Nghiên cứu ứng dụng vữa Polymer cho gạch không nung
Hiện nay, gạch không nung đã khẳng định chỗ đứng vững chắc trong các công trình, nó đang dần trở lên phổ biến hơn và được ưu tiên phát triển ( theo thông tư số 09/2012/TT-BXD ). Có rất nhiều công trình sử dụng gạch không nung, từ công trình nhỏ lẻ, phụ trợ cho đến các công trình dân dụng, đình chùa, nhà hàng, sân gôn, khu nghỉ dưỡng, cao ốc,…
Tuy nhiên hiện nay, việc sử dụng gạch không nung cho công trình đã xảy ra hiện tượng rạn nứt tường ở một số công trình do sử dụng vữa xây không hợp lý, đặc biệt là các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước hầu hết đều gặp sự cố rạn nứt tường.
Vì vậy đề tài “Nghiên cứu ứng dụng vữa Polymer cho gạch không nung”là cần thiết với thực trạng hiện nay ở nước ta.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu ứng dụng vữa Polymer cho gạch không nung, nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế của công trình.
Đối tượng được nghiên cứu là vật liệu vữa Polymer cho gạch không nung.
Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp ở tỉnh Quảng Ngãi và lấy gạch xi măng cốt liệu (kích thước 9x19x39cm) tại nhà máy gạch Tiến Châu thuộc huyện Tư Nghĩa, Tỉnh Quảng Ngãi làm thí nghiệm.
Nghiên cứu bằng cơ sở lý thuyết kết hợp với thí nghiệm thực tiễn, thu thập tài liệu trong và ngoài nước về vấn đề ứng dụng vữa Polymer cho gạch không nung.
Gạch xây là bộ phận cấu thành quan trọng của công trình xây dựng. Hàng năm, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành xây dựng, theo Tạp chí Xây dựng, số 5/2014, cả nước tiêu thụ khoảng 20- 22 tỷ viên/1 năm, chủ yếu là gạch nung thủ công chiếm tới 90%. Chính vì vậy, việc sử dụng gạch không nung thay thế gạch nung là xu hướng tất yếu trong công nghệ xây dựng hiện đại nhưng nó đòi hỏi phải có chủ trương lớn, chính sách hỗ trợ, giải pháp đồng bộ.
Việc hạn chế sản xuất gạch nung và thay thế bằng gạch không nung đang là chủ trương lớn của Nhà nước và các bộ, ngành địa phương. Điển hình nhất là quyết định số 567/QĐ- TTG ngày 28/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “ chương trình phát triển vật liệu xây không nung “.
Tiếp theo, ngày 16/4/2012 Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 10/CT- TTg về việc tăng cường sử dụng vật liệu xây không nung và hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung đã nêu rõ một số nội dung yêu cầu các bộ, ngành địa phương thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm.
- Một số loại gạch không nung
Gạch không nung papanh
Hình 1.1. Mẫu gạch không nung papanh dùng để lát vỉa hè
Gạch không nung bê tông nhẹ hoặc siêu nhẹ
+ Gạch không nung bê tông bọt
+ Gạch không nung bê tông khí chưng áp AAC)

Hình 1.2. Mẫu gạch không nung bê tông nhẹ
Gạch không nung xi măng cốt liệu hay còn gọi là gạch block
Gạch block được sản xuất với nguyên liệu từ xi măng và một số thành phần như mạt đá sạch, cát đen, xỉ than nhiệt điện, cát vàng, phế thải công nghiệp.

Hình 1.3. Mẫu gạch không nung xi măng cốt liệu
- Phân tích ưu và nhược điểm của gạch không nung
Ưu điểm
Các nguyên vật liệu để sản xuất gạch không nung khá đa dạng và phong phú. Về dây chuyền sản xuất của nó tương đối gọn nhẹ, đa phần đều được tự động hóa, do vậy mà không cần phải có quá nhiều nguồn công nhân.
Vì cường độ chịu lực của gạch không nung khá tốt, vậy nên mọi yêu cầu trong lĩnh vực này đều được đáp ứng đầy đủ, đây được xem là tính năng nổi trội của gạch không nung.
Gạch không nung có khả năng cách âm, cách nhiệt, chống thấm khá tốt.
Nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm ở trên thì gạch không nung cũng có một vài nhược điểm, đầu tiên là do chúng sử dụng cát, đá làm nguyên liệu khiến cho nhu cầu khai thác cát, đá tăng cao.
Nếu xét về hạn chế của gạch không nung là độ hút nước cao, nếu không xử lý ép tốt trong quá trình sản xuất sẽ gây ra các hiện tượng ẩm mốc, rạn nứt công trình.
Qua 5 năm sử dụng gạch không nung theo chủ trương của Chính phủ, rất nhiều công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nước đã xảy ra hiện tượng nứt tường ngang, dọc, chạy dài từ đầu đến cuối chân tường.

Hình 1.8: Những vết nứt tại công trình UBND xã Nhơn Thạnh,

Hình 1.9: Tường bị nứt tại công trình Ngân hàng và phát triển nông thôn Việt Nam – AGRIBANK – Chi nhánh Minh Long thuộc Xã Long Hiệp, Huyện Minh Long, Tỉnh Quảng Ngãi
Sử dụng vật liệu gạch xây không nung thay thế gạch nung truyền thống là xu thế hiện đại và tất yếu trong ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Giải pháp làm giảm phát thải vào môi trường, đồng thời có thể tận dụng nguồn nguyên vật liệu phế thải công nghiệp cho sản xuất như tro xỉ than nhiệt điện , mạt đá, đất đồi…. Tuy nhiên, việc sử dụng vữa cho gạch khung còn rất nhiều khó khăn trong vấn đề khắc phục hiện tượng nứt tường do vữa, vì vậy trong đề tài này tác giả tập trung nghiên cứu những khả năng gây ra hiện tượng nứt tường do sử dụng vữa thông thường và tìm ra giải pháp để khắc phục hiện tượng này (sử dụng vữa polymer để thay thế vữa thông thường khi xây tường bằng gạch không nung xi măng cốt liệu).
DỰ ĐOÁN NGUYÊN NHÂN GÂY NỨT TƯỜNG KHI DÙNG GẠCH KHÔNG NUNG, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM
- DỰ ĐOÁN NGUYÊN NHÂN GÂY NỨT TƯỜNG KHI DÙNG GẠCH KHÔNG NUNG
- Nguyên nhân gây nứt tường
- DỰ ĐOÁN NGUYÊN NHÂN GÂY NỨT TƯỜNG KHI DÙNG GẠCH KHÔNG NUNG
– Chất lượng gạch.
– Quá trình thi công.
– Vữa xây không phù hợp với gạch không nung
- Nghiên cứu khác
Bên cạnh đó, năm 2016 với đề tài “nghiên cứu thực nghiệm vữa polymer chống nứt cho tường xây bằng gạch không nung” của thạc sỹ Võ Duy Khánh đã cho thấy khi xây tường gạch không nung bằng vữa thông thường đã xảy ra hiện tượng nứt dọc theo mạch vữa, có xu hướng kéo dài và mở rộng theo thời gian. Tuy nhiên, gạch không nung của đề tài trên là loại gạch bê tông bọt nên tính chất của gạch này khác hoàn toàn so với gạch xi măng cốt liệu.
- TỔNG QUAN VỀ VỮA POLYMER
- Giới thiệu về vữa polymer
- TỔNG QUAN VỀ VỮA POLYMER
Trong đề tài này, vữa polymer được sử dụng để nghiên cứu với hai loại vữa là vữa polymer Sika Lite (xi măng, cát, nước, phụ gia Sika Lite) và vữa polymer Sika Latex TH (xi măng, cát, nước, phụ gia Sika Latex TH).
| Sika Lite | Sika Latex TH |
![]() | ![]() |
Hình 2.3: Phụ gia dùng trong vữa polymer
- Các đặc tính của polymer
- Polymer nhiệt dẻo:
- Polymer nhiệt rắn:
- Polymer đàn hồi:
- Tác dụng của polymer trong vữa và bê tông
- Polymer có tác dụng làm thay đổi cấu trúc rỗng.
- Polymer cải thiện khả năng bám dính giữa đá xi măng và cốt liệu.
- Ảnh hưởng của polymer đến cường độ của vữa.
- Polymer tăng tính bền chống sự thâm nhập của ion Clo.
- Ảnh hưởng của Polymer đến độ bền Sunphat.
- Ảnh hưởng của polymer đến độ bên hoá.
- Ảnh hưởng của polymer đến độ bền đóng-tan băng và khả năng môi trường.
- PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH THÍ NGHIỆM
Vật liệu sử dụng trong thí nghiệm:
- Xi măng PCB 40 Sông Gianh.
- Cát : tại mỏ cát sông Trà Khúc, Tp Quảng Ngãi, Tỉnh Quảng Ngãi
- Nước
- Phụ gia lỏng Sika Lite và Sika Latex TH
- Thí nghiệm tính chất cơ lý của vật liệu sử dụng chế tạo vữa
Xi măng
Bảng 2.1: Kết quả thí nghiệm tính chất cơ lý của xi măng
| Tính chất cơ lý của xi măng PCB40 Sông Gianh | |||||
| STT | Chỉ tiêu thí nghiệm | Đơn vị | Kết quả | Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 6260:2009) | Tiêu chuẩn thí nghiệm |
| 1 | Thời gian đông kết | TCVN 6017:1995 | |||
| Bắt đầu | Phút | 140 | ≥ 45 | ||
| Kết thúc | Phút | 199 | ≤ 420 | ||
| 2 | Cường độ chịu nén | TCVN 6016:2011 | |||
| 3 ngày | Mpa | 23,5 | ≥ 18 | ||
| 28 ngày | Mpa | 44,2 | ≥ 40 | ||
| 3 | Khối lượng riêng | g/cm3 | 3,10 | – | TCVN 4030:2003 |
| 4 | Độ nghiền mịn | % | 1,6 | ≤ 10 | TCVN 4030:2003 |
| 5 | Độ dẻo tiêu chuẩn | % | 29,5 | – | TCVN 6017:1995 |
| 6 | Độ ổn định thể tích | mm | 1,5 | ≤ 10 | TCVN 6017:1995 |
| 7 | Khối lượng thể tích xốp | Kg/m3 | 1098 | – | TCVN 4030:2003 |
Cát
Bảng 2.2: Kết quả thí nghiệm tính chất cơ lý của cát
| Tính chất cơ lý của cát | |||||
| STT | Chỉ tiêu thí nghiệm | Đơn vị | Kết quả | Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 7570:2006) | Tiêu chuẩn thí nghiệm |
| 1 | Hàm lượng bùn, bụi, sét | % | 1,66 | ≤ 10 | TCVN 7572-8 : 2006 |
| 2 | Tạp chất hữu cơ | – | Sáng hơn | Không sẫm hơn màu chuẩn | TCVN 7572-9 : 2006 |
| 3 | Khối lượng riêng | g/cm3 | 2,655 | – | TCVN 7572-4 : 2006 |
| 4 | Khối lượng thể tích xốp | kg/m3 | 1415 | – | TCVN 7572-6 : 2006 |
| 5 | Hàm lượng mica | % | 0,52 | – | TCVN 7572-20:2006 |
| 6 | Mô đun độ lớn | – | 1,51 | Cát mịn: 0,7-2,0 Cát thô: 2,0-3,3 | |
| 7 | Lượng cỡ hạt >5mm | % | 0 | TCVN 7572-2 : 2006 | |
Bảng 2.3: Thành phần cấp phối hạt của cát
| Thành phần cấp phối hạt | |||||
| STT | Cỡ sàng | Sót trên từng sàng | Sót tích lũy | Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 7570:2006) | |
| (mm) | (g) | (%) | (%) | (%) | |
| 1 | 5 | 0 | 0 | 0 | 0 |
| 2 | 2,5 | 0 | 0 | 0 | 0 |
| 3 | 1,25 | 93,1 | 4,5 | 4,5 | 0-15 |
| 4 | 0,63 | 225,3 | 10,9 | 15,4 | 0-35 |
| 5 | 0,315 | 612,4 | 29,7 | 45,2 | 5-65 |
| 6 | 0,14 | 800,1 | 38,8 | 84,0 | 65-90 |
| 7 | < 0,14 | 269,1 | 13,1 | 97,0 | Lượng qua sàng ≤ 35 |
Hình 2.5 : Biểu đồ thành phần hạt của cát
- Quy trình thí nghiệm các tính chất cơ lý của vữa
- Thí nghiệm độ lưu động của vữa theo TCVN 3121-3:2003
- Thí nghiệm cường độ chịu nén của vữa theo TCVN 3121-11:2003
- Thí nghiệm độ co ngót của vữa theo TCVN 3117:1993
- Thí nghiệm độ chống thấm của vữa theo TCVN 3116:1993
- KẾT LUẬN CHƯƠNG
Qua chương này, tác giả đã dự đoán một số nguyên nhân gây nứt tường khi sử dụng gạch không nung xi măng cốt liệu và giới thiệu vữa polymer dùng cho gạch xi măng cốt liệu. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã trình bày các thí nghiệm của vật liệu chế tạo vữa (xi măng, cát) và các quy trình thí nghiệm các tính chất cơ lý của vữa.
ĐÁNH GIÁ TÍNH CHẤT CƠ LÝ
CỦA VỮA THƯỜNG VÀ VỮA POLYMER
- THÀNH PHẦN CẤP PHỐI CỦA VỮA
Bảng 3.1. Thành phần cấp phối của vữa thường
| STT | Loại vữa | ĐVT | Xi măng Sông Gianh PCB40 | Cát | Nước sạch | Tỷ lệ nước/ xi măng |
| 1 | Vữa trám mạch M50 | m3 | 163 kg | 1.12 m3 | 105 lít | 0.64 |
| 2 | Vữa tô M75 | m3 | 247 kg | 1.090 m3 | 110 lít | 0.445 |
Bảng 3.2. Thành phần cấp phối của vữa polymer Sika Latex TH
| STT | Loại vữa | ĐVT | Sika Latex TH* | Xi măng Sông Gianh PCB40 | Cát | Nước sạch | Tỷ lệ nước/ xi măng |
| 1 | Vữa trám mạch Mác 50 | m3 | 35 lít | 163 kg | 1.12 m3 | 105 lít | 0.64 |
| 2 | Vữa tô Mác 75 | m3 | 36.67 lít | 247 kg | 1.090 m3 | 110 lít | 0.445 |
| *: Tỷ lệ nước sạch/Sika latex TH = 3:1 | |||||||
Bảng 3.3. Thành phần cấp phối của vữa polymer Sika Lite
| STT | Loại vữa | ĐVT | Sika lite* | Xi măng Sông Gianh PCB40 | Cát | Nước sạch | Tỷ lệ nước/xi măng |
| 1 | Vữa trám mạch Mác 50 | m3 | 1.58 lít | 163 kg | 1.12 m3 | 105 lít | 0.64 |
| 2 | Vữa tô Mác 75 | m3 | 2.54 lít | 247 kg | 1.090 m3 | 110 lít | 0.445 |
| *: Tỷ lệ 1% = khối lượng xi măng/khối lượng Sika lite | |||||||
- THÍ NGHIỆM SO SÁNH CÁC TÍNH CHẤT CƠ LÝ VÀ TÍNH KINH TẾ CỦA VỮA THƯỜNG VÀ VỮA POLYMER
- Xác định độ lưu động của vữa theo TCVN 3121-3:2003
- THÍ NGHIỆM SO SÁNH CÁC TÍNH CHẤT CƠ LÝ VÀ TÍNH KINH TẾ CỦA VỮA THƯỜNG VÀ VỮA POLYMER
- Độ lưu động của vữa M50:
Bảng 3.4. Đường kính của vữa M50 trên bàn dằn
| Tỷ lệ Nước/Xi măng | 0.65 | 0.645 | 0.64 | 0.635 | 0.63 | 0.625 | |
| Độ bẹt của vữa polymer (cm) | Sika Latex TH | 21.2 | 20.7 | 20.3 | 19.6 | 19.1 | 18.6 |
| Sika Lite | 20.8 | 20.5 | 20.1 | 19.5 | 19.2 | 18.7 | |
| Độ bẹt của vữa thường (cm) | 18.3 | 17.7 | 17.2 | 16.8 | 16.4 | 16.1 | |
Hình 3.2. Mối quan hệ giữa độ bẹt và tỷ lệ nước/xi măng của các loại vữa mác 50
- Độ lưu động của vữa M75:
Bảng 3.5. Đường kính của vữa M75 trên bàn dằn
| Tỷ lệ Nước/Xi măng | 0.45 | 0.445 | 0.44 | 0.435 | 0.43 | 0.425 | |
| Độ bẹt của vữa polymer (cm) | Sika Latex TH | 25.1 | 24.3 | 23.9 | 23.4 | 22.8 | 22.3 |
| Sika Lite | 24.9 | 24.1 | 23.7 | 23.2 | 22.6 | 22.1 | |
| Độ bẹt của vữa thường (cm) | 21.1 | 20.3 | 19.5 | 18.9 | 18.2 | 17.6 | |
Hình 3.3. Mối quan hệ giữa độ bẹt và tỷ lệ nước/xi măng của các loại vữa mác 75
- Xác định cường độ chịu nén của vữa theo TCVN 3121-11:2003
- Cường độ chịu nén của vữa M50 với tỷ lệ nước/xi măng là 0,64:
Bảng 3.6. Cường độ chịu nén của vữa M50
| Cường độ chịu nén (Mpa) | Vữa thường | Vữa polymer | |
| Sika Latex TH | Sika Lite | ||
| R3 | 4,1 | 4,8 | 4,4 |
| R28 | 5,1 | 6,2 | 5,6 |
Hình 3.5. Biểu đồ cường độ nén của vữa M50
- Cường độ chịu nén của vữa M75 với tỷ lệ nước/xi măng là 0,445:
Bảng 3.7. Cường độ chịu nén của vữa M75
| Cường độ chịu nén (Mpa) | Vữa thường | Vữa polymer | |
| Sika Latex TH | Sika Lite | ||
| R3 | 5,4 | 6,3 | 6,0 |
| R28 | 7,5 | 8,7 | 8,1 |
Hình 3.6. Biểu đồ cường độ nén của vữa M75
- Xác định độ co ngót của vữa theo TCVN 3117:1993
Bảng 3.8. Chênh lệch chiều dài giữa các chốt đo của vữa M75
| Ngày | Chênh lệch chiều dài giữa các chốt đo ∆l (µm) | ||
|---|---|---|---|
| VỮA THƯỜNG | VỮA POLYMER | ||
| SIKA LITE | SIKA LATEX | ||
| Ngày thứ 1 | -530 | -806 | -628 |
| Ngày thứ 3 | -502 | -794 | -627 |
| Ngày thứ 7 | -489 | -784 | -607 |
| Ngày thứ 14 | -512 | -802 | -634 |
| Ngày thứ 28 | -535 | -810 | -672 |
| Ghi chú: Dấu (-): hiện tượng co; Dấu (+): hiện tượng giãn | |||
Hình 3.8. Biểu đồ thể hiện độ co ngót của vữa theo thời gian
- Xác định tính chống thấm của vữa theo TCVN 3116:1993
Bảng 3.9. Mức độ thấm nước của các loại vữa M75
| Loại vữa | 3 ngày tuổi | 7 ngày tuổi | 14 ngày tuổi | 28 ngày tuổi |
| Vữa thường | Thấm | Thấm | Thấm | Thấm |
| Vữa polymer Sika latex TH | Thấm | Thấm | Không thấm | Không thấm |
| Vữa polymer Sika Lite | Thấm | Thấm | Không thấm | Không thấm |
- Hiệu quả kinh tế và xã hội
Bảng 3.10 : Giá thành 1m3 vữa M75 (theo đơn giá vật liệu năm 2017)
| Vữa thường | Vữa polymer Sika Lite | Vữa polymer Sika Latex TH | |
| Giá thành 1m3 vữa | 450.000 VND | 550.000 VND | 2.100.000 VND |
- THỰC NGHIỆM XÂY TƯỜNG
- Sử dụng vữa thường và vữa polymer để xây tường
- THỰC NGHIỆM XÂY TƯỜNG

Hình 3.10: Tường xây bằng vữa thường (bên trái) và
vữa polymer Sika Latex TH (bên phải)
- Sử dụng vữa thường và vữa polymer để tô trát tường

Hình 3.11: Tô tường bằng vữa thường (bên trái) và
vữa polymer Sika latex (bên phải)
- Sử dụng máy khoan và máy cắt để đánh giá cường độ của vữa
Hình 3.12: Không thấy xuất hiện vết nứt trên tường sau 1 năm theo dõi

Hình 3.13: Vết cắt và khoan của tường vữa thường (bên trái) và
tường vữa polymer (bên phải)
- Kiểm tra tính chống thấm của vữa

Hình 3.14: Mức độ chống thấm nước của tường vữa thường (bên trái) và tường vữa polymer (bên phải)
- Nhận xét
Theo quan sát bằng trực quan thì không thấy xuất hiện vết nứt trên tường xây bằng vữa thường cũng như tường xây bằng vữa polymer Sika Latex TH qua 1 năm theo dõi. Điều này cho thấy khi xây tường trong khung có kích thước nhất định để nghiên cứu, loại trừ tất cả các biến dạng do lệch, lún kết cấu không đều thì tường xây bằng gạch xi măng cốt liệu 9x19x39cm sử dụng vữa thường và vữa polymer sẽ không xảy ra hiện tượng nứt tường do ảnh hưởng co ngót tự nhiên của bản thân vật liệu (gạch và vữa).
- KẾT LUẬN CHƯƠNG
Trong chương này tác giả đã trình bày các thí nghiệm về các tính chất cơ lý của vữa thường và vữa polymer. Vữa polymer có các chỉ tiêu cơ lý tốt hơn vữa thường về độ lưu động, cường độ nén, tính chống thấm, diễn biến co ngót của vữa thường và vữa polymer tương đồng nhau (điều này phù hợp với kết quả thực nghiệm khi xây tường). Với kết quả thực nghiệm, khi so sánh xây tường gạch xi măng cốt liệu 9x19x39 sử dụng 2 loại vữa thường và vữa polymer (loại trừ tất cả các biến dạng do lệch, lún kết cấu không đều) thì 2 tường đều không nứt; như vậy có thể thấy co ngót tự nhiên của bản thân vật liệu (gạch và vữa) không phải là nguyên nhân gây ra hiện tượng nứt tường gạch xi măng cốt liệu, mà tường bị nứt (trên các công trình xây dựng thực tế) một phần là do công tác thi công (cấp phối, thao tác xây, công tác bảo dưỡng). Do đó, khi xây tường xây bằng gạch xi măng cốt liệu cần kiểm soát kỹ lưỡng các công đoạn thi công.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
- Sử dụng vật liệu gạch xây không nung thay thế gạch nung truyền thống là xu thế hiện đại và tất yếu trong ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, việc sử dụng vữa cho gạch khung còn rất nhiều khó khăn trong vấn đề khắc phục hiện tượng nứt tường, vì vậy cần có chủ trương và các giải pháp đồng bộ trong việc thực hiện.
- Trong đề tài này tác giả đã dự đoán một số nguyên nhân gây nứt tường khi sử dụng gạch không nung xi măng cốt liệu và giới thiệu vữa polymer dùng cho gạch xi măng cốt liệu.
- Qua kết quả thí nghiệm cho thấy:
- Vữa polymer có độ lưu động tốt hơn vữa thường nên sẽ thuận lợi hơn trong quá trình thi công.
- Cường độ chịu nén của vữa polymer tốt hơn vữa thường, dẫn đến khả năng chịu lực của vữa polymer tốt hơn vữa thường. Điều này cho thấy khả năng chống nứt đối với tường gạch xi măng cốt liệu của vữa polymer sẽ tốt hơn so với vữa thường.
- Diễn biến co ngót của vữa thường và vữa polymer tương đồng nhau (điều này phù hợp với kết quả thực nghiệm khi xây tường).
- Về tính kinh tế thì vữa polymer có giá khá cao so với vữa thường, nên cân nhắc về việc sử dụng vữa polymer sao cho phù hợp với từng công trình hoặc từng hạng mục của công trình nhằm tiết kiệm chi phí.
- Qua kết quả thực nghiệm xây tường cho thấy:
Với kết quả thực nghiệm, khi so sánh xây tường gạch xi măng cốt liệu 9x19x39 sử dụng 2 loại vữa thường và vữa polymer (loại trừ tất cả các biến dạng do lệch, lún kết cấu không đều) thì 2 tường đều không nứt; như vậy có thể thấy co ngót tự nhiên của bản thân vật liệu (gạch và vữa) không phải là nguyên nhân gây ra hiện tượng nứt tường gạch xi măng cốt liệu, mà tường bị nứt (trên các công trình xây dựng thực tế) một phần là do công tác thi công (cấp phối, thao tác xây, công tác bảo dưỡng). Do đó, khi xây tường xây bằng gạch xi măng cốt liệu cần kiểm soát kỹ lưỡng các công đoạn thi công.
– Trong quá trình thi công phải tuân thủ đúng tỷ lệ cấp phối của vữa, kỹ thuật thi công, và qui trình bảo dưỡng.
– Nghiên cứu tiếp về ảnh hưởng của các loại gạch, kích thước của viên gạch, độ dính bám của vữa đến các nguyên nhân gây nứt tường để làm rõ hơn về hiệu quả của vữa polymer cho gạch xi măng cốt liệu.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\VU TIEN\SAU BAO VE






