Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân là một đòi hỏi có tính cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong những năm qua, đất nước ta đã có những bước tiến vượt bậc về kinh tế, xã hội, đời sống vật chất và tình thần của nhân dân được cải thiện rất đáng kể. Bên cạnh thành tựu đã đạt được, những ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường, tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm diễn biến phức tạp, một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng về số vụ với tính chất và hậu quả nghiêm trọng hơn. Kết quả hoạt động của các cơ quan tư pháp trong những năm gần đây đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững thành quả cách mạng và tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới.
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp. Nghị quyết số 49-NQ/TƯ về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 thể hiện quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong cải cách tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan được trao chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung, trong điều tra vụ án hình sự nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời góp phần có hiệu quả vào việc giáo dục ý thức pháp luật. Kết quả điều tra vụ án hình sự là điều kiện tiên quyết thiết thực, trực tiếp cho việc truy tố và xét xử của tòa án được đúng đắn.
Gia Lai là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Nguyên của nước ta, với diện tích 15.536,92 km², dân số 1.322.000 người (điều tra dân số đến năm 2011) bao gồm nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh sống. Trong những năm qua, các cơ quan tố tụng tỉnh Gia Lai, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân, về cơ bản đã hoạt động hiệu quả, đóng góp tích cực vào công tác đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh kết quả đã đạt được, công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai vẫn còn bộc lộ một số yếu kém, hạn chế so với yêu cầu cải cách tư pháp. Những yếu kém trên do nhiều nguyên nhân khác nhau như nhận thức của cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra chưa đầy đủ, nhưng trong đó chủ yếu là do ý thức pháp luật và năng lực của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân còn nhiều hạn chế. Việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai còn nhiều thiếu sót cần phải khắc phục. Có như vậy việc áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai mới đạt kết quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời gian tới.
Đồng thời, từ góc độ lý luận, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, chuyên sâu về vấn đề thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai.
Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn Đề tài: “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn thực hành quyền công tố, Luận văn đưa ra những phương hướng và giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật.
+ Đánh giá thực tiễn và phân tích làm rõ những ưu điểm cũng như những hạn chế yếu kém và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai.
+ Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
+ Lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu;
+ Quy định của pháp luật liên quan đến quyền công tố và thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát;
+ Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn tỉnh Gia Lai từ năm 2011 đến năm 2015.
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu. Cụ thể từ khi bắt đầu thực hành quyền công tố cho đến khi kết thúc điều tra chuyển Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án, không nghiên cứu giai đoạn Viện kiểm sát truy tố và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về tổ chức nhà nước pháp quyền, về Cải cách tư pháp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong Luận văn, tác giả vận dụng một số phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát và tổng kết thực tiễn… để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về về hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu trên một địa bàn nhất định là của các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể được dùng làm tư liệu tham khảo phục vụ cho cán bộ, kiểm tra viên, kiểm sát viên trong cơ quan Viện kiểm sát, nhất là những Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp để nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật.
Bên cạnh đó, Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu giảng dạy, học tập và nghiên cứu một số chuyên đề khác có liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu;
Chương 2: Thực tiễn công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu ở tỉnh Gia Lai;
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp tăng cường công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu ở tỉnh Gia Lai.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hành quyền công tố
1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố
1.1.1.1. Khái niệm quyền công tố
Hiến pháp năm 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa ra thuật ngữ “thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của Viện kiểm sát nhân dân. Thuật ngữ này được nhắc lại ở Điều 1 và Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981. Như vậy, trong các hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, bên cạnh khái niệm truyền thống “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất hiện khái niệm “Quyền công tố” và “thực hành quyền công tố”. Song, cho đến nay, khi chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh cải cách tư pháp, vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao trong nhận thức vấn đề này. Khái quát lại thì có một số quan điểm sau:
Từ những nội dung được trình bày trên, người nghiên cứu cho rằng: quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà.
Từ khái niệm trên, có thể xác định đối tượng, nội dung, phạm vi quyền công tố như sau:
– Đối tượng của quyền công tố
Với quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện sự buộc tội (thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự) đối với người phạm tội, người nghiên cứu quan niệm đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội.
– Nội dung của quyền công tố
Trên cơ sở quan niệm của mình về quyền công tố và đối tượng của quyền công tố đã được nêu ở trên, theo ý kiến người nghiên cứu nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi tội phạm.
– Phạm vi quyền công tố
Xuất phát từ quan điểm coi quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội, người nghiên cứu cho rằng quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
1.1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tố
Xuất phát từ chỗ coi quyền công tố là việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, có quan điểm cho rằng:
“Thực hành quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó”.
Chúng tôi nhận thấy quan niệm như trên về thực hành quyền công tố là hợp lý. Từ những nội dung được trình bày trên, chúng tôi cho rằng, thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Nội dung này được thể hiện khá cụ thể tại các Điều 13, 17 và Điều 14, 16, 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và năm 2014; Điều 112 và 165 Bộ luật hình sự năm 2003 và năm 2015.
1.1.1.3. Phân biệt thực hành quyền công tố với kiểm sát hoạt động tư pháp
Tóm lại, ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự, thực hành quyền công tố là những biện pháp mà Viện kiểm sát trực tiếp quyết định (như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra; quyết định việc truy tố bị can ra Tòa); còn kiểm sát các hoạt động tư pháp là những biện pháp Viện kiểm sát không trực tiếp ra quyết định, mà qua công tác kiểm sát, nếu phát hiện các vi phạm pháp luật của Cơ quan điều tra thì kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục.
1.1.2. Các đặc điểm thực hành quyền công tố
1.1.2.1. Chủ thể thực hành quyền công tố
Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định pháp luật từ năm 1960 đến nay, thì Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan được giao chức năng thực hành quyền công tố. “Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát để sử dụng quyền công tố; bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát phải trông nom, bảo đảm cho tốt”. Thực tiễn tổ chức và hoạt động mấy chục năm qua của Viện kiểm sát nhân dân các cấp cho thấy, 100% các vụ án hình sự đều do Viện kiểm sát truy tố và thực hiện sự buộc tội trước phiên toà sơ thẩm, đưa ra lời kết luận của mình tại phiên toà theo các trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Cùng với những hoạt động đó, Viện kiểm sát các cấp còn có quyền khởi tố, yêu cầu khởi tố, xem xét việc khởi tố của Cơ quan điều tra và Toà án.
1.1.2.2. Nội dung thực hành quyền công tố
Nội dung thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng tố tụng độc lập để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Vậy, trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định việc truy tố người phạm tội ra tòa để xét xử hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật.
Những hoạt động như đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và với những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm là thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.
1.1.2.3. Các hoạt động thực hành quyền công tố
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra được quy định tại Điều 14 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự, trong đó Điều 12 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định chung về các nhiệm vụ, quyền hạn và cũng là trách nhiệm thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra.
1.1.3. Vai trò thực hành quyền công tố
Vai trò chủ đạo, quyết định của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra vụ án hình sự được thể hiện cụ thể hơn, rõ nét hơn và đầy đủ hơn ở các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan này (Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự 2003). Theo đó, mặc dù cơ quan điều tra trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra là chủ yếu, nhưng nhìn một cách toàn diện và xét đến cùng, Viện kiểm sát là cơ quan có vai trò chủ đạo, quyết định và chịu trách nhiệm đến cùng về toàn bộ quá trình thực hiện quyền công tố.
Với nội dung trình bày trên đây cho thấy, Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng có vai trò chủ đạo và quyết định trong các hoạt động tố tụng ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
1.2. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu
1.2.1. Giai đoạn điều tra vụ án đối với các tội xâm phạm sở hữu
– Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và của công dân.
– Có thể nói thời điểm bắt đầu của giai đoạn điều tra là từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và thời điểm kết thúc giai đoạn điều tra là bản kết luận điều tra và quyết định của Cơ quan Điều tra về việc đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc là ra quyết định đình chỉ vụ án hình sự.
Như vậy, đối tượng của hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu là những vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu đã xảy ra, đã được khởi tố. Mà chủ thể của hoạt động điều tra vụ án hình sự về tội xâm phạm sở hữu là Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theoquy định về phân công, phân cấp điều tra. Hoạt động điều tra được tiến hành theo trình tự, thủ tục của luật tố tụng hình sự, quá trình điều tra, chủ thể điều tra được áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để làm rõ sự thật của vụ án. Bản chất của hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu là quá trình nhận thức, chứng minh sự thật khách quan của vụ án xâm phạm sở hữu đã xảy ra theo yêu cầu của pháp luật.
Nhiệm vụ và các hoạt động điều tra được quy định ở Điều 111 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1.2.2. Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu
Các hoạt động điều tra do Cơ quan điều tra thực hiện và các cơ quan khác được giao thực hiện một số nhiệm vụ điều tra. Viện kiểm sát không trực tiếp điều tra các vụ án về các tội xâm phạm sở hữu. Viện kiểm sát chỉ thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu.

1.2.3. Các hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu
Trong quá trình điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu, khi có căn cứ xác định còn có người khác thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án, nhưng cơ quan điều tra không khởi tố, hoặc hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, hoặc ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can. Trong trường hợp cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát, sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can và gửi quyết định khởi tố bị can cho cơ quan điều tra tiến hành điều tra bổ sung. Trong thời hạn pháp luật quy định, Kiểm sát viên phải báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện quyết định một trong các hình thức xử lý sau:
– Nếu có đủ căn cứ để truy tố, Viện kiểm sát lập bản cáo trạng truy tố bị can ra trước tòa án.
– Nếu thấy hồ sơ vụ án thiếu những chứng cứ quan trọng mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được hoặc có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác hoặc có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.
– Nếu có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 hoặc Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự 1999, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án.
– Nếu có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án.
CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI
VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU Ở TỈNH GIA LAI
2.1. Một số tình hình liên quan đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Gia Lai
2.1.1. Tình hình các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Gia Lai (2011-2015)
Qua kết quả khảo sát, phân tích cho thấy xu thế tội phạm xâm phạm sở hữu xảy ra trên địa bàn tỉnh Gia Lai ngày một gia tăng cả về số vụ phạm tội và số đối tượng gây án. Về tính chất tội phạm, phương thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm cũng ngày càng phức tạp, tinh vi xảo quyệt và hoạt động ngày một liều lĩnh, mức độ ngày càng nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
2.1.2. Tổ chức, bộ máy hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai
Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai trực thuộc và chịu sự chỉ đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao; cơ cấu tổ chức gồm 17 Viện kiểm sát các huyện, thị xã, thành phố và 10 phòng trực thuộc Viện kiểm sát tỉnh. Ngành kiểm sát tỉnh Gia Lai hiện đang có 203 biên chế (Biên chế là 185, hợp đồng là 18), có 03 phòng thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự; các phòng khác thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Đối với các phòng thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự mỗi phòng có từ 4 đến 7 đồng chí, ở cấp huyện có bộ phận kiểm sát án hình sự có từ 3 đến 5 đồng chí, bộ phận hình sự do một đồng chí Phó Viện trưởng trực tiếp phụ trách và chịu sự chỉ đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp đó.
2.2. Thực tiễn các hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu ở tỉnh Gia Lai
2.2.1. Những kết quả đã đạt được
2.2.1.1. Trong việc phê chuẩn, huỷ bỏ, ban hành các quyết định tố tụng
Trong những năm qua, hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai có nhiều tiến bộ đáng kể. Mặc dù số lượng vụ án hình sự xảy ra đối với nhóm tội này qua các năm theo chiều hướng năm sau cao hơn năm trước, đồng thời, tính chất phức tạp, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm các tội này cũng tăng dần, nhưng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vẫn đạt kết quả tốt.
2.2.1.2. Trong việc giám sát và thực hiện các biện pháp điều tra
Đối với quyền năng tiến hành một số hoạt động điều tra: Theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Viện kiểm sát tiến hành điều tra trong trường hợp xét thấy cần thiết như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, bị hại, nguyên đơn dân sự…nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, làm căn cứ để ban hành các quyết định thuộc thẩm quyền. Hoạt động trực tiếp điều tra vụ án của Viện kiểm sát đối với các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Gia Lai chỉ mang tính chất thẩm tra lại các chứng cứ, tài liệu của vụ án làm cơ sở xem xét phê chuẩn các quyết định, lệnh theo đề nghị của Cơ quan điều tra. Thực tế cho thấy, ở những địa phương, đơn vị có số vụ án bình quân trên mỗi Kiểm sát viên thấp, thì Kiểm sát viên thường tích cực trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để có cơ sở phê chuẩn các quyết định, lệnh của Cơ quan điều tra, ngược lại ở các địa phương có số lượng án thụ lý trên mỗi Kiểm sát viên hàng năm cao thì hoạt động trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hạn chế hơn.
2.2.1.3. Trong xử lý kết quả điều tra của cơ quan điều tra
Trong những năm qua, chất lượng công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Gia Lai từng bước được nâng cao, góp phần trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đảm bảo mọi hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu của người dân đều được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tích đáng kể, đó được xem là những ưu điểm và kết quả đạt được là cơ bản cần được khẳng định. Đạt được kết quả nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó không thể không kể đến việc Đảng, Nhà nước ta ngày càng quan tâm nhiều hơn đến công tác tư pháp, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra và kết quả đó đã góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân trong xã hội.
2.2.2. Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân
2.2.2.1. Những bất cập, hạn chế
Do tính đặc thù của hoạt động tố tụng trong giải quyết án hình sự, đối tượng tác động của hoạt động tố tụng hình sự là tội phạm và người phạm tội, mỗi quyết định áp dụng pháp luật đều tác động trực tiếp đến những quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ. Cho nên, đối với các vụ án mà việc áp dụng pháp luật không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật hoặc không đúng với nội dung của pháp luật đều để lại hậu quả và những tác động tiêu cực đối với xã hội.
Đó là những những bất cập, hạn chế cần phải được nghiêm túc kiểm điểm khắc phục trong thời gian tới để làm tốt hơn công tác này vì Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn quan tâm đến hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung, đối với Viện kiểm sát nhân dân nói riêng, đó cũng là yêu cầu, đòi hỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với Viện kiểm sát và các cơ quan tư pháp khác không ngừng nỗ lực phấn đấu để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình, hạn chế, tiến tới khắc phục tình trạng bắt giữ, giam, khởi tố điều tra, truy tố, xét xử oan, sai, trái pháp luật.
2.2.2.2. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế
Những bất cập, hạn chế trong công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu nêu trên đây do nhiều nguyên nhân, kể cả khách quan và chủ quan, nhưng cơ bản có một số nguyên nhân sau:
Một, những quy định của pháp luật làm cơ sở pháp lý cho hoạt động thực hành quyền công tố hiện nay biểu hiện nhiều yếu tố bất cập, chưa đầy đủ và thiếu tính đồng bộ dẫn đến chất lượng áp dụng pháp luật trong giải quyết án hình sự nói chung mà các vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng còn nhiều hạn chế, nhất là sự bất cập của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự.
Hai, không ít cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát hai cấp của tỉnh Gia Lai chưa nhận thức được đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò, thẩm quyền của Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung cũng như trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra nói riêng.
Ba, về phẩm chất đạo đức và năng lực trình độ của chủ thể áp dụng pháp luật, qua thực tế hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hai cấp của tỉnh Gia Lai cũng còn nhiều hạn chế nhất định (như số liệu phân tích ở trên cho thấy, số người bị bắt tạm giữ sau phải trả tự do xử lý hành chính, số vụ án, bị can bị đình chỉ điều tra, số vụ án phải trả lại để điều tra bổ sung do vi phạm tố tụng và thiếu chứng cứ còn để xảy ra nhiều).
Bốn, công tác quản lý chỉ đạo điều hành và kiểm tra của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai trong những năm gần đây đã được quan tâm và chú trọng, kiểm tra định kỳ 6 tháng hoặc một năm, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Năm, công tác giám sát của các cơ quan đại biểu dân cử, của các tổ chức xã hội và nhân dân đối với hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp chưa có cơ chế giám sát hiệu quả.
CHƯƠNG 3
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU Ở
TỈNH GIA LAI
3.1. Dự báo những yếu tố liên quan đến công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu tỉnh Gia Lai
3.1.1 Dự báo về tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong thời gian tới
3.1.1.1. Cơ sở dự báo
Trong những năm gần đây, Gia Lai đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế xã hội. Số lượng hàng hóa, người, cùng phương tiện lưu thông qua địa bàn tỉnh ngày càng nhiều. Hàng năm hàng vạn người được bổ sung vào độ tuổi lao động cũng sẽ là sức ép lớn cho địa phương; hiệu quả từ công tác đào tạo nghề cho những người đến tuổi lao động và việc bố trí công việc cho họ cũng còn nhiều bất cập; việc cai nghiện cho những người đã từng nghiện ma túy, hoạt động tái hòa nhập cộng đồng đối với số này hiệu quả không cao cũng là một thách thức không nhỏ cho xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, trong đó tiềm ẩn nhiều yếu tố nảy sinh các vụ phạm tội như: trộm căp tài sản, cướp tài sản, hiếp dâm trẻ em, giết người v.v… kẻ phạm tội dùng nhiều thủ đoạn liều lĩnh, thực hiện hành vi ở các địa điểm như ngân hàng, các điểm thu đổi ngoại tệ, các khu công viên, trên các tuyến quốc lộ, khu công nghiệp, các trường học trên địa bàn …
3.1.1.2. Nội dung dự báo
Tình hình tội phạm trên địa bàn đã được kiềm chế, số vụ phạm tội diễn ra không tăng đột biến, song tính chất mức độ nguy hiểm ngày càng cao, có những diễn biến phức tạp và khó lường. Bên cạnh đó các vụ phạm tội trên địa bàn ngày càng táo bạo, hậu quả nghiệm trọng gây dư luận xấu trong nhân dân như: Các vụ phạm tội trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản, cướp tài sản… nổi lên đáng lo ngại, đặc biệt là các vụ phạm tội với các thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, phi truyền thống.
3.1.2. Tình hình cải cách tư pháp và các yêu cầu đối với công tác thực hành quyền công tố ở tỉnh Gia Lai
Từ cơ sở lý luận, từ hoạt động thực tiễn của ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai và xuất phát từ những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về đẩy mạnh cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta. Học viên thấy để bảo đảm quyền và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tất cả các vụ án hình sự nói riêng đòi hỏi cần phải có phương hướng và giải pháp đồng bộ có tính hệ thống, nhằm phát hiện và xử lý nhanh chóng, kịp thời, chính xác mọi hành vi phạm tội theo đúng quy định của pháp luật, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người vô tôi.
3.2. Các giải pháp tăng cường công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu tỉnh Gia Lai
3.2.1. Giải pháp về nhận thức
Có thể nói, việc nắm vững đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và pháp luật của Nhà nước là một yêu cầu khách quan bắt buộc trong hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tất cả các vụ án hình sự nói riêng của Viện kiểm sát.
Ngoài ra trong qua thực tiễn công tác, cần tham mưu cho cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp trong lãnh đạo, tổ chức hệ thống tư pháp; giải quyết các mối quan hệ; thực hiện các bảo đảm cho Viện kiểm sát các cấp thực hành quyền công tố trong điều tra các vụ án về tội xâm phạm sở hữu.
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực thi pháp luật
3.2.2.1. Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu
Bộ luật hình sự là một đạo luật lớn, sau một thời gian thi hành đã có những đóng góp quan trọng, thể hiện khá toàn diện chính sách hỉnh sự của Đảng, Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chế độ, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, các cá nhân. Tuy nhiên, bên cạnh đó nó vẫn còn bọc lộ một số tồn tại như bất cập trong việc khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu mà chủ sở hữu tài sản không muốn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, như đã đề cập theo chúng tôi đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu ít nghiêm trọng cần cho vào trường hợp khởi tố theo yêu cầu người bị hại.
3.2.2.2. Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố
Trong những năm qua Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã đáp ứng phần nào yêu cầu về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 mà chưa được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 khắc phục, trong phạm vi nghiên cứu liên quan đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự các tội xâm phạm sở hữu, người viết mạnh dạn đề xuất những giải pháp pháp luật để tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo cho Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự xâm phạm sở hữu.
3.2.2.3. Hướng dẫn áp dụng pháp luật
Triển khai thi hành các Bộ luật mới là việc đảm bảo đưa các quy định của các Bộ luật đó vào thực tiễn thi hành, làm sao cho quá trình thi hành pháp luật một cách có hiệu quả nhất, hạn chế đến mức thấp nhất những vướng mắc, bất cập phát sinh. Để làm được điều này cần quán triệt áp dụng những quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự năm 2015, đồng thời kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản hướng dẫn thi hành các Bộ luật mới về hình sự để đảm bảo áp dụng thống nhất, phù hợp và đúng pháp luật.
3.2.3. Giải pháp về tổ chức
3.2.3.1. Kiện toàn tổ chức Viện kiểm sát nhân dân hai cấp của tỉnh Gia Lai
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai cần chỉ đạo Viện kiểm sát nhân dân các huyện rà soát, kiện toàn tổ chức và bộ máy làm việc của các đơn vị theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để đảm bảo đủ về số lượng và đáp ứng yêu cầu về chất lượng theo đúng tinh thần Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của ngành Kiểm sát, phải bố trí Kiểm sát viên có đủ năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ để trực tiếp làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, Kiểm sát viên và các chức vụ quản lý phải đảm bảo đúng trình tự thủ tục, đúng tiêu chuẩn theo các quy định của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao cho từng chức danh, đảm bảo tính dân chủ, công khai.
3.2.3.2. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, Kiểm tra viên, Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phải có kế hoạch định kỳ đào tạo, đào tạo lại, thường xuyên tổ chức tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên, khắc phục tình trạng có Kiểm sát viên sau khi kết thúc đào tạo trình độ cử nhân mà nhiều năm sau không được đào tạo lại hoặc bồi dưỡng nghiệp vụ, tổng kết kinh nghiệm để nhân ra diện rộng, tổ chức nghiên cứu khoa học, xây dựng các chuyên đề nghiệp vụ, mở rộng các hình thức hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về thực hành quyền công tố. Các tiêu chuẩn về đào tạo, bồi dưỡng phải trở thành tiêu chuẩn không những của việc bổ nhiệm Kiểm sát viên mà còn là tiêu chuẩn của việc bổ nhiệm lại hoặc bổ nhiệm chức vụ quản lý.
3.2.3.3. Xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức đối với công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong giai đoạn điều tra, việc xây dựng được mối quan hệ phối hợp tốt giữa các đơn vị ở mỗi cấp kiểm sát, giữa các cấp kiểm sát cũng như giữa Viện kiểm sát với các cơ quan đơn vị ngoài ngành có một ý nghĩa to lớn, giúp cho việc khắc phục tình trạng “Việc ai người ấy làm”, hoặc tình trạng “quyền anh, quyền tôi”. Xây dựng được mối quan hệ phối hợp tốt sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
3.2.4. Hoàn thiện cơ chế giám sát đối với công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiến hành mạnh mẽ công cuộc cải cách hành chính và tư pháp, vấn đề đặt ra cả về lý luận và thực tiễn hiện nay là cần phải nghiên cứu, xem xét để điều chỉnh lại hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Viện kiểm sát cho phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Đây có thể xem như là cơ sở thực tiễn để nghiên cứu, xem xét khi lựa chọn phương án đảm bảo sự giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Viện kiểm sát cấp huyện theo yêu cầu cải cách trong thời gian tới.

3.2.5. Tăng cường cơ sở vật chất, hoàn thiện chế độ chính sách đối với cán bộ, Kiểm tra viên, Kiểm sát viên
Để thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố nói chung, thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra nói riêng đạt hiệu quả mong muốn, việc tăng cường trang thiết bị, phương tiện giao thông, liên lạc, trang thiết bị khoa học, công nghệ cho Viện kiểm sát các cấp là hết sức cần thiết, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân Tối cao trong thời gian tới sớm có kế hoạch đầu tư theo hướng sau:
– Đầu tư trang thiết bị và ứng dụng công nghệ thông tin có chất lượng cao phục vụ công tác, chuẩn hoá tin học.
– Đầu tư in ấn, cấp phát các văn bản pháp luật, tài liệu, đồng thời, trang bị phương tiện đi lại và dụng cụ bảo hộ phục vụ các hoạt động nghiệp vụ có tính độc hại cao như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khai quật tử thi, thực nghiệm điều tra …
– Có chế độ lương, phụ cấp và các đãi ngộ thoả đáng để không bị giao động, sa ngã trước mọi tác động, cám dỗ, mua chuộc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao.
KẾT LUẬN
Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, cải cách hành chính và cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay đang được Đảng và Nhà nước ta tiến hành nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng mô hình tổng thể của tổ chức bộ máy Nhà nước, trong đó có hệ thống cơ quan tư pháp, xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng của từng cơ quan trong hệ thống tư pháp và cơ chế vận hành hệ thống đó. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chỉ thị, Nghị quyết, Hiến pháp và pháp luật xác định chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là thực hiện chức năng thực hành quền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn để tác giả tiếp cận, nghiên cứu về vấn đề thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai hiện nay. Những năm qua, hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu nói riêng và các vụ án hình sự nói chung của ngành kiểm sát nhân dân nói chung và của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai nói riêng đã đạt được những thành tích đáng kể. Góp phần ổn định chính trị, bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân. Bên cạnh đó, hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu vẫn còn bộc lộ những thiếu sót, như: bỏ lọt tội phạm, án trả lại điều tra bổ sung còn nhiều… phần nào chưa kiểm soát được tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp đặt ra. Để góp phần vào khắc phục tình trang trên và bảo đảm chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai, học viên đã khảo sát đánh giá thực trạng của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu tại địa phương. Để từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp khắc phục và nâng cao chất lượng việc áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cải cách tư pháp hiện nay. Luận văn đã khảo sát, phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu tại Gia Lai trong những năm qua. Học viên phân tích đánh giá những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế, yếu kém của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai. Những hạn chế, yếu kém do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Song nguyên nhân chủ quan vẫn là cơ bản và chủ yếu, nhất là trình độ năng lực chuyên môn và kiến thức pháp lý của một bộ phận không nhỏ cán bộ, Kiểm tra viên, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Từ đó đưa ra đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\PHAM BINH AN\New folder

