoan hồng, giúp đỡnhững trường hợp có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bất trắc nên lỡdấn thân vào con đường phạm tội. Đó cũng chính là việc giúp tìm ra nguyên nhân,điều kiện của tình hình phạm tội về ma túy để có biện pháp phòng, chống hữu hiệu các loại tội phạm về ma túy thông qua việc nghiên cứu về nhân thân người phạm tội về ma túy.

Một trong những kết quả của việc nghiên cứu nhân thân người phạmtội vềma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận đó là thông qua việc nghiên cứu về nhân thân người phạm tội, giúp các cơ quan, ban ngành khác trong quận có các phương án giúp đỡ những người đã sa đà và con đường nghiện hút ma túy, hay đã từng phạm tội về ma túy được giúp đỡ về cả vật chất lẫn tinh thần, như tạo công ăn việc làm, có

biện pháp cai nghiện… để họ tái hòa nhập cộng đồng.

2.4.2. Những hạn chế, thiết sót và nguyên nhân của tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm thông qua việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội về ma túy

Cùng với những kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế, tồn tại như sau:

– Hoạt động phòng, chống tội phạm của các cấp vẫn chưa thực sự đồng đều, chỉtập trung nhiều vào lực lượng Công an và chưa phát huyđược vài trò của các tầng lớp nhân dân.

– Công tác tuyên truyền chưa thực sựthực chất, không thường xuyên, liên tục, không có nộidung cụthểmà chỉmang tính hình thức, chạy theo chiến dịch,

29

theo từng đợt. Ngoài ra, ở vùng sâu vùng xa, những địa bàn phức tạp vẫn chưa có những chương trình cụ thể để phòng, tránh xa các tệ nạn về ma túy.

– Chưa có kế hoạch cụ thể, khả thi để quản lý, giáo dục cũng như hỗ trợ giải quyết tạo công ăn việc làm cho các đối tượng có nhân thân xấunhư người cai

nghiện tái hòa nhập cộng đồng, đối tượng mới ra tù…

– Các cơ quan, doanh nghiệp kinh tế chưa có chế độ tạo điều kiện hỗ trợ chỗở cho người lao động ở xa, hỗ trợ người chưa có việc làm tại địa phương, dẫn đến nhiều đối tượng khó khăn về kinh tế nên bị rủ rê sa đà vào con đường phạm tội.

Đểcông tác đấu tranh phòng, chống tội phạm vềma túy trênđịabàn quận Phú Nhuận thực sự có hiệu quả, tác giả nhận thấy cần phải tiến hành cùng lúc cả hai biện pháp đấu tranh và phòng ngừa, không được coi nhẹ biện pháp nào. Lực lương Công an thường xuyên quản lý, truy bắt, điều tra các đối tượng phạm tội về ma túyđảmbảo sựổn định, lành mạnh trên địa bàn quận, và đồng thời vẫn áp dụng các biện pháp phòng ngừa, đặc biệt là việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội nhằm kiềm chế làm giảm tội phạm về ma túy xảy ra trên địa bàn quận Phú Nhuận.

Tiểu kết Chương 1

Trong Chương 1, tác giả chyên sâu phân tích, làm rõ những vấn đề thuộc vềlý luận chung về nhân thân người phạm tội.

Gồm những vấn đề cụ thể như sau:

Thứnhất, nhân thân người phạm tội ma túy là tổng hợp các đặcđiểm,dấu hiệu thể hiện bản chất của một người khi đã thực hiện một hành vi bị coi là tội phạm về ma túy.

Thứhai, việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội vềma túy có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm vềma túy; giúp cho việc định tội, định khung và quyết định hình phạt một cách chính xác, thuyết phục; tạo cơ sởcho việc xây dựng hình thức, biện pháp giáo dục, cải tạo, quản lý người phạm tội một cách phù hợp và hiệu quả; ý nghĩa quan trọng trong dự báo và phòng ngừa tội phạm về ma túy.

30

Thứ ba, Các đặc điểm về nhân thân người phạm tội về ma túy. Bao gồm 04 nhóm chính: nhóm đặcđiểmvề sinh học; nhóm đặc điểm về xã hội; nhóm đặc điểm

về đạo đức – tâm lývà nhóm đặc điểm về pháp lý hình sự.

Thứ tư, các yếu tố tác động đến quá trình hình thành nhân thân người phạm tội nói chung và nhân thân người phạm tội về ma túy nói riêng đều chịu ảnh hưởng của hai yếu tố khách quan và chủ quan.

Từđó, vận dụng nghiên cứu nhân thân người phạm tội trong phòng ngừa tội phạm về ma túy trên địa bàn Quận.

Những vấn đềlý luận được làm sáng tỏtrong Chương 1 sẽlà cơ sởđểtìm hiểu và làm rõ các đặc điểmnhân thân và nguyên nhân hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực của người phạm tội về ma túy trên địa bàn Phú Nhuận ở Chương 2 của luận văn.

31

Chương 2

THỰC TRẠNG NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI VỀ MA TÚY VÀ VẬN

DỤNG TRONG PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM NÀY

TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN PHÚ NHUẬN

2.1. Khái quát tình hình tội phạmvề ma túy trên địa bàn quận PhúNhuận

2.1.1. Thực trạng của tình hình tộiphạm vềma túy trênđịa bàn quận PhúNhuận

Quận Phú Nhuận là một quận nội thành thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam tiếp giáp với Quận 1 và Quận 3, phía Bắc giáp quận Gò Vấp, phía Đông giáp quận Bình Thạnh và phía Tây giáp quận Tân Bình. Toàn Quận có 15 phường, trongđó Phường 11 là trung tâm của Quận. Quận Phú Nhuận có diện tích 4,88km2, là quận có diện tích nhỏ thứ3 của thành phố Hồ Chí Minh, sau Quận 5 và Quận 4. Quận có vị trí chiến lược, là cửa ngõ phía Bắc của Thành phố Hồ Chí Minh, là cầu nối thành phố với Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất.

Do nằm ở quận trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố lớn trong khu vực và lớn nhất của cả nước, có tốc độ đô thị hóa cao, nhiều khu công nghiệp mới được hình thành, thu hút nhiều lao động từ các tỉnh khác đến làm việc, làm cho lượng người nhập cư cao, lại có vịtrí chiến lược vềgiao thông nênđã nảysinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp, các loại tội phạm hình sự đặc biệt là tội phạm về ma túy ngày càng manh động và phức tạp. Sự phức tạp đó được thể hiện qua các thông số phản ánh tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn quận từ năm 2013 đến năm 2017.

Thực trạng của tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận làtổng sốvụvà tổngsốngười thực hiện hành vi phạm tội vềma túy thực tếxảyra trên địa bàn quận trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017 được xác định là sốvụvàsốngười phạm tội vềma túyđã xảyra trên thực tếcho dù có bịphát hiện, xử lý hay chưa.

Khi đánh giá thực trạng của tình hình tội phạm về ma túy đã xảy ra cần phải xem xét trên cả hai khía cạnh là tội phạm rõ và tội phạm ẩn. Đối với tội phạm rõ, là

32

số lượngcáctội vềma túy vàngườiphạm tội về ma túy đã bị xét xử bằng một bảnán kết tội của Tòa án có trong thống kê hình sự; còn tội phạm ẩn, là số lượng các tội về ma túy đã xảy ra mà chưa bị phát hiện, chưa bị xử lý về hình sự, chưa có trong thống kê hình sự.

Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉtậptrung nghiên cứu nhân thân người phạm tội vềma túy đã được phát hiện xử lý nên chỉ giớihạnnghiên cứu tình hình

tội về ma túy theo số liệu thống kê xét xử án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận mà khôngđề cập đến tộiphạmẩn trên địabàn quận.

Theo số liệu thống kê trong bảng tại phụ lục số 2.1 cho thấy, trong thời gian từnăm 2013 đến 2017, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minhđã xét xử tổng cộng

8.006vụ án với 11.309 bị cáo phạm các tội về ma túy, trung bình 1.601,2 vụ/năm và 2.261,8 bị cáo/năm. Năm có số tội phạm nhiều nhất là năm 2016 (2.053 vụ, 2.986bị cáo), tiếp tụcthấpdần từnăm 2017 (1.805 vụ, 2.499bị cáo), năm 2013 (1.404 vụ, 1993bị cáo), năm 2014 (1.380 vụ, 1.972bị cáo), năm 2015 (1.364 vụ, 1.949 bị cáo).

Trong khi đó, tại địa bàn quận Phú Nhuận, trong thời giantừnăm 2013 đến năm 2017,đã xét xửtổng cộng 169 vụ án với 236 bị cáo về các tội về ma túy, trung bình 33,8 vụ/năm và 47,2 bị cáo/năm. Trong đó, xảy ra nhiều nhất là năm 2014 (43 vụ, 58bị cáo), kế đến là năm 2017 (38vụ,53bị cáo), các năm còn lại gồm: năm 2013 (36 vụ, 43 bị cáo), năm 2016 (34 vụ, 56 bị cáo) và ít nhất là năm 2015 (18 vụ, 26 bị cáo).

Trên địa bàn quận có sự tăng giảm cácvụ án vềma túy không đều qua các năm, nhưng xét vềtổng thể, thì là tăng. Riêng năm 2015 có sốvụán được đưa ra xét xử là ít nhất, và năm 2016 lại có số vụ tăng cao, nguyên nhân là do các cơ quan tiến hành tố tụng vướng mắc về việc giám định hàm lượng chất ma túy, tiền chất ma túy thu giữ của bị can, bị cáo nên số lượng vụ án phải chờ kết quả giám định khôngđưa ra xét xử trong năm 2015 nhiều và chuyển số lượngán đósang năm 2016 nên mới có sựtăng giảm số lượng vụ án được xét xửgiảm so với các năm khác. Như

33

vậy có thể xác định tội phạm về ma túy chiếm tỷ lệ lớn cả về số lượng vụ án trên

tổng số các vụ án trên địa bàn thành phố, và cũng xác định xu hướng đối với các loại tội phạm về ma túy tăng dần trong tổng số vụ phạm pháp hình sự trong các năm tới.

Như vậy, ta có thể thấy trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, số vụ án về ma túy và số người phạm tội về ma túy là rất lớn. Quận Phú Nhuận là quận có diện tích nhỏ, dân số ít, lại là quận nội thành nên đa số là là dân bản địa, không có khu công nghiệp nên lao động tạm trú ít do vậy xét về tỷ lệ số vụ án về ma túy và người phạm tội về ma túy tại địa bàn quận so với tổng số của thành phố Hồ Chí Minh là ít.

Tuy nhiên, xét trên địa bàn Quận, thì số lượng các vụ án được đưa ra xét xửvà số bị cáo bị xét xử so với các loại tội phạm khác lại chiếm một tỷ lệ lớn.

Theo số liệu thống kê tại bảng 2.2, nhận thấy trên địa bàn Quận Phú Nhuận, tổng số vụ phạm tội trong 05 năm, từ năm 2013 đến năm 2017 là 669 vụ/977 bị cáo, trong đó số vụ phạm tội về ma túy là 169 vụ /236 bị cáo, chiếm tỷ lệ 25,27% số vụvà 26,92% số bị cáo. Như vậy, số vụ phạm tội về án ma túy đã chiếm tỷ lệ cao so với các tội phạm khác trên địa bàn trong thời gian 05 năm.

2.1.2. Diễn biến củatình hình tội phạmvề ma túy trên địa bàn quận PhúNhuận

Diễn biến của tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận làsự thay đổi về thực trạng tội phạm vềma túy trên địa bàn Quận trong thời gian từ2013 – 2017.

Trong các vụ án hình sự đã xét xử thì số vụ án về ma túy trong thời gian từnăm 2013 đến năm 2017 xảy ra 169 vụ, 236 bi cáo chiếm tỷ lệ 25,2 % về số vụ và26,92% số bị cáo so với tổng số các vụ án hình sự đã xét xử. Từ đó chúng ta thấy rõtrong tổng sốcác vụán phạm tội hình sựđược đưa ra xét xử, thì sốvụán ma túy chiếm tỷ lệ cao.

Xét về tình hình cụ thể qua từng năm của tổng các vụ án hình sự trên địa bàn, có sự giảm về cả số vụ lẫn số bị cáo, Bảng .22 và biểu đồ 2.1 cho thấy nếu quy định tổng số 146 vụ án đã xét xử của năm 2013 là 100%, thì đến năm giảm còn 80,8%,đến năm 2016 tiếp tụcgiảm còn 70,6% và đến năm 2017 giảm còn 76,1%. Trong

34

khi đó, riêng về án ma túy, nếu quy định tổng số 36vụán đãxét xử trong năm 2013 là 100% thì năm 2014 số lượng vụ án ma túy đã xét xử là 43 vụ, tăng 119,44%, đến năm 2017 tăng 105,6%.

Về số lượng cácbị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội về ma túy trên địa bàn quận cũng có sự gia tăng không ngừng, nếu quy định tổng số 43 bị cáođã bị xét xửtrong năm 2013 là 100% thì năm 2014 là 58 vụ, tăng 134,9%, đến năm 2016 tăng 130,2% và năm 2017 tăng 123,3%.

Như vậy, qua 05 năm từ 2013 đến 2017, số lượng vụ án về ma túy mà Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận đã xét xửtăng 5,6%, và số bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội về ma túy tăng 23,3% qua đó cho thấy diễn biến của tình hình phạm tội ma túy phản ánh có chiều hướng gia tăng qua mỗi năm trên địa bàn.

2.1.3. Cơ cấu theo tộidanhvề ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận giaiđoạn 2013-2017

Trên địa bàn quận Phú Nhuận trong giai đoạn từ năm 2013 – 2017, chỉ xảy ra các vụ phạm tội về ma túy ở tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy theo quyđịnh tạiĐiều 194Bộ luật hìnhsựnăm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Theo thống kê tình hình tội phạm theo bảngphụlục số2.4, qua 169 vụ án với 236 bị cáo bị xét xử trong giai đoạn từ năm 2013 – 2017, trong các tội về ma túy thì Tội mua bán trái phép chất ma túy (chiếm tỷ lệ 80,23%), tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chiếm tỷ lệ 19,77%).

2.2. Thực trạng các đặc điểm nhân thân người phạm tội về ma túy trênđịa bàn quận Phú Nhuận

Tác giả đã thực hiện việc phân tích, tổng hợp các đặc điểm nhân thân người phạm tội dựa trên thông tin từ 100 bản án với 151 bị cáo phạm tội về ma túy trên

địa bàn quận Phú Nhuận từnăm 2013–2017, từđó đểđánh giá thực trạng nhân thân người phạm tội về ma túy ở quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

2.2.1. Thực trạng đặc điểm sinh học về độ tuổi, giới tính

– Về đặc điểm độ tuổi:Số liệu trong bảng tại Bảng phụ lục số 2.5 cho thấy, tất cảcác đối tượng phạm tội về ma túy ở độ tuổi đã thành niên, trong đó độ tuổi từ18 đến 30 chiếmtỷ lệ cao nhất là 49%, độ tuổi từ 30 đến 50 chiếm tỷ lệ 42,4%, ở

35

các lứa tuổi nàyhọđang trong quá trình trưởng thành, thích tò mò, thích tìm cảm giác mới lạ, ham muốn có thật nhiều tiền nhưng vẫnchưa cân bằngđược cámdỗvới cảm xúc nên dễ trở thành người nghiện ma túy hoặc là người thực hiện các hành vi phạm tội vềma túy. Kế đến là độ tuổi trên 50 chiếm 8,6%, ở độ tuổi nàytỷlệphạm tội về ma túy cũng ít, bởi vì họ đã bước sang độ tuổi bằng lòng với thực tại nên ở họ ít khi phát sinh các nhu cầu, mong muốn sai lệch dễ dẫn đến tội phạm vềma túy. Trên địa bàn quận Phú Nhuận trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017 không có người phạm tội về ma túy có độ tuổi dưới 18.

– Về đặc điểm giới tính: Trong tổng số 151 bị cáo phạm tội về ma túy, có 122 bị cáo là nam chiếm tỷ lệ 80,8% và có 29 bị cáo là nữ chiếm tỷ lệ 19,2%. Đặc điểm giới tính đối với người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận chủ yếu lànam, là phù hợp với đặc điểm về giới tính chung khi hành vi của nam giới thường không tuân theo chuẩn mực xã hội nhiều hơn so với nữ giới.

2.2.2. Thực trạng đặc điểm xã hộivề trình độ học vấnvà nghề nghiệp 2.2.2.1. Về trình độ học vấn

Qua Bảng phụ lục số 2.6, khảo sát trên 100 bản án sơ thẩmvới151bị cáo phạm tội về ma túy cho thấy đa số người phạm tội có trình độ học vấn thấp, có 92bịcáo có trình độ học vấn tiểu học và trung học cơ sở, chiếm tỷ lệ 61%; có 03 bị cáo là người không biết chữ chiếm tỷ lệ 1,9%. Do người không biết chữ và trình độ học vấn thấp để kiếmđượccông việc nhẹ nhàng, căn bản và thu nhập ổn định thì khó khăn. Ngoài để tìm việc làm, thì người có trình độ học vấn thấp thì khả năng nhận thức về pháp luật, thể hiện hành vi ứng xử trong cuộc sống cũng kém hơn, và đặc biệt, họ rấtdễ bịlôi kéo, dụ dỗđể đi vào con đường nghiện hút, rồi thực hiện các hành vi phạm tội về ma túy để có tiền tiêu xài và ma túy để sử dụng.

Nhiều bị cáo không biết chữ, hoặc trìnhđộ học vấn quá thấp(lớp 1, lớp 2…) nên đã thực hiện hành vi phạm tội một cách bất chấp, không ý thức được hậu quả. Ví dụ nhưbịcáo Huỳnh Quốc Tuấn phạm tội“Tàng trữtrái phép chất ma túy” theo bản án số79/2013/HSST xét xử ngày 24/7/2013. Bị cáo Tuấn là người không biết chữ, đã nghiện ma túy từng được đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc trong thời gian

36

24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo có 3 tiền án và lần phạm

tội này bị cáo bị Tòa án tuyên xử 08 năm tù. Bị cáo Võ Trần Tuấn Anh bị xétxửvề hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại Bản số 76/2014/HSST ngày 09/7/2014. Bị cáo Tuấn Anh mới họchếtlớp 1, cũng là người nghiện ma túy, đã cùng đồng phạm nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và bị Tòa án tuyên xử 07 năm 06 tháng tù. Bị cáo Hà Thị Mỹ Tiên là nữ, mới họchếtlớp 2, nhưng có đến 03 tiền án, lạitiếp tục phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nên bị Tòa án xét xửtheo tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm, bị tuyên mức án 08 năm tù, theo Bản án số 98/2014/HSST ngày 08/8/2014. Còn rất nhiều các bị cáo khác, có

học vấn rất thấp (lớp 1, lớp 2…) đã thực hiện hành vi phạm tội và bị tòa án tuyên xửvới mức án rất cao.

Mặt khác, khi trìnhđộ học vấn thấp,thì mức độ bất chấp và liều lĩnh trong thực hiện hành vi phạm tội, cũng như cách thức để thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, không phải chỉ có những người có trình độ thấp mới thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo, liều lĩnh; bởi có nhiều bị cáo, dù có trình độ học vấn cao, có sự hiểu biết pháp luật nhất định nhưng vẫn là đối tượng tái phạm, tái phạm nguy hiểm, đến mức bất chấp các hình phạt nặng của pháp luật và tiếp tục phạm tội. Tại bản án xét xử bị cáo Võ Minh Hoàng về tội danh mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số132/2013/HSST ngày 04/12/2013, bịcáo có trình độhọc vấn 12/12 nhưng đãcó tiền án vềtội cướp giật tài sản với mức án 05 năm tù, lần phạmtộinày, bịcáo bịtuyên xử 08 năm 06 tháng tù với 02 tình tiết định khung tăng nặng là phạm tội nhiều lần và tái phạm nguy hiểm; bị cáo Võ Ngọc Nhật Minh có trình độ lớp 12, đã cùng đồng phạm thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy với số lượng lớn nên bịTòa án tuyên xử 08 năm 06 tháng tù theo Bản án số 26/2017/HSST ngày 22/02/2017.

2.2.2.2. Về nghề nghiệp

Theo số liệu tại Bảng phụ lục số 2.7, thì phần lớn các bị cáo phạm tội về ma túy đều không có nghề nghiệp, có 117/151 bị cáo, chiếm tỷ lệ 77,5%; số bị cáo cónghề nghiệp không ổnđịnh, chủ yếu là làm thuê, chạy xe ôm, buôn bán tựdo…

37

cũng chiếm tỉ lệ tương đối cao, có 23/151 bị cáo, chiếm tỷ lệ 15,2%; còn số bị cáo có nghề nghiệpổnđịnh chiếm tỉ lệít, chỉ có 11/151 bị cáochiếm tỷ lệ7,3%; Nhưvậy, đại đa số các bị cáo phạm tội về ma túy không có nghề nghiệp, điều này thực sựlà một vấn nạn đáng lo ngại, bởi không có nghề nghiệp, không có thu nhập đểsinh sống, trang trải chi tiêu tối thiểu hàng ngày sẽ dẫn tới nguy cơ phạm tội là rất lớn.

2.2.3. Thực trạng đặc điểm về hoàn cảnh gia đình

Thực trạngđặcđiểm về hoàn cảnh gia đình trong nhân thânngườiphạm tội chính là những tác động của quan hệ gia đình và hoàn cảnh kinh tế gia đình đối với người phạm tội.

Theo thống kê 100 vụán với 151 bị cáo phạm tội về ma túy trênđịa bàn quận Phú Nhuận từ năm 2012 đến 2016, cho thấy về quan hệ gia đình:

– Số người phạm tội đã kết hôn có 47 người chiếm 31%, trong đó: hiện vẫnđang duy trì hôn nhân có 25 người, chiếm tỷlệ 16,4%, đã ly hôn và một bên vợhoặc chồng đã chết là 22 người, chiếm 14,6%;

– Số người phạm tội chưa kết hôn có 77 người chiếm tỷ lệ 51%;

-Số người phạm tội sinh sống trong gia đình có đủ cha, mẹ là 81 người chiếm 53,6%; số người phạm tội sinh sống trong gia đình không có đủ cha mẹ (cha mẹ ly hôn, cha hoặc mẹ mất hoặc cả hai mất, cha hoặc mẹ bỏ đi, không biết cha mẹlà ai) là 70 người chiếm 46,4%;

– Số người phạm tội đã có con có 64 người chiếm 42,4%; số người phạm tội chưa có con có 87 người chiếm 57,6%;

– Số người phạm tội sinh sống trong gia đình đông con (có từ 03 con trở lên) có 91 người chiếm 60,3%; số người phạm tội sinh sống trong gia đình ít con có 60 người chiếm 39,7%.

– Từ số liệu thống kê cho thấy: người phạm tội có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, túng thiếu chiếm tỷ lệ cao nhất với 130 người chiếm 86,1%; chỉ có 21 người chiếm 13,9% là có hoàn cảnh kinh tế gia đìnhổn định;

Như vậy, thực trạng của hoàn cảnh gia đình trong nghiên cứu nhân thân người phạm tội trên địa bàn quận Phú Nhuận cho thấy, người đã kết hôn, có con cái,

38

sống trong gia đình ít anh chịem và có kinh tế thuận lợithì sẽ ít phạm tội hơn những người còn lại.

2.2.4. Thực trạng đặc điểm về nơi cư trú, hộ khẩu thường trú

Trong Bảng phụ lụcsố2.9 thể hiện, số lượng bị cáo là người ngoài địa bàn quận Phú Nhuận, nhưng lại cư trú trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có số lượng lớn nhất, là 82 bị cáo, chiếmtỉ lệ54,3%. Tiếp đến là những bị cáo có hộ khẩu thường trú và tạm trú trên địa bàn quận là 48 người, chiếm tỷ lệ 31,8%. Số người ở

tỉnh/ thành phố khác có số lượng tương đối ít, có 14 bị cáo, chiếm tỷ lệ 9,3%. Còn lại có 07 bị cáo không có nơi ở ổn định, sống lang thang, chiếm tỷ lệ 4,6%.

Qua đó thấy được số bị cáo phạm tội trên địa bàn quận Phú Nhuận phần lớn là người tại địa phương và những người thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Chỉcó số ít là người tỉnh khác và những người không có nơi ở ổn định.

2.2.5. Về quốc tịch, dân tộc, tôn giáo

– Về quốc tịch: tất cả 151 bị cáo đều có Quốc tịch Việt Nam.

– Về dân tộc của những người phạm tội trên địa bàn quận Phú Nhuận, đasố các bị cáo là người dân tộc Kinh (có 148bịcáo, chiếm tỷ lệ 98,00%), chỉ có 03 bịcáo người dân tộc Hoa (chiếm tỷ lệ 2%).

– Xét về tôn giáo, có 03 bị cáo theo Phật giáo, chiếm tỷ lệ 2%; có 04 bị cáo theo Thiên Chúa giáo, chiếm tỷ lệ 2,6%; còn lại 144 bị cáo không theo tôn giáo nào, chiếm tỷ lệ 95,4%.

Như vậy, người phạm tội vềma túy trênđịa bàn quận Phú Nhuận đều làngười Việt Nam, đa số là người dân tộc Kinh và không theo tôn giáo nào.

2.2.6. Thực trạng về đặc điểm đạo đức, tâm lý

2.2.6.1. Về động cơ phạm tội

Qua nghiên cứu 151 bị cáo phạm tội về ma túy, thấy đa số người phạm tội vềma túy là người nghiện mà túy, do vậyđộngcơ, mục đích của các bị cáo là nhằm thỏa mãn sự tò mò, tìm sự mới lạ về cảm xúc, cảm giác, trải nghiệm, dùng ma túyđể giải tỏa căng thẳng, sẵn sàng chấp nhận rủi ro, số đông người phạm tội về ma túy họ đều muốn kiếm tiền một cách dễ dàng, họ có cuộc sống túng bấn, khó khăn vềkinh tế, không có việc làm ổn định, có tâm lý lười lao động. Kết hợp lại thì động cơ

39

phạm tội đối với người phạm tội về ma túylà để có ma túysửdụng và có tiền đểtiêu xài.

2.2.6.2. Về thái độ, quan điểm sống

Qua nghiên cứu những người phạm tội về ma túy, cho thấy những người cóthái độ, quan điểm sống của người phạm tội về ma túy là thỏa mãn nhu cầu khoái lạc và muốn có tiền mà không phải lao động,luôn thúc đẩyviệc phạm tội, vì tính chất phi lợi nhuận cũng như đặc thù dễ phi tang, tẩu tán của chất ma túy.

Ngoài ra, những người có thói quen lười lao động, sở thích ăn chơi đua đòi, cộng với ý thức coi thường pháp luật, bất chấp không quan tâm đến các quy chuẩn của đạo đức xã hội đãlàm con người dễ đi vào con đường phạm tội.

2.2.6.3. Về tệ nạn nghiện games, nghiện ma túy

Nghiên cứu 151bị cáo cho thấy, có 12 bị cáo nghiện games chiếmtỷlệ7,9%, đặc biệt, có tới 94 bị cáo nghiện ma túy chiếm tỷ lệ 62,3%.

Nghiện ngập, nhất là nghiện ma túy, đó chính là nguyên nhân phát sinh rất nhiều loại tội phạm, đặc biệt là các loại tội phạm về ma túy, để ngoài việc có tiền, thì còn có ma túy để các con nghiện sử dụng. Hay cũng chính là vì muốn có ma túyđể sửdụng, các con nghiện đã thực hiện hành vi phạm tội về ma túy, như tàng trữ,

mua bán, vận chuyển… trái phép chất ma túy.

Điển hình nhưbịcáo Lê Quốc Cường, sinh năm 1979, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 242/27 đường Hàn Hải Nguyên, phường 9, Quận 11, Thành phố Hồ ChíMinh, bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệ. Ngày 15/8/2000 bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 18 tháng tùvềtội sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 24/3/2003 bị đưa vào Trung tâm cai nghiện trong thời gian 24 tháng theo Quyết địnhbắt buộc của Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh; đến ngày 12/12/2013 áp dụng tiếp biện phát đưa vào cơ sở cai nghiện lần 2 cũng trong thời gian 24 tháng theo Quyết định của Chủ tịch UBND Quận 11. Vào khoàng 01 giờ 30 phút ngày 20/12/2016, Cường bị Công an bắt quả tang khi đang đưa ma túy đi bán cho con nghiện với trọng lượng ma túy là 50,0264gr loại Methamphetamine. Tại cơquan điều tra,Cườngkhai nhận do cần ma túyđể sửdụng và tiền để tiêu xài nên Cường đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán ma túy. Ngày 15/6/2017, với 2 tình

40

tiết định khung là phạm tội nhiều lần và khối lượng ma túy lớn, Cường bị Tòa án tuyên phạt 10 năm tù, phạt tiền 10.000.000đ theo Bảnán số60/2017/HSST. Nhưvậy, để có tiềntiêu xài và mua ma túy sử dụng, Lê Quốc Cườngđãbất chấp pháp luật, liều lĩnh thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

2.2.7. Thực trạng về đặc điểm pháp lý hình sự2.2.7.1. Về tiền án, tiền sự

Theo thống kê tại Bảng 2.10, nhận thấy trong 151 người phạm tội về ma túy thì đã có 42ngườicó tiền án, tiềnsựchiếm 27,8%, sốngười có tiền án nhưng đãđược xóa án tích là 16 bị cáo, chiếm tỷ lệ 10,6%. Trong số 151 bị cáo đã bị xét xử, có 14 bịcáo thuộc trường hợp tái phạm, chiếmtỷlệ9,3% và có 15 bịcáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, chiếm tỷ lệ 9,9%.

Đâylà vấn đềcần quan tâm trong công tác phòng chống tội phạm vì nhiều đối tượngđãtừng có tiền án, phải vào tù về các loại tội, trong số đó có cả tội liên quan đến ma túy nhưng khi ra tù vẫn tiếp tục tham gia vào việc phạm tội về ma túy, một số người nghiện ma túy chưa thật đoạn tuyệt với ma túy. Một vấn đề rất quan trọng nữa, đó là cách nhìn nhận của xã hội đối với những người đã từng có tiền án, tiền sự thường rất khắt khe, do vậy sau khi ra trại, những người có tiền án thường

rất khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, đâycũng chính là con đường dẫn đến việc tái phạm tội mới. Tuy nhiên cũng có trường hợp, là do bản chất lường biếng, thói quen sở thích nghiện hút nhưng không có quyết tâm từ bỏ, thái độ coi thường

pháp luật… nên vẫn tiếp tục phạm tội.

Trên thực tiễn xét xử ở địa bàn quận Phú Nhuận, điển hình như vụ Trần Bách phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Bách là đối tượng nghiện, không có nghềnghiệp. Khi còn chưa thành niên, bị cáo đã có nhân thân xầu phạm các tội nhưcướp giật tài sản bị đưa vào trường thiếu niên Gò Vấp, tội gây rối trật tự công cộng, tội trộm cắp tài sản phải đưa vào trường thiếu niên 3, có 01 tiền ánđã được xóa về tội cướp giật tài sản của công dân và đặc biệt là vẫn còn 05 tiền án về các loại tội khác. Bịcáo Bách vừa ra tù, do cần ma túyđểsửdụng và cần có tiền tiêu xài, nên lại phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và bị Tòa án quận Phú Nhuận xử phạt 14 năm tù với hai tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm và khối lượng ma túy lớn

41

theo Bản án số 07/2017/HSST ngày 05/3/2017.

Đối với bị cáo Lê Mộng Thu phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người không có nghề nghiệp, ngày 21/7/2002 bị Tòa án nhân dân Thành phố HồChí Minh xử phạt 20 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo Bản ánsố1006/HHST. Sau khi ra tù, ngày 29/12/2016 bịcáo lại bịCông an bắt vềhành vi mua bán trái phép chất ma túy, sốlượng ma túy thu giữcủa Thu là 13,1264gr Heroin. Bịcáo đã bịTòa án quận Phú Nhuận tuyên xử10 năm tù, phạt tiền 5.000.000đ với hai tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm và khối lượng ma túy

lớn, theo Bản án 64/2017/HSST ngày 28/6/2017 xét xử.

Hoặc như là bị cáo Mai Trí Cường phạm tội mua bán phép chất ma túy. Bịcáo Cường đã từng bị kết án về các tội danh khác như tại Bản án số 05/HSST ngày 12/01/2006 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 02 năm tù nhưng cho hưởng án treovề tội cướp tài sản; Bản án số 59/HSST ngày 24/5/2007 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử 03 năm tù về

tội cưỡng đoạt tài sản. Đến ngày 25/6/2013 bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, bị Tòa án quận Phú Nhuận xử phạt 7 năm tù với tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm theo Bản án số 144/2013/HSST ngày 18/12/2013.

2.2.7.2. Về thái độ thành khẩn khai báo, mức án và đồng phạm

– Về thái độ thành khẩn: Qua nghiên cứu 151 bị cáo bị xét xử, có 147 bị cáo (chiếm 97,4%) có thái độ khai báo trung thực, thành khẩn, sẵn sàng hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, vì đasố các bị cáo đều bịbắt quả tang nên không thể che giấu hành vi phạm tội của mình và để nhận được sựkhoan hồng của pháp luật.

Tuy nhiên, vẫn còn có một số ít bị cáo (04 bị cáo, chiếm tỷ lệ 2,6%) còn cóthái độ không thành khẩn khai báo, quanh co, chối tội, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án.

Điển hình nhưvụ Cao Vũ Bình và Nguyễn Quang Bình phạmtộimua bán trái phép chất ma túy, bị Tòa án tuyên xửtại Bản án số 13/2017/HSST ngày 18/01/2017 và vụ Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Thị Ngọc Hằng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, bị Tòa án tuyên xửtại Bản án số 05/2016/HSST ngày 09/02/2016. Các bị cáođềulà những đối tượng nghiện, rồi thực hiện hành vi phạm

42

tội, tuy nhiên sau khi bị bắt, các bị cáo đều đã không thành khẩn khai báo, không thể hiện sựăn năn hốicải, các bị cáo cố tình khai báo quanh co nhằm mục đích giảm nhẹ trách nhiệm của mình.

-Về mứcán: qua nghiên cứu 151 bị cáo đã bị xét xử, nhận thấy không cótrường hợp nào được hưởng án treo. Tất cả 151 bị cáo đều bị tuyên xử mức án là tùgiam.

– Về đồng phạm: qua nghiên cứu 151 bị cáo, nhận thấy có 60bịcáo là thực hiện hành vi phạm tội một nình, chiếm tỷ lệ 39,7; còn 91 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cùng đồng phạm, chiếm tỷ lệ 60,3%.

Như vậy, nghiên cứu thực trạng về đặc điểm nhân thân người phạm tộivềma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận nhận thấy có những đặc trưng cơ bản như sau: chủ yếu là Nam giới (chiếm tỷ lệ 80,8%); lứa tuổi từ 18 đến 50 tuổi (chiếm tỷ lệ 91,4%); có trình độ học vấn thấp (chiếmtỷlệ 61%);bị cáo là người ngoàiđịa bàn quận nhưng thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm tỷ lệ 54,3%); không có nghềnghiệp (chiếm tỷ lệ 77,5%); chưa kết hôn (chiếm tỷ lệ 51%); đã có con (chiếm tỷ lệ42,4%); sống trong gia đình đông anh chị em (chiếmtỷlệ 60,3%); sống trong giađình có hoàn cảnh kinh tế không thuận lợi (chiếm tỷ lệ 81,6%), và người phạm tội có tiền án, tiền sự (chiếm tỷ lệ 27,8%).

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh Nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *