Chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam
MỞĐẦU
1. Sự cần thiếtcủaviệc nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử nhân loại, quanhệ HN&GĐ được đánh giá là một trong những quanhệ xã hộimang tính chất phổbiến và bềnvững nhất. Xétvềmặthình thức, hôn nhânđược biểuhiệncụthể là quan hệ giữa vợvà chồng nhằm thực hiệnmột
trong những chức năng quan trọng là tái sản xuất ra sức lao động cho xã hội – tái sảnxuất ra con người. Với một quốc gia mang nặng truyền thống Á Đông như Việt Nam,từxưa, việc sinh conđể nối dõi tôngđườngđược xem như là vấnđề quan trọng nhất trong quan hệ hôn nhân, không sinh được con dù là vì lí do nào cũng bịxem là cái tội (“bất hiếu hữu tam, vô hậuvi đại”- tội bất hiếucó ba điều: không cócon nối dõi là tội lớnnhất). Không chỉ vậy, việc không sinhđược con còn ảnh hưởng phần nàođếnhạnh phúc của mỗi gia đình. Do đó, sự kết hợp của các cá thể nam và nữ trong xã hội để tạo ra thế hệ trẻ, duy trì nòi giống là một tấtyếuvà tuân theo quy luật tự nhiên. Trên cơ sở đó, một trong những vấnđề thuộc về quyềncon người luônđược pháp luật tôn trọng và bảovệ là quyền làm cha, làmmẹ – quyền “thiêng liêng” của bất kỳ cá nhân nào. Vấn đề này đã được ghi nhận và cụ thể hóa ngay trong vănbảnquy phạm pháp luật có giá trị cao nhất của Nhà nước ta là các bảnHiến pháp qua các thời kỳ. Điều này đã thể hiện quanđiểmcủa Nhà nước Việt Nam là luôn bảo vệ quyền được làm cha, làm mẹ của mỗi người,tạo điềukiện và cơhội tốt nhất cho các chủ thể thực hiện thiên chức cao quý đó của mình.
Tuy nhiên, trên thực tế, không phải cá nhân nào cũng maymắncó thể thực hiện thiên chức làm cha, mẹ một cáchtựnhiên như quy luật vốn có. Vì nhiều lí do chủ quan và khách quan khác nhau, nhiều cặp vợ chồng đã không thể tự mình sinh con và thực hiện quyền thiêng liêng mà tạo hóa ban tặng cho con người.Điềunày
lạicàng mang tính bức thiết hơn trong điều kiện hoàn cảnh xã hội ngày nay, với sựthayđổi của của nhiềuyếutốmang tính chất ngoại cảnh tác độngnhư an toànvệ sinh thực phẩm, môi trường, sự thay đổi quan niệm về tình yêu và hôn nhân dẫnđến
tình trạngnạophá thai gia tăng…càng làm chosốlượngcác cặpvợchồng không sinh được con có xu hướng tăng lên rõ rệt. Theo kết quả thống kê, Việt Nam có tỷ lệ
vô sinh trong nước khá cao (chiếm khoảng 7,7%) tương đương với khoảng 1 triệu cặpvợchồng hiếm muộn trongcảnước1. Ngày nay, y học phát triển đemđếnhi vọng cho những cặp vợ chồng rơi vào hoàn cảnh thiếu may mắn nói trên cơ hội làm cha làm mẹ của những đứa con do chính họ sinh ra bằng sự can thiệp của kỹ thuật hỗtrợsinh sản. Song trong một sốtrườnghợpđặcbiệt, ngaycảkhi việc áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sảnđược phápluật cho phép cũng không đemlại kết quảthì dường như việctìm đếngiải pháp MTH được xem như là một nhu cầu thực tiễn và không thể hạnchế trong xã hội mặcdù trước đâyhệ thống pháp luật nghiêm cấm2. Bởi theo lẽ thường, khát khao có được một đứa con sinh ra mang cùng huyết thống với chính mình là một nguyện vọng chính đáng của bất kỳ cá nhân nào. Dođó,mộtkhibảnthânngườiphụnữ- người vợkhông thể mang thai (vì các lý do như mắc bệnh hiểm nghèo, không cótửcung, tử cung không có khả năng giữ thai
nhi…) nhưng chính bản thânhọ vẫncó đủ các điềukiện về mặt sinh học khácđể cóthể kết hợp tạophôi sinh con thì việc họ nhờ người khác MTH như một giải pháp mang tính chất ưu việt nhất là điều dễ hiểu.
Song, trước đây, do những ràocản vềmặtpháp lý, MTH chủyếuđược thực hiện dưới hình thức các “hợp đồng đẻ thuê”,có nghĩa là việc MTH được thực hiện một cách phi pháp thì những hệ lụy của vấnđề này trở nên khá phức tạp, tạo nên những rủi ro cho các chủ thể và ngay cảbảnthân đứa trẻ được sinh ra. Thậm chí, trong một số trường hợp, việc thực hiện MTH đem lại kết quả không mong đợi nhưđứa trẻ sinh ra bị Down,dị tậtbẩmsinh… màcảngười mang thai và người nhờmang thai đềukhông muốn nhận con thì vấnđề này còn có thể trởthành những gánh nặng cho xã hội. Một số trường hợp khác cóđiều kiệnkinh tế hơn, các cặp vợchồng vô sinh cũng có thể lựa chọn biện pháp tới những quốc gia cho phép MTH
như Thái Lan, Ấn Độ… để thực hiện phương pháp này. Tuy nhiên, hệ lụy phát sinh sau đó cũng trở nên vô cùng khó khăn, đặc biệt là việc giải quyết mối quan hệ nhân thân giữa đứa trẻ được sinh ra và cặp vợ chồng MTH khi trở về nước là không hềđơn giản.
1 XemCẩmAnh, Hơn một triệu cặp vợ chồng Việt Nam bị vô sinh hiếm muộn, truy cập ngày 14/4/2019. https://vnexpress.net/suc-khoe/hon-mot-trieu-cap-vo-chong-viet-nam-bi-vo-sinh-hiem-muon-3906856.html
2 Xem Điều 6 Nghịđịnh12/2003/NĐ – CP.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn và thực trạng pháp luật nói trên, Luật HN&GĐ năm 2014 được thông qua ngày 19/6/2014 và có hiệu lực ngày 1/1/2015 đã có nhiều thay đổi quan trọng. Trong đó, đáng quan tâm nhất là lần đầu tiên vấn đề MTHVMĐNĐđược phápluật ghi nhận và cho phép thực hiện. Điều này đã tạo ra hi vọng cho những cặp vợ chồng mặc dù đã áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản khác nhưng vẫn không thể thực hiện thiên chức của mình cơ hội được làm cha mẹcủa những đứa trẻ có cùng huyết thống với họ một cách hợp pháp. Đây được xem như một bước ngoặt quan trọng, một bước tiếntáobạonhưng cũng đầy chất nhân văn trong chính sách pháp luật của Nhà nước ta đối với các trường hợp hiếm muộn con. Bởi suy cho cùng, pháp luật không phải lúc nào cũng phục vụ cho số đông màcòn là công cụbảovệ cho số ít người yếu thế trong cộng đồng. Điều này cũng đồng thời giải quyết đượcnhững tranh chấp đang diễn trên thực tế khi tình trạng MTH vẫntồn tại tương đối phổ biến nhưng lại thiếu sự điều chỉnh của pháp luật và cơ chế giám sát của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực nói trên, việc Quốc hội thông qua quy định cho phép MTHVMĐNĐ cũng có nhiều quanđiểmtrái chiều. Trong đó, vấn đề nhãn tiềnđược dư luậnquan tâm nhất hiện nay là tính thực thi của quy định này liệu cóthực sự đápứng được yêu cầu của thực tiễn. Bởi theo đánh giá của một số chuyên gia, MTH tại Việt Nam nhânđạonhưng còn nhiều bất cập. Bởi rõ ràng, một khi hợp pháp hóa quy định này, MTHVMĐNĐ cũng rất dễ bị biến thành một một loại hình dịchvụ để trục lợi. Vấn đề đặt ra là,cơ chế nàođể nhà nước quảnlý tốt nhất, tránh việc quy định về cho phép MTH đi ngược lại với bản chất nhân văn mà nhà làm luật hướng tới. Mặt khác, mặc dù đã được hợp pháp hóa, song quy định vềMTHVMĐNĐvẫncòn khá nhiều ràocảncho cácchủthể nếumuốnđược chấp nhận thực hiện phương pháp này.Bởisựthận trọng trong các quyđịnhliên quanđếnlĩnh vực này dường như làm cho “cánh cửa pháplý” trởnên quá hẹp đối với các cặp vợ chồng hiếm muộn mong muốn thực hiện việc MTHVMĐNĐ so với nhu cầu thực tế.Điềunày dẫn tới việc các cặp vợ chồng khi không đủ điều kiệnvẫnbất chấp sự nghiêm cấm của phápluật để thực hiệnmong muốn có con của mình. Có cầu ắt có cung. Thực tiễn cho thấy hoạtđộngMTH “chui” vẫntồntại trên thực tế. Thị trường này dường như lúc nào cũng “nóng” và khó kiểm soát.
Trên cơ sở những phân tích nêu trên, với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về chế định MTH – một trong những vấnđề được đánh giá là hoàn toàn mới, tác giả lựa chọn thực hiệnđề tài“Chế định mang thai hộtheo pháp luật Việt Nam” cho luận án tiến sĩ của mình, với hi vọng có thể tiếp cận một cách cóhệ thống, đầyđủ và toàn diện nhất các vấnđề pháplý và thực tiễn cóliên quan. Trên cơsởđó,tác giả có thể đềxuất những giải pháp hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với MTH–mộtvấnđề mới vàmang tính thời sự cao tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiêncứuluận án nhằmhướngđếnmục đích đánh giá toàn diện và mang tính hệ thống cơ sở lý luận về chế định MTH, thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện quyđịnhcủa pháp luật Việt Namvề MTH nói chung và MTHVMĐNĐ nói riêng nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện phápluật về vấnđề này.
Trên cơsở mục đíchnghiêncứunói trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu cụthể sau đây:
– Làm rõ khái niệm,đặcđiểmvà ýnghĩa của MTH và MTHVMĐNĐdưới nhiều góc độ trong đó quan trọng là trên phương diệnđảmbảotính nhân đạo; Tôn trọng và bảovệ quyền con người; Đồngthời làm rõ các khái niệm,đặcđiểm,nội dungvềchế định MTH.
– Nghiêncứuvề lịchsửphát triển của pháp luật về MTH trên thế giới và tại Việt Nam; Các quanđiểmlậppháp về MTH ở các quốc gia điển hình trên thế giới về việccho phép hay không cho phép MTH; Đánh giá các yếutốtác động đến pháp luật điềuchỉnh MTHVMĐNĐ ở Việt Nam hiện nay.
– Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các nội dung liên quanđếnchế định MTH cũng như pháp luật của một số nước trênthếgiớivề lĩnhvựcnày.Từđórút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong xây dựng và thực thi pháp luật.
– Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật liên quanđếnchế định MTH tại Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, tácgiảchỉ ra những những thuận lợi và hạn chế và
nguyên nhân của những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật; đánh giá tính thực thi pháp luật trong quá trình áp dụng về MTH.
– Trên cơsởphân tích và đánh giá cơsởlý luận và thực tiễn của chế định MTH, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về MTHVMĐNĐ, tác giả đưa ra đề xuất, kiến nghị có tính khả thi nhằm hoàn thiện quy định của pháp luậtđiềuchỉnhvề chế địnhMTH cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về vấnđề này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về chế định MTH; Quyđịnh của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về MTH trong đó chủyếu là vấn đềMTHVMĐNĐ trong Luật HN&GĐ năm 2014 và một số văn bản quy phạm pháp luật cóliên quan; Pháp luật của một số nước trên thế giới về MTH; Thực tiễn thực hiện pháp luật về MTH ở Việt Nam thông qua những vụ việc MTH cụ thể trên thực tế trong những năm gần đây.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
– Về mặt nội dung, luận án nghiên cứu về chế định MTH nói chung. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện hànhchỉcho phép thực hiện MTHVMĐNĐ, dođótrong phạm vi nghiên cứu, đặc biệt là về thực trạng pháp pháp luật, luận án chủ yếu tập trung làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về MTHVMĐNĐ. Đồng thời, luận án tập trung phân tích, đánh giá các quy định trong pháp luật nội dung về MTH mà ít chútrọng đến các vấn đề liên quan đến pháp luật hình thức, về thủ tục tố tụng điều chỉnh vềgiải quyết tranh chấp liên quan đến MTH; Luận án tập trung luận giải những quy định của pháp luật Việt Nam về MTH và MTHVMĐNĐ trong các văn bản quy phạm pháp luật như Luật HN&GĐ; BLDS; BLHS; Luật BHXH; Luật Nuôi con nuôi; …và các văn bảnquy phạm pháp luậthướngdẫnthi hành, trongđótrọng tâm là những quyđịnh trong Luật HN&GĐ năm 2014. Mặt khác, để đảm bảo tính phù hợp với mã ngành nên trong khuônkhổphạm vicủađềtài,nộidungcủaluận án giớihạnnghiêncứuvềMTHVMĐNĐ không có yếu tố nước ngoài.
– Về mặt không gian và thời gian, luận án thực hiện việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về MTHVMĐNĐ tại Việt Nam từ 2015 – 2019.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin với phép biện chứng duy vật và lịch sử, gắn kết với tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm,đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về các vấn đề trong quan hệ HN&GĐnói chung và MTHVMĐNĐ nói riêng. Bên cạnh đó, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành được sử dụng để thực hiện đề tài như phương pháp lịch sử, phương
pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và so sánh, phương phápxã hội học …đểgiải quyết các vấn đề về nội dung nghiên cứu của luận án. Các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh luật sẽ được sử dụng triệt để nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như các quy định của pháp luật hiện hành về MTHVMĐNĐ. Đặc biệt, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình và phương pháp thống kê để thực hiện việc đánh giá tình hình thực hiện chế định MTH hiện nay nhằm đưa ra cách nhìn khách quan về thực trạng thực hiện pháp luật về MTH ở nước ta trong giai đoạn gần đây.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu khoa học, nghiên cứu toàn diệnvề chế định MTH nói chung và MTHVMĐNĐ nói riêng theo pháp luật Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và hoàn thiện những vấnđề lý luậnkhoa học pháp lý về chế định MTH, pháp luật HN&GĐ và làm phong phú thêm kho tàng tri thức khoa học pháp lý. Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảngdạyvà học tậpkhoa học luật tại các cơsởđàotạo, nghiêncứu
luật …Luậnán cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan thi hành và áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề có liên quan đến chế định MTH còn khá mới mẻ tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6. Những đóng góp mớicủaluận án
Trên cơsởnghiêncứunhữngvấnđềlý luận và thực tiễnvề chế địnhMTH một cách toàn diện và hệ thống, kết quả nghiêncứucủa luận án có những đóng góp mới về phương diện lý luận và thực tiễn như sau:
-Vềtổng thể, luận án là công trình nghiêncứutoàn diện và mang tínhhệthống, chuyên sâu về chế định MTH theo pháp luật Việt Nam.
– Luận án xây dựng, bổ sung và làm phong phú thêm cơ sở lý luận về MTH dựa trên những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về nội dung có liên quan; Xây dựng các khái niệm khoa học, đảmbảotính học thuật, đánh giá đúngbảnchất về chế định MTH, MTHVMĐNĐ. Đây là cơ sở lý luận quan trọng nhằm xác định nội hàm của quanhệpháp luật từđótạocơsởcho việc xây dựng và áp dụng pháp luật thống nhất, hiệu quả và minh bạch; Luận án cung cấp những đánh giá khách quan về nhu cầuthực tiễn trong việc thực hiện MTHtừ đócho thấysựcầnthiết trong việc xây dựng và điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật đối với quan hệ pháp luật này.
– Luận án đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành trong mối liên hệ giữa các quy phạm pháp luật, giữa các chế định có liên quan và giữa các văn bảnquy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh về MTH từ
từđó cung cấp những góc nhìn toàn diện về thực trạng pháp luật Việt Nam về chế định MTH, chỉ ra những điểm tích cực cũng như những hạn chế, bất cập cần hoàn thiện; Đồng thời, luận án so sánh các vấnđề liênquan đến thực trạng pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia điển hình đại diện cho các nhóm nước thừa nhận MTH cảvề mụcđích nhânđạolẫnthương mại; nhómnướcchỉ thừa nhận MTHVMĐNĐ; nhóm nước nghiêm cấm MTH trên thế giới để làm rõ quanđiểmlập pháp của các quốc gia khi nhìn nhận quan hệ xã hội này. Từ đó, luận án cung cấp những góc nhìn đa chiều, toàndiện về vấnđề nghiên cứu.
– Luận án làm rõ những tác động về mặt pháp lý cũng như thực tiễn trong quátrình áp dụng và thực thi các quy định của phápluật điềuchỉnh về MTHVMĐNĐ. Từ đó chỉ ra những khó khăn, vướng mắc cũng như nguyên nhân của những tồn tại, hạnchế trong quá trình thực hiện pháp luật của các chủ thể có liên quan.
– Trên cơsởphân tích, đánh giá khoa họcvề cơsởlý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về MTH, luận án đề xuất phương hướng và giải phápđảm bảotính khoa học và có tính khả thi trong thực tiễn thực hiện phápluật vềMTHVMĐNĐ, góp phần khắc phục những hạn chế bất cập của pháp luật về MTH, tạocơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật Việt Nam điều chỉnh về vấnđề này.
7. Kếtcấu củaluận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm bốn chương được kết cấu như sau:
Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiêncứu
Chương 2. Những vấn đề lý luận về chế định mang thai hộ
Chương 3. Thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện phápluật vềchế định mang thai hộ
Chương 4. Phươnghướngvà giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế định mang thai hộ
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Các công trình nghiên cứu khoa học đãđược côngbốcó liên quanđến đề tài luận án
1.1.1. Luận án, luận văn
1.1.2. Bài viết trên tạp chí
1.1.3. Đề tài nghiên cứu khoa học; Kỷ yếu hội thảo khoa học
1.1.4. Sách chuyên khảo
1.1.5. Tài liệu nước ngoài
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu củaluận án
Qua nghiên cứu về các công trình nghiêncứucó liên quanđến đề tài luậnán, có thể nhận thấy rằng MTH nói chung, MTHVMĐNĐ nói riêng đã được quan tâm nghiêncứunhiều hơn trong khoảng thời giangầnđây. Tuy nhiên,sốlượngcác công trình khoa học nghiêncứumộtcách chuyên sâu dưới dạng các đề tài nghiên cứukhoa học trọng điểm hay sách chuyên khảo còn chiếmtỉlệ tương đối ít, chủ yếu các công trình nghiêncứutồn tại dưới dạng các luận văn, khóa luận, bài viết đăng trên cáctạpchí chuyên ngành hoặckỷyếuhộithảo. Mặtkhác,vềmặtnộidung, phần lớn các công trình nghiên cứu của các tác giả về MTH thường tiếp cận ở các góc độnhỏmà ít thấy các công trình nghiêncứuvới ýnghĩa là đề tài trọngđiểm hay sách chuyên khảo mang tính tổnghợpvà toàn diệnvề toànbộcác vấnđề lýluận cũng như thực tiễn liên quanđếnMTHVMĐNĐ theo pháp luật Việt Nam.Đồng thời, những công trình này cũng chỉ dừng lại ở góc độ lý luận cơbảnmà chưa đi vào nghiêncứuthực tiễn áp dụng pháp luật.Mặcdù vậy, có thể nhận định rằng dùởgóc độlý luận hay thực tiễn, các công trình nghiêncứutrước vẫncòn nhiều vấnđề chưa được giải quyết triệt để. Cụ thể như sau:
1.2.1. Về lý luận
Các công trình nghiên cứu đã nói ở trênmặcdù đã tiếp cận cơsởlý luận cơbảnsong vẫn còn một số vấnđề cầnphải được tiếptục hoàn thiện trong luận án:
1.2.1.1. Về khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của mang thai hộ và mang thai hộ vìmục đích nhân đạo
Quá trình nghiên cứu các công trình khoa học của các tác giả, nghiên cứu sinh nhận thấy khi phân tích các khái niệm MTH, MTHVMĐNĐ, các tác giả đánh giátrên cơsởcác điều khoản giải thíchtừngữđược đề cậptại Điều3 Luật HN&GĐnăm 2014. Tuy nhiên, bản thân nghiên cứu sinh cho rằng các quan điểm về MTH, MTHVMĐNĐ hiện nay vẫn bộc lộmột số hạnchế, chưa thể hiệnsựphù hợp với bản chất của quan hệ pháp luật gây ra những cách hiểu khác nhauvề MTH, MTHVMĐNĐ như phương thức thực hiện là quan hệ sinh lý trực tiếp hoặc thụ tinh nhân tạo.Vềđặcđiểmcủa MTHVMĐNĐ,đâylà cơsởlý luận quan trọng trong
việc đánh giá quy phạm pháp luật. Bànvề vấnđề này, tác giả Trần Đức Thắng phân tích tại bài viết “Một số vấnđềvềthực hiện quy định của pháp luật hiện hànhvềMTH ởViệt Nam”. Theođó,tác giả đưa ra quan điểm, MTHVMĐNĐ có các đặc
điểmsau: tính nhânđạo– kỹ thuật; tính tự nguyện; tính phi thương mại; tính thỏa thuận và đặcđiểmvề chủ thể. Tuy nhiên, đánh giá về đặcđiểmcủa MTH còn phải dựa trên các yếutốvề khách thể cũng như nội dung của quan hệ pháp luật này. Dođó,khi xem xét về mặt cơsởlý luận, việc nhận diện các đặcđiểmcủa vấnđềnghiên cứu sẽ góp phần đánh giá một cách toàn diệnvà đầyđủ nội hàmcủa quanhệxã hội cần tiếp cận. Trên cơ sở đó, nghiêncứusinh cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa vấnđề nàytrong luận ánđể làmrõ cơ sơ lý luận của đề tài nghiên cứu.
Vềý nghĩa của MTHVMĐNĐ được một số công trình nghiêncứuđề cập đến. Tuy nhiên, các công trình nghiêncứuchủ yếuđề cập ý nghĩa dưới ba góc độ chính là về mặty học; ý nghĩa nhân văn và ý nghĩa về mặt thực hiện chức năng của gia đình. Tuy nhiên, nghiêncứusinh cho rằng, để đánh giá tổng quanvề vấnđề này cần xem xét thêmvề các phương diện lý luậnvề quyền con người; Vềphong tục tập quán,về lợiích gia đình, cá nhân và xã hội. Dođó,quá trình hoàn thiện luận án, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục phát triểnvấnđề này trên cơ sở kế thừa các luậnđiểm khoa học có giá trị tham khảo của các tác giả cũng như bổ sung những luậnđiểm phù hợp có giá trị thuyết phục hơn nữa.
1.2.1.2. Về khái niệm, đặc điểm và nội dung của chế định mang thai hộ
Khái niệm, đặcđiểmvà nội dung của chế định MTH là vấnđề ít được các nhànghiêncứutiếp cận. Liên quanđếnvấnđề này, các tácgiả chủ yếunghiêncứuvềkhái niệm MTH nói chung và MTHVMĐNĐ nói riêng mà chưa cósựđánh giáMTh với tư cách là một chế định pháp lý, điển hình như trong các công trình nghiên cứusau: Luận văn thạc sĩ Luật học của Bùi Quỳnh Hoa (2014) về “Một số vấnđề về lý luận và thực tiễnvề mang thai hộ”, Trường Đại họcLuật Hà Nội; Luận văn thạc sĩ Luật học của Phạm Thị Hương Giang (2015)về “Mang thai hộ trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014”, Khoa Luật – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội,…Mặt khác, với tư cách là một chế địnhpháp lý, khái niệm nàycầnđược tiếpcậndưới nhiều phương diện, đặt trong mối liên hệ tổng hòa giữa các quy phạm phápluật từ
đó rút ra đặcđiểmcủa chế định pháp lý. Trên cơ sở định hướng trên, luận ánsẽ tiếp
tục hoàn thiện các vấnđề nàytrên cơ sở phân tíchbảnchất của chế định MTH dưới các khía cạnh khác nhau.
1.2.1.3.Về sựcầnthiết củapháp luậtđiềuchỉnhvề vấnđề mang thai hộvì mục đích nhân đạo
Đâylà vấnđề được khá nhiều tác giả quan tâm. Điển hình có các công trình nghiêncứuđề cậpđếnvấnđề này như:“Pháp luật vềmang thai hộvà giải quyết
tranh chấpởViệt Nam hiện nay –kinh nghiệm đối với Nhật Bản”, của tác giả Nguyễn Văn Cừ; “Cơ sở lý luận vàthực tiễncủa việc sửa đổi,bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và ban hành Luật hôn nhân và giađình mới”của tác giả Bùi Minh Hồng…Các bài viết này của các tác giả đều đưa ra các luận điểm khoa học giải thíchvề nhucầuđiềuchỉnhvấnđề MTH tại Việt Nam là tất yếukhách quan dựa trên nhu cầu về tình hình thực tiễn thực hiện quyền làm cha, mẹ của các cá nhân không may mắn trong xã hội và các căn cứvề mặtlý luận khác. Tuy nhiên, xuất phát từ việc các công trình đềutừtrong khuôn khổ của các đề tài và hội thảo với phạm vi hẹp nên sự phân tíchvề sự cần thiếtđiềuchỉnh bằng pháp luật không cóđủ điềukiện để đánh giá một cách toàn diện và chưa được nghiêncứu độc lập.
Với mục tiêu nghiêncứuhệ thống và tính chuyên môn sâu, nghiêncứusinh sẽ tiếp tục phát triểnvấnđề này bằng việc phân tích và đánh giá sựcầnthiết điều chỉnh quan hệ pháp luật về MTHVMĐNĐ dưới nhiềugóc độ: Vềmặtxã hội; Phong
tục –tậpquán,đạođức truyền thống; Góc độvề lợi ích của gia đình và cá nhân; Quanđiểmtưtưởngvề mặt lậppháp, chính trị của Đảng và Nhà nước; Các cơsởthực tiễn để làm rõ hơn về vấn đề MTH dưới sự cân bằng lợi ích của các chủ thể.
1.2.1.4. Về sự phát triển của vấn đề mang thai hộ và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trên thế giới và tại Việt Nam
Đây là một trong những nội dung rất ít được đề cập tại các công trình nghiên cứu. Bởi lẽ vấnđề về MTH còn khá mới mẻ so với các các quan hệ pháp luật khác nên các vấnđề về lịchsử phát triểnvề mặtlậppháp cũng như thực tiễnít được đánh giá có hệ thống và chuyên sâu. Tuy nhiên, nghiên cứu sinh nhận thấy rằng, nghiên cứuvề lịchsử của vấnđề sẽ cho thấy cái nhìn tổng quanvề quá trình hình thành,
tồn tại và phát triển của một quan hệ xã hội. Từ đó, có cơsở để đánh giá về sự cần thiết điều chỉnh của của pháp luật cũng như ý nghĩa của việcđiềuchỉnh vấnđề này dưới các góc độ lý luận và thực tiễn. Xét thấy ý nghĩa lịch sử của nội dung đã nêu, nghiêncứusinhsẽ tiếp tục bổsung những nghiêncứuvề quá trình hình thành và phát triển của kỹthuật MTH nói chung và MTHVMĐNĐ nói riêng qua các giai đoạnphát triển, đặt trong bối cảnh của sự hình thành vấnđề nàytrên thế giới và tại Việt Nam.
1.2.1.5. Về quan điểm lập pháp của các quốc gia trênthế giới vềmang thai hộCó khá nhiều tácgiả đề cập đến vấnđề này trong các công trình nghiên cứu
của mình. Chẳng hạn, tác giả Bùi Thị Quỳnh Hoa trong luận văn thạc sĩ của mình có tênđề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mang thai hộ” đã phân tích nội dung này tại mục 1.4 – Pháp luật về MTH của một số quốc gia trên thế giới; Luận văn thạc sĩ của tácgiảPhạmThịHương Giangvề“Mang thai hộtrong Luật Hôn nhân và gia đình 2014” cũng đề cập đến vấn đề này tại mục 1.5 – Nội dung MTH ởmột số quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, phần lớn các tác giả đều phân tích về luật thực địnhcủa các quốc gia này theo các nhómnước:cho phép MTH; cho phép MTHVMĐNĐ và nghiêmcấmthực hiện MTH dưới bất kì hình thức nào. Tuy nhiên, các công trình này chưa đưa ra những đánh giá đầy đủ và toàn diện về quanđiểmlậpphápdẫnđếnnhững cách nhìn trái chiềuvềMTH đểdẫnđếnsựđiều chỉnh khác nhau về mặt lập pháp. Trong khi đó, việc nghiên cứu các quanđiểm lập pháp của hệ thống pháp luật các quốc gia khác nhau rất có ý nghĩa trong việc đưa ra cái nhìn đa chiều và cóýnghĩa tham khảo trong việc xây dựng và hoàn thiệnhệthống pháp luật Việt Nam. Chẳng hạn, tácgiảEva Steiner đưa ra quanđiểmlập pháp của những nhà làm luật Cộng hòa Pháp trong bài viết“Surrogacy Agreements in French Law” trêntạpchí The International and Comparative Law Quarterly,
Vol.41, No.4, pp.866 – 875 cho rằng việc Pháp hoàn toàn phản đối hành vi MTH vìnhiều lý do trong đó có quanđiểm cơthể con người không phải là đối tượng để cho mượn hay để bán đi. Việc làm này là không nhân văn đối với con người. Như vậy, cùng một góc nhìn về tính nhân văn, về quyền con người, hệ thống pháp luật Việt Nam và Cộng hòa Pháp lại có sự điều chỉnh là khác nhau. Vậy cơ sở nàođể lý giải cho hiện tượng đó. Vì vậy, nghiên cứu sinh cho rằng, về mặt cơ sở lý luận thì đây là
một nội dung quan trọng và không thể thiếu để có thể đánh giá mang tầm phổ quát cũng như nhìn nhận sâu sắc hơn trong vấn đề nên hay không nên cho phép thực hiện MTHVMĐNĐ tại Việt Nam.
1.2.2. Về nội dung chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam 1.2.2.1.Về điềukiện thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Điềukiện thực hiện MTHVMĐNĐ là nội dung được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Đây có thể được xem là vấn đề mang tính chất trọng tâm của chế định về MTHVMĐNĐ. Trong đó, cóthể kể đếnnhững quanđiểmkhoa học thể hiện trong các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Theo quyđịnhcủapháp luật Việt Nam hiện hành, điều kiệnvềchủthểthực hiện MTH bao gồm: bên nhờ MTH và bên MTH. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn tồn tại rất nhiều ý kiến trái chiều xung quanh việc định nghĩa như thế nào là cặp vợ chồng vô sinh; Sử dụng thuật ngữ này liệu đã phù hợp chưa, liệu rằng chủ thể được quyền nhờMTH chỉbaogồmduy nhất là cặpvợchồng vô sinh theo quyđịnhcủa pháp luật đã đảmbảovà dung hòa lợiích của các chủthểkhác trong xã hộicũng cần được bảovệnhư quyền làm cha, mẹcủa cộngđồngLGBT, quyền làmmẹcủa người phụnữđơnthân…Nghiêncứutraođổi vềvấnđềnày thuhút được sựquan tâm của khá nhiều tácgiảnhư các bài viết của NguyễnThịLanvớicác tiêuđề“Mang thai hộvà nhữngvấnđềphát sinh”,Tạpchí Luậthọcsố4/2015; Sách chuyênkhảo “Người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam và vấn đề đổi mới hệ thống pháp luật” của tácgiảTrương Hồng Quang, (2014), NXB Chính trịquốc gia, Hà Nội; Bài viết “Một số khíacạnh pháp lý của việc bảo vệ quyền làm mẹcủangười phụnữđối với việc sinh con theo phương pháp khoahọc”của tácgiảBùi ThịMừng trongkỷyếuhội thảo khoa “Quyền làmmẹ- một sốgóc nhìn” do trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức,…Các công trình này hầu hết đều cho rằng chủthể có quyền nhờ MTH là cặp vợ chồng vô sinh như pháp luật quy định hiện nay làchưa phù hợp. Tuy nhiên, vấn đề xácđịnh đối tượng cóthể nhờ MTH là một trong những vấn đề tương đối nhạy cảm vì nếu không cẩn trọng sẽ dễ dẫn đến hệ quả biến tướngkhai thác thương mại trênvấnđềhết sức nhân văn này.Đồngthời hệquảnghiêm trọng hơn còn có thể tạo kẽ hở cho các đối tượng trục lợi buôn bán trẻ em; Buôn bán người và các hành vi vi phạm pháp luật hìnhsựkhác. Dođó,quá trình
nghiên cứu, nghiêncứusinh cho rằngcầnphải đánh giá nhìn nhận toàn diện hơn, trên cơ sở tiếp thu những quan điểm khoa học giá trị nhưng đồng thời cũng phải dựa trên những luận cứ về mặt lý luận và thực tiễn để xác định rõ chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật MTHVMĐNĐ có thể bao gồm những đối tượng nào.
TácgiảNguyễn VănCừkhi bànvề điềukiện MTH đã chỉra rằngđiềukiện tiên quyết đối với bên nhờ MTH thì bản thân họ phải là vợ chồng hợp pháp5. Bên cạnhđó,cặpvợchồng này còn phải đảmbảođiềukiện là không sinhđược con; đang không có con chung và đã được tưvấntâm lý và pháp lý. Đối với bên MTH ngoài các điềukiện nhưđã từng sinh con, chỉ được MTH một lần,ởđộtuổi phùhợp, đã được tư vấny tế, tâm lý và pháp lý…thì còn phải là người thân thích cùng hàng với bênvợ hoặcbên chồng của bên nhờ MTH. Tuy nhiên, tác giả cũng ra nhậnđịnhrằng, quyđịnhvề ngườithân thích trong Luật HN&GĐ năm 2014 và Nghị
định số 10/2015/ NĐ – CP là chưa thống nhất.6
TácgiảNguyễn Thị Lan cũng đưa các đánh giá liên quanđếnđiềukiện MTHVMĐNĐ theo quy định tại Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014, trong đó chỉ rõkhá nhiềuvấnđề bất cập liênquanđếnquy định này như hiểu như thế nào là đang không có con chung; Độtuổi như thế nàođượcxem là phù hợp;Sựđồngýcủa người chồngđược điềuchỉnh như thế nào trong trườnghợpngười chồngbị mất năng lực hành vi dân sự; Sự bó hẹp của pháp luật khi quy định người MTH phải làngười thân thích cùng hàng với bênvợ hoặcbên chồng của bên nhờ MTH…đã tạo ra những rào cản trong việc thực hiện quy định về MTVMĐNĐ.7
Các nhận định của các tác giả đã cung cấp rất nhiềulậpluận khoa học có giá trị. Tuy nhiên, bản thân nghiêncứusinh nhận thấy rằng để hoàn thiện hơn các quyđịnh về điềukiệnđối với việcthực hiện MTHVMĐNĐ ngoài việc phân tích làm rõnội hàmcủa vấnđề còn phải đặt các quy định về điều kiện theo pháp luật hiện hành trong mối liên hệ với các chế định của cùng ngành luật và các chế định liên ngành khác để đánh giá toàn diện về sự phù hợp của vấn đề này. Trên cơsở định hướngđó, nghiêncứusinh sẽ tiếp tục tiếp thu các quanđiểmkhoa học có giá trị và phát triểnvấnđề này một cách sâu rộng hơn.
5 Xem Nguyễn VănCừ, Pháp luật về MTH ở Việt Nam, Tạp chí Luật học số 6/2016, Tr.17 6 Xem Nguyễn Văn Cừ, đd, Tr.18
7 Xem Nguyễn Thị Lan, Mang thaihộvà những vấn đềphát sinh, Tạp chí Luật học số 4/2015, Tr.12
1.2.2.2. Về quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ
Vấn đề về quyềnvà nghĩa vụ của các bên tham gia MTHVMĐNĐ cũng được đề cậpkhá nhiều trong các công trình nghiêncứucủa các tác giả. Chẳng hạn:
Tác giả Nguyễn Quế Anh đề cập vấnđề này tại bài viết“Quy định vềmang
thai hộ– một số nội dung mới trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014”. Tại trang 57
– 58, tác giả đã nêu ra các quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụcủa các bên và theo tác giả quy định như trênlà cụthể, chi tiết.
Trong khi đó, bànvề vấnđề này tác giả Nguyễn Thị Lan đưa ra quanđiểmcho rằng một số nội dung quy định về quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai và bên nhận MTH vẫn còn một số vướng mắc. Tác giả cũng đặt ra hàng loạt giả thuyếtvề các vấnđề thực hiệnquyền và nghĩa vụ như: Cơ chế kiểm soát nghĩa vụ thăm khámđối với bênMTH; Hạn chế quyền quyết định về việc tiếp tục mang thai hay không; Thời hạn nhận con sau khi sinh là bao lâu; Trong thời gian mang thai nhưng các bên
bất đồng về việcgiữvà bỏ thai nhi vì phát hiện dị tật giải quyết như thế nào?….8
Trong phạm vi bài viết khác, tác giả Nguyễn Thị Lan cũng đưa ra nhận định rằng quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong Luật HN&GĐ năm 2014 chỉ
nên đặt ra giữa các chủ thể là bên MTH và bên nhờ MTH; Giữa các bênvới đứa trẻ được sinh ra mà không nên quy định về các lợi ích an sinh mà các bênđược hưởng. Các chính sáchvề an sinh xã hội nênđược điềuchỉnh bởi các vănbảnquy phạm trực tiếp có liên quan sẽ phù hợp hơn về mặt kỹ thuật lập pháp.9
Các giả thuyết trên được đưa ra là hoàn toàn có cơ sở, có khả năng xẩy ra cao trong việc áp dụng trên thực tiễn. Tuy nhiên, nghiêncứusinh cho rằng để giải quyết triệt để các vấn đề được nêu trên cần thiết đưa ra các giải pháp có tính khả thi. Với mục tiêu nghiêncứuhệ thống và chuyên sâu, trong quá trình hoàn thành luận án, nghiêncứusinh sẽ tiếp tục tiếp thu các quanđiểmkhoa học có giá trị trên đồng thời bổ sung các giải pháp hoàn thiện có tính khả thi góp phần xây dựng hệ thống pháp luật đảm bảo quyềnlợi của của các chủ thể được bảovệ nhưng đồng thời cũng cóthể xây dựng cơ chế bảo đảm các nghĩa vụ pháp lý của các bên được thực thi.
8 Xem Nguyễn Thị Lan, Chuyên đề 12 – Chế định mang thai hộ theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014,Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường đại học Luật Hà Nội, 2015, Tr.283 – 284.
9 Xem Nguyễn Thị Lan,Vấnđềxácđịnhcha, mẹ, con và mang thaihộtheo dự thảo Luật Hôn nhân và giađình 2014, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 5/2014, Tr.25.
Mặt khác, nghiêncứusinh cũng nhận thấy rằng việc tiếpcậnnghiên cứu không chỉ đặt ra trong phạm vi các quyđịnhcủa Luật HN&GĐ mà cầnphải đặt trong mối liênhệ vớicác ngành luật khác có liên quan như BLDS, BLHS, Luật Nuôi con nuôi… Vấn đề này hiện rất ít nhà nghiêncứuquan tâmđề cập đến. Dođó,để đánh giá toàn diệnvấnđề này thì việc nghiêncứuvề quyền và nghĩa vụ giữa các chủthể trong góc nhìn đa chiều rất cóýnghĩa trong việcbảovệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đặc biệt là đối với trẻ em.
1.2.2.3. Về thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Thỏa thuậnvề MTHVMĐNĐ là một trong nhữngnộidung khá quan trọng trong chế định về MTH theo pháp luật Việt Nam. Việc làm rõ bản chất, nội dung và hình thức của thỏa thuận MTH giữa các bêntạocơsởpháp lý vững chắc cho việc xem xét hiệu lực của việc thực hiện MTHVMĐNĐ cả về khía cạnh pháp lý cũng nhưthực tiễn. Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu hiện nay phân tích chuyên sâu về vấn đề thỏa thuận về MTH còn rất ít, nội dung tản mạn và chủ yếu được lồng ghép trong các bài viết đánh giá về quy định về MTH nên tính hệ thống hóa chưa cao. Về nội dung này có một số ít tácgiả đề cậpvà đưa ra quan điểm như sau:
Tác giả Trần Đức Thắng đưa ra nhận định cho rằng nội dung của vănbảnthỏa
thuận MTH theohướng dẫncủa Nghị định số 10/2015/NĐ – CP bao gồm: việc giải quyếthậuquả trong trường hợp có tai biếnsảnkhoa; hỗ trợ để đảmbảosức khỏe sinh sản cho người MTH trong thời gian mang thai và sinh con; việc nhận con của bên nhờ MTH…hiện chưa cóhướng dẫn cụthể.10
Đề cậpvấn đề trên trong phạm vi của hội thảo “Những nội dung liên quan đến dự thảoLuật Hôn nhân và gia đìnhsửa đổi”,tác giả Nguyễn Thị Lan cũng đưa ra các phân tích về nội dung quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai và bên MTH nhưnghĩa vụ đảmbảosức khỏe cho bên mang thai, nghĩa vụ nhận con, quyền yêu cầu cơquan có thẩm quyền can thiệp khi người mang thai có hành vi gây nguy hiểm cho thai nhi hoặc đứa trẻ được sinh ra trong thời gian bên nhờ MTH chưa nhận con.11
10 Xem TrầnĐứcThắng, đd, Tr.59.
11 Xem Nguyễn Thị Lan, Mang thai hộ – mộtsố vấn đềlý luận và thực tiễn,Kỷyếu Hội thảo khoa học cấp
trường: Tuần lễ Pháp luật Việt – Đức, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2014.
Như vậy, có thể nhận thấy thỏa thuận MTHVMĐNĐ là sự ràng buộc giữa các bên nhằmbảohộquyền và nghĩa vụcủa các bên tham gia tránh tình trạng đơn phương chấm dứt thỏa thuận(đặcbiệt là đối với bên nhận mang thai). Dođó,quyđịnh liên quanđếnthỏa thuận về MTHVMĐNĐ là một trong những nội dung cầnđược quan tâm sâusắccảvề phương diện lý luậnlẫnthực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, nhữngvấnđề pháp lý phát sinhvề thỏa thuận MTHVMĐNĐvẫnchưa được giải quyết triệt để. Vì thế, hoàn thiện quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam cũng như xây dựng hành lang pháplý về vấnđề nàylà một trong những yêu cầu quan trọng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án.
1.2.2.4. Về giải quyết tranh chấp trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Bài viết phân tích khá cặn kẽ nội dung này cóthể kể đếnlà của tác giả Nguyễn Thị Lan bànvề “Mối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình 2014 vàBộ luật Tốtụng dân sự 2015 về giải quyết các vụ việc hôn nhân và giađình”.Theo quanđiểm của tác giả, Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định cụ thể các trường hợp có tranh chấp về MTH khi vi phạm điều kiện hoặc MTHVMĐTM. Trong khi đó, BLTTDS năm 2015 quyđịnhchung chung, không rõ ràng và có thể gây hiểu nhầm.12 Mặt khác, tác giả cũng nhận định rằng, cần xác định các tranh chấp về sinh con bằng kỹthuật hỗ trợ sinh sản, MTH cụ thể là những loại tranh chấp nào. Chẳng hạn, tranh
chấpvề xácđịnhquanhệ cha, mẹ, con giữa cặpvợchồng vô sinh; tranh chấpvề MTH do vi phạmđiềukiện; MTHVMĐTM…nếu các tranh chấp này phát sinh thìcần được giải quyết nên phải có các hướng dẫncụthể.13
Đồngquanđiểmtrên, tác giả Nguyễn Thị Phương Linh cũng cho rằng việc xácđịnh việcbên nhờ MTH nghi ngờ đứa trẻ được sinh ra không được hình thành từnoãn hoặc tinh trùng của họ thì cần thiết quy định cho phép các chủ thể này có
12 Xem Nguyễn Thị Lan,“Mối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Bộ luậtTố tụngdân sự 2015 về giảiquyết cácvụ việchôn nhân và gia đình”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 10/2017, Tr.17
13 Xem Nguyễn Thị Lan,“Mối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Bộ luậtTố tụngdân sự 2015 về giảiquyết cácvụ việchôn nhân và gia đình”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 10/2017, Tr.18
quyền yêu cầu Tòa án xác định quan hệ cha, mẹ, con và xácđịnh rằng đâylà loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND.14
Tácgiả ĐỗThùy Dương cũng đưa ra quanđiểmvấnđề giải quyết tranh chấp về MTH nếu phát sinh trong thực tiễn sẽ gặp khá nhiều khó khăn, trong đó có việc xác định các chứng cứ, chứng minh. Bởi lẽ pháp luật hiện hành chưa có hướng dẫn cụthể về các chứngcứ.Dođó,cầnquyđịnhrõmộtsốchứngcứ cầncó khi tiến hành giải quyết tranh chấp về xác định quan hệ cha, mẹ con trong trường hợp MTH như các giấy tờ pháp lý, kết quả giám định gen…15
Như vậy, có thể thấy vấnđề xácđịnh thẩmquyền theo loại việc và thẩm quyền chung của TANDđối vớiviệc giải quyết các vấnđềphát sinh liên quanđếnchếđịnhMTHVMĐNĐ là một trong nhưng quanhệ phức tạpvà đặt ra nhiều vướng mắcnảy sinh. Do đó, nghiên cứu sinh nhận thấy rằng cần phải tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiệnvấnđề này để bảođảmquyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thểtham gia vào quan hệ pháp luật này.
1.2.2.5.Về hệ quảpháp lý đối với các thỏa thuận mang thai hộvì mục đích nhân đạo
Vềvấnđề này, các tác giả có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Thị Lan cho rằng, sau khi thỏa thuận về MTHVMĐNĐ có hiệu lực sẽ làcơ sở làm phát sinh các hệ quả sau: xác định quan hệ cha, mẹ, con cho đứa trẻ được sinh ra; Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con; Xác định người giám hộ cho con trong trường hợp đứa trẻ được sinh ra nhưng bên nhờ MTH đều đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự; Cáchệ quả đối với bênnhờ MTH trốn tránh nghĩa vụ nhận con, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con.16
Tác giả Huỳnh Thị Trúc Giang tiếpcậnnội dung này theo hai mối quanhệchính là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Trong đó, quan điểm nổi bật của tác giả cho rằng, hiện Luật HN&GĐ năm 2014 mới chỉ điềuchỉnhvấnđề về hệ quảpháp lýđối với MTH dưới khía cạnh về quan hệ nhân thân nhưng cũng chưa giải
14 Xem Nguyễn Thị Phương Linh, “Xác định quan hệ cha, mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2016.
15 XemĐỗ Thùy Dương,“Sinh con bằng kỹthuật thụ tinh trong ốngnghiệm theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2016, Tr.76
16 Xem Nguyễn Thị Lan,“Mang thai hộ – một số vấn đề lý luận và thựctiễn”,Kỷyếu Hội thảo khoa học
cấp trường: Tuần lễ Pháp luật Việt – Đức, Trường Đại học Luật HàNội, 2014.
quyếttriệt để.Ví dụ, pháp luật chưa quy định cụthể về việckếthôn của đứa trẻ đósau khi nó trưởng thành (đứa trẻ sinh ra từ MTH và con đẻ của người MTH có được kết hôn với nhau không?). Mặt khác, tác giả cũng phân tích hệ quả pháplý đối với quan hệ tài sản đối với các chủ thể có liên quan trong trường hợp MTH.17
Các luậnđiểmkhoa học của các tác giả đã đưa ra các cách tiếp cận khác nhauđối với vấnđề về hệ quả pháplý. Tuy nhiên, phần lớn các tácgiảnghiêncứuvề vấnđề này đềuđưa các hệ quả pháp lý đối với các trường hợp MTH hợp pháp mà chưa đề cập đến hệ quả đối với các thỏa thuậnvề MTH bị tuyên bố là vô hiệu. Việc làm rõ các vấn đề này là cơsở tạohành lang pháp lý cho việc thi hành và giải quyết cóhiệu quả đối với các tranh chấp phát sinh liên quan đến MTH tại Việt Nam.
1.2.2.6. Về chế tài xử lý vi phạm đối với hành vi liên quan đến mang thai hộTác giả Trần Đức Thắng cho rằng, hiện không có nhiều quy định hướng dẫn
về việcxử lý hành chính, hình sự đối với các hành vi vi phạm về MTH. Đồng thời, các quy định hiện có cũng chưa bao quát hết các vi phạm có thể xẩy ra trong thực tế. Điềuđó dẫnđếnhệ quả các cá nhân, tổ chức khi vi phạm không bị xử lý. Bên cạnh đó, tácgiảcũng chỉ ra rằng quy định về xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội đối với trẻ em như hiện nay cóđược ápdụng đối với những hành vi vi phạm liên quanđếntrẻ em sinh ra từ kỹ thuật MTH không? Người bị xử lý là người MTH hay người nhờ MTH?18
Tác giả Nguyễn Huy Cường đưa ra quan điểm cho rằng, theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, các hành vi vi phạm pháp luật về MTH có thể chịu chế tài dân sự, hành chính hoặc hình sự. Tuy nhiên, hiện mới chỉ có BLHS năm 2015 quy định về vấnđề này. Tác giả cũng đưa ra các phân tích đánh giá so sánh với pháp luật Thái Lan điều chỉnh về việc xử lý vi phạm, theo đó khung hình phạt là tương đối cao. Do đó, pháp luật Việt Nam nên có sự điều chỉnh cho phù hợp và có hướng dẫn cụ thể.19
Như vậy, các tác giả đã đưa ra các quanđiểmkhác nhauvề việcáp dụng các chế tài trong việc xử lý các hành vi vi phạm. Tuy nhiên, những quanđiểmnàymới
17 Xem Huỳnh Thị Trúc Giang,“Vài suy nghĩ về quy định MTH trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014”, Tạp chí khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, số 40/2015, Tr.9
18 Xem TrầnĐứcThắng, đd, Tr.60
19 Xem Nguyễn Huy Cường, “Một số bấtcập trong các quyđịnhvề mang thaihộ vì mụcđích nhân đạo của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2016, Tr.40
chỉ dừng lạiở việcphân tích quy định, chỉ ra hạn chế nhưng chưa đưa ra các giải phápcụthể để khắcphục và hoàn thiện. Mặt khác, các công trình khoa học nói trên cũng chưa có sự đánh giá các chế tài hình sự trong mối liên hệ với các tội danh khác có liên qua mà chỉ mới đánh giá quy định của các điều khoản trực tiếpđiềuchỉnh về các tội danh vi phạm pháp luật về MTH. Do đó, quá trình nghiên cứu, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục hoàn thiện các định hướng trên.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu vàđịnh hướngnghiên cứucủanghiên cứusinh đối với luận án
Qua việc nghiên cứu, đánh giá các công trình khoa học có liên quanđếnđề tài luận án. Nghiêncứusinh nhận thấy rằng, các tácgiả đã thể hiệnnhiều quanđiểmđánh giá khác nhauvề vấnđề nghiêncứuđặcbiệt là đối với pháp luật thực định. Các quanđiểmkhoa học của các tác giả cực kì cóýnghĩa trong quá trình nghiên cứuvà hoàn thành luận án. Tuy nhiên, bên cạnh đó các công trình nghiên cứu cũng còntồntại rất nhiềuvấnđề cầntiếp tục hoàn thiện. Dođó,trong quá trình hoàn thiện luận án, bản thân nghiêncứusinh nhận thức rõ rằng vừa phải tiếp thu những luậnđiểmkhoa học đúngđắn,có luậncứ khoa học. Đồngthời vừa phải tiếp tục hoàn thiện những luậnđiểmcòn nhiều mâu thuẫn giữa các tác giả, những vướng mắcbấtcập trong thực tiễn áp dụng phát sinh. Luận ánsẽ tiếptục làm rõ để đưa ra những luậnđiểmkhoa học mới phù hợp với thực tiễn áp dụng, góp phần hoàn thiện những quyđịnhvề MTHVMĐNĐ,đảmbảotính phùhợpvới bảnchất nhân văn vốn có của nó. Cụ thể như sau:
1.3.1. Câu hỏi giảthuyết vàđịnh hướngnghiên cứu củaNghiên cứu sinh liên quan đến những vấn đề lý luận về chế định mang thai hộ
Câu hỏi nghiên cứu 1: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chế định MTH vàMTHVMĐNĐ?
Giả thuyết nghiên cứu 1: Hiện có nhiều cách định nghĩa khác nhau về MTH nói chung và MTHVMĐNĐ nói riêng trên nhiều phương diện. Tuy nhiên,vềmặt bản chất, MTH là một trong những hình thức sinh con áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Để thực hiện được kỹ thuật này cần phải có sự can thiệp của y học để kết hợp noãn và tinh trùng ngoài cơ thể của người phụ nữ được nhờ và sau đó chuyển phôi
vào cơ thể của người này để người phụ nữ đó mang thai và sinh con. Như vậy, làm rõvấnđềnàyđểkhẳngđịnhrằngđịnhnghĩa vềMTH theo cách hiểu là hành vi người chồng có quan hệ sinh lý với người phụ nữ khácđể người phụ nữ nàymang thai và sinh con sauđógiao con chocặpvợchồng màngườivợkhôngthểmang thai như một vài quan điểm hiện nay là không phù hợp với bản chất của MTH. Bên cạnh đó, khái niệm chế định MTH cũng cần phải được tiếp cận theo nghĩa rộng vànghĩa hẹp để đánh giá bản chất của quan hệ pháp luật này.
Nghiêncứusinh cho rằng việc xácđịnhcác đặc điểmcủa chếđịnh MTH, MTHVMĐNĐ là một trong những nội dung quan trọng nhằm hoàn thiện các vấn đềvềcơsởlý luận của nội dung nghiên cứu. Ngoài nhữngđặc điểmchung của một quan hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ như các yếu tố về chủ thể, lợi íchvềtình cảm…; Chếđịnh MTH còn chứa đựngnhữngđặc điểmriêng biệt nhưquanhệpháp luật này có tính thỏa thuận, phi tựnhiên; MTHVMĐNĐ thực hiện theo nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc quyền con người, phi thương mại.
MTHVMĐNĐ chứa đựng những ý nghĩa tích cực về mặt xã hội và pháp lý. Vì vậy, để đánh giá toàn diệnvề vấnđề này cần cócái nhìn đa chiều về mục đích, chủthể, đối tượng,lợiích mà các chủthể hướngtới khi tham gia quanhệ pháp luật. Như vậy, đánh giá về ý nghĩa của MTHVMĐNĐ là nội dung cần thiết được đề cập và sẽ được nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn trong luận án.
Kết quả nghiên cứu 1:Để định nghĩachính xác MTH, MTHVMĐNĐ và chếđịnh MTH, nghiên cứu sinh cho rằng cần phải nhìn nhận vấn đề này trong mối liên hệvới các khái niệm có liên quan như sinh con bằngkỹthuật hỗtrợsinh sản, TTTON, thụ tinh nhân tạo…Trên cơ sở đó, đưa ra cách hiểu đúng về nội hàm của vấn đề. Đồng thời,nghiên cứu sinh định hướng rằng để đưa ra làm rõ khái niệm vềMTHVMĐNĐ cần đánh giá khách quan trên các phương diện khác nhau như với tưcách là một sự kiện pháp lý hay quan hệ phápluật để cócái nhìn tổng quan và toàn diện hơn. Do đó, trên cơ sở nghiên cứu, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục phân tích đánh giá để cóthể đưa ra khái niệm cho phù hợp.
Vềbảnchất của MTH là thỏa thuận dân sự. Tuy nhiên, đây là thỏa thuận dân sự đặcbiệt nhằm bảo đảm các quyền cơbảncủa con người trong đó có quyền sinh
sản, quyền làm cha, mẹ. Nghiêncứusinhsẽ chỉ rõ tính chất đặcbiệt của quanhệ dânsự này từgóc nhìnvề mục đíchvà đặt trong mối tương quan với các yếu tốvềđạođức phong tục truyền thống và nguyện vọng chính đáng của cá nhân; lợi ích của gia đình xã hội để làm rõ bản chất của vấn đề nghiên cứu.
Bên cạnh những đặcđiểmđã được các công trình khoa học trước đề cập có giá
trị tham khảo như tính tự nguyện; tính kỹ thuật; tính phi thương mại…Nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục kế thừa và chỉ ra các đặc điểm khác cần bổ sung trong đó quan trọng nhất là làm rõđặcđiểmvề tính nhânđạodưới nhiều góc độ khác nhau trên cơsởtiếpcận từquyền con người.
Câu hỏi nghiên cứu 2: Cácyếutốnào tácđộng tới việcphápluật điềuchỉnh về MTHVMĐNĐ?
Giảthuyết nghiên cứu 2: Về phương diện phong tục, tập quán và tâmlý, đạođức,quyđịnhvềMTHVMĐNĐ nhằm hiện thực hóaước mơ làm cha,mẹ củacác cặpvợ chồng kém may mắn không thể sinh đứa con có cùng huyết thống với chính bản thân mình; Chịu sự tácđộng của quan điểm đề cao quanhệ gia đình, quanhệcha, mẹ, con; Đồng thời tạo cơsở để bảo vệ quyền lợi của bên MTH và đứa trẻ được sinh ra. Đốivới gia đình, quyđịnhnày cũng là cơsởgóp phần vào việc thực hiện chức năng của gia đình, bảo vệ hạnh phúc của mỗi cặp vợ chồng, hạn chế các trường hợp ly hôn vì lý do giữa họ không có con chung. Về phương diện kinh tế xã hội, việc ban hành quy định về MTHVMĐNĐ xuất phát từ nhu cầu khách quan của xã hội.Điềunàybị chi phối bởi các yếutốvề mặt môi trường sốngảnhhưởngđếnchức năng sinhsảncùng với sựphát triển mạnhmẽ của y học dẫnđếnkhát khao hiện thực hóa thiên chức làm cha mẹ của nhữngchủthể không có khả năng sinh con. Mặt khác, quy định này cũng đáp ứng nhu cầu ổn định trật tự xã hội, hạn chế tối đa các trường hợp “chửa hộ”,“đẻ thuê” phi pháp trên thực tế,bảovệ các quan hệ xã hội về HN&GĐ được pháp luật bảo vệ, hạn chế các hệ lụy phát sinh từ việc mua bán tinh trùng, noãn; giảm thiểu khả năng kết hôn của những người sinh ra từ MTH phi pháp với con của chính người bán tinh trùng, noãn. Về phương diện chính sách, đây là quyđịnh nhằmthể chế hóa các đường lối chính sách, quanđiểmcủa Đảng và Nhà nước ta hiện nay về đảm bảo quyền con người, về tính nhânđạoluôn được pháp luật Việt
Nam đề cao, tôn trọng và ghi nhận. Để làm rõ sự điều chỉnh vấn đề MTHVMĐNĐcủa pháp luật dưới sựtácđộngcủa các yếutốnày, việc nghiêncứucầnđặt trong mối liên hệ với hệ thống pháp luật quốc gia và sự thể chế hóa các vănbảnquy phạm pháp luật quốc tế có liên quan. Đồng thời, nghiêncứusinh cũng phân tích các quanđiểmtrái chiều như quanđiểmcho rằng quy định của pháp luật có thể nhânđạovới người nhờ MTH nhưng không nhân đạo với người MTH.
Kết quảnghiên cứu 2: Đây là vấnđề cực kì cóý nghĩa trên các phương diện về lý luận và thực tiễn. Do đó, nghiêncứusinh tập trung phân tích làm rõ trên các khía cạnh này dựa trên các yếutốvề quanđiểmchủ trương của Đảng và Nhà nước về quyền con người; Về phong tục tập quán của dân tộc; về nhu cầu và lợi ích của cá nhân, gia đình và xã hội; Vềyếutốtâmlý, đạođức và sự tácđộng của các yếutốkinh tế – xã hội để đánh giá toàn diện và khách quanvấnđề này.Mặt khác, để làm rõ các yếutốtácđộngđếnpháp luật điềuchỉnh MTHVMĐNĐ, nghiêncứusinh nhận thấy rằng cần tiếp tục kế thừa và phát triển quan điểm của những công trình nghiêncứuđi trước; Bổsung hoàn thiện những luậnđiểmkhoa họcchưa rõ, trái chiều. Từ đó đi đến kết luận cho phép MTHVMĐNĐ là hoàn toàn phù hợp.
Câu hỏi nghiên cứu3:Sựphát triển khoa học và pháp luật về MTH nói chung và MTHVMĐNĐ nói riêng ở Việt Nam và trên thế giới như thế nào?
Giảthuyết nghiên cứu3: Nghiêncứuởcấpđộluận án, việc làm rõ lịchsửphát triểncủa vấnđề nghiêncứulà một trong những nội dung quan trọng. Trênthếgiới, MTH là vấn đề không mới về mặt thực tiễn song sự phát triển ở mỗi quốc gia lại cósựkhác nhau.Ở Việt Nam, quá trình hình thành và phát triểnvấnđề MTH tương đối mới mẻ, đặcbiệt là về phương diện pháp lý. Theođó, dưới sự tác động của các yếutốkinhtế – xã hội, việcđiềuchỉnh quanhệ pháp luật nàyởmỗigiaiđoạncó sự khác nhau cơ bản.
Kết quảnghiên cứu 3: Nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu quá trình hình thành và phát triểncủa vấnđề MTH nói chung trên thế giới và tại Việt Nam qua các giai đoạnđể xácđịnhcơsởpháp lý cho việc ban hành và thực hiện các quyđịnh của pháp luật về MTH là cần thiết.Đặc biệt,luận án đưa ra đánh giá khách quanvềthực trạng MTH ởViệt Nam trong giai đoạntrước khi ban hành Nghị địnhsố
12/2003/NĐ – CP, từ đó cho thấy cái nhìn tổng quanvề vấnđề nghiêncứuxuyên suốt giai đoạn phát triển.
1.3.2. Câu hỏi giảthuyết vàđịnh hướngnghiên cứu củaNghiên cứu sinh liên quan đến nội dung chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu 4: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về MTHVMĐNĐ như thế nào?
Giảthuyết nghiên cứu 4: Điềukiện thực hiện MTHVMĐNĐđược quyđịnh tại Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014. Tuy nhiên, nhiều quan điểm cho rằng quy định
về điều kiện MTH theo pháp luật hiện hành là chưa phù hợp, tạo rào cản khắt khe đối với các chủ thể có nguyện vọng thực hiện kỹ thuật này. Đồng thời, một số quy định còn chưa có sự tương thích đồng bộ giữa các quy định của pháp luật có liên quan. Dođó,đểđánh giá toàn diệnvấnđềnày, nghiêncứusinhsẽtiếp tục làm rõ các quanđiểmkhác nhauvề điềukiện trên cơ sở những tồn tại vướngmắc trên thực tiễn áp dụng cũng nhưđặt trong mối liênhệvới các quyđịnhđược điềuchỉnh trong Luật HN&GĐ năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật liên ngành.
Vấn đề xácđịnh các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia theo quy định của pháp luật hiện hành cần được tiếp cận nghiên cứu đa chiều, đặt trong mối liên hệvới các ngành luật có liên quan như Luật BHXH; Luật Khám chữa bệnh, Luật Trẻ em, Luật Nuôi con nuôi…Mặt khác, phân tích nghiên cứu về quyền và nghĩa vụcủa các chủ thể cũng cần xem xét trên khía cạnh đảm bảo tính khả thi của các quy phạm pháp luật, tránh việc quy định nhưng không xây dựng cơ chế kiểm soát và xửlý hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ của chủ thể có thể xẩy ra trên thực tế.
Nghiêncứuthỏa thuậnvềMTHVMĐNĐ đã có các quanđiểmkhoa học của các tác giả như đã đề cập. Mặc dù pháp luật Việt Nam hiện hành đã có hướng dẫn
các nội dung cụ thể về văn bản thỏa thuận theo mẫu 06 Nghị định số 10/2015/NĐ –CP nhưng thực tiễn cho thấy vẫn còn đặt ra khá nhiều vấn đề phát sinh. Trong đó, các vấn đề cần phải giải quyết triệt để như: Cơ chế kiểm soát đối với việc các bên vi phạm các nội dung trong thỏa thuận; Nội dung thỏa thuận của các bên còn thiếu sótđể tạo sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ cũng như ý thức trách nhiệm của các bênđối với việc mang thai và giao con; Cácvấnđềvềtrách nhiệm dânsựchưađược
hướng dẫn cụ thể…Mặt khác, nghiên cứu sinh cho rằng, việc làm rõ các hệ quả pháp lýđối với các trườnghợpMTHVMĐNĐ khôngchỉđặt ra đối với các thỏa thuận phát sinh hiệu lực pháp lý và được thực hiện thành công mà còn phải giải quyết tốt các vấn đề về hệ quả phát sinh trong trường hợp các thỏa thuận về MTH bị tuyênbốlà vô hiệu. Vấn đề này cần được xem xét và giải quyết triệt để.
Đối với vấn đề giải quyết tranh chấp trong trường hợp MTH cần tiếp tục làm rõ các vấn đề phát sinh như việc xác định thẩm quyền theo loại việc của Tòa án hiện nay về MTH là còn thiếu sót và chưa có các hướng dẫn cụ thể. Mặt khác, các vấn đềliên quan đến việc xác định chứng cứ chứng minh nhằm giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể; Xác định vấn đề về người có quyền yêu cầu xác định quan hệ cha, mẹ con cho trẻ được sinh ra từ kỹ thuật MTHVMĐNĐ trong trường hợp cha, mẹ trẻ
bị mất năng lực hành vi dân sự… cũng cần được quy định rõ.
Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về MTH có thể được thực hiện bởi các chế tài về hành chính, dân sự vàhìnhsự.Tuy nhiên, nghiêncứusinh nhận thấy rằng, các biện phápchếtài này dùđược quy định ở mức độ nàovẫn còn bộc lộ các hạn chế bất cập. Chẳng hạn, đối với chế tài hành chính chưa có hướng dẫn cụ thể. Các chế tài về hình sự chủ yếu được áp dụng đối với các hành vi thực hiện MTHVMĐTM. Tuy nhiên, nghiên cứu sinh cho rằng, xây dựng các chếtài đểbảođảmhạnchếtối đa các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích của các chủ thể bao gồm cá nhân, gia đình và xã hội thì không chỉ điều chỉnh hành vi xâm phạm trực tiếp mà cần đặt trong mối liên hệ với các tội danh khác có liên quan.
Kết quả nghiên cứu 4: Việc xác định chủ thể có quyền thực hiện MTHVMĐNĐ phù hợp gópphần đảm bảoquyền và lợi ích hợp phápcủa chủ thểtham gia. Những vấn đề này sẽ tiếp tục được phân tích làm rõ trong luận án trên cơsở đánh giá các yếu tố tácđộng về mặt xã hội;truyền thống dân tộc, xu hướng hội nhập quốc tếvà dưới góc độpháp lý có liên quan. Cácđiềukiệnđối với bênnhờMTH và bên MTH theo pháp luật hiện nayđược đánh giá là khá khắt khe.Đồng thời, một số nội dung về điều kiện thực hiện MTHVMĐNĐ là chưa phù hợp cả vềmặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng. Do đó, các vấn đề này sẽ tiếp tục được tiếp cận làm sáng tỏ dựa trên cơ sở kế thừa các luận điểm khoa học có giá trị và phù hợp
với cơ sở lý luận, đồng thời tiếp tục hoàn thiện dựa trên những khảo sát đánh giá vềmặt thực tiễn áp dụng.
Vềquyền và nghĩa vụcủa các bêncầncó các đánh giá tổng quancảtrên phương diện đảm bảo quyền và nghĩa vụ nhân thân cũng như quyền và nghĩa vụ tài sản của các chủ thể, trong đó đặc biệt chú trọng về lợi ích hợp pháp của trẻ em được sinh ra từkỹthuật MTHVMĐNĐ. Mặt khác, cầntiếp tục làm rõ các vấnđềnội dung cũng như hình thức của thỏa thuận MTHVMĐNĐ để góp phần hoàn thiện hơn về chế định MTH.
Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy việc giải quyết tranh chấpvềMTH vẫn còn tồn tại khá nhiều vướng mắc,đặc biệt là đối với vấn đề cơchế kiểm soát và đảm bảo thực thi các nghĩa vụ của các bên trên thực tế; biện pháp xử lý trong trường hợp các bên có vi phạm về quyền và nghĩa vụ. Thậm chí, việc thực thi quyền và nghĩa vụnày còn có thể phát sinh những vấn đề liên quan đến các chủ thể khác như cơsở y tếthực hiệnkỹthuật MTHVMĐNĐ, cơ quanhộtịch, TAND,..Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có các quy định cụ thể để giải quyết triệt để. Do đó, quá trình nghiên cứu, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục hoàn thiện các nội dung trên trong luận án.
Nghiên cứu về vấn đề giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm nhằm xây dựng hành lang pháp lý hoàn thiệnđảmbảocho việc áp dụng pháp luật một cách hiệu quả. Trongđó,các vấnđềvềáp dụngchếtài dânsự,hành chính hay hìnhsựsẽđược giải quyết triệt để; Mức độ ápdụng chế tài có tính tương xứng với hành vi vi phạm làm có sở cho việc ngăn ngừa những hành vi trục lợi từ quy định MTHVMĐNĐ. Quá trình hoàn thiện luận án, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu các vấn đề được đặt ra như trên nhằm hướng đến sự hoàn thiện pháp luật hiện hànhđiều chỉnh về các vấn đề liên quan đến MTHVMĐNĐ.
1.3.3. Câu hỏi giảthuyết vàđịnh hướngnghiên cứu củaNghiên cứu sinh liên quan đến thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế địnhmang thai hộ
Câu hỏi nghiên cứu 5: Thực tiễn thực hiện pháp luật về MTHVMĐNĐở Việt Nam hiện nay như thế nào? Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại về mặt pháp lýcũng như thực tiễn áp dụng trong quá trình thực hiện pháp luật về MTHVMĐNĐ?
Giả thuyết nghiên cứu 5: Phần lớn các kết quả nghiêncứu trước đều đề cập phân tích các vướng mắc hạn chế về mặt luật thực định mà gần như rất ít công trình chỉ ra tình hình thực hiện chế định MTH tại Việt Nam hiện nay như thế nào. Song, nghiên cứu sinh cho rằng, việc khảo sát các trường hợp MTH trên thực tế như trên sẽ giải quyết được nhiều vấn đề mà pháp luật cần quan tâm như chỉ ra các trường hợp nào có thể nên được chấp nhận cho phép yêu cầu MTHVMĐNĐ; Các yêu cầu về điều kiện cần thiết điều chỉnh hoặc phải bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vừa đủ để không làm hạn chế cơ hội làm cha, mẹ của các cặp vợ chồng mà vì lý do nàođó không thể sinh con những cũng không tạo ra kẽ hở để các đối tượng khác trục lợi bất chính.
Kết quả nghiên cứu 5: Kết quả của quá trình nghiên cứu, nghiên cứu sinh sẽgiải quyết các vấn đề đề dựa trên việc thu thập và xử lý số liệu tại các cơsở được phép thực hiện MTHVMĐNĐ ở Việt Nam hiện nay. Từ đó đưa ra những đánh giáphân tíchvềnhững thuận lợi khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật vềMTHVMĐNĐ.
Mặt khác, đánh giá về thực trạng áp dụng pháp luật cũng cần có cái nhìn tổng quan trên nhiều lĩnh vực như các công táchộ tịchliên quanđếntrẻ em sinh ra từkỹthuật MTHVMĐNĐ; Giải quyết tranh chấp tại TAND nếu có; Việc xử lý vi phạm
về các hành vi liên quanđếnMTHVMĐNĐ;…Trên cơsởđócó thể phân tích đa chiều các yếutốtácđộng và bị ảnh hưởng từquan hệ pháp luật này.
Câu hỏi nghiên cứu 6:Từviệc đánh giá các vấnđề về lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về MTHVMĐNĐ, giải pháp nàođược đặt ra nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật vềMTHVMĐNĐ trong thực tiễn?
Giảthuyết nghiên cứu 6: Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về chế định MTH, nghiêncứusinh sẽ đưa ra những đánh giá khách quan và đề xuất những giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về MTHVMĐNĐ, trong đó cần giải quyết tốt các vấn đề lýluận ; Về quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh MTHVMĐNĐ; Về việc nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về MTHVMĐNĐ.
Kết quảnghiên cứu 6: Nghiêncứuđề xuất giải pháp nghiêncứusinh hướng tới các kết quả đạt được như sau:
Thứ nhất, về mặt cơ sở lý luận: Xây dựng các khái niệm liên quan phù hợp với bảnchất của vấn đề nghiên cứu; Phản ánh đầy đủ và khách quan nội hàm của quan hệ phápluật được điềuchỉnh, tránh sự chồng chéo và thiếu logic giữa các văn bản pháp luật có liên quan cùng điều chỉnh về một vấnđề.
Thứhai, về quyđịnhcủa pháp luậtđiềuchỉnh MTHVMĐNĐ: Trên cơsởphân tích nội dung pháp luật thực định nghiên cứu sinh đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật về các quy định liên quanđến điều kiệnthực hiện; Quyền và nghĩa vụcủa các bên; Các quyđịnhvề hệ quả pháp lýđốivới MTHVMĐNĐcũng như giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm nếu có phát sinh.
Thứba, trên cơsởđánh giá thực trạng thực hiện MTHVMĐNĐtạiViệt Nam, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các kiến nghị nhằm hạn chế những khókhăn, tồn tại trong thực tiễn thực hiện pháp luật. Đồng thời, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp dụng pháp luật về MTHVMĐNĐ trên thực tế.
Thứ tư, nghiên cứu sinh cũng nhận thấy rằng ngoài các giải pháp hoàn thiện pháp luật thì các giải pháp mang tính xã hội cũng cần được đánh giá khách quan, đầy đủ vàtoàn diện, làm cơ sở nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về MTHVMĐNĐ trên thực tế.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua quá trình đánh giá tổng quan tình hình nghiêncứucácvấnđề liên quanđếnluận án, chúng tôi nhận thấy rằng, trên thế giới, MTH là vấnđề không mới vềmặtthực tiễn. Ngày nay, cùng với sự tiếnbộ vượt bậccủa y học hiện đại, MTH đãtrở thành nhu cầu có thực của không ít các cặp vợ chồng hiếm muộn. Ở Việt Nam, vấnđề nàycũng không phải là một ngoại lệ. Tuy nhiên, xét dưới phương diện pháp lý, việcđiềuchỉnh và xây dựng cơchế đảmbảothực hiện MTHVMĐNĐ là một vấnđề hoàntoàn mới ở nước ta. Cũng chính vì vậy, những nội dung liên quanđếnvấnđề MTH nói chung và MTHVMĐNĐ nói riêng mới chỉ thực sựđược quan tâm nghiên cứu trong thời giangầnđây. Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này không quá nhiều, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách chuyên sâudưới dạng luận án, các đề tài trọngđiểmhay sách chuyên khảo. Hầuhết các công trình nghiêncứuvề MTH và MTHVMĐNĐ mới chỉ dừng lại ởmức độ là các luận văn, các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành hoặc một số các bài viết trong phạm vi các hội thảo, đề tài nghiêncứuchung về quan hệ pháp luật HN&GĐ. Mặt khác, về mặt nội dung, phần lớn các công trình nghiên cứu của các tác giả về MTH thường tiếp cận ở các góc độ nhỏ, ở một sốkhía cạnh pháplý cụthể. Đáng chúýchỉ có một sốcông trình nghiêncứumang tính tổnghợpvà toàn diện về toàn bộ các vấnđề lý luậncũng như thực tiễn liên quanđếnMTH theo pháp luật Việt Nam dưới dạng luận văn thạc sĩ. Do đó, trong phạm vi của luận án, tácgiảsẽ tiếp tục kế thừa các kếtquả nghiêncứuđã được côngbốtrướcđóđồngthời nghiêncứuchuyên sâu và hệ thống các nội dung chưa được làm sáng tỏ nhằm tiếp
tục hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam trêncảphương diện lý luận và thực tiễn áp dụng về MTH nói chung và MTHVMĐNĐ nói riêng.
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH MANG THAI HỘ
2.1. Khái niệm,đặc điểm củachế địnhmang thai hộvà mang thai hộvìmục đích nhân đạo
2.1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của mang thai hộ và mang thai hộ vì mụcđích nhân đạo
2.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm mang thai hộ* Khái niệm mang thai hộ
Trong lịch sử phát triểncủa tựnhiên nói chung và xã hội loài người nói riêng, mang thai là hiện tượng thuộc về yếutố bảnnăng, mang tính quyết định đến sự sinh
tồn của mỗi giống loài. Theo phong tục tập quán và tính chất vùng miền, mang thai (pregnant) còn được sử dụng dưới nhiều tên gọi khác nhau như bầu, chửa, nghén…Mang thai và sinh con là cách thức duy nhất để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển cho động vật bậc cao trong giới tự nhiên.
Xét dưới phương diện sinh học, sự mang thai của con người được chia tươngđối thành ba giai đoạn,tươngứngmỗi giai đoạnkhoảng ba tháng. Tronghầuhết các trườnghợp, sựhình thành và phát triển của thai nhi trongtửcung thường kéo dài khoảng 40 tuần, hoặc hơn 9 tháng, kể từ ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng, sau khi xác định được các triệu chứng mang thai điển hình. Hầu hết phụnữ cảm thấykhácbiệt cảvề thể chất và tinh thần trong mỗi giai đoạn. Ngoài thayđổi về trọng lượng cơthể và dáng vóc,sự biếnđổi về hóa học và chức năng của cơthể cũng diễn ra trong suốt thai kỳ.20 Cách chia này như một côngcụđể đơngiản hoá việc biểu hiện ba giaiđoạnphát triển thai nhi, là biểu hiện của một quá trình
phát triểnvề mặt sinh học của con người –một bộphậncủa thế giới tựnhiên.Từ
điểnpháp luật –Black’s Law Dictionary của tác giả Henry Campbell Black giải thích về mang thai như sau: mang thai nghĩa là giaiđoạnmà trong suốt khoảng thời
20 Xem Đăng Khương (thamvấny khoa Lê Thị Mỹ Duyên),“Mang thai là tình trạng gì?” https://hellobacsi.com/benh/mang-thai/
gianđó người phụnữcó thai nhi phát triển bên trong cơ thể của người đó.21 Nhưvậy,dưới phương diện sinh học, mang thaiđược hiểu là“khoảngthời gian màngười phụ nữ mang trong mình một bào thai sơ sinh.”
Xét dưới phương diện xã hội, mang thai là việc thực hiện một trong các chức
năng không thể thiếu của gia đình – chức năng duy trì nòi giống, táisảnxuất sức laođộng cho xã hội. Chức năng này là yếutốthuộc về bản năng sinh tồn của mỗi giống loài, là xu hướng phát triểncủa giới tựnhiên. Xã hội chỉ tồn tại và phát triển khi cósự kế thừa về nguồn lực trong đó có sự phát triển nòi giống. Bản thân F. Engel, một nhà duy vật vĩ đại cũng cho rằng, theo quanđiểmduy vật, nhântốquyết định trong lịch sử suy cho cùng là sự táisảnxuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống.
Chức năng sinh sản của gia đình là một giá trị trường tồn. Bên cạnh đó, đây còn là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Việc thực hiện chức năng này trong chế độsảnxuất mới vừa đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội vừa đáp ứng nhu cầu của chính bản thân con người.22 Một mặt, đây là nguồn cung ứng sức lao động phục vụcho quá trìnhsảnxuất, tạora sảnphẩm laođộngcho xã hội. Mặt khác, “con người là một thực thể “song trùng” bao gồm hai mặt tự nhiên (mặt sinh học) và mặt xã hội. Là sảnphẩm của tựnhiên, con người có những hành vi bản năng và phải được thỏa mãn nhữngbảnnăng của mìnhđể tồntại và phát triển”.23 Vì vậy, quá trình mang thai, sinh con cũngđápứngnhững nhucầuhết sức cơbảnmang tínhbảnnăng của con người trong giới tựnhiên: nhucầulàm cha, mẹ; nhucầuđược kế tục và phát triển nòi giống. Như vậy, dưới phương diện xã hội có thể hiểu, “mang thai là một hành vi bản năng nhằm duy trì nòi giống và phát triển xãhội”.
Xét dưới khía cạnh pháp lý, khái niệmvề thai cũngđã đượcđịnhnghĩa tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 12/2012/TT-BYT ngày 15 tháng 07 năm 2012 về quy trình kỹ thuật của thụ tinh nhân tạo và TTTON, cụ thể:“Thai là sản phẩm của quátrình thụ tinh được tính bắt đầu từ tuần thứ 09 sau thụ tinh cho đến khi sinh hoặc
21 Xem Henry Campbell Black, (1990), “Black’s Law Dictionary”, West Publishing Company, pp.1370. “Pregnancy, n. The period during which a woman or female animal has a fetus growing inside her body.” 22 Xem F. Engels,“Nguồn gốc gia đình,chếđộ tưhữu và Nhà nước”, phần 1.
https://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1880s/nguon_goc_cua_gia_dinh/phan_1.htm
23 Trình Mưu, Nguyễn Hoàng Giáp, (2012), Nhữngvấn đềcơ bản về chủnghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, NXB Chính trị – Hành chính, Hà Nội, Tr. 137 – 138.
khi sảy thai”. Tuy nhiên, định nghĩa “thai”được đề cập trênđây có nội hàm tươngđối trùng lặp với định nghĩa “phôi”được đề cập tạikhoản 5 Điều 2 Nghị định số
10/2015/NĐ – CP. Theo đó, phôi được định nghĩa là “sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng”. Với cách giải thích như trên dễ dẫn đến những cách hiểu khác nhau về hai thuật ngữ pháp lý này. Một là, định nghĩa về phôi được quy định là sản phẩm kết hợpgiữa noãn và tinh trùng nhưng không xácđịnhthời gian nên có thể hiểu phôi là sự kết hợp của hai giaotửnày trong toàn thai kì. Hai là, “Phôi là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong 56 ngày đầu tiênkểtừkhi được thụ tinh”,24 (tương đương 8 tuầnđầu kể từkhi thụ tinh), tức phôi là giaiđoạnđầucủa thai kì, sau khi đã được thụ tinh. Như vậy, định nghĩa về “phôi” và “thai” trong các văn bản quy phạm pháp luật nói trên là chưa có sự phân định rõ ràng và chuẩn xácdẫnđến những cách hiểu khác nhau và gây nhầmlẫnkhi áp dụng trên thực tế. Dođó,cácđịnh nghĩa này cần thiết phải được xem xét điều chỉnh tạo cơ sở pháp lý thống nhất trong việc thực hiện quy định của pháp luật về chế định MTTH. Chúng tôi nghiêng về quanđiểmthứ hai, tức là phôi và thai là hai giaiđoạnphát triển sau khi noãn và tinh trùngđã được kết hợpthụtinh. Trongđó,phôi là giai đoạnđầu,thai là giaiđoạnsau khi khi phôi đã phát triển. Vì vậy, chúng tôi cho rằng định nghĩa về phôi và thai đều phải cósự điềuchỉnh theo hướng như sau: “Phôi là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong 08 tuần đầu sau khi thụ tinh” và “Thai là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng được tính bắt đầu từ tuần thứ 09 sau thụ tinh chođếnkhi sinh hoặc khi sảy thai”.
Việc xác định rõ các định nghĩa trên có ý nghĩa trong việc các đưa ra cách giải thíchvề MTH. TheoTừđiểnTiếng Việt, hộnghĩa là “làmthay, giúp cho người khác”.25 Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, MTH nghĩa là việcmột người phụnữ cóthai nhằm thực hiện chức năng mang thai thay thế cho một người khác.
Mặt khác, theocuốn Từ điểnPháp luật (Dictionary of Law) của Jonathan Law, Elizabeth A. Martin (Oxford University), MTH được giải thích là “vai trò của người phụ nữ được ủy thácmang thai và sinh con cho một cặp vợ chồng không thể có con.
24 Xem Hoàng Thị Thu Hằng, (2017), “Pháp luật Việt Nam về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Tr.10.
25 Xem Hoàng Phê, đd, Tr.457.
Việc mang thai này thườngđượcthực hiện thông qua việcthụtinh nhântạogiữa người MTH và người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai. Đôi khi, việc mang thai này cũng được thực hiện bằng việc sử dụng trứng của chính người vợ trong cặp vợchồng không thể có con. Khi đó, người MTH không có mối quanhệ di truyền với đứa trẻmà họ chỉ đơn giản là vật chủ phôi thai”.26 Như vậy, quanđiểmđược chỉra trong cáchđịnhnghĩa này có thể hiểu theo hai cách: Một là, MTH là sựmang thai cho người khác mà trong đó phôi thai là sự kết hợp tinh trùng của người chồng và noãn của người MTH. Hai là, MTH cũng có thể là sự mang thai cho người khác mà trong đó phôi thai là sự kết hợp tinh trùng của người chồng và noãn của người vợ, phôi này sau khi được thụ tinh sẽ được cấy vào cơ thể của người MTH. Theo tác giả, quanđiểmthứhai phùhợpvớibảnchất của MTH vì trong trườnghợpnày, người phụ nữ MTH đang mang thai cho người khác như vậy thai đó không phải làcủa người đang mang thai, không có mối liênhệ huyết thống với chínhbảnthân người MTH.
TheoTừđiểnpháp luật (Anh–Việt) của tác giả Nguyễn Thành Minh (chủbiên), MTH (surrogacy)đượcđịnhnghĩa là sựmang thai thay thế. Theođó,thuật ngữsurrogacyđược hiểulà “chức năng của một người phụ nữ (người MTH (surro – gate mother)được một cặpvợchồng không thể có conủythác sinh một một đứa trẻ; việc nàyđượcngười chồng thực hiện thông quathụtinh nhântạocho người MTH” 27.Vớiđịnhnghĩa này, có thể hiểu rằng MTH được nhìn nhận là việc một người phụ nữ không phải là người vợ trong cặp vợ chồng nhờ mang thai thực hiện chức năng mang thai thay thế. Phương thức thực hiện bằng cách thụ tinh nhântạođể tạophôi thai và sau đó phôi thai này được chuyển vào tử cung của người MTH để người này mang thai và sinh con. Thụ tinh nhân tạo được giải thích là “thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tửcung của người phụ
26 Jonathan Law, Elizabeth A. Martin, (2015), Dictionary of Law, Oxford University Press.
“Surrogacy n. The role of a woman (a surrogate mother) who is commissioned to bear a child by a married couple unable to have children themselves. The pregnancy is usually initiated through artificial insemination of the surrogate mother by the husband, although sometimes the wife’s eggs are used; in this case the surrogate has no genetic relationship to the child, being simply a host for the embryo.”
27 Xem Nguyễn Thành Minh (chủ biên) Lê Thành Châu (hiệu đính), Từ điển pháp luật (Anh – Việt, NXB Thế giới, Hà Nội, Tr.956.
nữcó nhu cầu sinh con để tạo phôi”.28Vềmặt kĩ thuật, thụ tinh nhântạolà phương pháp dùng một ống thông nhỏ, đưa một số lượng tinh trùng đã được lọc rửa, chọn
lọc qua cổtửcung và bơm trực tiếp vào buồngtửcung, với nguyêntắccơbảnlà làm tăngsốlượngtinh trùng di động đếnđoạnxa vòi trứng, nơi mà tinh trùng và trứng gặp nhau và có thể thụ thai.29Bảnchất của kỹ thuật này là hỗ trợ tinh trùng cóthể tiếp xúc với noãntạitửcung để hình thành phôi và phát triển thành thai. Nhưvậy, kĩ thuật này là tự thân tinh trùng và noãn sẽ thụ tinh và phát triển ngay trong cơthể của người phụnữmà khôngcầnphải tạophôi ởmôi trường bên ngoài vàchuyển phôi để người phụ nữ này mang thai. Bên cạnh đó, định nghĩa trên xác định, chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật này bao gồm hai đối tượng là người phụnữ MTH và cặp vợ chồng không thể sinh con. Tuy nhiên, cách giải thích này chỉ ra rằng việc MTH được thực hiện trên cơsở“người chồng thực hiện thông qua việc thụ tinh nhân tạo cho người MTH”. Điềunày là chưa hợp lý vì cách định nghĩa cóthể dẫnđếncách hiểu trái với tinh thần của quy định về MTHVMĐNĐ theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Để thực hiện MTH, chủ thể chỉ baogồm “người chồng” và “người MTH”mà không có sự tham gia của người vợ trong cặp vợ chồng nhờmang thai đồng thời về phương thức thực hiệnđược xácđịnh bằng cách do người chồng tiến hành thụ tinh nhân tạo cho người MTH. Như vậy, định nghĩa trên cóthểhiểu rằng việc thụ tinh nhằm MTH được thực hiện trên cơ sở “bơm” tinh trùng của người chồng vàotửcung của người MTH. Như vậy tinh trùng của người chồng sẽ kết hợpvới noãn của người phụnữMTH tạothành phôi và phát triển thành thai trong cơ thể của người MTH. Phôi này được “ủy thác” cho người MTH mang thai và sinh con cho cặp vợ chồng không thể mang thai. Điều này cũng có nghĩa là, đứa trẻ được sinh ra sẽ có quan hệ huyết thống với người chồng trong cặp vợ chồng nhờmang thai và người MTH mà không có bất kỳ mối quan hệ nàovới người phụ nữ làngười vợtrongcặpvợchồngnhờmang thai. Hay nói cách khác,ngườiphụnữMTH đang mang thai chính đứa con của họ chứ không phải là “hộ” cho một người khác. Hệ quả của mối quan hệ này là là sau khi họ sinh con, họ sẽ chuyển đứa con
28 Xem khoản 2 Điều 3 Nghịđịnhsố 12/2003/NĐ – CP.
29 Xem mục III Thông tư 12/2012/TTTON – BYT hướng dẫn về quy trình kĩ thuật thụ tinh nhân tạo.
mang huyết thống của mình cho cặp vợ chồng nhờ mang thai. Điều này không phùhợp với bảnchất của việc MTH.
Chính cách hiểu trên đây cũng dẫn đến những quanđiểmkhác nhau về MTH hiện nay. Ở Việt Nam, thuật ngữ MTH còn được nhắc đến bằng các têngọi như “đẻthuê”,“đẻ mướn”,“chửa hộ”…với các hình thức thực hiện khác nhau. Một số quan điểmcho rằng MTH được hiểu là việc các chủthể nhờsựcan thiệp của y học để người phụ nữ không phải là người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh mang thai và sinh con (phôi thai được hình thành từ trứng và tinh trùng của cặp vợ chồng nhờ MTH). Quanđiểmkhác hiểu rằng MTH chính là người MTH mang thai bằng cách quanhệsinh lý trực tiếp với người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai nhằm mục đích người phụ nữ này sẽ sinh con và giao con cho cặp vợ chồng nhờ MTH. Tuy nhiên, quanđiểmcủa tác giả cho rằng, xétvề mặt bảnchất không thể xem trường hợp người chồng có quanhệ sinh lý với người phụnữkhác haythụtinh nhântạocho người phụ nữ khác với mục đíchđể người phụ nữ nàysinh con và giao con cho cặp vợ chồng nhờ mang thai là MTH. Bởi lẽ như đã phân tích trên, đứa trẻ được sinh ra trong trường hợp này có quan hệ huyết thống với chính người mang thai và sinh ra nó nên đứa trẻ này thực chất là con của người phụ nữ mang thai. Việc giao con theo thỏa thuận chính là việc chuyển con của chính người mang thai cho người khác nuôi dưỡng chứ không phải là người phụ nữ chỉ mang thai “hộ” đứa con của người khác. Thuật ngữ “hộ” phầnnào chỉ rõ bản chất của việc mang thai trong trường hợp này là không phải mang thai của mình. Điều này loại trừ những quanđiểm về việcMTH đồng nghĩa với các trường hợp “đẻ thuê”; “chửa mướn”; Quan hệ sinh lý trực tiếp hoặcthụtinh nhântạovớingườiđànông trongcặpvợchồng có nhucầucó con; Người MTH đồngthời là người hiến trứngđể kết hợpvới tinh trùngcủangười chồng trongcặpvợchồng không thể sinh conđể TTTON tạophôi và cấytrởlại trong cơ thể người MTH nhằm mục đích sinh con…Bởilẽ nếuthực hiện bằng các phương thức trên thì thai là của người mang thai chứkhông phải mang thai giúp người khác. Do đó, thai không thể có mối liên hệ huyết thống với người mang thai. NgườiMTH chỉ mang giúp cho người khác nhằm mục đích sinh con chohọvìngười đó không thể tự mình mang thai và sinh con.
Như vậy,về mặt bảnchất, MTH là một quá trình thực hiện các kĩ thuật ytếvới những phương pháp khoa học hiệnđại can thiệp vào việc mang thai tựnhiên của con người, khi mà quá trình mang thai tự nhiên của con người bị hạnchế bởi những nguyên nhân khác nhau. MTH thường được thực hiệnđối với người không có khả năng sinh con mà nguyên nhânchủyếuxuất phát từ tình trạng y khoa của người đó không thể mang thai hoặc rất nguy hiểm khi mang thai như: Không cótửcung nhưng còn chức năng ở một hoặc hai buồng trứng bao gồm: (i) Không cótửcung bẩm sinh; (ii)Cắt tửcung vì bệnh lý ung thư; (iii) Cắttửcung do xuất huyết nặng hoặcvỡ tửcung. (2) Sẩy thai nhiềulầnhoặc rất khó mang thai đến cuối thai kỳ; (3) Thất bại nhiềulầnsauđiềutrị TTTON; (4) Các bệnh lý khi mang thai đe dọa tính mạng mẹ…30 Dođó,việc thực hiện MTH nhằmtạocơhộilàm cha,mẹ cho nhữngchủthể mà họkhông thể tựmình mang thai và sinh con. Khi sựphát triển của khoa học kỹ thuật cho phéphọ cóthể hiện thực hóa ước mơ có con thì việc thực hiện MTH là điềutất yếuvà có ý nghĩa khá tích cực.
Như vậy, từ sự phân tích trên có thể xác định rằng: MTH là việc áp dụng biện pháp kĩ thuật lấy noãn không phải củangười MTH và tinh trùngcủangười nhờmang thai để TTTON sau đó cấy vào tử cung của phụ nữ MTH để người này mang thai và sinh con cho bên nhờ MTH.
MTH với tư cách là một sự kiện pháp lý baogồm sự biếnpháp lý và hành vi pháp lý. Trong khoa học pháplý, “với tưcách và điều kiện làm phát sinh quanhệpháp luật, trước hết, phải kể đếncấu thành sự kiện, nghĩa là tổng hợp các sự kiện pháp lý. Cấu thành sự kiện thông thường hỗn hợp, có thể là sự kiện, có thể là hành vi.”31 Sựbiến pháp lý là nhữngsựkiện có tính chất tựnhiên,xẩyra khôngphụthuộc vào ý chí của con người. Hành vi pháp lý là sự kiện nảy sinh do ý chí của con người (chủ thể của quan hệ pháp luật) biểu thị ý chí của chủ thể nhằm làm phát sinh một hậuquả pháp lý nhất định. MTH với những đặc trưng riênggắnliền với việc thực hiện mang thai phi tự nhiên nhưng đồng thời quá trình mang thai lạigắnvới các cơchế tựnhiên của cơ thể con người. Người phụ nữ sau khi thực hiện việccấy
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\CHẾ ĐỊNH MANG THAI HỘ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

