Kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết tố giác tin báo và kiến nghị khởi tố vụ án

Kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết tố giác tin báo và kiến nghị khởi tố vụ án

“Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Tính cấp thiết của đề tài

Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan thuộc hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 theo đó; Viện kiểm sát nhân dân có chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Với tư cách là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, một trong những chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân là kiểm sát tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của các cơ quan có thẩm quyền. Việc tiếp nhận, giải quyết kịp thời và có hiệu quả tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa quan trọng đảm bảo việc đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả cao.

Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân là phải tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan tổ chức chuyển đến, sau đó chuyển cho CQĐT có thẩm quyền giải quyết đồng thời trực tiếp kiểm sát việc giải quyết toàn bộ tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT. Làm tốt công tác này là tiền đề để Viện kiểm sát thực hiện có hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử được thuận lợi, hạn chế tối đa tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm, hạn chế được số vụ phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung cũng như số vụ Tòa án tuyên không phạm tội. Trong những năm vừa qua, trên cơ sở quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân , công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của ngành Kiểm sát đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy vậy trước sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội, đặc biệt trước yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, các quy định của pháp luật về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đã bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế dẫn đến, tỷ lệ kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thấp, tình hình tội phạm còn nhiều tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh cải cách tư pháp thì việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố để làm sáng tỏ về mặt khoa học, đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định trên thực tiễn có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng. Từ những lý do nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi ” làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và áp dụng chúng trong thực tiễn. Từ đó, luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thực tiễn.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

  • Từ nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về: Khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; khái niệm, đặc điểm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;
  • Khái quát sự phát triển của các quy định pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân từ năm 1960 đến nay để rút ra những nhận xét, đánh giá;
  • Nghiên cứu các quy định cụ thể về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năn 2015 và các văn bản có liên quan, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá;
  • Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 2003 về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân cơ bản của tồn tại, hạn chế đó;
  • Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về chức năng kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh chức năng kiểm sát tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và những văn bản hướng dẫn khác có liên quan, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá thực tiễn thực hiện công tác trên của Viện kiểm sát trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả thực hiện trong thực tiễn. Luận văn không nghiên cứu về thực tiễn kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát quân sự các cấp.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những bài viết khoa học từ năm 2008 đến nay; thực tiễn công tác kiểm sát tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố về tội phạm trong 05 năm (2013 – tháng 11/2017) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê, để tổng hợp các tri thức khoa học luật TTHS và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn liên quan chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong luật TTHS Việt Nam. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:

  • Tổng hợp các quan điểm khoa học trong nước về công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân từ đó xây dựng khái niệm về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghi khởi tố, tạo cơ sở áp dụng pháp luật thống nhất và có căn cứ. Đồng thời luận văn chỉ ra những đặc điểm công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân ;
  • Qua nghiên cứu thực tiễn kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân, luận văn đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện công tác kiểm sát này.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, học viên và người làm thực tiễn.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận. Luận văn chia làm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân

Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân và thực tiễn áp dụng

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và các giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tố tụng hình sự để kiểm sát việc tiếp nhận kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

    1. 1.1. Khái niệm, đặc điểm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân
      1. 1.1.1. Khái niệm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân

Tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là nguồn thông tin quan trọng góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở, căn cứ để tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra các vụ án hình sự. Quy định về tố giác,tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố góp phần tăng cường trách nhiệm của người dân, cơ quan, tổ chức trong xã hội đối với việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đồng thời góp phần tạo sự rõ ràng và minh bạch cho các chủ thể này có thể tố cáo hành vi phạm tội hoặc thông tin về hành vi phạm tội của người khác đến cơ quan có thẩm quyền. Hoạt động xử lý tố giác, tin báo về tội phạm là một hoạt động quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, qua đó CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự hoặc khởi tố vụ án hình sự và tiến hành điều tra.

Có thể đưa ra khái niệm kiểm sát việc giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm như sau:

“Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là hoạt động của Viện kiểm sát để kiểm sát tính hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật.

      1. 1.1.2. Đặc điểm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân

* Chủ thể có quyền kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

Hiện nay ở Việt Nam chỉ có duy nhất VKSND là cơ quan được Hiến pháp trao cho chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Cụ thể hóa quy định này trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định cụ thể kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm…Như vậy một lần nữa có thể khẳng định chủ thể thực hiện quyền kiểm sát hoạt động tư pháp trong hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm chỉ có thể là VKSND. Điều này cũng xuất phát từ chính bản chất của hoạt động kiểm sát của VKSND là đảm bảo tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp.

* Về đối tượng và phạm vi của hoạt động kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của những cơ quan nêu trên chính là đối tượng của hoạt kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đảm bảo việc các chủ thể giải quyết phải tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục cũng như cách xử sự luật định.

* Về hình thức kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

Hình thức kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là cách thức thực hiện hoạt động kiểm sát, trong đó bao gồm: 1. Phương thức kiểm sát; 2. Các quyền năng pháp lý mà VKS được sử dụng trong quá trình kiểm sát.

    1. 1.2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát
      1. 1.2.1. Giai đoạn từ 1960 đến khi có BLTTHS năm 1988
      2. 1.2.2. Giai đoạn từ khi có BLTTHS năm 1988 đến trước khi có BLTTHS năm 2003
"Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
“Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BLTTHS NĂM 2015 VỀ KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

    1. 2.1. Quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
      1. 2.1.1. Quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

* Chủ thể và đối tượng của kiểm sát việc giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Chủ thể kiểm sát việc giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Một trong những nguồn thông tin quan trọng phản ánh về tội phạm đó là các tố giác, tin báo của cơ quan , tổ chức, cá nhân. Thông tin về tội phạm là một dữ kiện không thể thiếu cho việc phát hiện, khám phá tội phạm, đóng góp quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Cho dù cơ quan bảo vệ pháp luật có lực lượng mạnh và có các phương tiện kỹ thuật hiện đại đến đâu đi chăng nữa mà thiếu sự phối hợp cung cấp thông tin về tội phạm của các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước và của quần chúng nhân dân thì việc phát hiện và xử lý tội phạm khó đạt được kết quả cao [13, tr.40].

Công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm là cuộc đấu tranh mang tính chất xã hội, đòi hỏi sự tham gia tích cực của toàn xã hội, công tác này đạt được kết quả cao hay không phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm tham gia tích cực của các cơ quan, tổ chức và của quần chúng nhân dân nhằm cung cấp cho các cơ quan tiến hành tố tụng các thông tin về tội phạm. Trách nhiệm tham gia cung cấp thông tin về tội phạm được quy định tại Điều 8 BLTTHS năm 1988 và tiếp tục được khẳng định và có sự sửa đổi, bổ sung trong BLTTHS năm 2003 về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.

VKSND là hệ thống cơ quan nhà nước chính thức được thiết lập từ sau Hiến pháp năm 1959 và cụ thể hóa bằng Luật tổ chức VKSND năm 1960. Kể từ đó đến nay, có những thay đổi khác nhau về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Tuy nhiên, về cơ bản VKSND vẫn được Hiến pháp qua các thời kỳ quy định hai chức năng chính là chức năng THQCT và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Hiện nay hai chức năng này vẫn tiếp tục được ghi nhận tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013: “VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”.

Cụ thể hóa quy định về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp tại khoản 1 Điều 4 như sau:

Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [27].

Như vậy, một trong những nội dung đầu tiên trong công tác kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND trong TTHS là việc VKS kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Tiếp đó, khoản 2 Điều 4 Luật tổ chức VKSND tiếp tục quy định:

VKSND kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm:

Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật [28].

Có thể thấy hiện nay duy nhất VKSND là hệ thống cơ quan nhà nước được Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước quy định trao cho quyền hạn được thực hiện việc kiểm sát hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là chức năng đặc thù của VKS cùng với chức năng THQCT, tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để VKS thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là những cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm, làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, việc giao chức năng kiểm sát việc giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm cho VKSND thể hiện sự hợp lý về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm. Hệ thống VKSND hiện được xây dựng từ trung ương đến địa phương theo bốn cấp làVKSND cấp huyện, VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp cao và VKSND tối, các cơ quan này theo thẩm quyền có chức năng thực hiện quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT và cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra tương ứng.

* Đối tượng của kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Đối tượng của kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chính là hoạt động tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của luật TTHS.

* Trình tự, thủ tục, thời hạn của kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

      1. 2.1.2. Những điểm mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung quy định về thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đã tháo gỡ được những bất cập, vướng mắc về tŕình tự, thủ tục tiếp nhận, các biện pháp tố tụng được áp dụng, trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Một số điểm mới về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo BLTTHS năm 2015.

Một là: về số lượng điều luật

Hai là: về khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Ba là: về trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Bốn là: về việc kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Năm là: về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Sáu là: về quyết định giải quyết và thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố:

Bảy là: giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố

    1. 2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS năm 2003 về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố vụ án hình sự tại tỉnh Quảng Ngãi
      1. 2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân

* Kết quả đạt được

Bảng 2.1. Tổng số tin tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và kết quả giải quyết

NămTổng số tin báo, tố giác về tội phạmKết quả giải quyếtSố chưa giải quyết
Khởi tốKhông khởi tốXử lý hành chínhXử lý khác
201327918751511526
201437519575755550
2015468285124422435
2016501275157302643
2017528253221342034

Nguồn: Phòng thống kê tội phạm và CNTT – VKSND tỉnh Quảng ngãi

Trong những năm qua, thông qua việc kiểm sát phân loại xử lý các tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT đã phát hiện việc bỏ lọt nhiều vụ việc có dấu hiệu tội phạm, VKS đã yêu cầu CQĐT khởi tố. Cụ thể biểu hiện ở bảng sau:

Bảng 2.2. Kết quả kiểm sát công tác giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKSND tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2013– 11/2017

NămVKS yêu cầu CQĐT

khởi tố

VKS trực tiếp khởi tố
201301 vụ0 vụ
201402 vụ0 vụ
201501 vụ0 vụ
201603 vụ0 vụ
201702 vụ0 vụ

Nguồn: Phòng thống kê tội phạm và CNTT – VKSND tỉnh Quảng Ngãi

Qua bảng số liệu trên cho thấy, công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKSND các cấp đã đạt được những kết quả quan trọng.

* Nguyên nhân của những kết quả đạt được

Một là: Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác tư pháp, trong đó nhấn mạnh đến trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra.

Hai là: Quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan CSĐT được chú trọng.

Ba là: Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc và chế độ chính sách đối với các cơ quan tư pháp nói chung và đối với ngành Kiểm sát nói riêng đã từng bước được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư hoàn thiện.

      1. 2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập

Thứ nhất: Nguyên nhân từ phía các quy định của pháp luật TTHS

Thứ hai: Nguyên nhân từ công tác quản lý, chỉ đạo và công tác cán bộ của VKSND các cấp

Thứ ba: Nguyên nhân về quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS chưa được thống nhất, đồng bộ

"Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
“Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHÁC NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬTTỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỂ KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾTTỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

    1. 3.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

* Hoàn thiện các quy định của BLTTHS

Vấn đề giải quyết, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nhìn nhận từ một góc độ nào đó rất giống với quá trình điều tra vụ án hình sự, từ việc phân công Điều tra viên, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết, cho đến quá trình kiểm tra, xác minh của CQĐT, quá trình kiểm sát việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết của VKS đối với CQĐT, quá trình đánh giá nội dung kết quả giải quyết. Để có thể giải quyết vụ án hình sự triệt để, đúng quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong công tác kiểm sát điều tra được ghi nhận tại Chương X BLTTHS năm 2003 bằng nhiều điều luật cụ thể như: Điều 113. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra; Điều 114. Trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKS; Điều 115. Trách nhiệm thực hiện quyết định và yêu cầu của CQĐT,…trong khi đó, quy định của BLTTHS năm 2003 về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm chỉ được quy định chung chung tại khoản 3, 4 Điều 103 với tên gọi: “Nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”. Quy định của BLTTHS năm 2003 về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố như trên không thể đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong xã hội hiện nay.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015 quy định vấn đề tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố gồm có 7 điều, chúng tôi xin viện dẫn các quy định trên:

Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Điều 146. Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Điều 147. Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Điều 148. Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Điều 149. Phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Điều 150. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Tuy nhiên qua nghiên cứu những qui định mới về tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được qui định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, theo quan điểm của chúng tôi nhận thấy có thể xảy ra một số khó khăn vướng mắc sau:

Tại khoản 3 Điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “… Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu , đồ vật có liên quan cho cơ quan điều tra có thẩm quyền” theo qui định trên, công an xã không được kiểm tra, xác minh sơ bộ như công an phường, thị trấn, Đồn công an. Trên thực tế đối với các xã xa trung tâm huyện sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm không được tiến hành xác minh sơ bộ ban đầu mà chuyển ngay tố giác, tin báo đến cho cơ quan điều tra có thẩm quyền, sau đó mất nhiều thời gian Cơ quan điều tra có thẩm quyền mới có thể đến xác minh hiện trường đã bị xáo trộn dẫn đến quá trình thu thập chứng cứ ban đầu gặp nhiều khó khăn.

Để công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đạt hiệu quả cao, đồng thời tăng cường công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, hạn chế thấp nhất tình trạng bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, thiết nghĩ liên ngành Trung ương cần ban hành Thông tư mới về việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm để phù hợp với các quy định trong lĩnh vực này của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    1. 3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tố tụng hình sự để kiểm sát tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát

* Chú trọng công tác tổ chức, chỉ đạo điều hành và tổng kết rút kinh nghiệm về nghiệp vụ kiểm sát

Thứ nhất: Bản thân người lãnh đạo phải quan tâm, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của cấp dưới với tác phong sâu sát, cụ thể, kịp thời và điều hành quyết liệt. Phải luôn xác định bản thân phải chịu trách nhiệm trước hết về mọi khuyết điểm, vi phạm xảy ra đối với công tác mà mình phụ trách.

Thứ hai: Giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là một công tác khó, phức tạp đòi hỏi cán bộ thực hiện phải có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao. Do đó, bản thân người quản lý, lãnh đạo cần phải nhìn nhận, lựa chọn, phân công cán bộ phù hợp để giải quyết công việc này. Ngoài ra người lãnh đạo, quản lý cần tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn, kiểm tra định kỳ, kiểm tra bất thường giữa cấp trên và cấp dưới, giữa thủ trường và nhân viên để kịp thời phát hiện những thiếu sót, bất cập cập trong quá trình giải quyết từ đó xác định nguyên nhân để kịp thời có phương án chỉ đạo khắc phục.

Thứ ba: Thông qua việc tổng kết công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm hàng năm, trong những trường hợp cần thiết phải tổ chức các hội nghị tập huấn chuyển sâu để thực hiện rút kinh nghiệm; tập hợp các cách làm hay, những kinh nghiệm tốt của các địa phương để nhân rộng trong toàn Ngành. Chủ động phối hợp liên ngành họp tổng kết rút kinh nghiệm định kỳ.

* Đổi mới công tác cán bộ, tăng cường bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ về chính trị, nghiệp vụ và trách nhiệm của cán bộ, Kiểm sát viên; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết.

– Đổi mới công tác cán bộ

Đổi mới công tác cán bộ là một trong những biện pháp đặc biệt quan trọng để VKS làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Để đảm bảo hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS của VKSND nói chung, kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nói riêng đạt chất lượng và hiệu quả, việc đổi mới tổ chức bộ máy là việc làm có vai trò và ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

Được sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng trong những năm qua công tác tổ chức cán bộ của ngành Kiểm sát nhân dân các cấp đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đến nay cơ cấu tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên của ngành Kiểm sát nhân dân đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng được yêu cầu công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung, công tác kiểm sát việc quyết tố giác và tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nói riêng. Tuy nhiên, so với yêu cầu mục tiêu của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế thì công tác cán bộ vẫn còn những hạn chế như: Công tác tổ chức cán bộ và bộ máy làm việc ở một số đơn vị cấp huyện còn chậm được kiện toàn và đổi mới, việc sắp xếp cán bộ có lúc có nơi chưa được hợp lý nên chưa phát huy được hết năng lực, sở trường của từng cán bộ, Kiểm sát viên;… Nhằm khắc phục những hạn chế về công tác tổ chức cán bộ trong thời gian tới cần thực hiện được những giải pháp sau:

  • VKSND các cấp cần xác định rõ các yêu cầu và mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên của từng đơn vị; sắp xếp, bố trí từng người, nhằm phát huy hết năng lực, sở trường của từng người. Rà soát nhu cầu về biên chế của từng VKSND các cấp, đặc biệt là cấp quận, huyện và các phòng chức năng để đề nghị VKSND Tối cao quyết định giao biên chế cho phù hợp.
  • Thực hiện tốt công tác luân chuyển cán bộ từ cấp tỉnh xuống thành phố, huyện, từ huyện, thành phố lên tỉnh và giữa các đơn vị với nhau không những tạo ra môi trường điều kiện mới để cán bộ có trình độ được rèn luyện phấn đấu, trưởng thành toàn diện vững vàng hơn mà còn góp phần tạo nên sự đổi mới, chuyển biến mạnh mẽ, đồng đều hơn về chất lượng, hiệu quả công việc ở đơn vị. Đảm bảo các cán bộ được luân chuyển yên tâm công tác, phấn khởi, phát huy được khả năng, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ ở đơn vị mới.
  • Xây dựng cơ quan, đơn vị đoàn kết, thẳng thắn, trung thực trong công tác tự phê bình và phê bình. Công tác quản lý, điều hành có nề nếp, có quy chế hoạt động của cơ quan, phân công nhiệm vụ thể cho từng thành viên nhưng vẫn đảm bảo mọi hoạt động dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng. Nâng trách nhiệm quản lý của lãnh đạo đơn vị đối với cán bộ, Kiểm sát viên, kịp thời phát hiện các biểu hiện tiêu cực, vi phạm kỷ luật nghiệp vụ để uốn nắn và xử lý.

– Tăng cường bồi dưỡng, trau dồi phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ về chính trị, nghiệp vụ và trách nhiệm của cán bộ, kiểm sát viên

Vấn đề xây dựng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ là đòi hỏi có tính thường xuyên, liên tục đối với cán bộ tư pháp nói chung và đội ngũ cán bộ ngành kiểm sát nói riêng. Một trong những đặc thù của công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố nói là phải thường xuyên tiếp xúc với những mặt trái của xã hội, tiếp xúc với nhiều loại vi phạm và tội phạm, nếu người cán bộ kiểm sát không trau dồi đạo đức và rèn luyện ý thức chính trị của mình thì rất dễ bị cám dỗ bởi vật chất, công tác kiểm sát sẽ không còn khách quan dẫn đến nhiều sai lầm trong quá trình giải quyết.

Để nâng cao chất lượng kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung cũng như kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nói riêng đòi hỏi khách quan là phải tiếp tục nâng cao trình độ pháp lý và nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên. Bản thân người làm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể khác thì đương nhiên phải là người nắm vững pháp luật, bên cạnh đó cần phải có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong quá trình giải quyết nhiệm vụ được giao. Các cán bộ, kiểm sát viên không những phải học tập để nâng cao trình độ học vấn của mình theo đúng tiêu chuẩn mà còn đòi hỏi phải được trau dồi nhiều kỹ năng nghiệp vụ.

Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết.

Cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết là một yêu cầu khách quan để phục vụ tốt hơn cho hoạt động nghiệp vụ của Ngành kiểm sát và yêu cầu này cũng chính là thực hiện một trong tám nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết số 08 -NQ/TW của Bộ chính trị đã nêu đó là: “Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất bảo đảm cho các cơ quan tư pháp có đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ, có cơ chế chính sách hợp lý đối với cán bộ tư pháp. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện làm việc, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước hiện đại hóa các cơ quan tư pháp…”. Cần quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất như trụ sở làm việc; trang bị phương tiện đi lại, máy ảnh, máy quay phim, kính lúp….để cán bộ kiểm sát thuận tiện trong việc thực hiện các công tác nghiệp vụ phát sinh trong quá trình kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố như kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi… Làm tốt được công tác trên cũng là một trong những yếu tố nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát của VKSND.

* Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Cơ quan dược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động diều tra và VKS

Trong quá trình VKS thực hiện kiểm sát tư pháp nói chung cũng như kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm nói riêng, để đảm bảo VKS thực hiện công tác có hiệu quả thì quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKS là hết sức cần thiết. Công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đạt kết quả cao nhất khi VKS luôn đảm bảo bám sát quá trình giải quyết của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, và để làm tốt điều này đòi hỏi giữa Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKS phải có sự phối hợp thường xuyên. Quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phát sinh nhiều hoạt động nghiệp vụ khác nhau như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét, đối chất, nhận dạng, là những hoạt động cần thiết phải có sự kiểm sát của VKS, ngoài vai trò để kiểm sát việc tuân theo pháp luật ra, còn là phối hợp với Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều traxác định những vấn đề cần phải làm rõ. Giữa Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKS luôn phải đảm bảo sự phối hợp có hiệu quả từ việc giải quyết vụ việc đơn lẻ, đến việc họp liên ngành, tổng kết rút kinh nghiệm, cùng nhau tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi nhiệm vụ, từ đó đưa ra giải pháp giải quyết phù hợp.

KẾT LUẬN

Tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là một trong những nguồn thông tin quan trọng phản ánh về thực trạng an ninh trật tự trong xã hội, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải hết sức quan tâm, giải quyết thấu đáo, hiệu quả và triệt để. Việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của các cơ quan có thẩm quyền trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, hàng loạt tội phạm đã bị phát hiện, hàng loạt người phạm tội đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Kết quả đạt được như trên chính là nhờ sự nỗ lực, cố gắng của các cơ quan tố tụng nói chung và ngành kiểm sát nói riêng trong việc thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên với sự phát triển từng ngày của đời sống xã hội đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế hiện nay, hệ quả kéo theo là sự gia tăng phức tạp về tình hình tội phạm, về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đặc biệt là loại tội phạm do đối tượng có học thức thực hiện với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt dẫn đến nhiều khó khăn trong việc đấu tranh xử lý. Do đó, để có thể làm tốt công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ðòi hỏi VKSND phải đảm bảo thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành, đặc biệt là chức năng kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Trong những năm vừa qua công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được thực hiện ngày càng có hiệu quả, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều thiết sót, bất cập xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguyên nhân khách quan từ các quy định của pháp luật vẫn còn chưa đầy đủ chi tiết, mặc dù hiện nay liên ngành Trung ương đã chủ động phối hợp để xây dựng những thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS năm 2003 về giải quyết, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, hay bản thân các ngành tư pháp Trung ương đã chủ động xây dựng các quy chế nghiệp vụ cụ thể phổ biến thực hiện thống nhất trong toàn ngành. Nguyên nhân khách quan nữa dẫn đến các thiếu sót, bất cập trong việc giải quyết, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là rất nhiều người dân hiện nay vẫn chưa nhận thức được hết vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Ngành kiểm sát nhân dân về công tác kiểm sát tư pháp nói chung, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nói riêng. Do vậy Ngành kiểm sát nhân dân cần phải khẳng định có hiệu quả hơn nữa vai trò đấu tranh phòng, chống tội phạm của mình bằng công tác nghiệp vụ cũng như cần đẩy mạnh tuyên truyền, phố biến sâu trong xã hội sâu rộng hơn về chức năng, nhiệm vụ của Ngành.

Nguyên nhân chủ quan dẫn đến bất cập, thiếu sót trong quá trình kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố xuất phát từ chính chất lượng cán bộ làm công tác chuyên môn. Vẫn còn tồn tại bộ phận một số cán bộ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có biểu hiện tiêu cực, sách nhiễu, vi phạm pháp luật, gây phiền hà cho người dân, ảnh hưởng đến uy tín của Ngành; ý thức, trách nhiệm, thái độ trong thực thi công vụ, nhiệm vụ chưa cao; một số cán bộ chưa thực sự nghiêm túc trong việc nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác kiểm sát.

Qua nghiên cứu đề tài này, mong muốn của tác giả chủ yếu là chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKSND cả về mặt tích cực và tiêu cực, từ đó đưa ra giải pháp giải quyết nhằm thúc đẩy, phát huy những mặt tích cực, hạn chế tối đa những tồn tại của công tác trên. Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là một vấn đề khó cả trên phương diện khoa học lý luận cũng như trên thực tiễn thực hiện, vấn đề này hiện nay đang nhận được rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học cả trong và ngoài ngành kiểm sát. Việc tác giả nghiên cứu đề tàivới mong muốn đóng góp một phần công sức của bản thân để xây dựng có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của ngành tư pháp nói chung cũng như ngành kiểm sát nói riêng. Tuy nhiên do điều kiện nghiên cứu cũng như khả năng của bản thân nên chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự góp ý của các đồng nghiệp và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\HINH SU\PHAN VAN KHAI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *