Áp dụng các hình phạt không tước tự do theo pháp luật hình sự Việt Nam

Áp dụng các hình phạt không tước tự do theo pháp luật hình sự Việt Nam

Áp dụng các hình phạt không tước tự do theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Yên

1. Tính cấp thiết của đề tài

Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực có tính nguy hiểm cao cho xã hội, mang tính lịch sử và bản chất giai cấp sâu sắc. Đấu tranh phòng chống tội phạm, ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là nhiệm vụ của bất kỳ nhà nước nào trong bất kỳ xã hội nào. Là một trong những công cụ hữu hiệu để nhà nước thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì pháp luật hình sự không chỉ quy định về tội phạm mà còn quy định về hình phạt. C.Mác đã từng viết: “Hình phạt chẳng qua là thủ đoạn tự vệ của xã hội với những hành vi xâm phạm những điều kiện tồn tại của xã hội đó”. Cũng nhằm thực hiện nhiệm vụ đó, nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã xây dựng BLHS với nhiều loại hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội khác nhau. Trong đó các hình phạt không tước tự do giữ một vị trí và vai trò nhất định.

Tuy nhiên, hệ thống các hình phạt không tước tự do trong Luật hình sự Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập; các điều kiện áp dụng hình phạt không tước tự do còn quy định chung chung; ranh giới giữa các hình phạt không tước tự do còn khó xác định; giới hạn mức hình phạt tối thiểu và tối đa trong số các hình phạt không tước tự do chưa sát thực tế; tương quan giữa các loại hình phạt truyền thống như hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình và các loại hình phạt không tước tự do chưa tương xứng. Đặc biệt, với thói quen phạt tù trong truyền thống xét xử của Tòa án, coi phạt tù là giải pháp tốt nhất trong phòng, chống tội phạm. Cạnh đó, dư luận xã hội thiếu tích cực đối với tình hình áp dụng các hình phạt không tước tự do, cho rằng các hình phạt không tước tự do không có tác dụng răng đe, phòng ngừa tội phạm, đồng thời cũng nghi ngờ có tiêu cực của Thẩm phán nên số lượng hình phạt không tước tự do trong thực tiễn cũng rất ít được áp dụng; các quy định về thi hành hình phạt không tước tự do còn tồn tại một số bất cập, thực tiễn áp dụng và thi hành nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết.

Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với nội dung “sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật…, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội…”, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về các hình phạt không tước tự do và thực tiễn áp dụng hình phạt này để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra những giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định đó không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do luận chứng cho sự cấp thiết để tôi lựa chọn đề tài “Áp dụng các hình phạt không tước tự do theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Yên” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về các hình phạt không tước đoạt tự do, đánh giá thực tiễn áp dụng các hình phạt không tước đoạt tự do tại tỉnh Phú Yên, phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế và những nguyên nhân của nó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện những quy định về các hình phạt không tước đoạt tự do trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành và nâng cao hiệu quả áp dụng của hình phạt này trong thực tiễn.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng các hình phạt không tước đoạt tự do.

– Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các hình phạt không tước đoạt tự do tại tỉnh Phú Yên.

– Đề xuất các giải pháp hoàn thiện BLHS và bảo đảm áp dụng đúng các hình phạt không tước đoạt tự do trước yêu cầu cải cách tư pháp.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về các hình phạt không tước đoạt tự do trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng các loại hình phạt này tại tỉnh Phú Yên.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh các hình phạt không tước đoạt tự do đối với thể nhân trong luật hình sự Việt Nam; nghiên cứu tình hình áp dụng các loại hình phạt này trong thực tiễn xét xử tại tỉnh Phú Yên.

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các hình phạt không tước đoạt tự do trên phạm vi tỉnh Phú Yên trong 05 năm (2013 – 2017).

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – xít, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp khảo sát thực tiễn và chuyên gia để giải quyết các vấn đề của luận văn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp tiếng nói khiêm tốn vào lý luận luật hình sự nói chung, lý luận về hình phạt không tước tự do nói riêng trong khoa học luật hình sự nước ta.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Về thực tiễn, Luận văn là tài liệu tham khảo cho không chỉ các nhà lập pháp trong hoàn thiện BLHS; cho cơ quan có thẩm quyền trong hướng dẫn bảo đảm áp dụng pháp luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.

Ngoài ra, Luận văn có thể là tài liệu để các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn học Luật hình sự tại các cơ sở đào tạo luật.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài tiệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt không tước tự do.

Chương 2: Quy định pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt không tước tự do và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Phú Yên.

Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các hình phạt không tước tự do.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT

KHÔNG TƯỚC TỰ DO

    1. 1.1. Lý luận về hình phạt không tước tự do

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hình phạt không tước tự do

Hình phạt không tước tự do là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do Tòa án quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật tước bỏ hay hạn chế quyền, ngoài quyền tự do thân thể, quyền tự do cư trú, hạn chế hay tước bỏ lợi ích hợp pháp của người bị kết án nhằm giáo dục cải tạo người phạm tội, giáo dục phòng ngừa chung.

Hình phạt không tước tự do có đầy đủ những đặc điểm chung của hình phạt đồng thời có những đặc điểm riêng biệt cơ bản như sau:

– Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội

– Tính chất cưỡng chế của hình phạt không tước tự do thấp hơn hình phạt tù

– Việc thi hành hình phạt không tước tự do được thực hiện bởi nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau

– Điều kiện áp dụng và các hậu quả pháp lý phát sinh từ các hình phạt không tước tự do cũng mang sắc thái riêng của mình

– Hình phạt không tước tự do bao gồm một số hình phạt chính và hình phạt bổ sung

– Việc thi hành hình phạt không tước tự do phát huy cao vai trò của cộng đồng trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội

1.1.2. Mục đích của hình phạt không tước tự do

Mục đích của hình phạt là kết quả cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt được khi quyết định trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Nó thể hiện trước hết ở chỗ hình phạt tác động trực tiếp đến người phạm tội, không chỉ trừng trị mà còn nhằm giáo dục, ngăn ngừa họ phạm tội mới.

Mục đích của hình phạt không tước tự do nhằm hướng thiện, giáo dục; tôn trọng, bảo đảm quyền con người, phòng ngừa phạm tội mới. Đặc biệt, để người phạm tội thấy được cái sai rồi tự sửa chữa cho mình và tôn trọng người khác, chấp hành pháp luật tốt hơn.

1.1.3. Vai trò của hình phạt không tước tự do trong hệ thống hình phạt

Hình phạt không tước tự do thể hiện nguyên tắc phân hoá TNHS và cá thể hoá hình phạt. Để có thể thực hiện nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự là nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, kẻ ngoan cố chống đối, khoan hồng đối với người tự thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải, áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng và đã hối cải … đòi hỏi phải có một hệ thống các biện pháp hình sự đa dạng. Một hệ thống hình phạt càng có nhiều loại hình phạt có điều kiện áp dụng, tính chất cưỡng chế khác nhau thì việc xử lý càng chính xác, các tình tiết của hành vi phạm tội, các yếu tố thuộc nhân thân người phạm tội được cân nhắc khi quyết định hình phạt. Do đó, mục đích hình phạt đạt được càng cao.

Hình phạt không tước tự do thể hiện sự đa dạng hoá các loại hình phạt trong Luật hình sự và là điều kiện đảm bảo tính thống nhất trong thực tiễn xét xử của các Toà án, đảm bảo cho việc xét xử bình đẳng, công bằng.

Việc quy định các hình phạt không tước tự do trong hệ thống hình phạt thể hiện nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự.

Các hình phạt không tước tự do ở những phạm vi nhất định góp phần làm tăng hiệu quả của hệ thống hình phạt.

Việc quy định các hình phạt không tước tự do còn thể hiện rõ nét nguyên tắc thuyết phục, giáo dục là chính của luật hình sự Việt Nam.

Hình phạt không tước tự do với tư cách là các hình phạt bổ sung theo quy định của BLHS hiện hành hỗ trợ đắc lực cho các hình phạt tước tự do.

    1. 1.2. Lý luận về áp dụng hình phạt không tước tự do

1.2.1. Khái niệm áp dụng hình phạt không tước tự do

Áp dụng hình phạt không tước tự do là giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự sau khi định tội danh, định khung hình phạt do Tòa án (hội đồng xét xử) thực hiện theo một trình tự, thủ tục luật định nhằm lựa chọn loại và mức hình phạt không tước tự do áp dụng đối với người bị kết tội trong phạm vi luật định”.

1.2.2. Cơ sở pháp lý của việc áp dụng hình phạt không tước tự do

1.2.2.1. Quy định về các hình phạt không tước tự do trong phần chung BLHS

– Hình phạt “Cảnh cáo”

– Hình phạt “Tiền”.

– Hình phạt “Cải tạo không giam giữ”

– Hình phạt trục xuất

1.2.2.2. Quy định về quyết định hình phạt trong phần chung Bộ luật hình sự

Các quy định của BLHS về quyết định hình phạt như quy định về các căn cứ quyết định hình phạt; quy định về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; quy định về áp dụng hình phạt trong các trường hợp đặc biệt như quyết định hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt, quyết định hình phạt trong chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm; quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm (phạm nhiều tội hoặc nhiều bản án); quy định về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội… cũng là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc áp dụng các hình phạt không tước tự do.

Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt, Tòa án cần cân nhắc các quy định này phù hợp với bản chất, vai trò “không tước hoặc hạn chế tự do” của các hình phạt này để có phán quyết hợp lý, hiệu quả.

1.2.2.3. Quy định về các hình phạt không tước tự do trong chế tài các quy phạm phần các tội phạm Bộ luật hình sự

Việc các hình phạt không tước tự do được quy định thế nào trong chế tài các quy phạm phần các tội phạm cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc áp dụng các hình phạt này.

Việc trong BLHS 1999 chỉ có 6 quy phạm phần các tội phạm quy định không có phạt tù, còn trong BLHS 2015 có 31 quy phạm như vậy đã mở rộng phạm vi áp dụng các hình phạt không tước tự do trong thực tiễn xét xử của Tòa án.

Các hình phạt không tước tự do thường được quy định trong chế tài lựa chọn với hình phạt tù đối với các tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng; riêng hình phạt tiền còn được quy định đối với tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm về môi trường.

So với BLHS 1999, cách quy định về các hình phạt không tước tự do trong BLHS 2015 đã mở rộng khả năng áp dụng các hình phạt không tước tự do đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và thậm chí là tội rất nghiêm trọng. Điều đó thể hiện chính sách hình sự “hướng thiện, coi trọng tính phòng ngừa, tăng cường áp dụng các hình phạt không phải tù…” của Đảng và Nhà nước ta.

1.2.3. Nội dung áp dụng hình phạt không tước tự do

Nội dung áp dụng hình phạt không tước tự do cần phải:

– Xác định các tình tiết vụ án được dùng làm căn cứ quyết định hình phạt không tước tự do.

– Nhận thức các quy định của BLHS về quyết định hình phạt không tước tự do.

So sánh, đối chiếu các quy định của BLHS và tình tiết vụ án được xác định để ra quyết định áp dụng hình phạt không tước tự do (bản án).

    1. 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định hình phạt không tước tự do

1.3.1. Yếu tố nhận thức

1.3.2. Chất lượng pháp luật

1.3.3. Trình độ, năng lực Thẩm phán, Hội thẩm

1.3.4. Các bảo đảm khác

Áp dụng các hình phạt không tước tự do theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Yên
Áp dụng các hình phạt không tước tự do theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Yên

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH PHÚ YÊN

    1. 2.1. Các quy định của Bộ luật hình sự về hình phạt không tước tự do

2.1.1. Hình phạt cảnh cáo

2.1.2. Hình phạt tiền

2.1.3. Hình phạt cải tạo không giam giữ

2.1.4. Hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

2.1.5. Hình phạt tước một số quyền công dân

2.1.6. Hình phạt tịch thu tài sản

2.1.7. Hình phạt trục xuất

    1. 2.2. Thực tiễn áp dụng các hình phạt không tước tự do tại tỉnh Phú Yên

2.2.1. Kết quả áp dụng các hình phạt không tước tự do

NămSố bị cáo đưa ra xét xửPhạt tù có thời hạnPhạt tù cho hưởng án treoCải tạo không giam giữPhạt tiềnCảnh cáo
Bị cáoTỷ lệ (%)Bị cáoTỷ lệ (%)Bị cáoTỷ lệ (%)Bị cáoTỷ lệ (%)Bị cáoTỷ lệ (%)
2013107381876,223321,7151,4050,5020,2
2014117693079,124220,630,25010,05
2015111186177,523321171,5
201697974375,921021,4262,7
201790268375,717519,4424,620,3

Điều đó cho thấy số bị cáo áp dụng hình phạt không tước tự do giảm sau đó tăng dần nhưng vẫn chiếm tỷ lệ thấp so với hình phạt tước tự do, chiếm tỷ lệ rất thấp tổng số bị cáo đưa ra xét xử sơ thẩm (năm 2013: 2,1%, năm 2014: 0,3%, năm 2015: 1,5%, năm 2016: 2,7%, năm 2017: 4,9%). Trong đó: Hình phạt cải tạo không giam giữ chiểm tỷ lệ trung bình trong tổng hình phạt không tước tự do là 87,6% (năm 2013: 68,2%, năm 2014: 75%, năm 2015: 100%, năm 2016: 100%, năm 2017: 95%); Hình phạt tiền chiểm tỷ lệ trung bình trong tổng hình phạt không tước tự do là 5,54% (chỉ có năm 2013: 22,7% và 2017: 5%); Hình phạt cảnh cáo chiểm tỷ lệ trung bình trong tổng hình phạt không tước tự do là 6,8% (chỉ có năm 2013: 9,1% và 2014: 25%);

Trong khi đó hình phạt không tước tự do lại được áp dụng ở tỷ lệ rất cao chiếm tỷ lệ trung bình là 78, 12% (năm 2013: 97,9%, năm 2014: 99,7%, năm 2015: 98,5%, năm 2016: 97,3%, năm 2017: 95,1%).

2.2.2. Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các hình phạt không tước tự do

Bên cạnh những kết quả đạt được về việc áp dụng hình phạt không tước tự do trong thực tiễn xét xử của các Tòa án nhân dân thuộc tỉnh Phú Yên như đã phân tích ở trên. Tác giả luận văn nhận thấy việc áp dụng hình phạt không tước tự do thực tiễn tỉnh Phú Yên còn có những tồn tại, hạn chế như sau:

– Rất hạn chế trong áp dụng các hình phạt không tước tự do

– Xử phạt tiền không đúng

2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, sai sót trong áp dụng các hình phạt không tước tự do tại tỉnh Phú Yên

– Nguyên nhân về nhận thức

Nhận thức xã hội nói chung, của những người áp dụng pháp luật nói riêng về mục đích của hình phạt, về vai trò của hình phạt không tước tự do chưa đúng trong bối cảnh nhà nước pháp quyền, tôn trọng và bảo vệ quyền con người… hiện nay.

Mục đích của hình phạt vẫn coi nặng tính trừng trị mà coi nhẹ tính giáo dục, cải tạo, tính hướng thiện, coi trọng tính phòng ngừa.

Mặt khác, dư luận xã hội cũng thường không ủng hộ việc Toà án áp dụng các hình phạt không tước tự do, nhất là phạt tù cho hưởng án treo. Vì vậy, các Thẩm phán cũng rất cẩn trọng và hạn chế việc áp dụng các hình phạt không tước tự do.

Việc tổ chức thi hành các hình phạt không tước tự do cũng còn nhiều hạn chế, thiếu hiệu quả càng làm cho xã hội có nhận thức sai lệch về vai trò các hình phạt này trên thực tế.

Về mặt chủ quan, trình độ nhận thức về mặt pháp luật của một bộ phận cán bộ làm công tác xét xử còn hạn chế.

– Bất cập của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự cũng như hướng dẫn áp dụng

Bộ luật hình sự năm 1999 là kết quả của sự kế thừa và phát triển của cả một hệ thống các nguyên tắc, chế định. Tuy vậy, những nhược điểm, hạn chế, bất cập của thực tiễn tư pháp hình sự áp dụng các quy định của BLHS về hình phạt không tước tự do cho thấy nguyên nhân của nó cũng xuất phát từ chính sự chưa hoàn thiện của BLHS. Những tồn tại, hạn chế của luật thực định đã gây khó khăn cho việc áp dụng và thi hành của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Các quy định của BLHS về nội dung cũng như điều kiện áp dụng các hình phạt không tước tự do chưa thật cụ thể, rõ ràng, nhất là điều kiện về loại tội được áp dụng, nên Toà án rất hạn chế áp dụng các hình phạt này trên thực tế.

– Trình độ, năng lực Thẩm phán, Hội thẩm

Thẩm phán đều có trình độ cử nhân luật, tức đạt chuẩn về trình độ pháp lý theo quy định. Tuy nhiên, chất lượng chưa thực sự cao, trước hết với đa số chỉ được đào tạo tại chức, vừa làm vừa học, kinh nghiệm xét xử theo kiểu truyền thống là xem, nghe, học từ những người đi trước, do đó có những hạn chế nhất định theo kiểu tư duy “trước bày nay làm”. Về năng lực, kỹ năng xét xử, giải quyết các loại vụ án, nhất là án hình sự chưa đáp ứng đầy đủ theo yêu cầu cải cách tư pháp, đặc biệt là vai trò điều hành phiên tòa.

Thêm nữa, trên thực tế, trình độ chuyên môn của đa số Hội thẩm nhân dân chưa đáp ứng yêu cầu xét xử.

Nhiều Thẩm phán, Hội thẩm vẫn chưa nhận thức đúng vai trò của hình phạt không tước tự do.

– Các nguyên nhân khác

Theo nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nhưng thực tế trong công tác xét xử vẫn thiếu tính độc lập, vẫn còn hiện tượng báo cáo án trước khi xét xử để xin về đường lối, để lãnh đạo, cấp ủy nắm tình hình và cho quan điểm xử lý trong những trường hợp nhất định. Tất nhiên, Hội đồng xét xử quyết định và chịu trách nhiệm trước phán quyết của mình nhưng chính vì sự lãnh đạo, chỉ đạo đó, vì phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương đã tạo áp lực, ảnh hưởng đến quyết định của Hội đồng xét xử. Đặc biệt, liên quan đến công tác cán bộ thì việc xem xét, ý kiến hiệp y thống nhất của cấp ủy khi đề bạc bổ nhiệm, tái nhiệm là một trong những áp lực lớn đối với Thẩm phán, có những ảnh hưởng nhất định đến tính độc lập trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Luật Hình sự của ta luôn coi trọng hình phạt tù hơn các hình phạt không tước quyền tự do, điều này thể hiện rõ ở việc quy định hình phạt tù đối với hầu hết các tội cụ thể, hình phạt tiền và cải tạo không giam giữ luôn đi kèm với hình phạt tù.

Việc theo dõi thi hành án đối với các bị án không tước quyền tự do chưa được tổ chức thực hiện tốt nên hiệu quả trừng trị, cải tạo đối với bị án cũng như giáo dục phòng ngừa chung của loại hình phạt này chưa thật sự có tác dụng.

CHƯƠNG 3

YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO

    1. 3.1. Các yêu cầu

3.1.1. Yêu cầu về thực hiện chính sách hình sự hướng thiện, coi trọng tính phòng ngừa, giảm hình phạt tù, tăng cường các hình phạt không phải tù trong Cải cách tư pháp

Chính sách hình sự hướng thiện được Đảng ta xác định là một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta được khẳng định tại Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp tư pháp đến năm 2020.

Chính sách hình sự hướng thiện được BLHS 2015 cụ thể hóa trong một số điều luật về các hình phạt không tước tự do và rất nhiều điều luật khác ở phần chung và phần các tội phạm. Theo đó, hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền từ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng (Điều 30 BLHS 1999) sang áp dụng đối với cả tội nghiêm trọng; riêng tội rất nghiêm trọng có thể áp dụng hình phạt tiền đối với nhóm khách thể bị xâm phạm là trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do BLHS quy định (Điều 35 BLHS 2015).

Đối với hình phạt tù, BLHS 2015 khẳng định nguyên tắc “Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng” (Khoản 2 Điều 38). Cụ thể hóa nguyên tắc này, trong phần các tội phạm số lượng các khoản không quy định hình phạt tù tăng từ 06 khoản BLHS 1999 lên 31 khoản BLHS 2015.

Như vậy, nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt không tước tự do có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện tốt chính sách hình sự hướng thiện ở nước ta hiện nay.

3.1.2. Yêu cầu thực hiện nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, đường lối xử lý có phân biệt, cá thể hóa hình phạt trong luật hình sự

Đây là nguyên tắc mang tính bình đẳng cho từng người thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án đồng phạm, người nào thực hiện hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm đến đâu thì chịu trách nhiệm hình sự đến đó và chỉ chịu hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi của mình gây ra.

Đồng thời, những tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người nào thì chỉ áp dụng đối với người đó.

Như vậy, việc quy định và áp dụng các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù với các mức độ cưỡng chế khác nhau, điều kiện áp dụng khác nhau là điều quan trọng để quán triệt và thực hiện tốt nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt của Luật hình sự.

3.1.3. Yêu cầu tôn trọng, bảo đảm quyền con người

Sự phát triển, bổ sung và đề cao quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013 đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành, làm cho các quyền này của người dân được thực hiện trên thực tế, theo đó, một mặt, BLHS phải xử lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; mặt khác cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi hệ thống hình phạt theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội.

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, có lúc, có nơi việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, nhất là đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội vẫn chưa được tôn trọng một cách đầy đủ và toàn diện. Vì vậy, BLHS phải được tiếp tục hoàn thiện, góp phần tạo ra một khung pháp lý để bảo vệ một môi trường sống an lành cho người dân; bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền tự do…

Nhà nước pháp quyền hiểu là nhà nước phục tùng pháp luật mà chủ thể phục tùng pháp luật trước hết là các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước.

Việt Nam là một quốc gia đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tại Khoản 1 Điều 2 Hiến pháp quy định:“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Chính vì vậy, việc bảo vệ quyền con người là một tất yếu, khách quan ở nước ta và phù hợp với xu hướng văn minh của nhân loại.

Nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù là một đòi hỏi tất yếu, cần được quan tâm hơn trong giai đoạn hiện nay, góp phần vì mục tiêu bảo vệ quyền con người.

3.1.4. Yêu cầu phòng ngừa tội phạm

Phòng ngừa tội phạm là một trong những mục đích của hình phạt mà pháp luật hình sự hướng tới. Mục đích của hình phạt không những trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắt của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Để đáp ứng nhu cầu phòng ngừa tội phạm, đòi hỏi công tác áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng các hình phạt không tước tự do nói riêng phải đảm bảo các nguyên tắc của pháp luật hình sự, đảm bảo sự vô tư, khách quan trong áp dụng hình phạt; tuân thủ nghiêm các quy định của luật hình sự về từng loại hình phạt và các căn cứ quyết định hình phạt.

Chính vì vậy, công tác áp dụng hình phạt nói chung và các hình phạt không tước tự do nói riêng phải thật sự công tâm, khách quan, đảm bảo tính thuyết phục đối với cả xã hội là một bộ phận quan trọng đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

Chú trọng tăng cường, nâng cao hiệu quả các biện pháp phòng ngừa xã hội. Coi trọng phòng ngừa tội phạm từ gia đình, trong gia đình và ở cơ sở. Rà soát, đánh giá ảnh hưởng của các chính sách phát triển và quá trình thực hiện các chính sách phát triển đến tình hình tội phạm và hoạt động phòng, chống tội phạm, đề xuất khắc phục hạn chế những sơ hở, thiếu sót, bất cập.

Từng bước nâng cao năng lực phòng, chống tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật và các lực lượng chuyên trách. 

    1. 3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng các hình phạt không tước tự do

3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt không tước tự do và quy định về quyết định hình phạt

– Một là, xác định chính xác vai trò, khả năng của Luật hình sự trong phòng ngừa tội phạm trong mối tương quan với việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền của người phạm tội.

– Hai là, hoàn thiện BLHS phải thể hiện được các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự, mà trước tiên là nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự.

Thực tiễn, qua nghiên cứu áp dụng các hình phạt không tước tự do trên địa bàn tỉnh Phú Yên, nhận thấy một số vấn đề còn bất cập ngay trong từng điều luật quy định về từng loại hình phạt cần được sửa đổi, bổ sung.

– Thứ nhất: Cần quy định khái niệm của từng loại hình phạt

– Thứ hai: Hoàn thiện điều kiện áp dụng và quy định khác đối với từng loại hình phạt

3.2.2. Tổng kết thực tiễn và tăng cường hướng dẫn áp dụng các hình phạt không tước tự do

– Các cấp ngành trung ương, đặc biệt là Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ tư pháp cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác ban hành các văn bản dưới luật để hướng dẫn áp dụng và thực thi các hình phạt không tước tự do như thông tư liên tịch hướng dẫn về việc áp dụng và thi hành hình phạt này nhằm thống nhất từ nhận thức đến thực tiễn xét xử và thi hành án.

– Tòa án nhân dân tối cao cần phải nâng cao hơn nữa công tác tổng kết thực tiễn xét xử và ban hành các văn bản hướng dẫn đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

– Tăng cường công tác ban hành án lệ về những vụ án có áp dụng hình phạt không tước tự do để cho các Tòa án địa phương, các Thẩm phán tham khảo và học tập nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và vận dụng trong thực tiễn xét xử.

– Tăng cường hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới để kịp thời chỉ đạo, uốn nắn những sai sót, sai lầm trong xét xử và quyết định hình phạt hoặc những biểu hiện tiêu cực trong công tác xét xử.

– Hàng năm cần phải tổng kết đánh giá một cách khách quan, toàn diện về thực tiễn công tác xét xử, trong đó phải đánh giá được về mức độ, hiệu quả của việc áp dụng hình phạt nói chung và hình phạt không tước tự do nói riêng; chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của việc áp dụng hình phạt không tước tự do để từ đó có những kiến nghị, giải pháp kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt không tước tự do.

3.2.3. Nâng cao năng lực của Thẩm phán, Hội thẩm

– Xây dựng một đội ngũ cán bộ tư pháp chuyên sâu về nghiệp vụ chuyên môn, am hiểu những quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn có liên quan; đồng thời phải thường xuyên có biện pháp nâng cao tinh thần, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tư pháp theo đúng phương châm “ Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư ”. Từ đó tạo cơ sở cho việc áp dụng pháp luật chính xác, đảm bảo thực hiện đúng chính sách hình sự của Nhà nước ta. Cụ thể:

– Đối với cơ quan điều tra và điều tra viên ngoài việc điều tra thu thập tài liệu chứng cứ để làm rõ các đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS, cần phải điều tra làm rõ các tài liệu, chứng cứ để chứng minh về tình hình thu nhập, tài sản của người phạm tội trong trường hợp khởi tố điều tra về các tội mà điều luật có quy định hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung.

– Đối với Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên cần phải tăng cường công tác kiểm sát điều tra và kiểm sát công tác xét xử tại phiên tòa; trường hợp cơ quan điều tra chưa chứng minh, điều tra về tình hình tài sản, thu nhập của người phạm tội thì cần phải yêu cầu điều tra bổ sung để làm căn cứ cho Tòa án xét xử. Trường hợp Tòa án xét xử, quyết định những vấn đề có liên quan đến hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ chưa đúng quy định của pháp luật thì cần tăng cường công tác kiến nghị, kháng nghị đối với bản án có vi phạm nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN.

– Đối với Tòa án nhân dân, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân cần phải nắm vững các quy định của pháp luật về hệ thống hình phạt nói chung, hình phạt không tước tự do nói riêng; các nguyên tắc và căn cứ khi quyết định hình phạt; chủ trương chính sách hình sự về hình phạt của Đảng và Nhà nước, đảm bảo bản án được tuyên đúng người, đúng tội, hợp tình, hợp lý.

– Đối với cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên cần phải nâng cao hơn nữa năng lực thi hành các phán quyết của bản án có liên quan đến phạt tiền, bị khấu trừ thu nhập nắm vững các quy định của pháp luật về tổ chức thi hành án, cương quyết cưỡng chế thi hành án đối với các trường hợp có điều kiện thi hành án phạt tiền, bị khấu trừ thu nhập mà cố tình dây dưa, chây ỳ; đồng thời tổng kết thực tiễn thi hành án, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong công tác triển khai thi hành án phạt tiền, bị khấu trừ thu nhập; từ đó có những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến các loại hình phạt này.

Để thực hiện được yêu cầu này, ngoài việc tăng cường về số lượng, chúng ta cần phải tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ tư pháp theo hướng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ chính trị, đạo đức nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm của các cán bộ tư pháp nói chung và của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân nói riêng.

– Đối với các trường hợp phạm tội mà điều luật có quy định hình phạt không tước tự do thì cần phải tăng cường áp dụng biện pháp cưỡng chế là kê biên tài sản hoặc phong tỏa tài sản của bị can, bị cáo để làm cơ sở, căn cứ cho việc quyết định hình phạt nói chung và đảm bảo nếu tuyên hình phạt tiền, bị khấu trừ thu nhập thì cũng để đảm bảo cho việc thi hành án được thuận lợi (BLHS năm 2015 đã khắc phục và bổ sung được quy định này).

– Bên cạnh đó, cần phải có cơ chế bảo đảm nguyên tắc “độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật” trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được thực thi theo đúng Hiến pháp và pháp luật quy định. Xem xét đổi mới quy định về thời hạn nhiệm kỳ của Thẩm phán, có thể kéo dài hoặc bổ nhiệm cho đến khi nghỉ hưu như một số nước, cùng với đó xây dựng cơ chế bãi nhiệm một cách chặt chẽ, đủ mạnh để kiểm soát, hạn chế tiêu cực. Nâng cao hơn nữa chế độ đãi ngộ đối với những người làm công tác tư pháp, đặc biệt là Thẩm phán, Thư ký…

3.2.4. Các giải pháp khác

Hiệu quả của hình phạt trong thực tế cũng phụ thuộc một phần vào ý thức chấp hành của người bị kết án và dư luận xã hội, hình phạt không tước tự do có được thi hành và thi hành như thế nào bên cạnh yếu tố quy định của pháp luật thực định, việc áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền thì ý thức chấp hành pháp luật của người bị kết án và dư luận xã hội nói chung cũng ảnh hưởng rất lớn. Do vậy, cần phải tích cực tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, giúp nhân dân có những nhận thức đúng đắn về bản chất, vai trò, vị trí và ý nghĩa của hình phạt không tước tự do trong hệ thống hình phạt, nhất là tránh tư tưởng suy nghĩ người có tiền thì không phải đi tù còn người không có tiền thì phải đi tù, từ đó tạo sự đồng thuận, nhất quán giữa nhà làm luật, người áp dụng pháp luật và người dân tuân thủ pháp luật trong nhận thức về giá trị xã hội những khách thể được pháp luật bảo vệ bằng hình phạt và trong nhận thức, đánh giá vai trò và mức độ tác động của hình phạt.

Áp dụng các hình phạt không tước tự do theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Yên
Áp dụng các hình phạt không tước tự do theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Yên

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu đề tài: “Hình phạt không tước tự do trong luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Yên”, có thể rút ra một số kết luận chủ yếu sau:

1. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do Toà án có thẩm quyền quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật nhằm tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự.

2. Trên cơ sở những đặc điểm chung của hình phạt, Luận văn đã nêu và phân tích những đặc điểm riêng của hình phạt không tước tự do trong mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng. Đó là các đặc điểm như: 1- Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội. 2. Tính chất cưỡng chế thấp hơn hình phạt tù. 3- Việc thi hành do nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau. 4- Điều kiện áp dụng và các hậu quả pháp lý mang sắc thái riêng. 5- Bao gồm một số hình phạt chính và hình phạt bổ sung. 6- Việc thi hành phát huy cao độ vai trò của cộng đồng. Dựa trên sự tổng hợp các quan niệm về hình phạt trong khoa học luật hình sự và kết quả nghiên cứu phân tích đặc điểm, vai trò, chức năng riêng của hình phạt không tước tự do, luận văn đưa ra khái niệm về hình phạt không tước tự do như sau: Hình phạt không tước tự do là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất về hình sự của Nhà nước do Toà án có thẩm quyền quyết định (có thể là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung) trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật để buộc người bị kết án phải chịu một hoặc một số hậu quả pháp lý bất lợi, nhưng không tước hoặc hạn chế quyền tự do thân thể, quyền tự do cư trú, nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội, phòng và chống tội phạm.

3. Nghiên cứu cho thấy vẫn còn có những bất cập, hạn chế nhất định trong thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt không tước tự do. Sự tồn tại, hạn chế đó là do những nguyên nhân từ sự chưa hoàn thiện của các quy định về các hình phạt không tước tự do trong PLHS, từ sự giải thích, hướng dẫn pháp luật chưa đầy đủ, kịp thời, đến năng lực, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, ý thức pháp luật và trách nhiệm nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ thực thi pháp luật còn có những non kém nhất định. . .

4. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về hình phạt không tước tự do và tăng cường hiệu quả áp dụng các quy định này là yêu cầu khách quan xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của nó không chỉ về mặt PLHS mà còn về mặt chính trị – xã hội. Xây dựng và áp dụng đúng đắn các quy định pháp luật này là một đảm bảo quan trọng giải quyết những tồn tại, hạn chế, bất cập trong lĩnh vực nêu trên. Để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của trong thực tiễn áp dụng, luận văn đề xuất những giải pháp như: 1) Tăng cường công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật; giám đốc xét xử, thanh tra, kiểm tra hoạt động áp dụng hình phạt không tước tự do của Tòa án các cấp; 2) Tăng cường đội ngũ cán bộ tư pháp, nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức pháp luật và trách nhiệm nghề nghiệp của cán bộ tư pháp, nhất là đội ngũ Thẩm phán các Toà án các cấp; 3) Sửa đổi, bổ sung những hạn chế bất cập trong luật thực định quy định đối với mỗi loại hình phạt không tước tự do.

Nâng cao hiệu quả phòng ngừa, tính nhân đạo, hướng thiện và bảo vệ quyền con người trong việc xử lý người phạm tội mà áp dụng hình phạt không tước tự do là chính sách đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và đường lối Cải cách tư pháp ở nước ta.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\HINH SU\TRAN MINH NHAT

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *