Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới đất nước, những năm qua tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Định nói chung, huyện Hoài Ân nói riêng đã có những bước phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể. Đời sống của nhân dân được đảm bảo; tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; đã triển khai và tổ chức thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả các loại tội phạm; công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đảm bảo đúng quy định pháp luật, không xảy ra oan sai, lọt tội phạm.
Tuy nhiên, tình hình kinh tế – xã hội cả nước nói chung, ở tỉnh và huyện nói riêng còn nhiều khó khăn; tình hình tội phạm chưa có chiều hướng giảm, các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, hành chính tiếp tục gia tăng và ngày càng phức tạp, trong đó có tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội. Theo thống kê, trong những năm gần đây, tình trạng tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện ngày càng tăng cả về số lượng và mức độ phạm tội. Nếu những năm trước đây người người dưới 18 tuổi thường thực hiện các hành vi trộm cắp, gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích không gây nguy hại lớn thì hiện nay thủ đoạn phạm tội của các đối tượng này không còn đơn giản do bồng bột, thiếu suy nghĩ, mà đã có sự tính toán, chuẩn bị kỹ càng và khá tinh vi, thậm chí đã hình thành các băng nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao. Từ đó có thể thấy, tình hình vi phạm pháp luật người dưới 18 tuổi gây ra tiếp tục diễn biến phức tạp với tính chất, mức độ phạm tội ngày càng nguy hiểm. Có nhiều vụ án các bị cáo là người dưới 18 tuổi thực hiện thuộc trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù, chung thân hoặc tử hình, như các hành vi phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng như: giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, ma túy…Do vậy, vấn đề quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trở thành vấn đề quan trọng; việc quy định TNHS và quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS một cách hợp lý sẽ có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đáp ứng được yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước nói chung, trên địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định nói riêng.
Chính sách hình sự của đảng và Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có vị trí quan trọng trong phòng, chống tội phạm ở nước ta, nên đã ban hành nhiều văn bản pháp luật với nhiều nội dung điều chỉnh đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế. Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do các cơ quan áp dụng pháp luật chưa nhận thức được đầy đủ các quy định của BLHS về trách nhiệm hình sự, hình phạt và việc quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, với các biểu hiện như: việc quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc tình tiết tăng nặng chưa đúng, đánh giá chưa chính xác căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; v.v… Ngoài ra, các quy định của BLHS về vấn đề này còn một số hạn chế, vướng mắc nhất định, chưa đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn xã hội, như: chưa quy định việc quyết định hình phạt trong các trường hợp đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, mức cao nhất của khung hình phạt, căn cứ quyết định hình phạt; v.v…
Theo khảo sát, tính đến thời điểm hiện tại thì trên địa bàn tỉnh Bình Định chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ vấn đề về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện các quy định của BLHS về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, từng bước đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của nước ta giai đoạn hiện nay. Vì vậy, học viên quyết định lựa chọn đề tài: “Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định” làm Luận văn Thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một cách tổng thể về lý luận, căn cứ pháp lý và thực tiễn Tòa án áp dụng quy định của BLHS Việt Nam khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định; luận văn chỉ ra những vướng mắt, hạn chế và một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:
– Tìm hiểu lý luận quy định về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như: khái niệm về quyết định hình phạt và quyết định người dưới 18 phạm tội; các căn cứ quyết định hình phạt và nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; các biện pháp tư pháp; hình phạt và quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
– Khái quát lịch sử phát triển quy định của pháp luật về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015.
– Quy định về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới.
– Phân tích thực tiễn quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, qua đó chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại TAND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định và nguyên nhân.
– Luận văn đã chỉ ra yêu cầu đảm bảo áp dụng đúng quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự hiện hành về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua các báo cáo, các số liệu và các bản án của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu và đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định từ năm 2015 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn lấy phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách hình sự đối với NCTN làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu của mình.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu, như: Phương pháp phân tích; phương pháp tổng kết thực tiễn; phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp so sánh; phương pháp giải quyết các vụ án điển hình để phân tích các căn cứ khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về thực tiễn quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự nói chung và quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đánh giá được thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Thông qua kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, học tập và sử dụng trong thực tiễn quyết định hình phạt, nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án khi giải quyết các vụ án hình sự do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và lịch sử phát triển quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Chương 2. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Chương 3. Những giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
1.1. Khái niệm và các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
1.1.1. Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội
Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em (The United Nation Convention on the Rights of the Child – CRC) đã định nghĩa “trẻ em” là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia có quy định khác. BLHS năm 2015 sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” để thay thế cho thuật ngữ “người chưa thành niên” được sử dụng trong BLHS năm 1999. Như vậy, theo quy định của BLHS năm 2015 thì tất cả những người chưa thành niên đều được gọi là người dưới 18 tuổi, người từ đủ 18 tuổi trở nên được tham gia vào mọi quan hệ pháp luật và tự chịu trách nhiệm pháp lý về những hành vi mà mình đã thực hiện. Dựa trên đặc điểm về tâm lý của người chưa thành niên, cho thấy người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, còn hạn chế về nhận thức và kỹ năng sống, dễ bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động mang tính thiếu suy nghĩ dẫn đến vi phạm pháp luật. Do vậy, việc chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên là trách nhiệm của Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Trong quá trình xây dựng pháp luật, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắn, từng bước hoàn thiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, đáp ứng với nội dung của Công ước năm 1989“Trẻ em do còn non nớt về thể chất và trí tuệ cần được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” và Quy tắc của Liên hiệp quốc thông qua ngày 14-12-1990.
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục..”(Điều 37). Luật trẻ em năm 2016 quy định: “…Không phân biệt đối xử với trẻ em. Bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em trong các quyết định liên quan đến trẻ em. Tôn trọng, lắng nghe, xem xét, phản hồi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em…”. Hiến pháp và pháp luật nước ta luôn coi trẻ em, người dưới 18 tuổi là đối tượng cần bảo vệ, chăm sóc và quan tâm đặc biệt đối với cả hai trường hợp, khi họ là chủ thể của tội phạm cũng như khi họ là nạn nhân của tội phạm. Nhận thức này đã được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự cũng như pháp luật về phòng ngừa tội phạm, là cơ sở pháp lý cho việc tiến hành các hoạt động tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đảm bảo cho công tác đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm.
Như vậy, người chưa thành niên phạm tội nói chung là người mà tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự chưa đến tuổi trưởng thành nhưng có năng lực trách nhiệm hình sự và đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định. Vận dụng vào các điều kiện cụ thể trong pháp luật thực định của Việt Nam thì khái niệm này được định nghĩa như sau: Người chưa thành niên phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ 14 nhưng chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Bộ luật hình sự quy định là loại tội phạm mà người đó phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm phải.
1.1.2. Khái niệm quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Trong thực tiễn có rất nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này, như: TS. Nguyễn Ngọc Chí cho rằng: Quyết định hình phạt“Là việc nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự do Toà án có thẩm quyền, nhân danh Nhà nước thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) mức hình hạt cụ thể áp dụng cho các nhân người phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức đọ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự”. TS. Nguyễn Văn Hiện đưa ra định nghĩa Quyết định hình phạt là: “Kết quả pháp lý của quá trình điều tra, truy tố, xét xử, là kết quả mang tính Nhà nước về áp dụng loại và hình phạt đối với người phạm tội”. Theo TS. Phạm Minh Tuyên thì khái niệm này được hiểu là: “Quyết định hình phạt là hoạt động của Tòa án trong việc cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể bao hồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội”.
Như vậy, có thể khẳng định: Quyết định hình phạt là hoạt động tư duy của Hội đồng xét xử là kết quả cuối cùng của hoạt động xét xử, để việc quyết định hình phạt phải đảm bảo tính chính xác thì không thể tách rời với việc định tội danh chính xác. Ngoài việc định tội danh chính xác làm tiền đề cho hoạt động quyết định hình phạt thì Tòa án còn phải xem xét cân nhắc đến các yếu tố khác như tình hình kinh tế – xã hội của từng địa phương nơi có tội phạm xảy ra cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng ngừa và phòng chống tội phạm và các yếu tố khác được quy định trong BLHS để làm căn cứ quyết định hình phạt.
Quyết định hình phạt đối với người người dưới 18 tuổi phạm tội là trường hợp đặc biệt; tính chất này thể hiện khi quyết định hình phạt phải nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội có các tình tiết khác tương đương và mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức tuổi của người phạm tội. Lý do người người dưới 18 tuổi được hưởng chính sách hình sự đặc biệt của Nhà nước khi họ có hành vi phạm tội, vì người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lí, chưa thể nhận thức đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện. Nhận thức của họ thường thiếu chín chắn, họ dễ bị kích động, lôi kéo bởi những người xung quanh, nếu ở môi trường xấu và không được chăm sóc giáo dục tốt, người người dưới 18 tuổi dễ bị ảnh hưởng dẫn đến vi phạm pháp luật. Cho nên, người dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự khác với người trên 18 tuổi. Chính vì thế, khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải nhẹ hơn so với người đã thành niên. Như vậy, có thể xem: “Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là việc Hội đồng xét xử lựa chọn và đưa ra chế tài hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, theo quy định pháp luật hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các đặc điểm nhân thân của người dưới 18 tuổi và những chính sách hình sự đặc biệt đối với họ”.
1.1.3. Các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Luật Hình sự là một hệ thống các nguyên tắc để chỉ đạo toàn bộ hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự. Vì vậy, hoạt động quyết định hình phạt nhất định phải chịu sự tác động bởi các nguyên tắc chung của Luật Hình sự. Tuy nhiên, để quyết định hình phạt một các chính xác đối với người phạm tội, các nguyên tắc chung của luật hình sự phải được cụ thể hóa thành các nguyên tắc riêng trong hoạt động quyết định hình phạt của Hội đồng xét xử nhằm đảm bảo cho hình phạt được quyết định một cách đúng đắn đối với người phạm tội bị kết án.
Khi quyết định hình phạt, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung – nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc nhân đạo; nguyên tắc cá thể hóa hình phạt [16, tr.237]. Tuy nhiên, cũng có một số nhà khoa học bổ sung thêm nguyên tắc công bằng. Tác giả tán thành với quan điểm cho rằng trong quyết định hình phạt phải có nguyên tắc công bằng vì, “quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng là tiền đề, điều kiện để đạt được các mục đích của hình phạt… Nguyên tắc công bằng khi quyết định hình phạt đòi hỏi Tòa án phải tuyên hình phạt phản ánh một cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thức pháp luật và đạo đức xã hội chúng ta… định hướng để Tòa án quyết định hình phạt dựa trên cơ sở pháp luật và công bằng”. Ngoài những nguyên tắc chung, Tòa án còn phải tuân thủ các nguyên tắc riêng khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cụ thể như sau:
– Nguyên tắc giảm nhẹ hình phạt: Như đã nêu trên, người dưới 18 tuổi phạm tội là những người chưa phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, khả năng nhận thức hạn chế, hành vi bồng bột, dễ bị rủ rê, tác động nên việc trừng phạt họ cần khoan hồng hơn so với người đã thành niên. Do đó, hình phạt phải được quyết định đối với người dưới 18 tuổi theo hướng giảm nhẹ; tuy nhiên, mức độ giảm nhẹ hình phạt đối với người người dưới 18 tuổi được xác định trong khuôn khổ luật định chứ không phải giảm nhẹ một cách tùy tiện dẫn đến không tương xứng với hành vi phạm tội.
* Nguyên tắc coi trọng và đề cao mục tiêu giáo dục, cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội: Việc quyết định hình phạt nói chung đều nhằm đến kết quả đạt được các mục đích của hình phạt là: trừng trị, cải tạo, phòng ngừa nhưng trong quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên thì mục tiêu giáo dục, cải tạo cần đặc biệt coi trọng hơn. Bản chất của con người không phải sẵn có khi người đó sinh ra, điều đó thể hiện trong câu thơ của Hồ Chủ tịch: “Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Do không phải bản chất sẵn có của tất cả người phạm tội nên dù có phạm lỗi đến đâu đều có khả năng giáo dục để trở thành một công dân có ích. Người dưới 18 tuổi lại càng có khả năng phục thiện cao hơn vì tâm sinh lý của họ đang trong quá trình hình thành, dễ cải tạo nếu nhận được sự giáo dục, giúp đỡ, khi hoàn lương họ cũng có nhiều cơ hội đóng góp cho xã hội hơn so với người đã thành niên. Vì vậy, khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải đặt mục tiêu giáo dục lên hàng.
– Nguyên tắc không áp dụng các hình phạt đặc biệt nghiêm khắc: Xuất phát từ nguyên tắc giảm nhẹ và coi trọng mục tiêu giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội, nên những hình phạt nghiêm khắc cần cần phải được loại bỏ. Bởi vậy, trong hệ thống hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không có loại hình phạt loại bỏ hoàn toàn người phạm tội ra khỏi xã hội như hình phạt tù chung thân hoặc tử hình. Hình phạt tù có thời hạn cũng được hạn chế áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
– Nguyên tắc hạn chế việc cách ly người dưới 18 tuổi phạm tội khỏi đời sống xã hội: Người dưới 18 tuổi hầu hết là những người chưa có khả năng sinh sống độc lập mà còn lệ thuộc vào sự nuôi dưỡng, quan tâm, chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội nơi họ sinh sống. Đó cũng là môi trường cần thiết cho sự phát triển nhân cách bình thường của người chưa thành niên. Do vậy, khi lựa chọn biện pháp xử lý chưa thành niên phạm tội cần hạn chế tối đa việc áp dụng hình phạt cách ly họ khỏi môi trường sống bình thường, bảo đảm cho họ có thể cải tạo, giáo dục trong môi trường ngoài xã hội.
1.2. Khái quát lịch sử phát triển quy định của pháp luật về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015
Từ năm 1945 đến trước năm 1985, Nhà nước ta đã nỗ lực ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự, nhưng trong giai đoạn này vấn đề quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chưa được đề cập đến một cách chính thức trong các văn bản luật mà chủ yếu thể hiện qua các hướng dẫn áp dụng pháp luật của ngành Tòa án, nguyên nhân là do điều kiện chiến tranh, hạn chế về công tác lập pháp…Chỉ thị số 46-TH ngày 14/01/1969 của TANDTC về việc tăng cường và phát huy hơn nữa tác dụng của Tòa án trong công tác bảo vệ trật tự, trị an, bảo vệ tài sản của nhà nước và quản lý thị trường ở thành phố Hà Nội đã lần đầu tiên đề cập đến NCTN, trong đó có quy định: Đối với trẻ em hư dưới 14 tuổi thì không đưa ra Tòa án xét xử; từ 14 đến 18 tuổi, nếu trường hợp phạm pháp cần thiết phải đưa xét xử thì châm trước đến tuổi còn non trẻ của chúng; riêng đối với loại từ 14 đến 16 tuổi, chỉ nên xét xử trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Chỉ thị này đã quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự và phân hóa mức độ chịu TNHS của NCTN, theo đó người từ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng nếu chưa đến 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Hơn nữa, Chỉ thị bước đầu đề ra yêu cầu của việc xem xét TNHS (là nền tảng của nguyên tắc quyết định hình phạt) đối với NCTN phạm tội. Sau Chỉ thị số 46-TH, Báo cáo tổng kết của TANDTC tiếp tục hướng dẫn đường lối xử lý NCTN phạm tội: Về nguyên tắc, từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu TNHS. Đối với độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi, nếu hành vi phạm pháp có tính chất tương đối nghiêm trọng, nói chung cần xét xử, nhưng so với người lớn cần xử nhẹ hơn. Hướng dẫn này có một bước tiến trong quy định về tuổi chịu TNHS, phải là tuổi đủ – “đủ 14 tuổi tròn trở lên” chứ không phải là đến 14 tuổi. Mức độ chịu TNHS tương ứng với tuổi của NCTN phạm tội cũng được phân hóa rõ ràng hơn. Mặc khác, Báo cáo đã đặt ra những yêu cầu của quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội: xử nhẹ hơn người lớn và nhằm mục đích giáo dục là chủ yếu. Báo cáo tổng kết cũng đề xuất việc ưu tiên áp dụng các biện pháp tư pháp thay vì hình phạt tù đối với NCTN phạm tội. Xử phạt tù giam, nhất là những án phạt tù ngắn hạn hoàn toàn không thích hợp với lứa tuổi đó và cũng không đạt được một tác dụng thiết thực nào. Quan điểm nhận thức được thống nhất ở đây là hình phạt tù không thích hợp và hiệu quả để cải tạo NCTN phạm tội nên khi xét xử đối tượng này, các tòa án phải ưu tiên áp dụng các biện pháp như: giao cho gia đình bảo lãnh và giáo dục hoặc cho hưởng án treo. Do chưa có một Bộ luật thống nhất, nên ở giai đoạn này quy định về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội cũng nằm rải rác trong cả các văn bản hướng dẫn về tội phạm cụ thể. Chẳng hạn như về các tội phạm tình dục, Hướng dẫn số 329-HS2 ngày 11/2/1967 của Tòa án nhân dân tối cao đã đề ra yêu cầu áp dụng biện pháp tư pháp thay thế hình phạt nhằm mục đích giáo dục NCTN phạm tội: Riêng đối với các can phạm còn ít tuổi (phạm tội hiếp dâm), cần phân biệt đối với những can phạm trong lứa tuổi, từ khoảng 14 đến 16, chủ yếu dùng những biện pháp giáo dục như: giao cho cha, anh, chú, bác bảo lĩnh và giáo dục; giữ trong các trại giáo dưỡng vị thành niên; chỉ trong một số ít trường hợp có tình tiết thực sự nghiêm trọng mới cần xét xử. Những biện pháp tư pháp được đề xuất ở đây cho đến hiện nay vẫn còn nguyên giá trị sử dụng (được quy định chính thức trong BLHS hiện hành bằng biện pháp – Đưa vào trường giáo dưỡng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn). Không chỉ đề xuất áp dụng biện pháp tư pháp, Hướng dẫn 329-HS2 còn nêu căn cứ quyết định hình phạt và xác định mức hình phạt giảm nhẹ cụ thể trong trường hợp cần áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội: Khi xét xử cần chiếu cố thích đáng đến trình độ hiểu biết pháp luật non kém và khả năng dễ cải tạo, giáo dục, đến việc NCTN nhận thức chưa đầy đủ tính chất nguy hiểm của hành vi của mình mà xử nhẹ hơn các can phạm đã lớn tuổi…. Vấn đề loại trừ hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội cũng đã được đặt ra trong hoạt động quyết định hình phạt bởi Bản tổng kết số 452-HS2 ngày 10/8/1970 của Tòa án nhân dân tối cao về thực tiễn xét xử loại tội giết người: Vì tội giết người là một tội hết sức nguy hiểm mà lứa tuổi từ 14 tuổi tròn trở lên đã có thể nhận thức được ít nhiều, cho nên, cần truy tố xử các trường hợp giết người mà người phạm tội có từ 14 tuổi tròn trở lên. Tuy nhiên, vì nhận thức của can phạm còn non nớt, cho nên cần xét xử nhẹ hơn… Đối với các can phạm đã có từ 16 tuổi tròn trở lên cho đến dưới 18 tuổi một ít cũng có thể xử nhẹ một phần so với can phạm đã lớn và đối với tất cả các loại can phạm này, nói chung, không nên áp dụng hình phạt tử hình. Bên cạnh đó, nó còn phân hóa đối tượng NCTN phạm tội để có chính sách xử lý phù hợp. Tóm lại, trong giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1985, Việt Nam chưa có văn bản luật chính thức quy định về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội. Việc quyết định hình phạt cho đối tượng này được định hướng bởi các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật trong ngành Tòa án, trong đó thể hiện các quan điểm chính: Một là, khi quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội phải chú trọng hiệu quả giáo dục, cải tạo; Hai là, cân nhắc việc không xử lý về hình sự hoặc ưu tiên áp dụng biện pháp tư pháp; Ba là, NCTN phạm tội phải được quyết định mức hình phạt giảm nhẹ hơn NCTN phạm tội tương tự và mức độ giảm nhẹ phân hóa theo độ tuổi (dưới 16 và 16 trở lên); Bốn là, không áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình.
Năm 1985, lần đầu tiên Nhà nước ta ban hành một đạo luật riêng, đã có một chương riêng để quy định về NCTN phạm tội, tại Chương VII với tên gọi “Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội”. Điều 58 quy định hai mức tuổi chịu TNHS như sau:
1. Người từ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải TNHS về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý.
2. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm.
Theo quy định này NCTN phạm tội phải là người từ 14 tuổi trở lên (“từ 14 tuổi” chứ không phải tròn 14 tuổi), tuy nhiên điều luật nêu trên không xác định đến bao nhiêu tuổi thì không được coi là NCTN phạm tội. Việc xác định NCTN phạm tội do không có căn cứ chính thức nên buộc phải tham chiếu quan điểm trong các ngành luật khác. Điều đó sẽ dẫn đến cách hiểu: NCTN phạm tội là người phạm tội từ 14 tuổi nhưng chưa đến 18 tuổi vì Hiến pháp năm 1980 (Điều 57) và Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 sử dụng cách tính tuổi đến chứ không phải tuổi tròn (Điều 5). Theo đó người phạm tội khi 13 tuổi 1 ngày trở lên đến tròn 17 tuổi mới là NCTN phạm tội còn bước sang ngày đầu tiên của tuổi 18 mà phạm tội thì sẽ không được coi là NCTN phạm tội nữa. Tuy nhiên, hiểu như vậy lại không thống nhất với quy định ở Điều 65 của chính Bộ luật này quy định về tổng hợp hình phạt đối với NCTN phạm tội. Điều 65 lấy căn cứ tội phạm nặng nhất thực hiện trước khi đủ 18 tuổi và khi đã đủ 18 tuổi để phân hóa chính sách tổng hợp hình phạt. Như vậy, cách tính tuổi ở đây lại là tuổi đủ. Tựu chung lại, do thiếu một định nghĩa pháp lý về NCTN phạm tội nên BLHS năm 1985 sẽ gây ra việc áp dụng không thống nhất.
* Về căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội: Chương VII không giải quyết mọi vấn đề liên quan đến NCTN phạm tội chỉ đặt ra một số quy định đối xử đặc biệt áp dụng riêng cho NCTN phạm tội nên TNHS của NCTN phạm tội đồng thời được xem xét trên cơ sở quy định của Chương VII và các quy định chung khác của Bộ luật. Căn cứ quyết định hình phạt được quy định ở Điều 37 BLHS năm 1985, gồm:
1. Các quy định của Bộ luật hình sự;
2. Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội;
3. Nhân thân người phạm tội;
4. Các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Theo đó, căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội chỉ có sự khác biệt ở căn cứ thứ nhất. Sẽ không phải là “Các quy định của Bộ luật hình sự” mà là “Các quy định của Chương VII và quy định khác của Bộ luật hình sự mà không trái với quy định của Chương VII”. Ngoài ra, việc phạm tội của NCTN đa phần do hạn chế về nhận thức và tác động của điều kiện, hoàn cảnh sống. Vì vậy, bên cạnh các căn cứ chủ yếu trên, khi quyết định hình phạt còn cần cân nhắc đến khả năng nhận thức và nguyên nhân, điều kiện phạm tội bởi vì Điều 59 quy định: Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của NCTN, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
* Về nguyên tắc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội: Việc quyết định hình phạt phải chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ NCTN phạm tội sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội; khi quyết định hình phạt chú trọng áp dụng những biện pháp giáo dục, phòng ngừa với sự tham gia tích cực của gia đình, nhà trường và xã hội, chỉ áp dụng hình phạt trong những trường hợp thực sự cần thiết và không áp dụng hình phạt chung thân hoặc tử hình NCTN phạm tội…
BLHS năm 1999 đã bổ sung theo hướng:
Việc xử lý hành vi phạm tội của NCTN chủ yếu nhằm mục tiêu giáo dục, giúp đỡ họ sữa sai lầm, để trở thành người có ích cho xã hội. Cho nên NCTN phạm tội có thể được miễn truy cứu trách nhiệm Hình sự nếu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình cơ quan tổ chức nhận giám sát giáo dục.
Việc áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm của nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.
Không áp dụng hình phạt phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với NCTN phạm tội, khi xét xử người ở độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi thì không áp dụng các hình phạt bổ sung, hình phạt tiền. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho NCTN tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên…
Theo quy định của BLHS năm 1999, việc quyết định hình phạt được tiến hành như sau:
Đối với phạt tiền: BLHS năm 1999 đã quy định phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với NCTN phạm tội nếu người phạm tội ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và họ có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Mức phạt tiền đối với NCTN phạm tội không vượt quá 1/2 mức phạt tiền mà điều luật quy định.
Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ: BLHS năm 1999 quy định giới hạn hình phạt áp dụng cho NCTN phạm tội không vượt quá 1/2 thời hạn và điều luật quy định và không khấu trừ thu nhập của họ nếu họ bị kết án.
Đối với hình phạt tù có thời hạn: Người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì được áp dụng hình phạt nhẹ hơn người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi.
Tóm lại, BLHS năm 1985, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp nước ta đã đặt ra một hệ thống quy định riêng thể hiện chính sách hình sự riêng đối với NCTN phạm tội. Kế thừa BLHS năm 1985, BLHS 1999 đã thể hiện sâu sắc tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với tư tưởng xuyên suốt là lấy giáo dục, phòng ngừa làm mục đích trung tâm đối với người phạm tội là người dưới 18 tuổi; điều người dưới 18 tuổi phạm tội có cơ hội cải tạo, sửa chữa những sai lầm để trở thành người có ích.
1.3. Quy định về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trong pháp luật một số nước trên thế giới
1.3.1. Pháp luật hình sự Liên bang Nga
BLHS hiện hành của Liên bang Nga cũng đã xây dựng một Chương riêng quy định về TNHS của NCTN phạm tội với những điều luật tương đồng với pháp luật nước ta (Chương 14, Mục 5 – TNHS đối với NCTN). Theo đó, NCTN là người thực hiện tội phạm đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi (Điều 87). Điều 89 BLHS Liên bang Nga quy định về trường hợp quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội [32].
Trước hết, về căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc tuân thủ các căn cứ chung như: tính có lỗi của hành vi phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội; các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thì khi quyết định hình phạt đối với NCTN, Tòa án còn phải: Tính đến hoàn cảnh sinh sống và giáo dục, mức độ phát triển tâm sinh lý, các đặc điểm khác về nhân thân khác và cả tầm ảnh hưởng của những người lớn tuổi hơn đối với chúng.
Về hình phạt áp dụng đối với NCTN, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định: “Đối với NCTN phạm tội có thể quyết định hình phạt hoặc áp dụng biện pháp giáo dục bắt buộc” [32]. Điều kiện để áp dụng biện pháp giáo dục là: NCTN phạm tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu xác định được rằng việc giáo dục cải tạo NCTN phạm tội có thể đạt được hiệu quả thông qua áp dụng các biện pháp giáo dục bắt buộc (Điều 90).
Ngoài ra, BLHS Liên bang Nga cũng loại trừ việc áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình đối với NCTN phạm tội (Điều 88). Các hình phạt tước tự do (tù giam, tù có thời hạn) được áp dụng đối với NCTN nhẹ hơn so với người trưởng thành và chỉ áp dụng đối với người từ 16 tuổi trở lên (Điều 88). Mức phạt tù giam được quyết định đối với NCTN phạm tội đủ 16 tuổi khi tuyên án là từ 01 tháng đến 04 tháng (thời hạn phạt giam đối với người thành niên quy định tại Điều 55 là từ 01 tháng đến 06 tháng). Mức phạt tù đối với NCTN bị kết án là không quá 10 năm (thời hạn phạt tù đối người thành niên quy đinh tại Điều 57 là không quá 20 năm).
Đặc biệt, để hạn chế áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga cũng được quy định về miễn trách nhiệm hình sự và miễn chấp hành hình phạt có điều kiện đối với NCTN phạm tội. Ngoài ra, Bộ luật hình sự Liên bang Nga còn cho phép áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với NCTN như: Cảnh cáo; giao cho cha mẹ hoặc người thay cha mẹ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Buộc bồi thường thiệt hại gây ra; hạn chế sự nhàn rỗi và đặt ra những đòi hỏi riêng đối với cư xử NCTN [32, Điều 90, 91].
Chương V Bộ luật Hình sự Liên bang Nga cũng lưu ý: Trường hợp phạm nhân là NCTN được hưởng án treo, mà trong thời gian thử thách lại phạm một tội mới, nhưng không đặc biệt nghiêm trọng thì Tòa án sẽ căn cứ vào những tình tiết của vụ án và nhân thân người phạm tội có thể lặp lại quyết định về hình phạt án treo đối với người đó sau khi đã xác định thời hạn thử thách mới và buộc người này phải thực hiện những trách nhiệm đã được quy định đối với được hưởng án treo căn cứ vào khoản 5 Điều 73 Bộ luật này [32, tr.130].
Như vậy, mặc dù có nhiều điểm tương đồng, tuy nhiên, khác với BLHS Việt Nam, BLHS Liên bang Nga quy định rõ nội dung và căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội thành một điều luật độc lập, cũng như quy định những biện pháp xử lý chuyển hướng đối với đối tượng này nhằm mục đích giáo dục, phòng ngừa là chủ yếu.
1.3.2. Pháp luật hình sự Nhật bản
Pháp luật hình sự của Nhật Bản là BLHS năm 1907, sửa đổi gần đây nhất năm 2011. BLHS Nhật Bản không quy định riêng về quyết định hình phạt đối với NCTN mà vấn đề chỉ được đề cập đến về mặt nguyên tắc bởi Luật NCTN. Trong đó có xác định mục tiêu “không trừng phạt những NCTN phạm tội mà giúp đỡ cho họ phát triển tốt, tiến hành những biện pháp bảo vệ để thay đổi tính cách của NCTN phạm tội và tạo ra một môi trường giáo dục để điều chỉnh NCTN đã mắc phải sai lầm” [12]. Do không phải đạo luật hình sự nên Luật NCTN của Nhật Bản không quy định chi tiết về việc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội mà chỉ quy định nguyên tắc xét xử là phải “chân tình, có lợi” cho NCTN và “cần có mọi cố gắng để bảo vệ cho được những thuộc tính cao đẹp nhất của NCTN và làm cho NCTN có niềm tin” [12].
Nhìn chung, Nhật Bản là một đất nước có nền kinh tế – xã hội phát triển, trong nhiều năm gần đây tỷ lệ sinh rất thấp, do đó, NCTN được xã hội đặc biệt quan tâm chăm sóc, giáo dục nên tình hình phạm tội trong lứa tuổi NCTN là không đáng kể. Theo chính sách đã đặt ra bởi Luật NCTN; NCTN ở nước này ít bị xét xử về hình sự và áp dụng hình phạt mà chủ yếu được xử lý bằng các biện pháp cải tạo phi hình sự. Nghiên cứu BLHS Nhật Bản cho thấy khi xét xử đối với NCTN phạm tội phải theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt không quá nghiêm khắc đối với NCTN phạm tội.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 11\SAU BAO VE\DOT 3/ NGUYEN VIET NAM


