Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam từ thực tiễn Tòa án quân sự Quân khu 5
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền con người là một trong những trách nhiệm pháp lý quan trọng của Nhà nước. Trong xu thế hội nhập quốc tế, bảo vệ quyền con người không chỉ là nghĩa vụ của Nhà nước đối với người dân mà còn là nghĩa vụ của một quốc gia trước cộng đồng quốc tế. Việt Nam là một trong những quốc gia thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người đồng thời là nhà nước của dân, do dân, vì dân nên bảo vệ quyền con người trở thành nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ pháp lý đặc biệt quan trọng của các cơ quan nhà nước. Về mặt pháp lý, quyền con người ở nước ta đã có điều kiện để thực hiện và ngày càng phát triển, kể từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập. Từ đó đến nay Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Hiến Pháp, các đạo luật và nhiều quy định khác để góp phần bảo vệ quyền con người, làm cho chế định này ngày càng hoàn thiện theo tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam.
Nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước mà trong đó mọi hoạt động của nó phải hướng đến việc bảo đảm quyền con người được tôn trọng và thực thi đầy đủ trong thực tiễn đời sống xã hội. Chính vì thế, trong các quan điểm của Đảng về chiến lược xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đều khẳng định rằng: Đảm bảo quyền con người là mục tiêu cao nhất của hoạt động tổ chức quyền lực nhà nước. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng đã khẳng định quan điểm cơ bản để xây dựng đất nước là phải hướng đến xã hội “vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người”; đồng thời yêu cầu “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm” [10].
Tư tưởng xây dựng một nhà nước bảo vệ tối đa quyền con người còn được thể hiện rõ trong các định hướng của Đảng về cải cách các hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung, cải cách hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng, như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; đặc biệt là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: Quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải đặt “con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” [10]; và yêu cầu “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người”.
Trong những năm qua, hoạt động thực hiện và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu như: các quyền dân sự, chính trị của mọi người dân Việt Nam luôn được bảo đảm, việc thụ hưởng các quyền này của người dân ngày càng toàn diện và đầy đủ; các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, được thể hiện rõ trong các chính sách phát triển đất nước của Chính phủ và được thực thi trên thực tế, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước; Quyền của các nhóm dễ bị tổn thương được nội luật hóa đầy đủ trong Hiến pháp và các văn bản luật tương ứng với từng nhóm đối tượng cụ thể theo các chuẩn mực pháp lý quốc tế mà Việt Nam cam kết tham gia, như: Quyền trẻ em, quyền không phân biệt về giới tính, quyền của người khuyết tật, quyền bình đẳng của người dân tộc thiểu số. Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay vẫn gặp nhiều thách thức cần được giải quyết trong thời gian tới đặc biệt là vấn đề bảo vệ quyền con người.
Vấn đề bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội là nội dung còn khá mới mẻ trong nhận thức của công dân, cũng như việc tổ chức và đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền con người trên thực tế, đó là vấn đề khá phức tạp cần phải được nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện cả về lý luận lẫn thực tiễn để góp phần vào việc đảm bảo cho quyền con người.
Xuất phát từ những vấn đề như vậy, trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ luật học, chọn đề tài “Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam từ thực tiễn Tòa án quân sự Quân khu 5” làm đề tài luận văn thạc sỹ là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở lý luận bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS, đồng thời nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động TTHS, làm sáng tỏ những bất cập hạn chế, để đưa ra những kiến nghị và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự; hệ thống hóa các biện pháp bảo đảm; làm rõ những điểm chung và những đòi hỏi đặc thù trong bảo đảm quyền con người của các chủ thể này trong các giai đoạn tố tụng khác nhau. Phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến bảo đảm quyền con người; tìm ra những hạn chế và bất cập về bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động tố tụng hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận của bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, quy định của pháp luật về bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội và thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố và xét xử theo pháp luật tố tụng hình sự hiện hành.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi về nội dung: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những nội dung cơ bản của bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành.
Phạm vi về thời gian: Các vấn đề lý luận nghiên cứu trong giai đoạn từ 1945 đến nay.
Về thực tiễn: Các số liệu thực tiễn phục vụ nghiên cứu đề tài được thu thập trên trên địa bàn Quân khu 5 trong thời gian từ 2012 đến 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp luật, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về bảo đảm quyền con người đối với người bị buộc tội trong luật Tố tụng hình sự và những quy định của pháp luật có liên quan.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê v.v…
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã khảo sát thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan Điều tra hình sự, Viện kiểm sát quân sự và Tòa án quân sự Quân khu 5, nghiên cứu hồ sơ các vụ án làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu.
Đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Luận văn đã góp phần làm rõ thêm nhiều vấn đề lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự; hệ thống hóa được các biện pháp bảo đảm; làm rõ những điểm chung và những đòi hỏi đặc thù trong bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong các giai đọan tố tụng khác nhau.
Luận văn đã phân tích có hệ thống các quy định của Bộ luật TTHS và đánh giá đầy đủ, toàn diện thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS Việt Nam, từ đó tìm ra được những hạn chế, bất cập về bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế.
Luận văn đã đưa ra được một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong họat động TTHS.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đây là công trình chuyên khảo ở cấp độ luận văn Thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự nước ta. Công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự và kiến nghị các giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.
Đề tài là một đóng góp khiêm tốn trong việc giải quyết về mặt khoa học, một trong những nội dung cấp thiết hiện nay ở nước ta cũng như trên thế giới là vấn đề bảo đảm quyền con người. Quy định về quyền con người đã là quan trọng và cần thiết nhưng cần thiết hơn, quan trọng hơn là vấn đề bảo đảm cho các quyền đó được thực thi trong cuộc sống.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn là một tài liệu tham khảo có giá trị trong hoạt động lập pháp tố tụng hình sự, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cũng như trong học tập, nghiên cứu về tố tụng hình sự.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Lý luận bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự.
Chương 2: Quy định bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn và một số giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
LÝ LUẬN BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI
BỊ BUỘC TỘI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1.1. Quyền con người
1.1.1.1. Khái niệm quyền con người
Quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý… Đó là thành quả của sự phát triển lịch sử, là đặc trưng của xã hội văn minh. Quyền con người cũng là một quy phạm pháp luật, đương nhiên nó đòi hỏi tất cả mọi thành viên của xã hội, không loại trừ bất cứ ai, đều có quyền và nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền và tự do của mọi người.
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác nhau, nhưng theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế và ở Việt Nam, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật. Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do…; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người.
1.1.1.2. Đặc điểm quyền con người
Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới. Dù nhìn từ gốc độ nào (đạo đức – tôn giáo, lịch sử – xã hội, triết học, chính trị hay pháp lý) thì quyền con người có những đặc điểm sau đây:
* Tính phổ biến: Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ dù cho quốc gia theo thể chế chính trị xã hội gì, dù ở trình độ phát triển nào, dù theo đuổi giá trị truyền thống ra sao, muốn có một nhà nước pháp quyền thì quốc gia đó phải đảm bảo sao cho các quyền con người có những đặc điểm cơ bản kể trên.
* Tính không thể tước bỏ: Tính không thể tước bỏ của nhân quyền thể hiện ở chỗ các quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước.
* Tính không thể phân chia: Tính không thể phân chia của nhân quyền bắt nguồn từ nhận thức rằng các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, nên về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào.
* Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của nhân quyền thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau.
Nếu ở đâu đó quyền con người không thể hiện được các đặc điểm cơ bản và thuộc tính trên thì điều đó có nghĩa là quyền con người ở những nơi đó chưa được đảm bảo theo các tiêu chí chung.
- 1.1.2. Quyền con người của người bị buộc tội
1.1.2.1. Khái niệm người bị buộc tội trong pháp luật TTHS Việt Nam
Hiện nay, có những quan điểm khác nhau về đối tượng người buộc tội, thời điểm bắt đầu và kết thúc của sự buộc tội.
Trong tố tụng hình sự, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can hay bị cáo chỉ là các tên gọi khác nhau của cùng một người khi ở các giai đoạn tố tụng khác nhau, tuy họ là đối tượng bị buộc tội hoặc nghi là có tội nhưng chưa phải là người có tội. Người bị buộc tội trong TTHS là những người bị nghi ngờ phạm tội, bị đặt vào trạng thái pháp lý bất lợi. Như vậy, theo chúng tôi người bị buộc tội là “người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là các tên gọi khác nhau của (người bị buộc tội) ở các giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau.
1.1.2.2. Quyền của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tố tụng hình sự là lĩnh vực hoạt động Nhà nước nhạy cảm liên quan đến quyền con người. Có thể thấy quyền con người trong TTHS, đặc biệt là quyền của người bị buộc tội dễ bị xâm phạm và tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng khi nó động chạm đến được quyền sống, quyền được tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân. Phát hiện, xử lý tội phạm là công việc của bất kỳ một nhà nước nào nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của cá nhân trong xã hội đó. Vừa đảm bảo việc phát hiện xử lý kịp thời tội phạm, vừa phải đảm bảo không xâm phạm đến quyền của con người là một mâu thuẫn mà giải quyết hài hòa mâu thuẫn này đó chính là biểu hiện của một kiểu tố tụng hình sự trong nhà nước văn minh.
Như đã phân tích, người bị buộc tội trong TTHS là những người bị nghi ngờ phạm tội, bị đặt vào trạng thái pháp lý bất lợi, gồm: Người bị bắt (người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã), người bị tạm giữ, bị can và bị cáo. Về quyền của người bị buộc tội được Bộ luật tố tụng hình sự nước ta quy định khá đầy đủ (Chúng tôi sẽ phân tích cụ thể ở Chương 2 Luận văn này).
1.2.1.1. Khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội
Bảo đảm quyền con người là sự kết hợp địa vị pháp lý và địa vị thực tế của con người trong xã hội, là một trong những biểu hiện tự do xã hội, trách nhiệm và tính tích cực công dân. Tự thân các tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội chưa phải là cơ sở để thực hiện quyền và tự do của con người. Chúng chỉ trở thành những bảo đảm quyền con người qua hình thức pháp lý và những nỗ lực tổ chức của Nhà nước.
1.2.1.2. Các nguyên tắc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội
Nguyên tắc của TTHS được hiểu là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật cụ thể về TTHS hoặc là những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hoạt động TTHS và được các văn bản pháp luật TTHS ghi nhận.
Ngoài ra, các nguyên tắc tố tụng khác ở mức độ này hay mức độ khác, góc độ này hay góc độ khác đều trực tiếp hay gián tiếp phản ánh được vai trò của pháp luật TTHS trong việc bảo đảm quyền con người, nhất là bảo đảm quyền người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng trong TTHS. Tuy nhiên, một số nguyên tắc trong BLTTHS chưa phản ánh được đầy đủ những quan điểm chỉ đạo về đổi mới hoạt động tư pháp nói chung và các hoạt động TTHS nói riêng trong bối cảnh việc bảo đảm quyền con người không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà còn là mối quan tâm của cả thế giới.

1.2.1.3. Ý nghĩa của việc bảo đảm QCN của người bị buộc tội
– Bảo vệ các quyền và tự do của con người tránh khỏi sự tùy tiện, lạm dụng hay xâm hại từ phía các cơ quan THTT và người THTT.
– Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
– Góp phần nâng cao ý thực, trách nhiệm của những người THTT trong việc giải quyết vụ án, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng không bị xâm phạm.
- 1.2.2. Hệ thống các bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội
1.2.2.1. Bảo đảm về nhận thức
1.2.2.2. Bảo đảm pháp lý
1.2.2.3. Bảo đảm về tổ chức và cán bộ
1.2.2.4. Bảo đảm về cơ sở vật chất
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA
NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Nguyên tắc thứ nhất: Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, được quy định tại Điều 4 của của Bộ luật tố tụng hình sự năm.
Nguyên tắc thứ hai: Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, được quy định tại Điều 5 của BLTTHS năm 2003.
Nguyên tắc thứ ba: Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được quy định tại Điều 6 của BLTTHS năm 2003.
Nguyên tắc thứ tư: Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân, được quy định tại Điều 7 của BLTTHS năm 2003.
Nguyên tắc thứ năm: Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân, được quy định tại Điều 8 của BLTTHS năm 2003.
Nguyên tắc thứ sáu: Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, đã được quy định tại Điều 9 của BLTTHS năm 2003
Nguyên tắc thứ bảy: Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, được quy định tại Điều 11 của BLTTHS năm 2003
Nguyên tắc thứ tám: Xét xử công khai, được quy định tại điều 18 của BLTTHS năm 2003.
Nguyên tắc thứ chín: Bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án, được quy định tại Điều 19 của BLTTHS năm 2003.
- 2.2.2. Địa vị tố tụng của người tiến hành tố tụng và người bị buộc tội
Hoạt động TTHS được quan niệm là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự với hoạt động cụ thể của những người tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự là các cơ quan nhà nước chuyên trách thực hiện việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Đây là các cơ quan có vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vụ án hình sự. Người tiến hành tố tụng là những công chức trong cơ quan tiến hành tố tụng, được bổ nhiệm vào các chức danh tố tụng, có thẩm quyền thực hiện những hoạt động tố tụng nhất định trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó nhằm góp phần giải quyết vụ án hình sự. BLTTHS 2003 quy định rất rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng như Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án.
Đặc biệt, đối với người có chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan tiến hành tố tụng, bước đầu BLTTHS đã có sự phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm chung và nhiệm vụ, quyền hạn khi trực tiếp thực hiện hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hình sự cụ thể; phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn của những người này với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm.
Việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng một mặt ngăn ngừa những người đó lạm dụng quyền hạn của mình, mặt khác đảm bảo cho công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng giám sát được hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Đặc biệt, BLTTHS 2003 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung đối với địa vị tố tụng của những người tham gia tố tụng theo hướng tăng thêm quyền của những người tham gia tố tụng để họ có đủ cơ sở pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tố tụng nói chung, tham gia phiên tòa nói riêng.
Hoạt động tố tụng mà bản chất của quá trình này là xác định chân lý khách quan đối với sự việc đã xảy ra từ trước có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của con người, được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật tố tụng. Đây là quá trình hoạt động khó khăn, phức tạp và nhạy cảm. Trong đó, các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện thẩm quyền của mình theo nguyên tắc “được làm những gì mà pháp luật cho phép” còn người tham gia tố tụng “được làm những gì mà pháp luật không cấm”[ 35]. Để ngăn ngừa sự tuỳ tiện, áp đặt, vi phạm pháp luật của người tiến hành tố tụng đối với người tham gia tố tụng, theo luật định, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ được tiến hành các hoạt động được pháp luật quy định. Còn đối với những người tham gia tố tụng, để bảo đảm QCN, quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ngoài các quyền được quy định trong pháp luật tố tụng họ còn được làm những gì mà pháp luật không cấm.
- 2.2.3. Các biện pháp ngăn chặn
Bắt người, tạm giữ, tạm giam người là các biện pháp ngăn chặn nhằm hạn chế một số quyền con người của người bị buộc tội. Mục đích của các biện pháp này là để đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo trật tự pháp luật và pháp chế. Việc quy định rõ ràng, cụ thể, hợp lý, căn cứ, thẩm quyền, thủ tục bắt, tạm giữ, tạm giam sẽ bảo đảm cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp dụng đúng pháp luật, tránh vi phạm các quy định pháp luật dẫn đến xâm phạm quyền con người khi thực thi công vụ.
- 2.2.4. Chứng cứ và quá trình chứng minh
Chứng cứ và chứng minh là một trong những vấn đề quan trọng nhất của Tố tụng hình sự. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án Hình sự thực chất là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, mặc dù cách thức tiến hành ở mỗi giai đoạn khác nhau. Thực tiễn cho thấy những vụ án oan sai lớn phần lớn đều do vi phạm quy định về thu thập, đánh giá chứng cứ, vi phạm quyền của người bị buộc tội trong quá trình chứng minh.
Trong BLTTHS 2003 của Việt Nam, việc xác định chứng cứ cũng như quá trình chứng minh cho thấy vai trò nổi trội và áp đảo của các cơ quan tiến hành tố tụng và vai trò bị động, yếu ớt của bị can, bị cáo, người bào chữa của họ.
BLTTHS 2015 đã thay đổi khái niệm chứng cứ theo hướng phá thế “độc quyền” trong việc thu thập chứng cứ (hiện đang chỉ giao cho cơ quan tố tụng); theo đó, bổ sung cho người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, người bị buộc tội có quyền đưa ra chứng cứ. Quy định cụ thể cách thức người bào chữa thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm tính khả thi, tránh gây khó khăn trong thực tiễn thực hiện (Khoản 1, Khoản 2 Điều 88 BLTTHS 2015). Điều này đảm bảo cho quyền bào chữa của người bị buộc tội đồng thời nâng cao được hiệu quả trong quá trình thu thập chứng cứ.
- 2.2.5. Các quy định về khiếu nại, tố cáo của người bị buộc tội
Pháp luật TTHS quy định cho công dân những quyền hạn nhất định khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình; ngườikhiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hình sự; được nhận văn bản trả lời về việc giải quyết khiếu nại; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, công dân có quyền tố cáo với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; được thông báo về nội dung tố cáo, đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật, được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra.
2.2.6. Các thủ tục tố tụng hình sự
Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, trình tự thủ tục giải quyết các vụ án được thể hiện thông qua ba giai đoạn, do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án tiến hành, bao gồm: Giai đoạn điều tra do Cơ quan điều tra thực hiện, giai đoạn truy tố do Viện kiểm sát thực hiện, giai đoạn xét xử do Tòa án thực hiện. Để đảm bảo các vụ án được xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án chỉ tiến hành xét xử khi vụ án có sự truy tố của Viện kiểm sát và xét thấy có đầy đủ căn cứ mở phiên tòa.
Thủ tục tố tụng, nhất là thủ tục phiên tòa có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm tính chính xác, khách quan của quá trình giải quyết vụ án hình sự và bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Quá trình tố tụng giải quyết vụ án gồm hai yếu tố: xác định các tình tiết vụ án và ra phán quyết xử lý người thực hiện tội phạm.
BLTTHS đã quy định các thủ tục tố tụng cơ bản bảo đảm cho hoạt động tố tụng đúng đắn, khách quan, tôn trọng và bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng nói chung, của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng. Các quy định về thủ tục phiên tòa giúp cho bị cáo, những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích liên quan có điều kiện và quyền năng pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đặc biệt, thể chế hóa tinh thần tranh tụng của Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, Điều 218 BLTTHS quy định bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Viện kiểm sát và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến; chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến và có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến tranh luận của những người tham gia tố tụng. Đồng thời, BLTTHS cũng quy định khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa (Điều 222). Các quy định này nhằm khắc phục tình trạng Kiểm sát viên không tham gia tranh luận đầy đủ khi thực hành quyền công tố và bản án của Tòa án không hoàn toàn dựa trên kết quả tranh luận tại phiên tòa. Đây là những bổ sung quan trọng của BLTTHS 2003 nhằm đưa ra những bảo đảm pháp lý để công dân bảo vệ quyền tự do dân chủ của mình trước phiên tòa.
CHƯƠNG 3
THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
3.1.1. Kết quả đạt được
Những kết quả đạt được của Tòa án quân sự hai cấp Quân khu 5:
Năm 2012, toàn ngành Tòa án quân sự Quân khu 5, giải quyết 76 vụ/ 142 bị can, bị cáo; so với năm 2011 tăng 23 vụ/39 bị can, bị cáo; đã giải quyết 74 vụ/140 bị can, bị cáo đạt 97,3%.
Năm 2013: toàn ngành Tòa án quân sự Quân khu 5 phải giải quyết 59 vụ/ 103 bị can, bị cáo; so với năm 2012 (76 vụ/ 142 bị cáo) giảm 17 vụ/39 bị can, bị cáo; đã giải quyết 59 vụ/103 bị can, bị cáo đạt 100%.
Năm 2014, các Toà án quân sự Quân khu 5, giải quyết 51 vụ/81 bị can, bị cáo; so với năm 2013 (59 vụ/103 bị cáo) giảm 08 vụ/22 bị can, bị cáo; đã giải quyết 48 vụ/78 bị can, bị cáo đạt 94,1%.
Năm 2015: các Tòa án quân sự Quân khu , giải quyết 35 vụ/53 bị can, bị cáo; so với năm 2014 (51 vụ/81 bị cáo) giảm 16 vụ/28 bị can, bị cáo; đã giải quyết 31 vụ/44 bị can, bị cáo đạt 88,6%.
Năm 2016: Các Tòa án quân sự Quân khu 5, giải quyết 40 vụ/102 bị can, bị cáo; so với năm 2015 (35 vụ/53 bị cáo) tăng 05 vụ/49 bị can, bị cáo; đã giải quyết 39 vụ/101 bị can, bị cáo đạt 97,5%.
BLTTHS năm 2003 được ban hành nhằm thay thế BLTTHS năm 1988. Từ đó đến nay, việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự trong thực tiễn đã triển khai những quy định về bảo đảm quyền con người đạt được nhiều kết quả. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế hoạt động tố tụng hình sự còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Những nguyên nhân dẫn đến thiếu sót trong xét xử án hình sự của cấp sơ thẩm, phúc thẩm cụ thể là:
– Về Điều luật áp dụng không chính xác:
– Việc áp dụng và hiểu về hình phạt tù cho hưởng án treo không đúng:
Như vậy, có thể thấy rằng thông qua hoạt động xét xử của Tòa án đóng góp tích cực trong việc bảo vệ quyền con người, từ hoạt động này có thể thấy được những tồn tại nhiều khiếm khuyết, hạn chế của các cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, qua hoạt động xét xử, cũng bộc lộ những thiếu sót, hạn chế.
- 3.1.2. Những thiếu sót, hạn chế và nguyên nhân
Một là, thực tiễn bảo đảm quyền con người trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn:
Hai là, bảo đảm quyền con người trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Ba là, bảo đảm quyền con người trong giải quyết khiếu nại, tố cáo.
3.2.1.1. Hướng dẫn tăng cường các yếu tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong trong xét xử vụ án hình sự
3.2.1.2. Quy định rõ ràng và đảm bảo quyền được bào chữa của người người bị buộc tội.
3.2.1.3. Hướng dẫn thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội
3.2.1.4. Hoàn thiện quy định về trách nhiệm, quyền hạn của người tiến hành tố tụng
3.2.1.5. Hoàn thiện quy định định về biện pháp ngăn chặn
- 3.2.2. Nâng cao nhận thức bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội
Giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ quyền con người là một vấn đề xã hội phức tạp đòi hỏi có sự kiên trì và ủng hộ toàn thể xã hội vì quyền con người có nội hàm phức tạp và được nhận thức khác nhau ở các cộng đồng dân tộc. Sự đa dạng về dân tộc, giới tính, trình độ học vấn của người cần được giáo dục khiến cho hoạt động giáo dục quyền con người gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn xã hội. Giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ quyền con người cho mọi người cần được thực hiện thường xuyên và bằng nhiều phương pháp cách thức khác nhau nhằm bảo đảm những kiến thức về quyền con người đến với tất cả mọi người.
- 3.2.3. Nâng cao trình độ năng lực cho Thẩm phán, Công tố viên, Điều tra viên và Luật sư
Cần nâng cao hơn nữa ý thức, trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm các quyền của những người tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự. Đây là vấn đề hết sức quan trọng vì quyền con người có được bảo đảm hay không phụ thuộc rất nhiều vào trách nhiệm và những hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng.
Mặt khác, để nâng cao hiệu quả công tác và bảo đảm được quyền con người, chủ thể tiến hành tố tụng phải nhận thức được rõ ý nghĩa của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Việc hiểu đúng, hiểu đầy đủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn sẽ nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm; qua đó cũng góp phần quan trọng và cần thiết để bảo đảm quyền con người.
Cần giáo dục cho cán bộ tư pháp ý thức pháp luật, trong đó vấn đề giáo dục lương tâm, đạo đức và ý thức về uy tín nghề nghiệp. Làm tốt điều này sẽ hướng những con người có lương tâm, đạo đức và lòng tự trọng không bao giờ chỉ duy ý chí theo hướng xấu trước một hành vi, sự việc hay trước một con người, mà cần tin vào cả những điều tốt đẹp, cái thiện trong những hiện tượng đó. Ngoài ra, cũng cần tiến hành một số giải pháp đồng bộ khác như:
Tập trung nâng cao năng lực, trình độ, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tư pháp.
Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm minh đối với các tập thể và cá nhân cán bộ, công chức của ngành tư pháp có vi phạm pháp luật.
Tiếp tục củng cố và tăng cường công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành tư pháp.
Thực hiện tốt công tác đổi mới cơ chế tuyển chọn Thẩm phán theo hướng mở rộng nguồn bổ nhiệm.
Trong hoạt động kiểm sát điều tra, xét xử, hoạt động giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới, hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo… cần chú trọng hơn nữa tới việc kiểm tra văn hóa xét xử, kỹ năng tố tụng để có thông báo rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng, tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
Đồng thời với việc nâng cao trình độ, năng lực của người tiến hành tố tụng, Nhà nước ta cũng cần có các biện pháp tăng cường đội ngũ luật sư về tổ chức, số lượng cũng như chất lượng, nâng cao vị thế luật sư trong tố tụng hình sự, bảo đảm vai trò quan trọng của luật sư trong bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
- 3.2.4. Bảo đảm cơ sở vật chất, chế độ chính sách
Cùng với việc hoàn thiện công tác tổ chức quản lý, chỉ đạo và điều hành, kết hợp với việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn, phẩm chất đạo đức cho cán bộ, thì việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho các cơ quan tư pháp (Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) có ý nghĩa đến hiệu suất thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quyền con người mà Đảng và Nhà nước giao cho ngành.
Ngoài ra, cần đổi mới chế độ lương, chính sách đặc biệt đối với Thẩm phán.

KẾT LUẬN
Vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS luôn được các quốc gia coi trọng trong quá trình xây dựng, củng cố và phát triển đất nước. Nhất là đối với nước ta đang tiến tới xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền. Trên cơ sở đó, nó đã trở thành tiêu chí để đánh giá về sự công bằng, dân chủ, bình đẳng của một chế độ xã hội. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước. Chúng ta đã đạt được một số thành tích đáng tự hào về nhân quyền nói chung và nhân quyền trongTTHS nói riêng.
BLTTHS năm 2003 và gần đây BLTTHS năm 2015 đang được sửa đổi, bổ sung, bên cạnh những mặt tích cực thì vẫn còn tồn tại một số bất cập trong pháp luật và hạn chế trong thực tiễn cần được nghiên cứu hoàn thiện đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phù hợp hơn với Luật nhân quyền quốc tế.
Quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS được thể hiện ở nhiều chế định khác nhau (như các nguyên tắc TTHS, địa vị tố tụng của người tham gia tố tụng, các biện pháp ngăn chặn và các thủ tục tố tụng…) trong các quy định của pháp luật và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử; trong đó xét xử là hoạt động trọng tâm của quá trình tố tụng, thể hiện tập trung các vấn đề về quyền con người trong TTHS.
Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng, nhất là trong Hiến pháp, BLTTHS, nghiên cứu thực tiễn xét xử của Tòa án quân sự Quân khu 5 cho thấy các quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta cơ bản đã thể hiện được tư tưởng tôn trọng và bảo vệ quyền con người, làm cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thực tiễn TTHS nói chung, xét xử nói riêng ở nước ta.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta và sự phát triển của Luật nhân quyền quốc tế, các quy định của pháp luật hiện hành còn có những bất cập, chưa thể hiện đầy đủ quan điểm quyền con người của Đảng và Nhà nước ta, dẫn đến những hạn chế trong thực tiễn, không ít trường hợp vi phạm quyền con người: tình trạng trì hoãn việc xét xử vụ án; quyền tố tụng của người tham gia tố tụng còn bị hạn chế, thiếu bình đẳng; bắt, giam giữ kéo dài, không ít trường hợp xử oan người không có tội…
Để tăng cường việc bảo vệ quyền con người trong TTHS – một trong những lĩnh vực có nguy cơ vi phạm cao, nhằm cho pháp luật và thực tiễn tố tụng nước ta phù hợp hơn với pháp luật quốc tế trên cơ sở các điều kiện kinh tế xã hội nước ta, cần có những giải pháp hữu hiệu, khả thi khác nhau. Trong đó có các giải pháp quan trọng như: hoàn thiện các quy định BLTTHS về các nguyên tắc tố tụng; hoàn thiện địa vị tố tụng của các chủ thể TTHS; sửa đổi, bổ sung các quy định về các biện pháp ngăn chặn… đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền con người ở nước ta.
Ngoài ra, cùng với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật, cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp về đổi mới tổ chức, hoạt động các cơ quan tư pháp mà trung tâm là hệ thống Tòa án; biện pháp nhận thức, tư tưởng, bảo đảm… để các quy định của pháp luật mang tính khả thi.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\NGUYEN VAN HUY\SAU BAO VBE\WORRD 2003


