Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự VN

Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó việc đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND là một nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó xác định nhiều nội dung về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, về VKSND, Nghị quyết nêu rõ: “Trước mắt, VKSND giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. VKSND được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án. Nghiên cứu việc chuyển VKS thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”; Nghị quyết số 08/NQTW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị đã đặt ra yêu cầu: “VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ. Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ. VKS các cấp chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình”. 

Vì vậy, để nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và KSĐT, thì yêu cầu đặt ra là phải gắn hoạt động công tố với hoạt động điều tra. Từ đó, đặt ra yêu cầu VKSND cần phải nâng cao chất lượng KSĐT các vụ án về ma túy để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn công tác cũng như yêu cầu của cải cách tư pháp.

Như chúng ta đã biết, điều tra là hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng trong TTHS. Điều tra là giai đoạn đầu tiên trong quá trình tố tụng, đồng thời nó cũng là giai đoạn rất quan trọng bởi vì, hầu hết các tội phạm được xác minh và làm rõ trong quá trình điều tra. Chính vì vậy, chức năng KSĐT của VKS là yêu cầu tất yếu nhằm hạn chế tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng vi phạm các quy định trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lạm dụng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, vi phạm trong hoạt động đình chỉ, tạm đình chỉ, tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung vẫn còn tồn tại.

Thông qua thực tiễn công tác, tác giả quyết định chọn đề tài: “Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sỹ luật học nhằm đi sâu vào tìm hiểu những quy định của pháp luật về áp dụng pháp luật trong KSĐT của VKSND. Bên cạnh đó, đề tài cho chúng ta cái nhìn khách quan về thực trạng về hoạt động KSĐT đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác KSĐT các vụ án về ma túy cũng như các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài luận văn là làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng hoạt động KSĐT vụ án hình sự các tội phạm về ma túy của các cơ quan VKSND thành phố Đà Nẵng, chỉ rõ những hạn chế tồn tại và các nguyên nhân của vấn đề trên. Từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả KSĐT vụ án ma túy của các Cơ quan VKSND thành phố Đà Nẵng.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Trên cơ sở mục đích nghiên cứu được xác định, đề tài luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau:

+ Nghiên cứu phân tích làm rõ các vấn đề lý luận về tội phạm ma túy, điều tra vụ án ma túy, KSĐT vụ án ma túy của cơ quan Viện kiểm sát.

+ Đánh giá thực trạng hoạt động KSĐT vụ án ma túy của các Cơ quan VKSND thành phố Đà Nẵng.

+ Đề xuất hệ thống giải pháp để nâng cao hiệu quả KSĐT vụ án hình sự các tội phạm về ma túy của các cơ quan VKSND thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung vào những vấn đề sau:

+ Những vấn đề lý luận về thi hành pháp luật và thi hành pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy.

+ Thực tiễn thi hành pháp luật trong KSĐT đối với hoạt động của CQĐT.

+ Nguyên nhân phát sinh những tồn tại trong thi hành pháp luật của quá trình KSĐT và của CQĐT.

+ Những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy của VKS.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật TTHS về việc thi hành pháp luật của VKSND trong KSĐT các vụ án về ma túy.

Về thời gian: Tính từ ngày 01/12/2010 đến 01/12/2015.

Về địa bàn: Luận văn chọn khảo sát thực tế tại VKSND thành phố Đà Nẵng.

5. Phương pháp lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm của Đảng và pháp luật TTHS hiện hành quy định về việc thi hành pháp luật của VKSND đối với hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: Lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Qua kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của VKSND nói chung cũng như là của KSV nói riêng trong công tác KSĐT. Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến nghị, tác giả mong muốn góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật TTHS hiện hành để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn công tác.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ đang làm công tác tại VKS, đặc biệt là các KSV giải quyết án hình sự. Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại các trường Kiểm sát, Công an nhân dân, Tòa án, các Học viện, trường đại học đào tạo cử nhân Luật.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 03 ch­ương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy của các cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân.

Chương 2: Thực trạng kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng từ năm 2011-2015.

Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY CỦA

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. Những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy

1.1.1. Khái niệm về ma túy và những vấn đề lý luận về điều tra các vụ án về ma túy

Hiện có nhiều khái niệm khác nhau về ma tuý. Từ những khái niệm đó ta có thể đưa ra khái niệm về ma túy như sau: “Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người (bằng cách: tiêm, chích, hút, hít, nhai, nuốt…) nó sẽ làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý người đó. Nếu lạm dụng ma tuý, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó sẽ gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng, cho gia đình và cộng đồng, được quy định trong các công ước của Liên Hợp Quốc và luật pháp Việt Nam về kiểm soát ma tuý.”

Tại khoản 1- Điều 8 BLHS năm 1999 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

Khái niệm tội phạm về ma túy như sau: Tội phạm về ma túy là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước.

1.1.2. Khái niệm kiểm sát điều tra các vụ án hình sự về ma túy

Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, BLTTHS năm 2003, Viện kiểm sát vừa được giao trách nhiệm THQCT, vừa thực hiện chức năng KSĐT vụ án hình sự, nhằm đảm bảo việc khởi tố, điều tra có căn cứ và hợp pháp, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, góp phần bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích nhà nước; quyền và lợi ích hơp pháp của công dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.

Có thể định nghĩa về KSĐT các vụ án về ma túy như sau: KSĐT các vụ án về ma túy là chức năng hiến định của VKSND, có nội dung là giám sát trực tiếp mọi hoạt động tổ tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra các vụ án về ma túy, nhằm đảm bảo cho pháp luật TTHS được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất.

    1. 1.2. Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

1.2.1. Kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các vụ án về ma túy

Kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can là những hoạt động thực hành quyền công tố và KSĐT rất quan trọng của VKS. Đó là những hoạt động đầu tiên của một vụ án hình sự, của một công dân chính thức bị nghi vấn là thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hoạt động của VKS được xem như là một “trạm kiểm duyệt” sự oan sai, bỏ lọt tội phạm của VKS đối với CQĐT ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra cho KSV phải có tinh thần trách nhiệm thì mới có thể làm tốt công tác này.

1.2.2. Kiểm sát việc áp dụng, thay đồi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn

Hoạt động kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhằm: đảm bảo tính đúng đắn, có căn cứ và tính cần thiết của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội. Đối tượng kiểm sát là việc tuân theo pháp luật của các cơ quan và người có thẩm quyền trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với tội về ma túy. Phạm vi kiểm sát bắt đầu từ khi có người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn đến khi kết thúc, bị hủy bỏ, chấm dứt.

1.2.3. Kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án hình sự

Sau khi vụ án được khởi tố, VKSND tiếp tục thực hiện chức năng của mình là kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT. Hoạt động kiểm sát các hoạt động điều tra được thực hiện đó là:

– Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, tử thi

– Kiểm sát việc hỏi cung, lấy lời khai của cơ quan điều tra

– Kiểm sát việc đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra

– Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT

– Kiểm sát hoạt động khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản của Cơ quan điều tra

– Kiểm sát việc đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra và phục hồi điều tra

1.2.4. Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra

Thực tế điều tra VAHS có trường họp xảy ra tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các CQĐT với nhau như: Thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ,theo vụ việc; thẩm quyền điều tra của từng loại CQĐT, các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Trường họp thấy vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp mình, VKSND yêu cầu CQĐT tiến hành các thủ tục để VKSND cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án cho CQĐT có thẩm quyền tiếp tục điều tra theo quy định tại Điều 116, BLTTHS năm 2003 [21]. Nếu phải chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thì CQĐT cấp huyện tiến hành các thủ tục để VKSND cấp huyện có văn bản đề nghị VKSND cấp tỉnh ra quyết định chuyển vụ án. Nếu vụ án do CQĐT cấp tỉnh đề nghị chuyển thì VKSND cấp tỉnh ra quyết định chuyển vụ án.

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các CQĐT thuộc các ngành khác nhau, thì Viện trưởng VKSND cùng cấp nơi có tội phạm xảy ra hoặc nơi phát hiện tội phạm quyết định. Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các CQĐT cùng ngành ở cấp nào thì Viện trưởng VKSND cấp đó yêu cầu Thủ trưởng quản lý cùng cấp giải quyết.

1.2.5. Yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra

Trong quá trình kiểm sát các hoạt động điều tra, KSV phải kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật của CQĐT và của ĐTV. Các vi phạm trong quá trình điều tra vụ án được thể hiện dưới dạng khác nhau với nhiều tính chất khác nhau như: các quyết định khởi tố, không khởi tố VAHS, khởi tố bị can, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, quyết định khám xét, thu giữ vật chứng, có căn cứ hợp pháp hay có cần thiết không; các biện pháp điều tra khác như có đảm bảo các quy định của pháp luật không. Việc thu thập, bảo quản, đánh giá chứng cứ có khách quan không. Việc đề nghị truy tố người phạm tội về tội danh, điều luật, mức độ đã phù hợp với các chứng cứ trong vụ án và quy định của pháp luật chưa.

Khi phát hiện các vi phạm thì VKSND phải có văn bản kiến nghị hoặc văn bản yêu cầu CQĐT khắc phục ngay các vi phạm đó, yêu cầu Thủ trưởng CQĐT xử lý ĐTV đã vi phạm pháp luật; nếu vi phạm đó có đủ yếu tố cấu thành tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thì phải chuyển tài liệu cho CQĐT của VKSND tối cao để xử lý theo thẩm quyền.

Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1.2.6. Kiểm sát việc đề nghị truy tố

Sau khi kết thúc việc điều tra và có đầy đủ chứng cứ để xác định hành vi phạm tội của bị can thì CQĐT làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, nêu rõ nội dung, diễn biến của hành vi phạm tội và các chứng cứ chứng minh, đồng thời nêu những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án. Kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố là hồ sơ vụ án với các thủ tục tố tụng, các tài liệu chứa đựng chứng cứ chứng minh tội phạm và các tài liệu liên quan khác để đảm bảo cho việc truy tố được khách quan, toàn diện và đầy đủ.

Như vậy, thực hiện một quy trình KSĐT vụ án hình sự chính là hoạt động tổng hợp tính có căn cứ, tính hợp lý và hợp pháp của VKSND đối với hàng loạt các hoạt động điều tra của CQĐT. Nó không chỉ dừng lại ở việc hợp lý hóa các thông số khoa học một cách thông thường mà nó còn là việc chọn lọc tính có căn cứ, tính hợp lý trong từng biên bản, từng lời khai, từng chi tiết nhỏ nhất được phản ánh từ sự thật khách quan của mỗi vụ án đã được tái hiện lại bằng các biện pháp, thủ thuật nghiệp vụ dựa trên nền tảng của thủ tục tố tụng chặt chẽ.

Và Sau khi kết thúc điều tra vụ án về ma túy, CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án sang VKS để VKS thực hiện chức năng truy tố bị can theo quy định của pháp luật. “Truy tố là một giai đoạn của TTHS, trong đó VKS tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm truy tố bị can ra trước Tòa án bằng một bản cáo trạng hoặc những quyết định truy tố khác để giải quyết đúng đắn vụ án về ma túy”.

Viện Kiểm sát ra quyết định truy tố bằng một bản cáo trạng là giai đoạn cuối cùng của công tác KSĐT các vụ án về ma túy của VKSND.

1.2.7. Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

Trong quá trình THQCT, KSĐT các vụ án về ma túy, KSV có trách nhiệm phát hiện những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. KSV phải phối hợp với CQĐT, với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội để đề ra và thực hiện các biện pháp phòng ngừa đối với tội phạ về ma túy.

Đây là một hoạt động rất quan trọng của VKSND trong việc đấu tranh, phòng ngừa vi phạm và tội phạm. Qua thực tế KSĐT từng vụ án cụ thể, VKSND sẽ có điều kiện để tìm ra nguyên nhân và tính chất của từng loại tội phạm; từ đó sẽ rút ra được những quy luật khách quan và chủ quan của loại tội phạm và đề ra được những biện pháp hữu hiệu nhằm khắc phục, hạn chế sự gia tăng của tội phạm, đặc biệt là đối với các vụ án về ma túy.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TỪ NĂM 2010 – 2015

    1. 2.1. Khái quát kết quả hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
      1. 2.1.1. Những kết quả đạt được trong kiểm sát điều tra các vụ án về ma tuý

* Những kết quả đạt được: Theo báo cáo thống kê của VKSND thành phố Đà Nẵng thì từ năm 2010 đến năm 2015 số lượng khởi tố vụ án, khởi tố bị can phạm tội về ma túy và hoạt động áp dụng pháp luật trong công tác KSĐT như sau:

Bảng 2.1. Số vụ án, bị can VKS phải thụ lý KSĐT

NămSố vụSố bị canSố vụ kết thúc điều traSố bị can kết thúc điều traSố vụ quá hạn điều traĐạt tỷ lệ xử lý (vụ)**
20115881.0775691.079077,83
20125899815571.001076,4
20136651.1826381.183095,93
20147571.3647181.311094,84
20157111.2576781.221095,35

Ghi chú: ** Không kể số vụ án đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc chuyển thẩm quyền.

Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã chủ động phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật, tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy; kiềm chế sự gia tăng của tội phạm; góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Bảng 2.2. Số vụ án, bị can VKS phải xử lý

NămSố vụ

thụ lý

Số bị can thụ lýSố vụ đã truy tốSố bị can đã truy tốSố vụ quá hạn điều traĐạt tỷ lệ xử lý (vụ)**
20115971.1195791.057096,98
20125741.0635591.021097,38
20136551.2296391.195097,5
20147341.3357221.307098,3
20156941.2576911.249099,5

Ghi chú: ** Không kể số vụ án đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc chuyển thẩm quyền.

Với số liệu trên cho thấy, mặc dù số lượng án về ma túy phải thụ lý KSĐT không lớn; nhưng so với tỷ lệ dân số của địa phương thì số lượng án trên là khá cao so với các địa phương trong cả nước. Các vụ án về an ninh chính trị không xảy ra; các vụ án về kinh tế xảy ra nhiều nhưng hành vi gây thiệt hại không lớn.

2.1.2. Nguyên nhân của những kết quả đạt được

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm, ban hành nhiều Nghị quyết liên quan đến công tác tư pháp, từ đó đã tác động tích cực, nâng cao vị thế, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tư pháp nói chung, trong đó có trách nhiệm của VKSND.

Thứ hai, Vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong hoạt động điều tra ngày càng được củng cố và tăng cường

Thứ ba, Sự nỗ lực phấn đấu, học tập, tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, KSV đã tạo nhiều chuyển biến tích cực.

Thứ tư, Viện kiểm sát hai cấp thành phố Đà Nẵng luôn quan tâm đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo điều hành theo hướng sâu sát, cụ thể, quyết liệt.

Thứ năm, Viện kiểm sát hai cấp thành phố Đà Nẵng đã thực hiện ngày càng hiệu quả quan hệ phối hợp với CQĐT cùng cấp, hướng việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi ngành vào mục tiêu chung, phối hợp kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mỗi cơ quan.

Thứ sáu, Sự quan tâm sâu sắc của các cấp ủy Đảng, chính quyền cũng tạo nên sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức của nhân dân đối với công tác của ngành Kiểm sát.

Thứ bảy, Điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kiểm sát được quan tâm đầu tư, xây dựng và mua sắm tạo điều kiện thuận lợi cho VKSND hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    1. 2.2. Một số hạn chế, bất cập trong kiểm sát điều tra các tội phạm về ma túy của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
      1. 2.2.1. Những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật

* Về việc khởi tố vụ án tội phạm về ma túy:

Theo Điều 104 BLTTHS năm 2003. Trong giai đoạn quyết định khởi tố vụ án, chưa thể xác định hành vi phạm tội thuộc khung khoản nào. Điều đó gây khó khăn cho công tác thống kê tội phạm. Do đó, chỉ nên quy định trong quyết định khởi tố vụ án phạm tội về ma túy điều luật áp dụng là phù hợp.

* Về phê chuẩn quyết định khởi tố bị can:

Theo quy định tại Điều 126 BLTTHS năm 2003 thì trong thời hạn không quá ba ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can; VKSND phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT. Theo quyết định này rõ ràng VKS chỉ có hai sự lựa chọn: Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT. Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn, có nhiều trường hợp CQĐT gửi quyết định khởi tố bị can và các tài liệu liên quan tới VKS để xin phê chuẩn; nhưng VKS xét thấy chưa đủ căn cứ để phê chuẩn, nhưng cũng xác định đối tượng có những dấu hiệu tội phạm, cần điều tra làm rõ cho chặt chẽ vì thế không thể trả tự do cho đối tượng bị bắt được.

Theo Điều 127 BLTTHS năm 2003 quy định về thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can: Chỉ được thực hiện trong trường hợp có căn cứ xác định bị can phạm vào tội khác với tội đã khởi tố. Quy định như vậy là chưa đủ bởi có thể phải thay đổi nội dung khác của quyết định khởi tố bị can như: Tên tuổi, nơi cư trú của bị can… Bởi lúc đầu, vì lý do nào đó bị can có thể khai không đúng lý lịch gia đình; vì vậy đề nghị sửa đổi quy định tại Điều 127 BLTTHS năm 2003 theo hướng: Có thể thay đổi, bổ sung nội dung của quyết định khởi tố bị can khi cần thay đổi họ tên, địa chỉ bị can cho phù hợp hoặc khi có căn cứ và cần thiết.

      1. 2.2.2. Những hạn chế, bất cập từ thực tiễn kiểm sát điều tra

– Thực tế, các cơ quan điều tra và VKSND chưa có sự nhận thức thống nhất về đánh giá trọng lượng, hàm lượng chất ma túy để xác định khung hình phạt, tính chất, mức độ của vụ án.

– Việc kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiểm sát khởi tố vụ án, trong nhiều trường hợp còn chưa kịp thời, thiếu chủ động, tích cực và hiệu quả chưa cao.

– Việc kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với các vụ án ma túy còn có những bất cập, các kiểm sát viên còn thiếu tính chủ động, không kịp thời trong việc thay thế, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn phù hợp.

– Tình trạng Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ để cơ quan điều tra điều tra bổ sung còn nhiều, sự phối hợp giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong một số trường hợp chưa thật sự nhịp nhàng, hiệu quả.

2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập

2.1.3.1. Những nguyên nhân khách quan

– Sự chưa hoàn thiện của pháp luật là những nguyên nhân khách quan, tác động đến hoạt động áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án về ma túy.

– Nguyên nhân từ diễn biến tình hình phức tạp của tình hình tiêu cực xã hội làm tăng số lượng tội phạm ma túy, người phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

Một nguyên nhân khác làm cho hoạt động áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án ma túy của VKSND thành phố Đà Nẵng còn nhiều hạn chế như hiện nay còn nhiều bất cập. “Công tác xây dựng, giải thích, hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực tư pháp còn nhiều bất cập và hạn chế”.

2.1.3.2. Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân nằm trong khả năng của các chủ thể thi hành pháp luật và chính bản thân các chủ thể thi hành pháp luật có khả năng loại bỏ những nguyên nhân đó mà không bị chi phối của những nguyên nhân bên ngoài.

Năng lực, trình độ của cán bộ, KSV VKSND thành phố Đà Nẵng hiện nay còn thể hiện nhiều hạn chế.

Trước hết, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, KSV vẫn còn chưa được quan tâm đúng mức.

Từ việc đào tạo không chính quy, không cơ bản này đã làm cho kiến thức pháp lý của cán bộ, KSV còn nhiều hạn chế. Phần nhiều KSV có kiến thức thực tế nhưng kiến thức về lý luận còn yếu.

Còn một bộ phận cán bộ, KSV ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp chưa cao.

Công tác chỉ đạo điều hành trong ngành Kiểm sát chủ yếu được thực hiện thông qua công tác kiểm tra việc lập kế hoạch công tác hàng năm.

Công tác kiểm tra, nhiều cuộc mang tính kiểm tra nội bộ, hình thức; các vi phạm thường được lặp đi lặp lại nhiều năm nhưng vẫn chỉ dừng lại ở kiểm điểm, rút kinh nghiệm.

Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, trong nhiều năm trở lại đây chưa thật sự quan tâm đến công tác đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ KSV.

– Năng lực, ý thức trách nhiệm của một bộ phận KSV và cán bộ quản lý, chỉ đạo chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Một bộ phận nhỏ KSV có trình độ pháp luật và nghiệp vụ kiểm sát còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu.

– Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và VKSND trong hoạt động điều tra các vụ án về ma túy đôi khi còn chưa thường xuyên, thiếu chặt chẽ.

Quan hệ phối hợp giải quyết án trong nhiều trường hợp còn thiếu chặt chẽ, có trường hợp đùn đẩy trách nhiệm.

– Một bộ phận KSV chưa nhận thức đúng, đầy đủ về vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của VKSND trong hoạt động KSĐT nên chưa phát huy hết chức năng, quyền năng…

– Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và công tác tổ chức cán bộ chưa thực sự khoa học và đi vào nề nếp.

– Một số trường hợp, khi tiến hành hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, kiểm sát việc lập hồ sơ, biên bản vụ án còn tình trạng qua loa, tắc trách, không đúng quy định BLTTHS 2003, gây ảnh hưởng đến việc đánh giá chứng cứ, giá trị chứng minh tội phạm trong vụ án.

– Việc xác định thời hạn trong một số trường hợp gia hạn tạm giữ, tạm giam còn thiếu chính xác.

– KSV được phân công KSĐT vụ án chưa chủ động nắm chắc tiến độ, kết quả điều tra và việc lập hồ sơ kiểm sát vụ án ngay từ đầu và trong quá trình điều tra để đề ra yêu cầu điều tra toàn diện, sát và đúng với thực tế vụ án.

– Về quyền bào chữa của tội về ma túy cũng chưa được thực hiện nghiêm túc do tâm lý của các ĐTV, KSV, Thẩm phán không muốn có luật sư tham gia vào quá trình tố tụng của vụ án do mình thụ lý nên họ thường lách luật bằng cách tư vấn, vận động người phạm tội và người đại diện hợp pháp của họ từ chối mời luật sư.

– Công tác thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ nội bộ còn hạn chế.

– Điều kiện làm việc, phương tiện kỹ thuật, kinh phí nghiệp vụ còn hạn chế đã giảm hiệu quả và tính kịp thời của hoạt động THQCT và KSĐT.

– Chính sách đối với cán bộ, KSV; nhất là chính sách tiền lương, phụ cấp, điều kiện, phương tiện làm việc còn khó khăn, chưa tạo động lực phát huy sở trường của cán bộ.

Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰMNÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁTĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN MA TÚY CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 3.1. Dự báo tình hình tội phạm về ma túy trong thời gian tới

– Tình trạng tái phạm, tái phạm nguy hiểm đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, nhất là những đối tượng phạm tội về ma túy sau khi cải tạo về với xã hội ngày càng nhiều.

– Về thời gian có thể xảy ra bất cứ thời gian nào; về địa điểm có thể xảy ra ngay tại gia đình, nơi công cộng, có thể xảy ra tại các nhà máy, các khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy, nếu không tăng cường đấu tranh, ngăn chặn sẽ ảnh hưởng lớn đến chính sách thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài trên địa tỉnh.

– Về phương thức, thủ đoạn gây án, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người phạm tội có thể sử dụng những thủ đoạn mới để thực hiện việc phạm tội gây khó khăn cho công tác điều tra.

Qua thực tiễn đấu tranh với loại tội phạm về ma túy gây ra từ năm 2010 đến 2015, cho thấy diễn biến tình hình tội phạm này trên địa bàn tăng giảm không đồng đều, nhưng diễn biến của loại tội phạm này có thể tăng hay giảm phụ thuộc vào hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng ngừa của các cơ quan chức năng trên thực tiễn. Do đó, CQĐT, VKSND và TAND cần phối hợp với các cơ quan chức năng có thẩm quyền thực hiện tốt công tác phòng ngừa và phải có sự tăng cường hơn nữa công tác đấu tranh, phát hiện, điều tra và làm rõ để xử lý nghiêm minh, góp phần làm giảm đáng kể tình trạng tội phạm ở địa bàn Thành phố Đà Nẵng nói chung và tội phạm về ma túy thực hiện nói riêng nhằm làm ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

    1. 3.2. Các giải pháp nâng cao năng lực kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy

3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động kiểm sát điều tra đổi với các vụ án về ma túy

Để nâng cao hơn nữa chất lượng KSĐT vụ án hình sự nói chung, và KSĐT các vụ án về ma túy nói riêng; trong thời gian tới, toàn ngành Kiểm sát Đà Nẵng phải nhận thức và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Ngành. Các cấp uỷ đảng cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo đối với hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy theo hướng sau:

– Đảng lãnh đạo ngành Kiểm sát chặt chẽ về chính trị, tổ chức và cán bộ, bảo đảm hoạt động của ngành Kiểm sát được thực hiện đúng quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

– Tăng cường công tác xây dựng Đảng, giáo dục, quản lý, kiểm tra hoạt động của các tổ chức Đảng, của đảng viên và chăm lo công tác quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, bố trí, sử dụng đúng cán bộ trong ngành Kiếm sát và các cơ quan tư pháp khác.

– Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp làm việc giữa các tổ chức Đảng với các cơ quan tư pháp và các ban, ngành có liên quan theo hướng, cấp uỷ định kỳ nghe báo cáo và cho ý kiến định hướng về công tác tư pháp. Xác định rõ trách nhiệm tập thể và cá nhân cấp uỷ trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư pháp.

3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về các tội phạm về ma túy và kiểm sát điều tra các tội phạm về ma túy

Quy định cụ thể, rõ ràng mức tối thiểu đến mức tối đa định lượng các chất ma túy trong từng điều luật; thay đổi đơn vị tính từ “trọng lượng” thành “khối lượng”; bỏ hình phạt tử hình là những điểm mới liên quan đến các tội phạm về ma túy trong Bộ luật hình sự 2015.

Việc thay đổi này được dựa trên thực tiễn cho thấy việc gộp chung các tội danh trong cùng một điều luật gặp không ít khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, trong việc xác định tội danh và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy. Như vậy các tội phạm về ma túy quy định tại Chương XX của Bộ luật hình sự 2015 gồm 13 điều luật, so với Bộ luật hình sự 1999 tăng thêm 3 điều luật (từ Điều 247 – Điều 259).

Cần quy định việc không cần xác định hàm lượng để quy ra khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy trong các điều 248, 249, 250, 251, 252 và tiền chất ma túy trong điều 253 BLHS năm 2015 (như luật hình sự hiện hành của hầu hết các nước đang áp dụng). Quy định theo hướng này vừa đảm bảo tính khả thi dễ thực hiện trong thực tế nước ta hiện nay, vừa đảm bảo tính công bằng, nhất quán trong chính sách xử lý và về mặt chủ quan thì người phạm tội cũng cảm thấy hình phạt mình phải chịu là công bằng và thỏa đáng: người phạm tội với vật chứng lớn hơn sẽ phải chịu hình phạt nặng hơn.

3.2.3. Thực hiện tốt việc Quán triệt, triển khai, nghiên cứu, thi hành Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đi vào cuộc sống tại Viện kiểm sát hai cấp thành phố Đà Nẵng

Để Bộ luật hình sự sớm đi vào cuộc sống, ngày 19/2/2016 Chính phủ ban hành quyết định số: 272/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành BLHS và ngày 09/3/2016 ban hành Quyết định số 371/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành BLTTHS, trong đó xác định cụ thế các nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm cũng như cơ chế phối hợp của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành BLHS năm 2015 và BLTTHS 2015 bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả.

Để triển khai hiệu quả việc quán triệt, nghiên cứu, thi hành BLHS, BLTTHS 2015, ngành Kiểm sát thành phố Đà Nẵng cần xây dựng Kế hoạch triển khai thi hành các đạo luật mới cho cán bộ, KSV Viện kiểm sát hai cấp phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị nhằm phổ biến, quán triệt đầy đủ, sâu sắc nội dung các đạo luật đến cán bộ, công chức trong đơn vị, để bản thân mỗi cán bộ, công chức nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, nắm bắt đầy đủ các quy định của các Bộ luật để áp dụng trực tiếp vào công việc của mình; kế hoạch triển khai thực hiện phải xác định cụ thể nội dung triển khai, thời hạn, tiến độ hoàn thành và phân công trách nhiệm để mỗi cán bộ, công chức có thời gian chuẩn bị, thấy được việc nghiên cứu vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ trong việc cập nhật kiến thức pháp luật để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

3.2.4. Đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, nâng cao nhận thức về công tác kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy

Trong mọi hoạt động của các cơ quan, tổ chức thì công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành luôn giữ vai trò hết sức quan trọng, là yếu tố xuyên suốt quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, quyết định mức độ thành công trong việc thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ, kế hoạch đã đề ra của cơ quan, tổ chức đó.

Việc quản lý, chỉ đạo, điều hành ở từng khâu công tác kiểm sát phải bảo đảm chế độ tập trung thống nhất trong ngành, song cũng cần thực hiện tốt chế độ phân cấp quản lý theo quy định tại các Quy chế công tác THQCT, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm giam giữ cải tạo.

Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, khắc phục khó khăn và những tồn tại, hạn chế, nhằm đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Viện kiểm sát hai cấp thành phố Đà Nẵng phải tiếp tục đối mới toàn diện, tập trung ở các nội dung sau:

+ Tiếp tục đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ, thông qua đó, nắm được toàn bộ tình hình và diễn biến vi phạm, tội phạm xảy ra, đồng thời quản lý chặt chẽ thời hạn, tiến độ vụ án hình sự để phân công KSV kiểm sát điều tra phù hợp với năng lực.

+ Đổi mới công tác quản lý cán bộ, bên cạnh việc quản lý nghiệp vụ, phải tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, đặc biệt là việc nhận xét, đánh giá, sử dụng cán bộ bảo đảm phù hợp với công việc, phát huy năng lực, sở trường của cán bộ; phòng ngừa tiêu cực, vi phạm; phát hiện và khắc phục kịp thời những sơ hở, thiếu sót, vi phạm của cán bộ.

3.2.5. Kiện toàn tổ chức, nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên.

3.2.5.1. Về kiện toàn cơ cấu tổ chức

3.2.5.2. Nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ Kiểm sát viên tham gia KSĐT các vụ án về ma túy

3.2.5.3. Đổi mới về nội dung và phương pháp Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy

3.2.6. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra đối với các vụ án về ma túy

Hoạt động phối hợp với CQĐT vừa là trách nhiệm, vừa là điều kiện để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát nói chung và hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy.

Mối quan hệ giữa CQĐT với Viện kiểm sát được xây dựng trên các nguyên tắc nhất định.

Hoạt động tố tụng của CQĐT là đối tượng chịu sự kiểm sát của VKSND.

Để có sự phối kết hợp hiệu quả, Viện kiểm sát hai cấp thành phố Đà Nẵng đã chủ động xây dựng Quy chế phối hợp trong công tác giải quyết án hình sự trong đó có quy định về việc họp thường xuyên và bất thường giữa CQĐT với Viện kiểm sát; các vấn đề chưa có hướng dẫn cụ thể của cấp trên; giải quyết những khó khăn vướng mắc trong hoạt động tố tụng để thống nhất việc giải quyết.

3.2.7. Tăng cường cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm việc và đảm bảo chính sách đãi ngộ cho cán bộ, Kiểm sát viên

Thực hiện tinh thần của các Chỉ thị và Nghị quyết của Đảng, trong thời gian qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền đã có sự quan tâm đặc biệt đối với các cơ quan tư pháp nói chung, với ngành Kiểm sát nói riêng. Nhờ đó cơ sở vật chất và trang thiết bị làm việc của các cơ quan Viện kiểm sát hai cấp thành phố Đà Nẵng đã có sự cải thiện rõ rệt. Hầu hết trụ sở các đơn vị đã được xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa, nâng cấp trụ sở làm việc và mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho công tác chuyên môn. Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, KSV đã có những bước tiến bộ như phụ cấp, bồi dưỡng phiên tòa và khám nghiệm hiện trường, công tác phí… Nhờ đó điều kiện làm việc cũng như đời sống cán bộ KSV phần nào được cải thiện. Điều đó tạo ra sự phấn khởi, thoải mái nhất định trong các cán bộ, KSV.

KẾT LUẬN

Công tác KSĐT các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam của ngành kiểm sát nói chung và của VKSND thành phố Đà Nẵng nói riêng đã đạt được những thành tích đáng kể. Góp phần ổn định về chính trị, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân. Bên cạnh những thành tích đã đạt được, Công tác KSĐT các vụ án về ma túy vẫn còn bộc lộ những thiếu sót, vi phạm như: bỏ lọt tội phạm, phần nào chưa kiểm soát được tình hình tội phạm ma túy ngày càng đang diễn biến phức tạp; chưa đáp ứng được tình hình mới hiện nay.

Để khắc phục tình trạng trên và nâng cao chất lượng trong công tác KSĐT các vụ án về ma túy của VKSND thành phố Đà Nẵng, tác giả luận văn đã sử dụng, kết hợp các phương pháp, nghiên cứu và tiếp thu những thành tựu của những người đi trước, so sánh và đối chiếu những tài liệu, đánh giá thực trạng trong công tác KSĐT các vụ án về ma túy. Từ đó đề ra những giải pháp khắc phục và nâng cao chất lượng trong KSĐT các vụ án về ma túy. Cụ thể luận văn tập trung vào các vấn đề sau:

Phân tích những vấn đề chung về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật Tố tụng hình sự của các cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân.

Thực trạng trong công tác kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng từ năm 2010-2015.

Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng từ năm 2010 đến năm 2015. Tác giả đã chú ý phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được và những mặt còn hạn chế, những thiếu sót và cả những vi phạm phổ biến thường hay mắc phải của các đơn vị trong ngành kiểm sát thành phố Đà Nẵng.

Từ những giải pháp nâng cao gồm nhóm hoàn thiện pháp luật, nhóm thực hiện pháp luật của cơ quan VKS và những cá nhân có thẩm quyền thi hành pháp luật trong KSĐT các vụ án về ma túy. Thực hiện tốt những giải pháp này sẽ góp phần đáng kể tháo gỡ những khó khăn, những vướng mắc và những hạn chế được những vi phạm nảy sinh trong hoạt động thi hành pháp luật trong KSĐT các vụ án về ma túy của VKSND thành phố Đà Nẵng.

Những kết quả đã đạt được trong luận văn cho thấy có sự nỗ lực, cố gắng của bản thân tác giả; sự giúp đỡ nghiêm túc và tinh thần đầy trách nhiệm của các thầy cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp trong ngành kiểm sát và đặc biệt là sự giúp đỡ của thầy hướng dẫn khoa học luận văn này. Tuy nhiên, do điều kiện nghiên cứu và khả năng của bản thân tác giả; nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định. Tác giả luận văn mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học và các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\NGUYEN VAN KHANH\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *