Nghiên cứu ứng dụng vữa Polymer cho gạch không nung
Như chúng ta đã biết sản phẩm gạch không nung đã và đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam từ những công trình phụ trợ nhỏ đến các công trình kiến trúc cao tầng. Với những ưu điểm như thân thiện với môi trường, độ cứng cao, bảo ôn, cách nhiệt tốt, chống thấm,phòng hỏa, nâng cao hiệu quả kiến trúc, giảm thiểu được kết cấu cốt thép, rút ngắn thời gian thi công, tích kiệm vữa xây, giá thành hạ. Vì thế hiện nay, gạch không nung đã khẳng định chỗ đứng vững chắc trong các công trình, nó đang dần trở lên phổ biến hơn và được ưu tiên phát triển ( theo thông tư số 09/2012/TT-BXD ). Có rất nhiều công trình sử dụng gạch không nung, từ công trỉnh nhỏ lẻ, phụ trợ cho đến các công trình dân dụng, đình chùa, nhà hàng, sân gôn, khu nghỉ dưỡng, cao ốc,…
Tuy nhiên hiện nay, việc sử dụng gạch không nung cho công trình đã xảy ra hiện tượng rạn nứt tường ở một số công trình do sử dụng vữa xây không hợp lý, đặc biệt là các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước hầu hết đều gặp sự cố rạn nứt tường.
Vì vậy đề tài “Nghiên cứu ứng dụng vữa Polymer cho gạch không nung” là cần thiết với thực trạng hiện nay ở nước ta.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu ứng dụng vữa Polymer cho gạch không nung, nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế của công trình.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng được nghiên cứu là vật liệu vữa Polymer cho gạch không nung.
Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp ở Việt Nam.
Nghiên cứu bằng cơ sở lý thuyết kết hợp với thí nghiệm thực tiễn, thu thập tài liệu trong và ngoài nước về vấn đề ứng dụng vữa Polymer cho gạch không nung.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ GẠCH KHÔNG NUNG
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG VỮA POLYMER CHO GẠCH KHÔNG NUNG
Tình hình sử dụng gạch không nung ở Việt Nam
Gạch xây là bộ phận cấu thành quan trọng của công trình xây dựng. Hàng năm, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành xây dựng, theo Tạp chí Xây dựng, số 5/2014 cả nước tiêu thụ khoảng 20- 22 tỷ viên/1 năm, chủ yếu là gạch nung thủ công chiếm tới 90%. Với đà phát triển này, đến năm 2020 lượng đất sét phải tiêu thụ vào khoảng 600 triệu m3, tương đương với 30.000 ha đất canh tác. Không những vậy, gạch nung còn tiêu tốn rất nhiều năng lượng: than, củi, đặc biệt là than đá, quá trình này thải vào bầu khí quyển của chúng ta cơ bản là khí độc không chỉ ảnh hưởng tới môi trường, sức khỏe con người mà còn làm giảm năng suất của cây trồng vật nuôi. Chính vì vậy, việc sử dụng gạch không nung thay thế gạch nung là xu hướng tất yếu trong công nghệ xây dựng hiện đại nhưng nó đòi hỏi phải có chủ trương lớn, chính sách hỗ trợ, giải pháp đồng bộ.
Việc hạn chế sản xuất gạch nung và thay thế bằng gạch không nung đang là chủ trương lớn của Nhà nước và các bộ, ngành địa phương. Điển hình nhất là quyết định số 567/QĐ- TTG ngày 28/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “ chương trình phát triển vật liệu xây không nung ” với các mục tiêu cơ bản:
- Gạch không nung thay thế gạch nung 20- 25% vào năm 2015, 30- 40% vào năm 2020.
- Hàng năm sử dụng khoảng 15- 20 triệu tấn phế thải công nghiệp (tro xỉ nhiệt điện, xỉ lò cao…) để sản xuất vật liệu xây dựng không nung, tiết kiệm đất nông nghiệp và hàng trăm hecta đất chứa phế thải.
- Tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công.
Tiếp theo, ngày 16/4/2012 Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 10/CT- TTg về việc tăng cường sử dụng vật liệu xây không nung và hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung đã nêu rõ một số nội dung yêu cầu các bộ, ngành địa phương thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm:
- Các công trình vốn ngân sách bắt buộc phải sử dụng gạch xây không nung. Các công trình nguồn vốn khác ưu tiên việc sử dụng gạch xây không nung.
- Chỉ đạo, hướng dẫn các dự án nhiệt điện đầu tư công nghệ phù hợp giảm thiểu phát thải ra môi trường góp phần giảm diện tích bãi thải, bảo vệ môi trường; đồng thời thu hồi tro, xỉ và thạch cao đảm bảo chất lượng để làm nguyên liệu cho sản xuất dụng gạch xây không nung.
Thông tư số 00/2012/TT- BXD ngày 28/11/2012 của Bộ Xây dựng về quy định sử dụng vật liệu xây không nung trong các công trình xây dựng yêu cầu:
- Các công trình xây dựng được đầu tư bằng nguồn vốn Nhà nước theo quy định hiện hành bắt buộc phải sử dụng vật liệu xây dựng không nung theo lộ trình.
- Tại các đô thị loại 3 trở lên phải sử dụng 100% loại vật liệu không nung kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực
- Tại các khu vực còn lại phải sử dụng tối thiểu 50% vật liệu xây dựng không nung kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực đến hết năm 2015, sau năm 2015 thì phải sử dụng 100%.
- Các công trình xây dựng từ 9 tầng trở lên không phân biệt nguồn vốn,từ nay đến năm 2015 phải sử dụng tối thiểu 30% và sau năm 2015 phải sử dụng tối thiểu 50% vật liệu xây không nung loại nhẹ trong tổng số vật liệu xây (tính theo thể tích khối xây).
Tình hình thực trạng sử dụng gạch không nung hiện nay
Gạch không nung hiện nay đã hiện hữu trên rất nhiều công trình trọng điểm, điển hình như Keangnam Hà Nội, Landmard Tower, Habico Tower, Khách sạn Horison, Hà Nội Hotel Plaza, sân vận động Mỹ Đình, làng Việt kiều Châu Âu… Đây có thể coi như kết quả đáng khích lệ trong lộ trình xóa bỏ gạch nung thủ công bằng phương pháp gạch không nung.
Theo báo cáo của Vụ vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, sau 3 năm thực hiện Chương trình theo Quyết định số 567/QĐ- TTg kết quả như sau: tổng công suất đầu tư vào 3 loại sản phẩm chính (gạch xi măng cốt liệu, gạch AAC, gạch bê tông bọt) đạt 4,2 tỷ viên/năm. Hiện nay gạch xi măng cốt liệu đang đạt khoảng 70%, gạch nhẹ khoảng 28,6% so với tổng số gạch xây không nung.
Về gạch xi măng cốt liệu: theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện nay trên toàn quốc đã đầu tư khoảng hơn 1000 dây chuyền có công suất dưới 7 triệu viên/năm và khoảng 50 dây chuyền có công suất từ 7 đến 40 triệu viên/năm. Tổng công suất khoảng 3 tỷ viên/năm. Tổng giá trị đầu tư khoảng 1.500 tỷ đồng. Trong đó, thị trường tiêu thụ đạt 85- 90% lượng sản xuất (khoảng 2,7 tỷ viên).
Về gạch bê tông khí hưng áp AAC: hiện nay trên toàn quốc đã có khoảng 22 doanh nghiệp đầu tư với tổng công suất thiết kế 3,8 triệu m3/năm. Trong đó có 9 dự án (tổng công suất 1,5 triệu m3– tương đương 945 triệu viên/năm), giá trị đầu tư khoảng 1.000 tỷ đồng đi vào sản xuất năm 2012. Ngoài ra còn 13 dự án đang làm thủ tục đầu tư với tổng công suất 2,3 triệu m3/năm.
Về gạch bê tông bọt: hiện nay có 17 cơ sở sản xuất với tổng công suất hơn 190.000m3, giá trị đầu tư khoảng 120 tỷ đồng. Tình hình sản xuất gạch nhẹ chỉ đạt 20- 30% công suất, chỉ duy nhất 1 công ty đạt gần 50% công suất. Tình hình tiêu thụ gạch nhẹ cũng rất hạn chế, đa số tiêu thụ được 50 -60% sản lượng, đơn vị tiêu thụ tốt nhất cũng chỉ đạt 90- 95% sản lượng, một số doanh nghiệp không tiêu thụ được nên đã phải ngừng sản xuất.
Nhìn chung, sau 3 năm triển khai, trong khi năng lực sản xuất gạch không nung đạt khá cao thì việc sản xuất sử dụng gạch không nung lại gặp nhiều khó khăn, chưa đạt được mục tiêu của phương trình đề ra. Tính đến hết năm 2012 sản lượng tiêu thụ đạt 3,5 tỷ viên, chiếm 17% trong khi mục tiêu của chương trình phải đạt tỷ lệ gạch không nung thay thế gạch đất sét nung là 20- 25% vào năm 2015. Đại diện các bộ, ngành có nhận định, tiến độ triển khai quyết định có nguy cơ chậm một phần do thói quen tiêu dùng của người dân vẫn thích sử dụng gạch nung đất sét có màu đỏ tươi và một yếu tố quan trọng nữa nếu tính tổng thể cả công trình, nếu sử dụng gạch không nung thì hiệu qủa do kết cấu nhẹ nhưng nếu tính riêng rẽ 1m2 gạch không nung vẫn đắt hơn 1m2 gạch nung . Điều này có thể giải thích, do những nhà sản xuất gạch nung gần như không phải trả tiền nguyên liệu đất. Nguyên liệu đốt thì lại khai thác tùy tiện từ rừng với giá rất rẻ nên giá thành sản phẩm gạch nung, nhất là gạch nung thủ công thường rất thấp so với giá trị thật của nó. Mặt khác, công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như môi trường ở Việt Nam còn rất tùy tiện, dễ dãi, thiếu nghiêm túc hoặc chồng chéo, nên Chính phủ không ít lần nhắc nhở kèm theo nhiều quy định pháp lý rõ ràng. Song vấn đề gạch nung tới nay vẫn chưa được giải quyết một cách tích cực. Cũng vì thế, chưa tạo ra được những bước đi ban đầu có hiệu quả để thay thế “thói quen xấu” là dùng gạch nung trong nhân dân.
Hư hỏng xảy ra khi sử dụng gạch không nung
Qua 5 năm sử dụng gạch không nung theo chủ trương của Chính phủ, rất nhiều công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nước đã xảy ra hiện tượng nứt tường ngang, dọc, chạy dài từ đầu đến cuối chân tường…
Tại tỉnh Bến Tre có đến 6/10 công trình sử dụng gạch không nung bị nứt tường, có 2 công trình tiến hành dặm vá, sữa chữa xong thì tiếp tục nứt tại các vị trí khác. Hầu hết các công trình đều xuất hiện các vết nứt ngẫu nhiên, nứt lớp vữa tô hoặc nứt viên gạch trong khối xây và không theo một quy luật nào. Một số công trình đang thi công dở dang bằng gạch không nung buộc phải quay lại sử dụng gạch truyền thống.

Hình 1.1. Gạch không nung bị phá bỏ, thay thế bằng gạch nung tại công trình UBND xã Nhơn Thạnh, tỉnh Bến Tre

Hình 1.2. Những vết nứt tại công trình UBND xã Nhơn Thạnh,

Hình 1.3. Tường gạch không nung nơi hàng rào UBND xã Sơn Đông, tỉnh Bến Tre bị nứt và phải tô vữa lại
Ngoài ra, tại tỉnh Quảng Ngãi cũng có một số công trình thuộc vốn ngân sách nhà nước sử dụng gạch không nung bị nứt tường sau một thời gian đưa vào sử dụng.





Hình 1.4. Gạch không nung bị nứt tường sau một thời gian sử dụng
Hình 1.4: Tường bị nứt tại công trình Ngân hàng và phát triển nông thôn Việt Nam – AGRIBANK – Chi nhánh Minh Long thuộc Xã Long Hiệp, Huyện Minh Long, Tỉnh Quảng Ngãi. Công trình khởi công vào tháng 3/2015 và hoàn thành đưa vào sử dụng tháng 11/2015, nhưng trước khi hoàn thành công trình đã xuất hiện những vết nứt, tuy đã sửa chữa và đưa vào sử dụng nhưng tường tiếp tục xuất hiện những vết nứt tại vị trí cũ.
Sử dụng vật liệu gạch xây không nung thay thế gạch nung truyền thống là xu thế hiện đại và tất yếu trong ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Giải pháp làm giảm phát thải vào môi trường, đồng thời có thể tận dụng nguồn nguyên vật liệu phế thải công nghiệp cho sản xuất như tro xỉ than nhiệt điện , mạt đá, đất đồi… Có thể nói, công nghệ sản xuất vật liệu gạch không nung là công nghệ sạch và tiên tiến. tuy nhiên cần có chủ trương và các giải pháp đồng bộ trong việc thực hiện.

NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ GẠCH KHÔNG NUNG
Gạch không nung được phân loại chủ yếu dựa trên nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, khả năng chịu lực, chịu nhiệt, cách âm, trọng lượng của viên gạch. Trên thị trường Việt Nam hiện nay gạch không nung được phân thành các loại gạch sau:
Gạch không nung tự nhiên và gạch papanh
Sản xuất với nguyên liệu từ xỉ than, vôi bột và ít xi măng trộn đều bằng máy hoặc thủ công, gạch không nung papanh được đóng bằng tay hoặc máy công suất nhỏ với áp suất độ nén thấp. Gạch papanh có cường độ chịu lực kém, khả năng hút nước cao, hiện nay gạch papanh dùng lát vỉa hè được sản xuất dây chuyền hiện đại có khả năng chịu lực tốt hơn.

Hình 2.1. Mẫu gạch không nung panpanh dung để lát vỉa hè
Gạch không nung xi măng cốt liệu hay còn gọi là gạch block
Sản xuất với nguyên liệu từ xi măng và một số thành phần như mạt đá sạch, cát đen, xỉ than nhiệt điện, cát vàng, phế thải công nghiệp. Với khả năng chịu lực tôt nhất trong các loại gạch không nung (trên 80kg/cm2) tỉ trọng cũng lớn nhất (trên 1900kg/m3) đối với gạch đặc nhưng vẫn nhỏ hơn so với gạch đất nung.

Hình 2.2. Mẫu gạch không nung xi măng cốt liệu
Gạch không nung xi măng cốt liệu được chính phủ khuyến khích sử dụng và ưu tiên phát triển do đáp ứng hầu hết các yêu cầu về kỹ thuật, không gây ô nhiễm môi trường và tiết kiệm chi phí xây dựng như dễ sử dụng dùng vữa như gạch nung mà tốc độ xây dựng nhanh hơn nhiều.
Việc sử dụng gạch không nung xi măng cốt liệu là tất yếu do khả năng chịu lực hơn hẳn mang lại độ chắc chắn cho công trình. Một công trình yêu cầu cường độ chịu lực 80kg/cm2 với gạch không nung xi măng cốt liệu chỉ cần dùng gạch lỗ 1400kg/m3 là đã vượt 100kg/cm2 trong khi gạch đất nung cần gạch đặc 1800kg/m3 vừa nặng hơn mà chịu lực kém hơn chưa kể các vấn đề như chịu nhiệt và cách âm.
Gạch không nung bê tông nhẹ hoặc siêu nhẹ
Thông thường hiện nay trên thị trường có hai loại gạch bê tông nhẹ gọi là gạch bê tông bọt và gạch bê tông khí chưng áp được sử dụng nhiều trong các công trình dân sinh hoặc sửa chữa cơi nới nhà do đặc điểm nhẹ.
Gạch không nung bê tông bọt sản xuất với nguyên liệu là xi măng, tro bay từ các nhà máy nhiệt điện, cát mịn kèm phụ gia tạo bọt, hỗn hợp tạo bọt được trộn riêng rồi phối với nguyên liệu còn lại. Hỗn hợp này được đóng khuôn thủ công rồi qua quá trình để khô tự nhiên thường là 30 ngày để quá trình bê tông hóa cùng khô tự nhiên làm viên gạch đạt chuẩn có thể sử dụng, sau khi đạt tiêu chuẩn gạch bê tông bọt có cường độ nén là 3-4 Mpa, khối lượng 700kg/m3. Do phơi khô tự nhiên sử dụng sân bãi diện tích lớn cần ánh sáng và thời tiết khô ráo cũng như tưới nước để tránh nứt vỡ nên gạch bê tông bọt phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết mặc dù máy móc có thể vận chuyển đến nơi xây dựng để sản xuất tại chỗ.
Quá trình trộn hỗn hợp bọt với nguyên liệu cùng để khô tự nhiên, kèm tro bay nên nếu không đạt chuẩn gạch bê tông bọt chịu lực kém hơn bê tông khí chưng áp nếu cùng trọng lượng, quá trình đóng khuôn thủ công và phụ thuộc vào thời tiết nên sản lượng không cao và nhiều lúc không đảm bảo tiến độ công trình.
Gạch không nung bê tông khí chưng áp AAC (Autoclaved Aerated Concrete) hay còn gọi là gạch nhẹ hay gạch siêu nhẹ được sản xuất với nguyên liệu là nước, xi măng, đá vôi, thạch cao, cát vàng, bột nhôm, chất tạo khí. Công nghệ sản xuất gạch bê tông khí được phát minh ở Thụy điển vào năm 1924 được sử dụng ở Châu Âu hơn 80 năm, Viễn đông và trung đông hơn 40 năm, Châu úc và châu mỹ hơn 20 năm, các nước Singapore, Thái lan, Indonexia, Malayxia từ năm 1990. Khi hỗn hợp nguyên liệu được trộn đều nhôm sẽ phản ứng với vôi và nước tạo thành khí rồi được chuyển vào khuôn tạo hình cắt hình dạng theo ý muôn, sau đó gạch được đưa vào nồi hấp khí chưng áp trông 12h. Trong nồi hấp khí chưng áp Ca(OH)2 phản ứng với cát thạch anh tạo thành hydrat silicat canxi với cấu trúc tinh thể cường độ cao, sau khi gạch ra khỏi nồi hấp có thể sử dụng luôn.

Hình 2.3. Mẫu gạch không nung xi măng cốt liệu
Gạch không nung bê tông nhẹ (gạch siêu nhẹ, gạch nhẹ) có trọng lượng bằng 1/2 hay 1/3 so với gạch đất nung do kết cấu khí chiếm 80% thể tích viên gạch đó là lý do nó có thể nổi trên mặt nước, cách âm vượt trội và cách nhiệt hay chống cháy tốt. Do bề mặt viên gạch khá mịn nên khi xây xong tường thường không phải trát vữa mà bả sơn luôn.
Về độ chịu lực của gạch không nung bê tông bọt với gạch bê tông khí nếu có cùng cường độ chịu lực (Mac) gạch bê tông bọt nặng 1000kg thì bê tông khí chưng áp là 800. Gạch bê tông nhẹ được sử dụng khá nhiều ở các công trình dân sự xây nhà hay xây thêm tầng.[1]
PHÂN TÍCH ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA GẠCH KHÔNG NUNG
Trong ngành nghề xây dựng hiện nay, gạch không nung đang ngày càng chiếm ưu thế, so với gạch đất nung thì nó có ưu điểm vượt trội hơn hẳn. Tất nhiên, những nhược điểm của nó là không thể tránh khỏi, điều quan trọng là bạn phải nắm rõ điều đó để phát triển lợi thế của nó và tìm cách khắc phục các khuyết điểm một cách hiệu quả nhất.
Ưu điểm
Trong quá trình sản xuất gạch nung người ta không cần phải sử dụng đến đất nông nghiệp, do đó mà không ảnh hưởng đến phần diện tích đất này. Ngoài ra, nó cũng không trải qua công đoạn dùng than củi để đốt, do vậy mà tiết kiệm được nguồn nhiên liệu khá lớn, hạn chế nạn chặt phá rừng bừa bãi cũng như không gây hại đến môi trường.
Các nguyên vật liệu để sản xuất nên gạch không nung khá đa dạng và phong phú, nó đều có sẵn ở trong nước như mạt đá, cát vàng, xi măng… do vậy mà tạo ra các sản phẩm gạch block, gạch bông, gạch men khá đa dạng. Về dây chuyền sản xuất của nó tương đối gọn nhẹ, đa phần đều được tự động hóa, do vậy mà không cần phải có quá nhiều nguồn công nhân.
Vì cường độ chịu lực của gạch không nung khá tốt, vậy nên mọi yêu cầu trong lĩnh vực này đều được đáp ứng đầy đủ, đây được xem là tính năng nổi trội của gạch không nung, tuy nhiên ở những nơi có cường độ chịu lực rất cao từ 300 – 400 kg/cm2 thì nó không đáp ứng được. Khu vực yêu cầu vị trí cường độ thấp thì nó cho phép giảm lượng xi măng phối liệu để giảm giá thành, tiết kiệm chi phí.
Gạch không nung có khả năng cách âm, cách nhiệt, chống thấm khá tốt, điều này phù hợp với kết cấu của từng viên gạch cũng như cấp phối vữa bê tông. So với gạch nung thì những viên gạch xây dựng này có kích thước lớn hơn khá nhiều, nó gấp 2 đến 11 lần thể tích, điều này cho phép giảm đi chi phí cho nhân công, đem lại tiến độ công trình nhanh lẹ. Lượng vữa dùng để xây dựng bằng gạch không nung và trát giảm đến 2.5 lần so với gạch truyền thống.
Với gạch không nung, bạn có thể tiết kiệm được thời gian, nguồn tài chính và đơn giản một vài khâu quan trọng trong quá trình xây dựng. Nếu quá trình sản xuất có sử dụng chất độn như sỏi, đá, than xỉ… thì nó cũng làm giảm đi trọng lượng một cách đáng kể, đa dạng về chủng loại, màu sắc, kích thước đồng nhất và đạt được yêu cầu về độ thẩm mỹ cao.
Cũng như trên, trong trường hợp này gạch không nung lát đường có cường độ chịu lực cao, nó giúp làm giảm đi thời lượng thi công, đường và hè sau khi lát xong thì có thể sử dụng ngay được. Trong quá trình thực hiện với loại gạch này thì người lao động không cần phải trát mạch, đó chính là cách giúp tiết kiệm được vật liệu, nhân công, làm giảm thời gian thi công và thoát nước cho mặt vỉa hè cực tốt.
Dễ dàng thay đổi cả về hình dáng cũng như kích thước đường, vỉa hè. Sau một thời gian thi công, những viên gạch lát đã cũ, bị vỡ… thì bạn có thể tháo ra và thay bằng những viên gạch mới một cách nhanh chóng. Cả về hình dáng lẫn màu sắc của các viên gạch này đều rất đa dạng, đem lại tính thẩm mỹ cực cao, không phụ thuộc vào vấn đề thời tiết mưa nắng.
Ngoài ra, theo báo giá từ các nhà máy gạch bê tông cung cấp, giá thành gạch không nung thấp hơn từ 5 – 10% so với gạch đỏ
Nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm ở trên thì gạch không nung cũng có một vài nhược điểm, đầu tiên là do chúng sử dụng cát, đá làm nguyên liệu khiến cho nhu cầu khai thác cát, đá tăng cao. Tuy trong quá trình sản xuất và thi công ít ô nhiễm nhưng các nguyên liệu thứ phẩm của nó cũng gây ô nhiễm cao như xi măng, bột nhôm… [2]
Nếu xét về hạn chế của gạch không nung là độ hút nước cao, nếu không xử lý ép tốt trong quá trình sản xuất sẽ gây ra các hiện tượng ẩm mốc, rạn nứt công trình. Tuy nhiên, đấy là đối với công nghệ lạc hậu trước đây hoặc với máy có công suất nhỏ, sản xuất thủ công. Còn hiện nay, với công nghệ tiên tiến, hiện đại bằng công nghệ rung, ép, máy có công suất lớn… độ hút ẩm của gạch không nung có thể thấp hơn hoặc tương đương với gạch đỏ (độ hút ẩm từ 8-12%).[3]
ỨNG DỤNG CỦA GẠCH KHÔNG NUNG TRONG XÂY DỰNG
Vật liệu không nung đã và đang đáp ứng tốt nhu cầu xây dựng của rất nhiều công trình xây dựng từ dân dụng đến dự án lớn, cao ốc, nhà máy ở cả nông thôn và thành thị, vì thế nó đang được ưu tiên phát triển và dự kiện đến năm 2020 sẽ chiếm 50% thị trường vật liệu xây dựng trên tất cả các công trình.
Gạch không nung được dùng cho các công trình dân dụng: Nhà ở, biệt thự, nhà phố cũng những các công trình dân dụng nhỏ.
Công trình công cộng: Gạch không nung đang dần chiếm lĩnh hoàn toàn thị trường này, các công trình lớn, tòa nhà, cao ốc, cầu cống, đường sá, các công trình trường học, bệnh viện, nhà máy.
Công trình tư nhân: Với đặc tính cách âm, cách nhiệt, gạch không nung được sử dụng rất nhiều trong các nhà máy, các công trình sản xuất lớn.
Không phải ngẫu nhiên mà tại các quốc gia phát triển. Những lợi ích gạch không nung mang lại không chỉ góp phần làm sản phẩm bền vững, đẹp mà còn mang lại nhiều lợi ích về kinh tế.
Hình 2.4. Một cao ốc văn phòng đâng xây dựng tại Hà Nội sử dụng gạch không nung
Nội dung của chương này đề cập đến các loại gạch không nung đang được sử dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng công nghiệp và dân dụng tại Việt Nam. Ngoài ra, chúng tôi đã đánh giá những ưu và nhược điểm của gạch không nung nhằm làm rõ những lợi thế so sánh khi đưa va sử dụng các công trình xây dựng.
ỨNG DỤNG VỮA POLYMER CHO GẠCH KHÔNG NUNG
THÍ NGHIỆM TÍNH CHẤT CƠ LÝ CỦA GẠCH KHÔNG NUNG
Chỉ tiêu cơ bản của gạch xi măng cốt liệu theo TCVN 6477 – 2011
- Đối với gạch đặc:
+ Cường độ chịu nén : ≥ 100 kg/cm2.
+ Độ hút nước : ≤ 10%.
+ Sai số kích thước : ± 2 mm
- Đối với gạch rỗng:
+ Cường độ chịu nén : ≥ 65 kg/cm2.
+ Độ hút nước : ≤ 10%. + Độ rỗng : ≤ 50%.
+ Sai số kích thước : ± 2 mm.
Phân loại, kích thước cơ bản và kí hiệu quy ước
- Theo kích thước
Gạch tiêu chuẩn (TC): có kích thước cơ bản theo Bảng 3.1.
Bảng 3.1. Kích thước cơ bản và sai lệch kích thước
| Kích thước (mm) | Mức | Sai lệch kích thước |
| Chiều rộng, không nhỏ hơn | 100 | ± 2 |
| Chiều dài không lớn hơn | 400 và không nhỏ hơn 1,3 lần chiều rộng | ± 2 |
| Chiều cao không lớn hơn | 200 và không lớn hơn chiều dài | ± 3 |
Gạch dị hình (DH): có kích thước khác kích thước cơ bản, dùng để hoàn chỉnh một khối xây (gạch nửa, gạch xây góc, gạch có phần rỗng đặt cốt thép).
- Theo mục đích trang trí:
-Gạch thường (T): bề mặt có màu sắc tự nhiên của bê tông.
-Gạch trang trí (TT): có thêm lớp nhẵn bóng hoặc nhám sùi với màu sắc trang trí khác nhau.
- Kích thước và độ dày thành vách
Kích thước cơ bản của viên gạch quy định theo bảng 2.2.
Bảng 3.2. Kích thước tiêu chuẩn của các loại gạch block
| Chiều dài (mm) | Chiều rộng (mm) | Chiều cao (mm) |
| 400 | 220 | 200 |
| 400 | 200 | 200 |
| 400 | 150 | 200 |
| 400 | 100 | 200 |
| 390 | 220 | 190 |
| 390 | 190 | 190 |
| 390 | 150 | 190 |
| 390 | 100 | 190 |
Độ dày thành và vách của viên gạch block quy định theo bảng 2.3
Bảng 3.3. Độ dày của các thành, vách
| Chiều rộng (mm) | Thành dọc, không nhỏ hơn (mm) | Thành ngang, vách ngang, không nhỏ hơn (mm) |
| 100 | 20 | 20 |
| 150 | 25 | 25 |
| 190 | 30 | 25 |
| 200 | 30 | 25 |
| 220 | 30 | 25 |
- Phần rỗng đặt cốt thép và độ rỗng viên gạch:
Cấu tạo phần rỗng đặt cột thép được quy định bao gồm phần rỗng theo phương thẳng đứng và phần rỗng theo phương ngang, được minh họa tại hình 2.5 như sau:

Hình 2.5. Cấu tạo phần rỗng đặt cốt thép của viên gạch block
Kích thước phần rỗng đặt cốt thép được quy định tại bảng 2.4 như sau:
Bảng 3.4. Kích thước phần rỗng đặt cốt thép
| Chiều rộng gạch | Phần rỗng theo phương đứng | Phần rỗng theo phương ngang | |||
| Tiết diện ngang (a x b), mm2 | Chiều rộng, b | Chiều rộng, b | Chiều cao, h | Bán kính cong, r | |
| Không nhỏ hơn 100 mm | 3000 | 50 | 50 | 40 | |
| Không nhỏ hơn 120 mm | 4200 | 60 | 60 | 50 | |
| Không nhỏ hơn 150 mm | 6000 | 70 | 70 | 70 | 40 |
Độ rỗng viên gạch block không lớn hơn 65% và khối lượng viên gạch block không lớn hơn 20kg.
- Khuyết tật ngoại quan
Khuyết tật ngoại quan cho phép qui định theo bảng 2.5 cụ thể như sau:
Bảng 3.5. Khuyết tật ngoại quan cho phép
| Tên khuyết tật | Mức cho phép | |
| Gạch thường | Gạch trang trí | |
| Độ cong vênh trên bề mặt viên gạch, mm, không lớn hơn | 3 | 1 |
| Số vết sứt vỡ các góc cạnh, sâu từ 5 mm đến 10 mm, dài từ 10 mm đến 15 mm, không lớn hơn | 4 | 2 |
| Số vết nứt có chiều dài không quá 20 mm, không lớn hơn | 1 | 0 |
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\TIEN


