Các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam

Các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam

Các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Tội phạm, được hiểu theo nghĩa khái quát nhất là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt. Sự xuất hiện của tội phạm diễn ra cùng với sự chuyển đổi xã hội từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái chính trị, tức là trạng thái xã hội có Nhà nước và pháp luật. Để bảo đảm cho xã hội không bị phá tan vì các xung đột, Nhà nước đã quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người nào thực hiện các hành vi đó. Như vậy, từ lịch sử đến hiện tại, việc quy định tội phạm và hình phạt luôn luôn là phương thức đấu tranh chống tội phạm và nó đã chứng tỏ là một trong những phương thức bảo vệ quyền con người, giữ cho xã hội ổn định và phát triển. Vì thế, nó phải được duy trì và phát huy hiệu quả, bằng cách nhận thức ngày càng tốt hơn, đầy đủ hơn về tội phạm và hình phạt. Đây chính là nhu cầu nghiên cứu tự thân, tức là do chính sự vận động và biến đổi không ngừng của bản thân tội phạm trên thực tế, do tính phức tạp và đa dạng của bản thân tội phạm, làm phát sinh nhu cầu nghiên cứu những quy định về tội phạm và hình phạt một cách thường xuyên và dưới nhiều góc độ, trong đó có cả phương thức thực hiện tội phạm, còn gọi là các giai đoạn thực hiện tội phạm, cái mà đề tài luận văn này muốn đề cập.

Mặt khác, do văn minh xã hội ngày càng cao, các quyền con người phải được thực hiện ngày càng tốt hơn, đầy đủ hơn, nên nguyên tắc công bằng càng phải được chú trọng trong việc quy định về tội phạm và hình phạt. Do vậy, việc nghiên cứu các giai đoạn thực hiện tội phạm có giá trị thiết thực, đặc biệt trong điều kiện hiện nay ở nước ta, khi mà công cuộc cải cách trên các lĩnh vực, trong đó có cải cách tư pháp hình sự, đã đạt được những thành quả nhất định.

Xét trên phương diện thực tế, tức là qua thực tiễn xét xử tại thành phố Đà Nẵng lại cho thấy, việc áp dụng pháp luật hình sự trong việc xác định trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với người phạm tội tại các giai đoạn phạm tội là không thống nhất, còn nhiều bất cập, cần phải làm rõ. Bản thân giai đoạn thực hiện tội phạm cũng chứa đựng nhiều ý nghĩa, vừa thể hiện mức độ thực hiện ý định phạm tội vừa liên quan trực tiếp đến trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

Với cách nhìn nhận như vậy và cũng là để góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng bộ và nhân dân thành phố Đà Năng đã đề ra trong kế hoạch đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó, đấu tranh chống tội phạm bằng pháp luật hình sự luôn luôn giữ vai trò quan trọng. Vì thế, đề tài “Các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” đã được lựa chọn để nghiên cứu.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Vìđề tài thuộc chuyên ngành Luật hình sự, nên mục đích nghiên cứu của đề tài phải là hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự và hướng dẫn áp dụng quy định đó về giai đoạn thực hiện tội phạm.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đã nêu, đề tài cần phải thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

– Nghiên cứu lịch sử lập pháp về các giai đoạn thực hiện tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ;

– Nghiên cứu về các giai đoạn thực hiện tội phạm quy định trong luật hình sự một số nước;

– Nghiên cứu quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các giai đoạn thực hiện tội phạm;

– Nghiên cứu cụ thể, bao gồm các hoạt động tìm, thu thập, xử lý, phân tích, so sánh những số liệu thống kê thường xuyên, bản án hình sự và báo cáo tổng kết của Tòa án thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015;

– Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự liên quan đến các giai đoạn thực hiện tội phạm và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý đối với từng giai đoạn thực hiện tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này phải đi tìm sự phù hợp giữa thực tế diễn biến các giai đoạn của sự kiện phạm tội, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng giai đoạn đó với quy định của pháp luật. Nói cách khác, đối tượng nghiên cứu của đề tài này là bản chất pháp lý của các giai đoạn thực hiện tội phạm.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Xét về nội dung, đề tài này được thực hiện trong chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự;

Xét về địa bàn và thời gian, đề tài sử dụng số liệu thống kê hình sự và các bản án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật và áp dụng pháp luật hình sự.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: quy nạp, diễn dịch; hệ thống; thống kê tội phạm; phân tích, tổng hợp; so sánh; điều tra, khảo sát; tổng kết kinh nghiệm. Từ đó rút ra những đánh giá, kết luận và đề xuất các kiến nghị liên quan đến các giai đoạn thực hiện tội phạm.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn là công trình nghiên cứu về các giai đoạn thực hiện tội phạm trên cơ sở khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật Hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015, nên kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị góp phần bổ sung vào lý luận, cũng như quy định của pháp luật về giai đoạn thực hiện tội phạm và có thể được sử dụng làm tài liệu học tập cũng như nghiên cứu trong phạm vi chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.

6.1. Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung vào kinh nghiệm công tác đấu tranh chống tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về các giai đoạn thực hiện tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Các biện pháp bảo đảm xác định và xử lý đúng từng giai đoạn thực hiện tội phạm.  

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT

VỀ CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM

THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

    1. 1.1. Khái niệm và ý nghĩa của các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam
      1. 1.1.1. Khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam

Khoa học luật hình sự trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đều phân biệt các giai đoạn phạm tội, như là cách thức để nhận biết dấu hiệu của tội phạm ở từng thời điểm thực hiện.

Có thể đưa ra khái niệm đang nghiên cứu như sau: Các giai đoạn phạm tội là các bước của quá trình thực hiện tội phạm do cố ý (trực tiếp) do luật hình sự quy định, phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ở từng thời điểm khác nhau, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.

Từ khái niệm nêu trên, có thể nêu lên những đặc điểm chính của các giai đoạn thực hiện tội phạm như sau:

  • Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước, các giai đoạn phát triển nhất định mà tội phạm trải qua gồm: Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
  • Các giai đoạn thực hiện tội phạm được quy định trong luật hình sự.
  • Các giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ được đặt ra đối với tội phạm thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp.
  • Các giai đoạn thực hiện tội phạm phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau của hành vi phạm tội ở từng thời điểm trong quá trình thực hiện tội phạm (chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành).

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, cũng đã có nhiều tác giả đưa ra những quan điểm về khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm và được thể chế hóa trong Bộ luật hình sự Việt Nam để từ đó phân biệt giữa khái niệm tội phạm chưa hoàn thành và tội phạm đã hoàn thành, đồng thời làm rõ cơ sở để phân chia các giai đoạn phạm tội nhằm xác định đúng và đầy đủ trách nhiệm hình sự đối với từng giai đoạn thực hiện tội phạm. Qua đó, có thể hiểu về khái niệm và trách nhiệm hình sự đối với từng giai đoạn phạm tội cụ thể như sau:

1.1.1.1. Giai đoạn chuẩn bị phạm tội

1.1.1.2. Giai đoạn phạm tội chưa đạt

1.1.1.3. Giai đoạn tội phạm hoàn thành

1.1.1.4. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

      1. 1.1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu các giai đoạn thực hiện tội phạm

Tội phạm có thể được thực hiện trong một hành vi phạm tội xảy ra cùng một lúc hợp thành một cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, hoạt động phạm tội diễn ra trong một khoảng thời gian tương đối dài. Trong khoảng thời gian đó, người phạm tội thực hiện dự định phạm tội của mình theo từng giai đoạn nhất định.

Việc phát hiện, làm sáng tỏ các giai đoạn thực hiện tội phạm nhằm đảm bảo nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự Việt Nam. Nguyên tắc công bằng là tư tưởng mang tính chỉ đạo, định hướng được quán triệt xuyên suốt, trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự nước ta. Nguyên tắc công bằng thể hiện ở hai phương diện: Công bằng giữa những người phạm tội và tương xứng giữa biện pháp trách nhiệm hình sự với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội.

Việc nghiên cứu, xác định đúng các giai đoạn thực hiện tội phạm có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân biệt tội phạm hoàn thành với tội phạm chưa hoàn thành, đối với việc định tội danh hành vi phạm tội, cũng như đối với việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã được thực hiện và nhân thân người phạm tội. Bởi vì, thông thường tội phạm hoàn thành nguy hiểm hơn tội phạm chưa đạt, còn phạm tội chưa đạt nguy hiểm hơn chuẩn bị phạm tội. Ngoài ra, việc xác định giai đoạn cụ thể của việc thực hiện tội phạm là cơ sở cho việc cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội.

Việc phát hiện, làm sáng tỏ các giai đoạn thực hiện phạm tội, trước hết là chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, có ý nghĩa quan trọng đối với việc ngăn chặn gây ra hậu quả thực tế cho các quyền và lợi ích của Nhà nước và cá nhân được pháp luật bảo vệ. Việc ngăn chặn tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị hoặc ở thời điểm bắt đầu thực hiện, nhưng chưa hoàn thành, sẽ khắc phục được việc gây ra hậu quả thực tế.

    1. 1.2. Quy định của pháp luật về các giai đoạn thực hiện tội phạm
      1. 1.2.1. Khái quát lịch sử lập pháp về các giai đoạn thực hiện tội phạm

1.2.1.1. Giai đoạn sau Cách mạng tháng 8 đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực pháp luật

1.2.1.2. Giai đoạn Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực

1.2.1.3. Giai đoạn Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực

      1. 1.2.2. Các giai đoạn thực hiện tội phạm trong luật hình sự một số nước

Pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự trên thế giới đều có chung mục đích là bảo vệ công lý, giữ vững chế độ chính trị, bảo vệ đất nước, đảm bảo quyền con người. Tuy nhiên, ở mỗi nước lại có cách nhìn nhận riêng, quy định riêng, có phần giống và cũng có phần khác nhau trong mỗi điều luật.

a. Bộ luật hình sự Liên bang Nga

Liên bang Nga là quốc gia có lịch sử pháp luật hình sự lâu đời với nhiều quan điểm phong phú. Bộ luật hình sự Liên bang Nga, được Đuma quốc gia thông qua ngày 24/05/1996, sửa đổi năm 2010 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự Liên bang Nga). Khoa học luật hình sự Liên bang Nga từ trước đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về các giai đoạn phạm tội. Điểm đáng ghi nhận là trong Bộ luật hình sự nước này có một chương riêng về Tội phạm chưa hoàn thành (Chương 6) với các Điều luật cụ thể như:

– Điều 29 quy định về tội phạm hoàn thành và chưa hoàn thành;

– Điều 30 quy định về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt;

– Điều 31 quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

b. Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Pháp luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có quy định về tội phạm chưa hoàn thành, tuy nhiên khái niệm khá ngắn gọn. Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ II, ngày 01/7/1979, có hiệu lực từ ngày 01/01/1980. Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự này được sửa đổi vào năm 1997, có hiệu lực từ ngày 01/10/1997. Từ sau năm 1997, Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được sửa đổi, bổ sung vào năm 1999, 2001, 2002, 2005 và gần đây là 2009 tại Hội nghị lần thứ 16 của Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa).

Tóm lại, Bộ luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa coi phạm tội chưa đạt là một trong hai trường hợp phạm tội có tình tiết giảm nhẹ nên cũng được xử lý, thể hiện ở quy định có thể xử lý nhẹ cho trường hợp này dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định cho tội phạm hoàn thành. Tuy nhiên, cụ thể hóa trách nhiệm hình sự đối với phạm tội chưa đạt lại chưa thật rõ ràng so với Bộ luật hình sự Việt Nam.

Các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Hàng năm, Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng có phân tích số liệu tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự, tuy nhiên chưa có sự thống kê về các vụ án, các bị cáo đã xét xử về tội phạm chưa hoàn thành. Việc chưa tiến hành thống kê số liệu về tội phạm chưa hoàn thành do nhiều nguyên nhân xuất phát từ thực tiễn của việc thống kê, số lượng tội phạm ở giai đoạn chưa hoàn thành (chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt) còn khá thấp so với tội phạm ở giai đoạn hoàn thành. Vì vậy, thông qua phương pháp điều tra án điển hình, thực hiện việc nghiên cứu các bản án hình sự trong thực tiễn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để đưa ra được những nhận xét khách quan và tương đối hoàn chỉnh về thực tiễn các vụ án đã xét xử đối với các giai đoạn thực hiện tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Cụ thể qua nghiên cứu 100 bản án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015 đã cho thấy tỷ lệ bản án của tội phạm chưa hoàn thành so với tội phạm đã hoàn thành như sau:

Bảng 2.1. So sánh tỷ lệ bản án của tội phạm chưa hoàn thành so với tội phạm đã hoàn thành thông qua nghiên cứu 100 bản án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015

100 bản án hình sự của TAND hai cấp TP Đà Nẵng
Tội phạm chưa hoàn thànhTội phạm hoàn thành
Số vụ892
Tỷ lệ8%92%

Trong 08 bản án hình sự về tội phạm chưa hoàn thành thì tội phạm đã bị xét xử về những tội sau:

Bảng 2.2. So sánh tỷ lệ các tội phạm cụ thể trong 08 bản án hình sự về tội phạm chưa hoàn thành

Tội phạm chưa hoàn thành (Số lượng: 08 bản án)
Tội danhSố lượng bản ánTỷ lệ

%

Điều luật áp dụng
Tội giết người0562.593
Tội trộm cắp tài sản0225138
Tội hiếp dâm trẻ em0112.5112

Qua phân tích các vụ án điển hình nêu trên đã cho thấy tỷ lệ bản án hình sự về tội phạm chưa hoàn thành còn khá thấp so với tội phạm hoàn thành. Trong đó tội phạm chưa hoàn thành chủ yếu được áp dụng đối với Tội giết người – Điều 93, Tội trộm cắp tài sản – Điều 138 và Tội hiếp dâm trẻ em – Điều 112 của Bộ luật hình sự và đều do người phạm tội chưa thực hiện được đến cùng bởi những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội.

    1. 2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các giai đoạn thực hiện tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
    2. 2.1.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội

* Thông qua đánh giá khảo sát, điều tra án điển hình

Trong 08 bản án hình sự về tội phạm chưa hoàn thành (qua nghiên cứu 100 bản án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015) thì tỷ lệ các bản án mà tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội được thể hiện như sau:

Bảng 2.3. Tỷ lệ giai đoạn chuẩn bị phạm tội trong 08 bản án hình sự về tội phạm chưa hoàn thành

Tội phạm chưa hoàn thành (Số lượng: 08 bản án)
Giai đoạn phạm tộiSố lượng bản ánTỷ lệ
Chuẩn bị phạm tội00%

Như vậy, qua nghiên cứu 100 bản án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015 thì không có vụ án nào mà Tòa án xét xử tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Qua khảo sát ngẫu nhiên từ những người tiến hành tố tụng tại thành phố Đà Nẵng (10 Thẩm phán cấp tỉnh, 10 Thầm phán cấp huyện, 10 Kiểm sát viên, 10 Điều tra viên) cho thấy các vụ án được đưa ra xét xử ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội trên địa bàn thành phố trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015 là không có, phần lớn cho rằng nguyên nhân là do có nhiều khó khăn trong việc chứng minh hành vi phạm tội, người phạm tội không thừa nhận mục đích các hành vi chuẩn bị phạm tội của mình, việc đánh giá từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng trong chuẩn bị của tội phạm còn chưa chính xác và trong thực tiễn thì người phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội thường bị các cơ quan Công an xử lí hành chính.

    1. 2.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với giai đoạn phạm tội chưa đạt

Thông qua phương pháp điều tra án điển hình, thực hiện việc nghiên cứu các bản án hình sự trong thực tiễn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Trong 08 bản án hình sự về tội phạm chưa hoàn thành (qua nghiên cứu 100 bản án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015) thì các giai đoạn thực hiện tội phạm trong tội phạm chưa hoàn thành được thể hiện như sau:

Bảng 2.4. So sánh tỷ lệ giai đoạn chuẩn bị phạm tội so với giai đoạn phạm tội chưa đạt trong 08 bản án hình sự về tội phạm chưa hoàn thành

Tội phạm chưa hoàn thành (Số lượng: 08 bản án)
Các giai đoạnSố lượng bản ánTỷ lệ
Chuẩn bị phạm tội00%
Phạm tội chưa đạt08100 %

Như vậy, qua nghiên cứu 100 bản án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015 thì có 08 vụ án mà Tòa án 2 cấp xét xử tội phạm ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Trong số các bản án hình sự về tội phạm chưa hoàn thành thì các bản án mà tội phạm ở giai đoạn phạm tội chưa đạt có tỷ lệ tuyệt đối 08/08 vụ (100%), tuy nhiên so với giai đoạn tội phạm đã hoàn thành thì có tỷ lệ rất thấp. Bên cạnh đó, phạm tội chưa đạt chỉ được áp dụng đối với các tội là tội giết người, tội trộm cắp tài sản và tội hiếp dâm trẻ em.

Thực tế trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, số lượng các vụ án hình sự mà Tòa án nhân dân hai cấp tại thành phố Đà Nẵng xét xử và áp dụng đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội theo Điều 17 của Bộ luật hình sự là không có. Vì thực tế để xác định và chứng minh một người tìm kiếm, sửa soạn công cụ phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng là rất khó khăn. Do đó, đã số những trường hợp này đều bị cơ quan Công an xử lý hành chính. Đối vơi những vụ án mà các bị cáo phạm tội ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, các Tòa án mà cụ thể là Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa đã đánh giá đúng tính chất mức độ của hành vi phạm tôi, xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân của bị cáo để từ đó đưa ra những mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Do đó, các vụ án trên đều được bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chấp hành nghiêm túc, không bị kháng cáo, kháng nghị. Điều này cũng tạo nên niềm tin vào công lý và công bằng xã hội, từng bước thể hiện rõ nét năng lực của đội ngũ Thẩm phán hai cấp Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Đồng thời góp phần không nhỏ và nhiệm vụ chính trị của địa phương.

    1. 2.1.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với giai đoạn tội phạm hoàn thành

Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự nói chung và trong xét xử án hình sự Tòa án nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng trong thời gian vừa qua đã góp phần to lớn vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Đồng thời, đã kịp thời trừng trị những hành vi phạm tội, răn đe, phòng ngừa, giáo dục mọi công dân có ý thức chấp hành pháp luật.

Thời gian qua, việc áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02/02/2002 của Bộ Chính trị. Qua đó, đã có những đóng góp tích cực đáng kể trong việc bảo vệ chế độ sở hữu; chế độ quản lý kinh tế, văn hóa xã hội chủ nghĩa, trật tự quản lý hành chính nhà nước. Đồng thời, có những tác động to lớn vào công tác giáo dục ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật của mọi công dân trên địa bàn quận và đạt được những thành tựu to lớn trong việc góp phần bảo vệ các quyền của con người, quyền của công dân trên tất cả các lĩnh vực. Các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; cướp tài sản; hiếp dâm; mua bán trái phép chất ma túy; vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ… đã được các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy và xét xử nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần quan trọng vào việc giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, răn đe và phòng ngừa tội phạm trong xã hội.

Tuy nhiên, thời gian qua việc áp dụng pháp luật đối với giai đoạn tội phạm hoàn thành của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng vẫn còn những hạn chế, thiếu sót nhất định, như: cho bị cáo được hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật; bỏ lọt tội phạm…dẫn đến việc bị sửa, hủy án.

    1. 2.2. Những kết quả đạt được từ thực tiễn

Giai đoạn thực hiện tội phạm vừa thể hiện mức độ thực hiện ý định phạm tội vừa liên quan trực tiếp đến trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Vì vậy, việc đưa ra một nguyên tắc hợp lý xác định giai đoạn thực hiện tội phạm tạo cơ sở lý luận để xác định đúng giai đoạn thực hiện tội phạm đối với các trường hợp phạm tội cụ thể là việc làm có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Giai đoạn thực hiện tội phạm được hiểu là các bước trong quá trình phạm tội do cố ý bao gồm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Các giai đoạn phạm tội này thể hiện các mức độ thực hiện tội phạm khác nhau và do vậy, cũng phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Vì lý do đó, luật hình sự Việt Nam cũng như luật hình sự nhiều nước trên thế giới đều có các quy định xác định hình phạt được áp dụng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội nhẹ hơn hình phạt đối với trường hợp phạm tội chưa đạt và hình phạt được áp dụng đối với cả hai trường hợp phạm tội này đều nhẹ hơn hình phạt được áp dụng đối với trường hợp tội phạm hoàn thành.

Trong thời gian qua, Tòa án nhân dân hai cấp tại thành phố Đà Nẵng đã đưa ra xét xử một số vụ án hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Tất cả các hồ sơ vụ án đều được Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa nghiên cứu chặt chẽ. Đối với trường hợp giai đoạn chuẩn bị phạm tội dù có những quy định chưa rõ ràng và khó áp dụng trong thực tiễn nên các cơ quan tiến hành tố tụng chưa lập hồ sơ và đưa ra xét xử vị cáo nào phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Đối với các tội phạm ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, Hội đồng xét xử đều xem xét đánh giá toàn diện hồ sơ vụ án, những điều kiện khác quan, nguyên nhân chủ quan, động cơ, mục đích cũng như nhân thân, thân nhân người phạm tôi, lỗi của người bị hại… để từ đó quyết định và đưa ra mức án phù hợp với tính chất, mức độ mà hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2015 có 08 vụ án được Tòa án nhân dân hai cấp tại thành phố Đà Nẵng đưa ra xét xử ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Tất cả phần quyết định của 08 Bản án đều áp dụng Điều 18 và Điều 52 của Bộ luật hình sự với mức án đủ sức răn đe người phạm tội, có tính chất giáo dục và phòng ngừa chung.

Những vụ án còn lại đều ở giai đoạn tội phạm hoàn thành. Trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, số lượng các vụ án hình sự thụ lý, xét xử theo trình tự sơ thẩm hàng năm luôn chiếm tỷ lê lớn và có chiều hướng gia tăng.

Việc áp dụng pháp luật của những người tiến hành tố tụng trong xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng những năm qua luôn đảm bảo chính xác và đúng pháp luật. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng qua công tác xét xử phúc thẩm đã phát hiện những sai sót của Tòa án cấp huyện, quận trong việc áp dụng pháp luật và kịp thời uốn nắn những sai sót này cho Tòa án cấp huyện, quận. Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án cấp huyện nói riêng và hệ thống Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng nói chung.

    1. 2.3. Những khó khăn, hạn chế, bất cập và nguyên nhân

Trong quá trình áp dụng pháp luật về quy định đối với các giai đoạn thực hiện tội phạm cho thấy: Đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng chưa xét xử vụ án nào. Đối với tội phạm hoàn thành thì tác giả đã đưa ra phân tích những kết quả đạt được ở mục 2.4. Hiện nay, về mặt lý luận quy định về giai đoạn chuẩn bị phạm tội và tội phạm chưa hoàn thành còn nhiêu cách hiểu và quan điểm khác nhau. Dẫn đến việc áp dụng pháp luật khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, cụ thể:

Một là, về khái niệm, Điều 18 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định chưa đầy đủ, chưa chính xác, chưa phản ánh rõ bản chất của hành vi phạm tội chưa đạt. Trong hành vi của phạm tội chưa đạt, dấu hiệu “bắt đầu thực hiện tội phạm” là dấu hiệu xác định thời điểm đầu tiên đồng thời là dấu hiệu cơ bản để phân biệt phạm tội chưa đạt với chuẩn bị phạm tội, còn “… không thực hiện đến cùng…” có thể bị hiểu là không thực hiện được đến cùng so với mục đích hoặc kế hoạch đã được định trước của chủ thể (thực chất ở đây là so với thời điểm tội phạm hoàn thành về mặt pháp lý). Hơn nữa, trong định nghĩa của các khái niệm phạm tội chưa đạt chưa có ghi nhận nguyên tắc chung của việc xác định trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa hoàn thành, chưa có định nghĩa pháp lý về tội phạm chưa hoàn thành.

Hai là, như đã đề cập căn cứ vào mục đích thực hiện ý định phạm tội mà người phạm tội dự định thực hiện phạm tội chưa đạt mà khoa học luật hình sự Việt Nam có thể được chia phạm tội chưa đạt thành hai dạng như sau: Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành nhưng chưa được cụ thể hóa trong Bộ luật hình sự.

Ba là, quy định tại khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt còn bộc lộ một số hạn chế: 1) Khoản 3 Điều 52 quy định: “… nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư (3/4) mức phạt tù mà điều luật quy định”. Cách viết như vậy là chưa chặt chẽ, có thể đưa tới tình trạng hiểu theo nhiều cách khác nhau dẫn đến việc quyết định hình phạt trên thực tiễn cũng sẽ khác nhau mà tác giả đã phân tích trong luận văn này. 2) Khoản 3 Điều 52 không chỉ rõ khung hình phạt được áp dụng mà chỉ nói chung chung 3/4 mức phạt tù của điều luật quy định. 3) Khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự cũng quy định đối với trường hợp phạm tội chưa đạt – nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì có thể áp dụng các trường hợp này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

Bốn là, cũng từ vấn đề trên đã dẫn tới sự tranh luận trong khoa học luật hình sự. Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành về phạm tội chưa đạt Việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung những quy định cũ, xây dựng những quy định mới nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về phạm tội chưa đạt là đòi hỏi có tính cấp bách, phục vụ kịp thời thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới, nhất là khi tội phạm đó còn chưa hoàn thành. Tuy nhiên, việc đổi mới và hoàn thiện này phải dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm, trên cơ sở tổng kết thực tiễn và phải là cơ sở pháp lý vững chắc thể hiện được các tư tưởng pháp chế, nhân đạo, dân chủ, cũng như phù hợp với pháp luật hình sự các nước trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế… Do đó, sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam cũng hoàn toàn phù hợp với nội dung của Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”.

Các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM XÁC ĐỊNH VÀ

XỬ LÝ ĐÚNG TỪNG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM  

    1. 3.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự liên quan đến các giai đoạn thực hiện tội phạm

Trên cơ sở những phân tích những yêu cầu cấp thiết của việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành liên quan đến các giai đoạn thực hiện tội phạm và quá trình tham khảo các quy định pháp luật của một số nước trên thế giới về các giai đoạn thực hiện tội phạm. Từ đó, chúng ta có thể tham khảo, tiếp thu và chọn lọc các quy định pháp luật về các giai đoạn thực hiện tội phạm của một số nước trên thế giới, cùng với những kinh nghiệm rút ra trong thực tiễn để đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự của Việt Nam liên quan đến việc các giai đoạn thực hiện tội phạm.

    1. 3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với các giai đoạn thực hiện tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
      1. 3.2.1. Nâng cao công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và kiểm tra của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới

Tăng cường hơn nữa vai trò chỉ đạo của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới trong công tác xét xử. Tòa án cấp trên phải có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng, rành mạch cho từng bộ phận công tác và cho mỗi cán bộ một cách khoa học và hợp lý, nhằm phát huy hết năng lực, sở trường của họ, đảm bảo sự phối kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bộ phận công tác. Đồng thời, phải nắm được đầy đủ, sâu sát và toàn diện từng vấn đề, từng nội dung công việc, nhất là những vấn đề quan trọng, phức tạp được quần chúng nhân dân quan tâm để chỉ đạo kịp thời, chính xác theo định pháp luật.

Những vấn đề nội dung thỉnh thị của cấp huyện về những khó khăn vướng mắc như đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, quan điểm xử lý vụ án, bị can… cấp trên cần kịp thời trả lời chính xác, định thời hạn và dám chịu trách nhiệm trong nội dung trả lời, tránh chung chung thiếu tính khoa học và tính thuyết phục.

      1. 3.2.2. Tăng cường giải thích hướng dẫn áp dụng pháp luật

Bộ luật hình sự năm 1999, đã qua một lần sửa đổi, bổ sung bãi bỏ hoặc thay thế một số điều, khoản, cụm từ của Bộ luật hình sự năm 1999 nhưng hiện nay vẫn còn một số quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 chưa cụ thể mà chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền nên lúng túng trong nhận thức đánh giá chứng cứ và xác định tội danh và quyết định hình phạt.

Quy định như vậy là chưa chặt chẽ, khiến người đọc có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau dẫn đến việc quyết định hình phạt trên thực tiễn cũng sẽ khác nhau; không chỉ rõ khung hình phạt được áp dụng mà chỉ nói chung chung ½ hay ¾ mức phạt tù của điều luật quy định.

      1. 3.2.3. Nâng cao năng lực của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân

Cần có những quy định chặt chẽ về Thẩm phán, nhất là tiêu chuẩn và quy trình tuyển chọn Thẩm phán, dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như: sức khỏe và tinh thần trách nhiệm cao, có niềm tin nội tâm vững chắc; Phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp; Trình độ chuyên môn nghiệp vụ (phải hiểu biết pháp luật sâu); Kinh nghiệm thực tế trong thời gian công tác…

Tại các phiên tòa, Hội thẩm nhân dân có vai trò quan trọng đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử, góp phần giúp việc xét xử của Tòa án diễn ra công bằng, chính xác, khách quan. Vì vậy, cần tổ chức các đợt tập huấn nghiệp vụ cho các vị Hội thẩm nhân dân về việc thẩm vấn, tranh tụng với các câu hỏi đúng trọng tâm, đánh giá các tình tiết vụ án khách quan, xác định chính xác tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; kiên quyết đấu tranh với những tội phạm nguy hiểm, đối tượng chủ mưu cầm đầu, từ đó cùng Thẩm phán chủ toạ phiên toà nghị án và quyết định về hình phạt một cách nghiêm minh, khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần đảm bảo an ninh trật tự xã hội.

      1. 3.2.4. Nâng cao vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật

a. Đối với Cơ quan điều tra

Trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong công tác này là giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm đúng pháp luật, đầy đủ; bảo đảm mọi tội phạm đều được phát hiện, khởi tố, điều tra và xử lý.

b. Đối với Viện kiểm sát

Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các vụ án hình sự có vị trí rất quan trọng. Theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát có quyền và trách nhiệm kiểm sát việc khởi tố và điều tra vụ án hình sự ngay từ đầu quá trình điều tra và kiểm sát thường xuyên, liên tục theo quá trình điều tra.

c. Đối với Tòa án nhân dân

Cần phải nâng cao vai trò của Tòa án trong công tác xét xử các vụ án hình sự, tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xét xử các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay, ngành Tòa án nhân dân cần làm tốt công tác bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ và nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân.

KẾT LUẬN

Hành động cố ý phạm tội cũng như bất kỳ hoạt động nào của con người trong xã hội đều diễn ra theo quá trình nhất định. Người cố ý phạm tội luôn mong muốn thực hiện được trọn vẹn quá trình đó để đạt mục đích của mình. Nhưng trong thực tế có những trường hợp vì nguyên nhân ngoài ý muốn, người phạm tội đã không thực hiện được toàn bộ quá trình đó mà phải dừng lại ở những thời điểm khác nhau. Để đánh giá mức độ thực hiện tội phạm và qua đó có cơ sở để xác định phạm vi trách nhiệm hình sự của người phạm tội, đảm bảo sự công bằng trong hoạt động áp dụng pháp luật, pháp luật Hình sự Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới có quy định về các giai đoạn phạm tội, trong đó có các giai đoạn như sau: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Các giai đoạn phạm tội là những bước trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý trực tiếp. Căn cứ để xác định chính là ở những yếu tố thuộc về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, thời điểm chấm dứt của những hành vi đó, cũng như mức độ thực hiện ý định phạm tội của chủ thể. Trong các giai đoạn phạm tội, thì chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được coi là tội phạm chưa hoàn thành (phân biệt với tội phạm hoàn thành). Việc quy định các giai đoạn thực hiện tội phạm là nhằm tạo cơ sở để có thể xác định những hành vi bị coi là tội phạm, giúp các cơ quan chức năng có cơ sở pháp lý để xử lý những hành vi gây thiệt hại, đe dọa gây thiệt hại cho các lợi ích xã hội cần bảo vệ, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt kết quả cao, cũng như phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt của người phạm tội có căn cứ, chính xác và đúng pháp luật, bảo đảm nguyên tắc pháp chế, bình đẳng và công bằng trong luật hình sự Việt Nam.

Dù các giai đoạn thực hiện tội phạm đã được ghi nhận trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985, sau đó tiếp tục được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, tiếp đó, lần sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (vào năm 2009) cũng không thay đổi nội dung này, tuy nhiên trong Phần chung của Bộ luật vẫn chưa đưa ra được một khái niệm đầy đủ và chính xác về các giai đoạn thực hiện tội phạm, các dạng của nó cũng như quy định cụ thể về trách nhiệm hình sự đối với tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Đồng thời, trong Bộ luật hình sự hiện hành việc quy định khung hình phạt cho tội phạm ở hai giai đoạn này cũng đã cho thấy nhiều bất hợp lý cần phải có sự điều chỉnh. Hơn nữa, về mặt văn bản nhà nước, các nghị quyết hướng dẫn áp dụng Phần chung Bộ luật hình sự rất ít nói đến việc thực hiện về tội phạm chưa hoàn thành.

Thực tiễn cho thấy trong việc điều tra, truy tố, xét xử các trường hợp tội phạm chưa hoàn thành được xử lý rất ít, chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với tổng số những hành vi của giai đoạn này trên thực tế. Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cũng cho thấy nhiều trường hợp bị các cơ quan áp dụng pháp luật bỏ qua hoặc nhầm lẫn việc xác định các tình tiết thể hiện người có hành vi trong chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.

Hiện nay, do những điều kiện nhất định mà các cơ quan bảo vệ pháp luật, Tòa án không có số liệu thống kê một cách cụ thể, chính xác về tội phạm chưa hoàn thành được thực hiện. Cụ thể mỗi năm có bao nhiêu trường hợp xảy ra, có bao nhiêu trường hợp quyết định đúng sai, tỷ lệ giữa tội phạm chưa hoàn thành với phạm tội đã hoàn thành được thực hiện là bao nhiêu không được thống kê, báo cáo đầy đủ. Cũng chính vì những lý do đó mà việc nghiên cứu đề tài này của tác giả cũng gặp rất nhiều khó khăn, tác giả không có nhiều số liệu cụ thể, mà chỉ đánh giá tình hình này thông qua phương pháp thống kê và đánh giá ngẫu nhiên các bản án hình sự của Tòa án, cũng như tìm hiểu từ các nguồn khác nhau. Do vậy, cũng không tránh khỏi thiếu sót.

Trên thực tế, nếu tội phạm chưa hoàn thành không bị phát hiện và đưa ra xét xử một cách kịp thời thì tội phạm (hoàn thành) sẽ được thực hiện sẽ gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng. Từ đó, công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm của các cơ quan tư pháp hình sự gặp rất nhiều khó khăn. Vì những lý do đó, cho thấy các cơ quan bảo vệ pháp luật, Tòa án cần làm tốt hơn, cụ thể hơn công tác thống kê hình sự, hệ thống hóa đối với hành vi phạm tội theo các giai đoạn. Do đó, luận văn này góp phần giải quyết được một số vấn đề lý luận – thực tiễn xung quanh các giai đoạn thực hiện tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam, ít nhiều góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.

Hiện nay Việt Nam đang hội nhập quốc tế một cách mạnh mẽ, sâu rộng, thì vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng cho phù hợp với hệ thống pháp luật trên thế giới là cần thiết và cấp bách. Cho nên pháp luật hình sự Việt Nam cần phải tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn, thu hút sự đóng góp tâm huyết của các nhà khoa học. Từ đó, chúng ta sẽ có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ, thống nhất, sẵn sàng ứng phó với bất kỳ những trở ngại trên đường phát triển. Do đó, khoa học luật hình sự Việt Nam phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, đặt ra những yêu cầu mới trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Từng bước, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam như mục tiêu của Đảng:

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 [6].

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\PHAM MINH THONG\New folder

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *