Áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế hệ trẻ là hạnh phúc của mỗi gia đình, là chủ nhân tương lai của đất nước, có vai trò rất quan trọng, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Vấn đề chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ và phòng ngừa ngăn chặn người chưa thành niên phạm tội là một việc làm mà ở tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm, nghiên cứu và thực hiện. Nếu không có sự quan tâm đúng mức của Nhà nước thì hậu quả không chỉ trước mắt mà là còn gánh nặng cho thế hệ mai sau. Ở Việt Nam, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là các cơ quan bảo vệ pháp luật, đòi hỏi Nhà nước cần có những chính sách phù hợp không chỉ với quy định trong điều ước quốc tế mà nước Việt Nam là thành viên, mà còn phù hợp với đạo đức truyền thống của dân tộc, qua đó đảm bảo cho sự phát triển thế hệ tương lai đất nước. Trong thời gian qua cùng với việc xây dựng chủ trương, đường lối chính sách trên tất cả các lĩnh vực, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm, chăm lo về mọi mặt cho người chưa thành niên. Với sự quan tâm đó, số đông các em thiếu niên Việt Nam là người sống có lý tưởng, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nỗ lực học tập tiếp thu kiến thức nhằm nâng cao trí tuệ cho bản thân và cống hiến công sức, tài năng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một bộ phận thanh, thiếu niên ở độ tuổi chưa thành niên không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, có lối sống buông thả đua đòi và một phần cũng do sự thiếu quan tâm của gia đình dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật.
Quảng Ngãi là tỉnh thuộc khu vực Miền Trung – Tây Nguyên. Hiện nay, tỉnh có 01 thành phố, 13 huyện; trong đó, 06 huyện đồng bằng, 06 huyện miền núi, 01 huyện đảo và 01 huyện Trung du với tổng diện tích là 5153 km², dân số vào khoảng 1.217.159 người.Trong những năm gần đây, Quảng Ngãi đã tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường, nâng cao an sinh xã hội nên đã từng bước được ổn định, phát triển về mọi mặt [10]. Tuy nhiên, Quảng Ngãi cũng còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, trong đó có vấn đề tội phạm và tội phạm do người chưa thành niên thực hiện. Đây là vấn đề rất được Đảng bộ và Chính quyền tỉnh quan tâm chỉ đạo cho các ban, ngành, địa phương cần tăng cường phổ biến pháp luật đến tận cơ sở, nhà trường và mọi tầng lớp nhân dân nhưng tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vẫn diễn ra phức tạp. Từ năm 2012 đến năm 2016, hàng năm trung bình toàn tỉnh có 35 vụ án với 45 bị cáo là người chưa thành niên bị xét xử sơ thẩm hình sự. Tính chất phạm tội ngày càng tinh vi, chuyên nghiệp, có tổ chức. Tính chất đặc biệt của chủ thể này thể hiện ở chỗ, người chưa thành niên (NCTN) là người chưa đủ 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. Do đó, tội phạm do người chưa thành niên gây ra có những đặc điểm riêng khác so với tội phạm đã thành niên gây ra.
Chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam đối với người chưa thành niên phạm tội có vị trí đặc biệt trong chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta. Pháp luật về việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em, các quy định khác của pháp luật về lao động, việc làm, về giáo dục… đều có quan điểm tiếp cận riêng đối với đối tượng trẻ em. Pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự… cũng có nhiều nội dung điều chỉnh đặc biệt đối với người chưa thành niên phạm tội. Vì thế, việc xét xử và quyết định các biện pháp xử lý hình sự phải mang tính đặc biệt, phù hợp lứa tuổi mà Đảng và Nhà nước ta đã nêu thành mục đích xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội. Cụ thể, việc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội “chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người công dân có ích cho xã hội”. Từ đó, biện pháp xử lý hình sự có xu hướng nghiêng về các biện pháp tư pháp ngoài hình phạt tù như giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Song thực tế hiện nay, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa quan tâm áp dụng rộng rãi các biện pháp trên mà chủ yếu áp dụng hình phạt tù. NCTN phạm tội bị tuyên hình phạt tù có thời hạn hiện chiếm đến 99,12% trong tổng số các loại hình phạt nói chung.
Mặt khác, trong thực tiễn hoạt động, các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó đặc biệt là Tòa án đã áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội theo các nguyên tắc và quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, phần nào vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do các cơ quan áp dụng pháp luật chưa nhận thức được đầy đủ các quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam về cơ sở pháp lý của áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội nói chung, đặc biệt là những quy định liên quan đến trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng. Ngoài ra, các quy định của Bộ luật hình sự về vấn đề này còn một số hạn chế, vướng mắc nhất định, chưa đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn xã hội. Tất cả những điều này đã làm giảm đi hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, cũng như hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về áp dụng pháp luật hình sự đối với đối tượng đặc thù này.
Như vậy, việc nghiên cứu cơ bản những quy định của pháp luật hình sự của Nhà nước ta về áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi là hết sức cần thiết. Nó sẽ giúp ích cho việc làm rõ cơ sở lý luận từ thực tiễn xử lý, tìm ra những sai sót hay khiếm khuyết trong quá trình xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự để khắc phục. Qua đó sẽ đóng góp cho việc đấu tranh phòng và chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện một cách hiệu quả hơn. Vì thế đề tài “Áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”đã được tác giả lựa chọn để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, pháp luật và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật đối với NCTN phạm tội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, đề tài đưa ra các kiến nghị về hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự, cũng như kiến nghị giải pháp áp dụng quy định của pháp luật hình sự về áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội một cách phù hợp hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Thứ nhất, tìm hiểu vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội;
– Thứ hai, tìm hiểu về thực tiễn áp dụng pháp luật hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016;
– Thứ ba, kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự và giải pháp bảo đảm việc áp dụng pháp luật đúng đối với người chưa thành niên phạm tội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở thực tế việc áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, Luận văn phải xác định và luận giải được sự phù hợp hoặc chưa phù hợp giữa quy định của pháp luật hình sự và thực tế thực hiện hành vi phạm tội của người chưa thành niên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Về nội dung, đề tài được thực hiện trong phạm vi chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự;
– Về địa bàn, đề tài được thực hiện trong phạm vi tỉnh Quảng Ngãi;
– Về thời gian, đề tài nghiên cứu số liệu thực tế trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, gồm số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và 100 bản án hình sự sơ thẩm.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về tội phạm và áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự, như: phương pháp lịch sử; so sánh, kể cả luật so sánh; tổng kết thực tiễn; phân tích; thống kê; tổng hợp…
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần hoàn thiện pháp luật cũng như hoàn thiện lý luận áp dụng pháp luật hình sự; đồng thời có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo luật.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể được sử dụng trong thực tiễn chỉ đạo và tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật, đặc biệt là nâng cao hiệu quả của công tác xét xử của Tòa án, khi giải quyết các vụ án hình sự do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý của áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội.
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.
- CHƯƠNG 1
- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
- 1.1. Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
Khi đề cập đến khái niệm áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thì vấn đề đầu tiên cần làm sáng tỏ là khái niệm người chưa thành niên phạm tội.
Người chưa thành niên phạm tội là thuật ngữ được sử dụng trong ngành luật hình sự và luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên lại không có khái niệm pháp lý chính thức nào giải thích thuật ngữ này dù BLHS, TTHS có quy định chương riêng về NCTN phạm tội. Trong pháp luật hình sự, thuật ngữ NCTN được sử dụng dưới hai góc độ vừa là chủ thể tội phạm, vừa là đối tượng tác động của tội phạm. Dưới góc độ là chủ thể của tội phạm thì tuổi của NCTN phạm tội được giới hạn hẹp hơn so với tuổi của NCTN trong các ngành luật khác, đó là từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Theo Điều 68 BLHS 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này” [37, tr.18].
Về khái niệm người chưa thành niên phạm tội, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, cũng như các đặc điểm liên quan đến tâm – sinh lý, điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, lịch sử, truyền thống của nước ta, về cơ bản các nhà khoa học đều thống nhất về khái niệm người chưa thành niên phạm tội.
“Người chưa thành niên phạm tội là người đã thực hiện một hành vi bị quy định là tội phạm trong Bộ luật hình sự, có đủ điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự và có thể bị xử lý theo pháp luật hình sự” [66].
Tóm lại, trên cơ sở lập luận trên có thể đưa ra định nghĩa khoa học về NCTN phạm tội như sau: Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có lỗi cố ý hoặc vô ý trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm.
1.1.2. Khái niệm áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Áp dụng pháp luật là: “hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, đối với cá nhân, tổ chức cụ thể” [63].
Áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là hoạt động vận dụng quy định của pháp luật hình sự để giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội do cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện.
1.1.3. Các đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Thứ nhất, áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.
Thứ hai, áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là hoạt động phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Việc áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền được pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Thứ ba, áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là hoạt động điều chỉnh mang tính chất cá biệt, cụ thể đối với những quan hệ xã hội nhất định. Cũng giống như áp dụng pháp luật hay áp dụng pháp luật hình sự nói chung, áp dụng pháp luật hình sự được thực hiện đối với từng trường hợp người chưa thành niên phạm tội cụ thể.
Thứ tư, áp dụng pháp luật hình sự là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo trong phạm vi quy định của pháp luật. Gắn liền với đặc điểm thứ ba của áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là việc áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là áp dụng pháp luật đối với từng trường hợp phạm tội riêng biệt, do đó, người áp dụng pháp luật pháp luật hình sự phải vận dụng sáng tạo quy định của pháp luật hình sự tương ứng để xác định tội và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội cụ thể.
1.2. Cơ sở pháp lý của áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
1.2.1. Quy định về tội phạm
Cơ sở pháp lý của việc định tội danh đối với người chưa thành niên phạm tội là quy định về tội phạm (thuộc phần chung và phần các tội phạm) được quy định chung đối với cả người thành niên và người chưa thành niên phạm tội. Những quy định thuộc phần chung Bộ luật hình sự tạo cơ sở pháp lý cho việc định tội đối với người chưa thành niên phạm tội là những quy định cho phép xác định tội phạm như khái niệm tội phạm, phân loại tội phạm, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi, giai đoạn phạm tội, đồng phạm… Những quy định thuộc phần các tội phạm của Bộ luật hình sự về cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý trực tiếp để định tội đối với người chưa thành niên phạm tội. Các quy định về tội phạm làm cơ sở pháp lý của việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội về cơ bản là những quy định để xác định tội phạm được áp dụng chung đối với mọi chủ thể thực hiện tội phạm. Do đó, có thể nói rằng cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng quy định về tội phạm nói chung khi áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Xuất phát từ cơ sở pháp lý chung này, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự để định tội người chưa thành niên phạm tội không có khác biệt so với áp dụng pháp luật hình sự đối với người thành niên phạm tội.

1.2.2. Quy định về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội
Xuất phát từ đường lối vận động, giáo dục thanh thiếu niên của Đảng và Nhà nước ta, từ những đặc điểm tâm – sinh lý của người chưa thành niên và dựa trên cơ sở thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam, các nhà làm luật đã quy định toàn diện và thống nhất các nguyên tắc cơ bản có tính chất chỉ đạo, xuyên suốt quá trình khi xử lý người chưa thành niên phạm tội. Do đó, Điều 68 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” [37]. Theo điều luật trên, về nguyên tắc khi giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội phải căn cứ trước hết vào các quy định của Chương X Phần chung, đồng thời cũng phải vận dụng các quy định khác của Bộ luật hình sự như: Cơ sở của trách nhiệm hình sự, các nguyên tắc xử lý, những quy định về tội phạm và hình phạt, về các biện pháp tư pháp, quyết định hình phạt… song khi vận dụng các quy định đó thì không được trái với những quy định của Chương X Bộ luật hình sự này.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự là một căn cứ quan trọng nhất, thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa khi quyết định hình phạt, quyết định hình phạt mà không căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự sẽ làm cho bản chất của hình phạt thay đổi, mục đích của hình phạt không đạt được, dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật; bản án mà Tòa án tuyên chẳng những không đúng pháp luật mà còn không được dư luận đồng tình gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng khác.
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
Ở TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. Khái quát tình hình thụ lý vụ án có bị cáo là người chưa thành niên từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Cùng với sự phát triển của đất nước, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày càng được quan tâm, đặc biệt là sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1990. Việt Nam cũng đã xây dựng được một hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác bảo vệ trẻ em nói chung và người chưa thành niên trong các vụ án hình sự nói riêng. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự của cả nước trong thời gian qua cho thấy, tỷ lệ tội phạm do người chưa thành niên thực hiện vẫn có chiều hướng gia tăng; cơ cấu, tổ chức, tính chất tội phạm ngày càng phức tạp và nghiêm trọng; có không ít trường hợp đã bị Tòa án xét xử, áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhưng hiệu quả của việc áp dụng hình phạt chưa cao, tỷ lệ người chưa thành niên tái phạm còn nhiều.
Đối với tỉnh Quảng Ngãi, trong những năm qua, mặc dù tình hình trật tự trị an của tỉnh được ổn định và tiếp tục giữ vững, nhưng tình hình tội phạm nhìn chung lại chưa có chiều hướng giảm như mong muốn. Nhất là tội phạm do NCTN gây ra, hiện tượng này đã gây những bức xúc, lo lắng cho xã hội, cho nhà trường và cho gia đình.
2.2. Kết quả áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trong những năm qua, tình hình xét xử án hình sự đối với những bị cáo là người chưa thành niên đã có nhiều tiến bộ rõ rệt. Thẩm phán được phân công xét xử đa số đều là những người có hiểu biết nhất định về tâm sinh lý của người chưa thành niên, cũng như hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của người chưa thành niên. Hoạt động xét xử những vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên nhìn chung là đúng quy định pháp luật, bảo đảm về mặt tố tụng.
Trong những năm qua, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã quán triệt tinh thần nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với NCTN phạm tội, coi NCTN phạm tội là đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, một chủ thể cần được giúp đỡ, giáo dục để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, trong quá trình xét xử, việc xử lý và áp dụng các chế tài hình sự đối với những vụ án có bị cáo là NCTN đều bảo đảm nguyên tắc – xử lý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, các quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN không bị tước bỏ, mà luôn được bảo vệ, tôn trọng và bảo đảm bằng sự giám sát của xã hội, của cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương và đặc biệt là Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
2.3. Một số vi phạm, sai lầm trong áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự để xét xử các vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở tỉnh Quảng Ngãi chúng tôi nhận thấy vẫn còn những vi phạm, sai lầm nhất định.
Bên cạnh việc áp dụng các hình phạt chính ra, trong quá trình xét xử, Tòa hai cấp của tỉnh Quảng Ngãi ít vận dụng các nguyên tắc xử lý khi xét xử đối với NCTN phạm tội trong xét xử với phương châm “lấy giáo dục, phòng ngừa là chính”, vẫn nặng về áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội.
CHƯƠNG 3
- YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP
- NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
- ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
- 3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Với tư tưởng xuyên suốt toàn bộ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là lấy giáo dục làm mục tiêu chính trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội mà Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999 đã thể hiện rõ tinh thần này. Do đó, để phù hợp với tinh thần của Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà nước ta đã tham gia và với những chuẩn mực quốc tế về tư pháp người chưa thành niên, cũng như khắc phục một số điểm bất cập, vướng mắc như đã nêu ở chương II, sự cần thiết hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội được xác định như sau:
Thứ nhất, để khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là phải bảo đảm các quyền cơ bản của người chưa thành niên phạm tội, đặc biệt là những quyền cơ bản về phát triển cá nhân và giáo dục.
Thứ hai, theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999, thì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, nếu người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị Tòa án tuyên là có tội thì chỉ có hai chế tài pháp lý hình sự được áp dụng với họ bao gồm – đưa vào trường giáo dưỡng và hình phạt tù có thời hạn.
Thứ ba, theo Bộ luật hình sự năm 1999 ngoài các hình thức xử lý hành chính và xử lý hình sự (xử lý chính thức), chúng ta chưa xác lập khung pháp lý riêng cho các hình thức xử lý khác mang tính giáo dục, phòng ngừa xã hội đối với người chưa thành niên phạm tội, với ý nghĩa tạo cơ hội cho họ tự kiểm kiểm, nhận thức được những hành vi sai trái của mình và chịu trách nhiệm những hành vi đó, đồng thời còn có vai trò giảm tới mức thấp nhất các hậu quả tiêu cực khi người chưa thành niên phạm tội bị xử lý hình sự hoặc hành chính thì rất cần thiết để thúc đẩy xây dựng các biện pháp thay thế trong xử lý người chưa thành niên phạm tội.
Thứ tư, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng người trẻ tuổi, đặc biệt là trẻ em và người chưa thành niên rất dễ bị ảnh hưởng do bị mất danh dự và rất nhiều hậu quả xấu có thể xảy ra. Vì vậy, việc bảo vệ người chưa thành niên khỏi những tác động có hại của việc công khai những thông tin về việc người chưa thành niên vi phạm pháp luật hay phạm tội có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1999 chưa quy định về mặt nguyên tắc việc bảo vệ sự riêng tư của người chưa thành niên trong quá trình xử lý họ. Do đó, cần thiết có quy định về việc bảo vệ những thông tin cá nhân (riêng tư) trong quá trình tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Thứ năm, để phù hợp với các nguyên tắc xử lý của pháp luật Việt Nam và quốc tế, đồng thời thực tiễn áp dụng nhiều hình phạt tự (xem Bảng 2.1 Chương 2 luận văn này); cũng cần có quy định về những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự hoặc xử lý chuyển hướng giúp người chưa thành niên phạm tội có khả năng tái hòa nhập với cộng đồng cao.
- 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
3.2.1. Những quy định về người chưa thành niên phạm tội đã được hoàn thiện trong Bộ luật hình sự 2015
Bộ luật hình sự năm 2015 ra đời đánh dấu một bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập cũng như phù hợp với tình hình thực tiễn về phát triển kinh tế – xã hội của nước ta. Với những nội dung sửa đổi, bổ sung tương đối toàn diện kể cả về kết cấu, bố cục, nội dung đã khắc phục phần lớn những bất cập trong BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội, BLHS năm 2015 chưa có hiệu lực thi hành, trừ những quy định có lợi đối với người phạm tội. Hiện nay, Chính phủ đã soạn thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự trình Quốc hội xem xét, quyết định. Tại dự thảo, Ban soạn thảo đã kế thừa chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước trong việc xử lý hình sự đối với người chưa thành niên được ghi nhận trong BLHS năm 1999, đồng thời, có những quy định làm sâu sắc thêm chính sách nhân đạo và tính nhất quán trong chính sách xử lý đối với đối tượng phạm tội này trên tinh thần bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em. Cụ thể:
Thứ nhất, thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
- Thứ hai, về miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
- Thứ ba, về các trường hợp được coi là không có án tích
3.2.1.2. Những vấn đề tiếp tục cần sửa đổi, bổ sung những quy định liên quan đến pháp luật hình sự về NCTN phạm tội
- Bộ Luật Hình sự năm 2015 và dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 đã có sự điều chỉnh mạnh mẽ trong chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên trên tinh thần đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên. Tuy nhiên, vẫn có những quy định bất cập, cần được tiếp tục xem xét để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với chủ trương nhân đạo hóa và chính sách xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội của Nhà nước ta. Cụ thể:
- Thứ nhất, về phạm vi xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
- Thứ hai, về mức phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Thứ ba, về điều kiện miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng đối với người chưa thành niên phạm tội
Thứ tư, về xóa án tích đối với người chưa thành niên phạm tội

3.2.2. Hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên
3.2.2.1. Tổng kết thực tiễn về áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội
Trong thời gian qua, TANDTC, các Cụm thi đua thuộc TANDTC và TAND tỉnh Quảng Ngãi đều có tổ chức sơ kết 6 tháng và tổng kết năm công tác; trong đó có xét xử án hình sự, thi hành án hình sự và giám đốc kiểm tra nhằm đánh giá về chất lượng giải quyết án hình sự cụ thể: tỷ lệ giải quyết án hình sự, tỷ lệ xét xử lưu động, số án bị sửa do sai, số án bị hủy do sai, số bị cáo bị tuyên hình phạt tù theo trình tự sơ thẩm, số án quá hạn luật định, số án tuyên không rõ ràng, việc cho hưởng án treo không đúng pháp luật… Thông qua đó, đánh giá ưu, khuyết điểm chủ yếu là về vấn đề áp pháp luật và tình trạng án hủy; sửa do sai chưa được khắc phục mà nguyên nhân chủ yếu là số lượng án thụ lý gia tăng, những vụ án bị hủy; sửa là vụ án phức tạp trong đánh giá chứng cứ, có cả nguyên nhân chủ quan do Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thiếu năng lực. Tổng kết công tác xét xử đã rút ra được bài học kinh nghiệm cho cán bộ Tòa án khắc phục được vướng mắc trong quá trình xét xử về thu thập và đánh giá chứng cứ, đặc biệt là áp dụng khi Quyết định hình phạt vào từng bị cáo cụ thể. Như vậy, hoạt động tổng kết thực tiễn xét xử là việc công bố, chọn lọc và hệ thống hóa quyết định, bản án trở thành hình mẫu đáng tin cậy giúp Tòa án giải quyết vụ việc tương tự về sau, đảm bảo được các nguyên tắc, các căn cứ Quyết định hình phạt chính xác. Có như vậy, mới đáp ứng được đường lối của và chủ trương của Nhà nước ta đã yêu cầu “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử”.
3.2.2.2. Xây dựng án lệ đối với người chưa thành niên phạm tội
Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị đã nêu: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ…”, “từng bước thực hiện công khai hóa các bản án.”. Thực hiện quy định này, TANDTC đã ra quyết định số 47/QĐ-TANDTC này 31/12/2012 về phê duyệt đề án phát triển án lệ của TANDTC và quyết định số 102/QĐ-TANDTC này 24/3/2016 về thành lập hội đồng tư vấn án lệ. Hiện nay đã công bố được 10 bản án là án lệ đăng trên cỗng thông tin điện tử đã mọi người đón nhận rất tích cực, đặc biệt là cán bộ làm công tác pháp luật, kể cả luật sư và nhân dân có vụ việc liên quan, bước đầu đã góp phần nâng cao chất lượng xét xử án hình sự nói chung và thực tiễn QĐHP đối với NCTN phạm tội nói riêng một cách chính xác, khách quan, công bằng; cũng như việc tự giải quyết của các tổ chức, cá nhân có vụ việc liên quan tương tự. Do vậy, Hội đồng thẩm phán TANDTC xác định nhiệm vụ ban hành án lệ là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên. Ngoài ra, theo tác giả đề nghị tấc cả các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC là án lệ, có như vậy gắn trách nhiệm của Hội đồng thẩm phán TANDTC khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm phải “chuẩn mực”.
Ngoài ra, còn phải ban hành văn bản mới để có một cách áp dụng vận dụng cho thống nhất như các biểu mẫu liên quan đến người chưa thành niên. Đặc biệt phải ban hành những văn bản hướng dẫn để giải thích những vấn đề còn chưa thật sự rõ ràng để vận dụng, áp dụng đúng quy định pháp luật.
3.2.3. Nâng cao năng lực vể áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên
Để nâng cao chất lượng điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự đối với bị cáo là NCTN phạm tội, một trong những giải pháp cần thực hiện tốt đó là nâng cao năng lực của người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội Thẩm nhân dân). Công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị cần được lãnh đạo ngành, tỉnh quan tâm kịp thời, có lộ trình lâu dài. Việc tăng cường mở các lớp đào tào ngắn hạn, trang bị những kiến thức cơ bản, hiểu biết cần thiết về NCTN cho đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm là điều vô cùng cần thiết. Bên cạnh đó, công tác bồi dưỡng nghiệp vụ về khoa học, giáo dục, tâm, sinh lý của NCTN sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu về trình độ, năng lực điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án hình sự đặc thù này. Hơn nữa, QĐHP là sản phẩm trí tuệ của con người nhân danh Nhà nước. Mặc dù, nhà làm luật có năng lực dự báo tốt đến đâu thì sản phẩm của họ cũng luôn đi sau sự vận động và phát triển của xã hội; cho nên đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải giỏi về kiến thức pháp lý mà còn có trải nghiệm về thực tế và kinh nghiệm trong công tác điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án hình sự nói chung và vụ án hình sự có bị cáo là NCTN phạm tội. Đặc biệt là Thẩm phán “phải vững về chính trị, tinh thông về nghiệp vụ, am hiểu nhân tình thế thái”. Muốn vậy, theo quan điểm của tác giả cần phải:
Thứ nhất, chú trọng công tác bổ nhiệm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và bầu Hội thẩm nhân nhanh chóng kịp thời để đáp ứng được khối lượng công việc ngày càng tăng;
Thứ hai, chú trọng công tác đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng dài hạn, ngắn hạn cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân về lý luận chính trị, về chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức căn bản, cần thiết về tâm, sinh lý của NCTN, tri thức về khoa học giáo dục thanh thiếu niên.
Thứ ba, phát động phong trào thi đua thực hiện tốt Hiến pháp, pháp luật nói chung, quy định của Luật phòng, chống tham nhũng. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá năng lực điều tra, truy tố và xét xử.
Thứ tư, đảm bảo chế độ bảo vệ tuyệt đối an toàn đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân khi thực hiện nhiệm vụ.
Thứ năm, có chế độ chính sách đãi ngộ đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân để họ yên tâm hoàn thành nhiệm vụ, không tiêu cực.
Thứ sáu, tổ chức phong trào nghiên cứu phát triển khoa học pháp lý và thiết lập mối quan hệ hợp tác trao đổi công tác thực tiễn, giữa các địa phương, các cơ sở đào tạo chức danh Tư pháp, các tổ chữ trong nước và quốc tế.
3.2.4. Các giải pháp khác
KẾT LUẬN
Nghiên cứu về áp dụng pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội yêu cầu chúng ta phải nghiên cứu đến tất cả phương diện nghiên cứu lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự bởi đối tượng áp dụng của nó là NCTN – đối tượng được Hiến pháp và pháp luật đặc biệt quan tâm bảo vệ. Do đó, áp dụng pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội đúng sẽ phát huy tác dụng đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục, cải tạo đối tượng này, giúp họ trở thành người lương thiện. Ngược lại, nếu áp dụng pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội không chính xác sẽ làm giảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục, cải tạo đối tượng này.
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 trước đây và năm 1999, sửa đổi năm 2009 hiện hành đều đặt ra một hệ thống quy định chuyên biệt thể hiện chính sách hình sự riêng đối với NCTN phạm tội. Trong đó đã chứa đựng các quy định về nguyên tắc, căn cứ áp dụng pháp luật, tổng hợp hình phạt trong trường hợp NCTN phạm nhiều tội. Tuy nhiên, qua quá trình thực thi BLHS Việt Nam năm 1999, sửa đổi năm 2009 hiện hành cho thấy đã nảy sinh nhiều hạn chế, vướng mắc đòi hỏi phải kịp thời sửa đổi, bổ sung như một yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội.
Từ thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội ở tỉnh Quảng Ngãi, thấy rằng về cơ bản chính xác, khách quan, công bằng và đúng pháp luật, cũng như chú trọng các mục tiêu giáo dục, cải tạo, hướng thiện, phòng ngừa. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử còn cho thấy đã nảy sinh các hạn chế, vướng mắc và việc áp dụng máy móc, cứng nhắc đã làm giảm hiệu quả chính sách hình sự nhân đạo đối với NCTN và làm giảm cơ hội tái hòa nhập xã hội của họ.
Vì vậy, khi áp dụng pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội không chỉ đòi hỏi đưa ra biện pháp xử lý tương xứng đối với hành vi phạm tội mà còn phải thể hiện được chính sách nhân đạo, khoan hồng và mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục, cải tạo NCTN phạm tội. Để đáp ứng được những yêu cầu đó, việc áp dụng pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội cần được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc, căn cứ vừa chặt chẽ, vừa đặc thù.
Những giải pháp được đề cập trong luận văn góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội, đồng thời góp phần đảm bảo ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\PHAM MINH VUONG\SAU BAO VE


