Kháng nghị giám đốc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong tố tụng hình sự vai trò của Tòa án là trung tâm vì nhân danh Nhà nước ra bản án, quyết định giải quyết vụ án. Tuy nhiên, thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi những năm qua cho thấy một số bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện do vi phạm nghiêm trọng nên bị kháng nghị giám đốc thẩm để khắc phục; cũng có trường hợp kháng nghị không đúng pháp luật; có bản án lẽ ra phải được xem xét kháng nghị.Để góp phần nâng cao hiệu quả tố tụng, tôi chọn đề tài “Kháng nghị giám đốc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích là đánh giá, tổng kết kháng nghị giám đốc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi để chỉ ra kết quả, vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động này trên địa bàn tỉnh, góp phần bổ sung lý luận, nâng cao ý thức trách nhiệm của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, ý thức pháp luật của nhân dân, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm ngày càng hiệu quả, cung cấp thông tin phục vụ công tác giảng dạy, ứng dụng trong tố tụng hình sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ đặt ra phải làm rõ những vấn đề lý luận, nghiên cứu có tính hệ thống các quy định của pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm để chỉ ra những điểm không phù hợp với thực tiễn nhằm đề xuất sửa đổi hoàn thiện; khảo sát thực tiễn về kháng nghị và kết quả xét xử giám đốc thẩm để phục vụ mục đích nghiên cứu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự là vấn đề rất rộng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng thủ tục này trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2007 đến năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác–Lê nin, quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về vận dụng lý luận Mác–xít vào quá trình cách mạng Việt Nam;
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề về lý luận, quy định của pháp luật và các yếu tố vật chất về hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm tại địa phương để giải quyết các yêu cầu của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn về kháng nghị và xét xử giám đốc thẩm, thi hành quyết định giám đốc thẩm nhằm nâng cao hiệu quả tố tụng hình sự, phục vụ hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, quản lý chỉ đạo điều hành trong hành chính–tư pháp, ngăn chặn tiêu cực trong tố tụng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ hoạt động quản lý chỉ đạo điều hành trong quản lý hành chính – tư pháp.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị giám đốc thẩm và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, nội dung, đặc điểm, ý nghĩa kháng nghị giám đốc thẩm
Khái niệm kháng nghị: Theo chúng tôi, kháng nghị giám đốc thẩm là việc người có thẩm quyền ban hành một văn bản tố tụng can thiệp trực tiếp vào một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật do có sai lầm nghiêm trọng trong quá trình xử lý vụ án. Kháng nghị giám đốc thẩm làm phát sinh việc xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm có thể dẫn đến sự thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực pháp luật của một phần hay toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị.
Nội dung: Nội dung kháng nghị giám đốc thẩm là phạm vi và hướng kháng nghị. Phạm vi, là trực tiếp can thiệp vào một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị do có sai lầm nghiêm trọng khi áp dụng pháp luật (hình sự, dân sự hoặc luật chuyên ngành….). Hướng kháng nghị, trong từng trường hợp, là kháng nghị căn cứ vào quy định cụ thể của pháp luật để yêu cầu Hội đồng giám đốc thẩm xét xử ra quyết định giám đốc thẩm trực tiếp hoặc yêu cầu cơ quan tố tụng có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật để khắc phục sai lầm của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị theo pháp luật. Nội dung kháng nghị giám đốc thẩm còn bao gồm căn cứ, chủ thể,, thời hạn, hậu quả kháng nghị giám đốc thẩm, thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị.
Đặc điểm. Kháng nghị có những đặc điểm sau: Chỉ ra sai lầm nghiêm trọng của bản án, quyết định bị kháng nghị; Ban hành kháng nghị giám đốc thẩm là quyền và nghĩa vụ pháp lý của người có thẩm quyền; Kháng nghị phải tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền do pháp luật quy định; Việc kháng nghị mang tính khách quan, tính cá biệt trong áp dụng pháp luật; Việc xem xét kháng nghị phụ thuộc vào phán quyết của Hội đồng; Kháng nghị làm phát sinh một quan hệ pháp luật tố tụng.
Ý nghĩa. Luật TTHS nước ta quy định chế độ 2 cấp xét xử và các thủ tục đặc biệt, thể hiện tôn trọng chân lý, sự văn minh của pháp luật, chống lại tư tưởng chỉ tôn trọng bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc bản án phúc thẩm xét kháng cáo, kháng nghị mà không xét đến các phần khác dù vi phạm nghiêm trọng. Thủ tục giám đốc thẩm nói nên rằng quyết định giám đốc thẩm cũng có thể bị kháng nghị theo thủ tục đặc biệt.Thủ tục này mang ý nghĩa rất to lớn khi xét về quan hệ chính trị – pháp lý trong xã hội dân chủ, nhà nước pháp quyền và chức năng của Tòa án nước ta.
1.2. Cơ sở của việc quy định kháng nghị giám đốc thẩm
Các cơ quan và NTHTT là chủ thể áp dụng pháp luật phải tuân theo nguyên lý về quá trình nhận thức. Xét xử theo các thủ tục là con đường đi đến các cấp độ của chân lý. Do đó, cần phải có các thủ tục tố tụng, các biện pháp pháp lý để bảo đảm chất lượng cao nhất trong quá trình tố tụng hình sự. Vì thế pháp luật tố tụng hình sự quy định thủ tục giám đốc thẩm.
1.3. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển các quy định về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam
Từ năm 1959 đến trước khi có Hiến pháp năm 1992 thì các bản Hiến pháp, các Luật tổ chức, BLTTHS 1988 đều quy định thủ tục giám đốc thẩm, trừ bản án, quyết định của Tòa hình sự TANDTC. Các bản Hiến pháp, các Luật tổ chức sau này đều quy định quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và các thủ tục tố tụng đặc biệt. Thủ tục này từng bước được phát triển trong các BLTTHS. Chúng tôi cho rằng riêng về thủ tục giám đốc thẩm thì BLTTHS 2015 còn nhiều hạn chế bất cập, như: Thời hạn kháng nghị, quyết định kháng nghị, hướng kháng nghị, tính chất giám đốc thẩm, thẩm quyền của cấp giám đốc thẩm,… và được đề cập trong Luận văn.
Kết luận Chương 1
Chương này đã giải quyết những vấn đề lý luận về kháng nghị giám đốc thẩm, cơ sở quy định kháng nghị giám đốc thẩm, quá trình hình thành và phát triển của thủ tục này, từ đó là cơ sở để giải quyết nội dung đề tài.

CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI (2007-2017)
2.1. Quy định của pháp luật
– Luật tổ chức TAND 2002. Theo chúng tôi Luật này bất cập ở chỗ, Tòa án cấp trên kháng nghị và xét xử giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới, điều đó sẽ khó tránh khỏi bất cập vì nhiều lý do nên ảnh hưởng đến việc phát hiện vi phạm và kháng nghị. Nhiều trường hợp Phó Chánh án kháng nghị, Chánh án chủ tọa phiên tòa, có thể dẫn đến nể nang khi xét kháng nghị, kể cả bổ sung, thay đổi kháng nghị. Chánh án kháng nghị lại chủ tọa phiên tòa thì sẽ khó có thành viên nào đưa ra ý kiến bác kháng nghị. Khoản 3 Điều 29 quy định phiên họp của Ủy ban thẩm phán TAND tỉnh phải có ít nhất 2/3 thành viên tham gia và quyết định của Ủy ban này phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; việc quy định tỷ lệ tham gia phiên họp và biểu quyết như trên là bất cập vì nhiều nguyên nhân mà có thể sẽ có thành viên không tham gia. Luật tổ chức TAND 2014 không quy định quyền kháng nghị và xét xử giám đốc thẩm đối với TAND cấp tỉnh, nhưng TANDCC lại ở tại Đà Nẵng và thực tế khó có thể kịp thời phát hiện và kháng nghị những trường hợp đủ điều kiện.
– Luật tổ chức VKSND năm 2002. Điều 19 quy định VKS có quyền kháng nghị giám đốc thẩm; quy định này bất cập đối với chức năng của VKS và dễ dẫn đến trường hợp lẽ ra phải kháng nghị nhưng không kháng nghị vì nhiều lý do, hoặc không chú ý phát hiện vi phạm để kháng nghị hay báo cáo đề nghị kháng nghị. Luật tổ chức VKSND 2014, tại điểm k khoản 2 Điều 3 quy định VKS kháng nghị theo các thủ tục đối với bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp VKS phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; vậy nếu vì lý do gì đó mà VKS cho rằng không kháng nghị vì không phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, thì sao; đây là một bất cập vì hệ thống VKS theo nguyên tắc tập trung thống nhất, và chức năng của VKS là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Khoản 1 Điều 5 quy định trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì VKS phải kháng nghị. Cơ quan, người có thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của VKS theo quy định của pháp luật. Thấy rằng, quy định trên về căn cứ kháng nghị không thống nhất với điểm k khoản 2 Điều 3 và việc quy định nghĩa vụ phải kháng nghị nhưng lại không quy định nghĩa vụ phát hiện vi phạm để kháng nghị. Khoản 5 Điều 19 quy định VKS kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Chúng tôi cho rằng khoản này quy định chưa đầy đủ và mâu thuẫn với Điều 3, Điều 5. Vì rằng điểm k khoản 2 Điều 3 và khoản 1 Điều 5 đã chứa đựng việc khi phát hiện bản án, quyết định có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật mà đủ căn cứ kháng nghị thì VKS phải kháng nghị (kể cả kháng nghị hành vi; kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo BLTTHS).
– Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Điểm d khoản 1 Điều 36 , khoản 1 Điều 38 quy định Viện trưởng, Chánh án Toà án có nhiệm vụ và quyền hạn kháng nghị giám đốc thẩm, nhưng khoản 1 Điều 275 quy định Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khoản 3 Điều này quy định Chánh án,Viện trưởng VKS cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm – là không thống nhất giữa có nhiệm vụ và quyền hạn với có quyền kháng nghị. Điều 272 về tính chất của giám đốc thẩm không đồng nhất với Điều 273 về căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm. Điều 282 không quy định bắt buộc triệu tập người bị kết án, người bào chữa, NCQL&NVLQ đến việc kháng nghị đến phiên tòa, không quy định trình tự từng thành viên hội đồng giám đốc thẩm, đại diện VKS phát biểu ý kiến giải quyết kháng nghị (kể cả ý kiến về ngoài phạm vi kháng nghị); lẽ ra cần quy định đại diện VKS phát biểu quan điểm về việc giải quyết kháng nghị, ngoài phạm vi kháng nghị (nếu có) và giải quyết vụ án. Điều 285 quy định thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm chưa đầy đủ nên nhiều khi mâu thuẫn với phạm vi và hướng kháng nghị làm cho nhiều trường hợp áp dụng một trong các quy định tại Điều này trong từng vụ án cụ thể chỉ là khiên cưỡng nên khó khăn trong việc phát biểu ý kiến và biểu quyết của các thành viên Hội đồng, ý kiến đại diện VKS cũng như thực hiện quyết định giám đốc thẩm. Điều 286 không quy định những trường hợp áp dụng nguyên tắc hồi tố có lợi cho người phạm tội và trường hợp kháng nghị một phần bản án hoặc quyết định thì lại không được đề cập.
– Bộ luật TTHS 2015. Điều 372 quy định TAND cấp tỉnh thực hiện việc kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cấp huyện để phát hiện vi phạm và kiến nghị Tòa án cấp trên xem xét kháng nghị: quy định trên chưa chặt chẽ, chưa cụ thể….Theo chúng tôi Bộ luật này vẫn còn nhiều hạn chế như về thẩm quyền kháng nghị, thời hạn kháng nghị, nội dung quyết định kháng nghị, thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị, thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm,… mà chúng tôi trình bày tại phần giải pháp.
2.2. Thực tiễn áp dụng
2.2.1. Tình hình kháng nghị giám đốc thẩm và kết quả xét xử
Từ năm 2007 đến ngày 1/6/2015 tổng số kháng nghị giám đốc thẩm là 14 (TANDTC kháng nghị 01 vụ; TAND tỉnh kháng nghị 12 vụ; Viện trưởng KS tỉnh kháng nghị 1 vụ). Tất cả các kháng nghị đều đúng thời hạn. Có 1 vụ TAND tỉnh kháng nghị không đúng thẩm quyền. Trong 13 kháng nghị của cấp tỉnh thì chỉ kháng nghị một phần bản án sơ thẩm nhưng đa dạng; TANDTC kháng nghị toàn bộ bản án phúc thẩm. Có 1 trường hợp trước khi xét xử giám đốc thẩm Chánh án TAND tỉnh rút phần kháng nghị về bồi thường dân sự.
Ủy ban Thẩm phán Tòa Hình sự TANDTC xét xử chấp nhận kháng nghị (1 vụ nêu trên); Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh xét xử chấp nhận kháng nghị 12 vụ, không chấp nhận kháng nghị 1 vụ vì kháng nghị không đúng thẩm quyền. Luận văn phân tích sâu những kháng nghị có chất lượng cao và những kháng nghị tương đối có chất lượng.
2.2.2. Báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm và kết quả
Từ 01/6/2015 đến 25/3/2017, Chánh án TAND tỉnh Quảng Ngãi đã báo cáo đề nghị TANDCC tại Đà Nẵng kháng nghị 4 vụ; đã kháng nghị 3 vụ, nội dung kháng nghị cơ bản như đề nghị. Ủy ban Thẩm phán TANDCC đã xét xử 3 vụ đều chấp nhận kháng nghị.
2.2.3. Hạn chế và nguyên nhân. Về hạn chế
Số lượng kháng nghị không nhiều, kháng nghị dù đa dạng về nội dung nhưng chỉ đối với một phần bản án sơ thẩm. Qua nghiên cứu việc áp dụng pháp luật của kháng nghị và của bản án giám đốc thẩm, thấy rằng một số kháng nghị và bản án chưa rõ ràng về xác định phạm vi, hướng kháng nghị; có vụ án sau khi cấp giám đốc thẩm hủy án để diều tra lại nhưng không có gì thay đổi đáng kể so với bản án sơ thẩm bị kháng nghị; có kháng nghị không đúng thẩm quyền. Về nguyên nhân hạn chế: Luận văn đã nêu ra những hạn chế về kỹ thuật lập pháp của BLTTHS 2003 như: không quy định các nội dung cần phải có của quyết định giám đốc thẩm để làm cơ sở ban hành kháng nghị, xét xử và ra quyết định giám đốc thẩm, thực hiện phán quyết của hội đồng giám đốc thẩm; các quy định cụ thể của BLTTHS 2003 về thẩm quyền của hội đồng xét xử giám đốc thẩm không chứa đựng được khái quát nội hàm của nó nên khó khăn khi xác định phạm vi kháng nghị, hướng kháng nghị, xét kháng nghị, xét phần không bị kháng nghị và áp dụng các quy định cụ thể của pháp luật để ra bản án. Hạn chế của BLTTHS 2003, LTCTAND và LTCVKSND 2002 về quy định phát hiện và kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm còn làm ảnh hưởng đến chức năng xét xử và giám đốc xét xử, hoạt động hướng dẫn, tổng kết kinh nghiệm xét xử của Tòa án cấp trên và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND.
LTCTAND và LTCVKSND 2014 và BLTTHS 2015 không quy định trách nhiệm của VKS tỉnh, TA tỉnh và những người có trách nhiệm của các cơ quan này phải có nghĩa vụ phát hiện kịp thời và phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm những trường hợp đủ căn cứ kháng nghị, cũng không quy định TAND có thẩm quyền phải kịp thời phát hiện và kháng nghị những bản án, quyết định cần phải được kháng nghị. LTCTAND 2014 cũng không quy định cụ thể về nghĩa vụ phát hiện sai lầm của bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật có căn cứ kháng nghị và nghĩa vụ báo cáo đề nghị kháng nghị, nghĩa vụ kháng nghị giám đốc thẩm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền, nên không có cơ sở để quy trách nhiệm xác đáng đối với hậu quả của việc không phát hiện, không kháng nghị cũng như để phục vụ tổng kết công tác phát hiện vi phạm, kháng nghị và xét xử giám đốc thẩm. LTCVKSND 2014 quy định về căn cứ để VKS có thẩm quyền phải kháng nghị (theo các thủ tục tố tụng hình sự, trong đó có thủ tục giám đốc thẩm) không tương đồng với căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định tại Điều 371 và tính chất của giám đốc thẩm quy định tại Điều 370, Điều 382 về thẩm quyền của cấp giám đốc thẩm và những quy định liên quan về thủ tục giám đốc thẩm của BLTTHS 2015. Bên cạnh đó, Luận văn đề cập đến các quy định của BLTTHS 2015 và LTCTAND, LTCVKSND 2014 bất cập đối với việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị
Luận văn còn nêu một số nguyên nhân chủ quan liên quan đến hiệu quả kháng nghị giám đốc thẩm.
Kết luận Chương 2
Chương 2 đã phân tích các quy định của pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm và các yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động này, nghiên cứu sâu từng kháng nghị, báo cáo đề nghị kháng nghị, kết quả đề nghị kháng nghị, kết quả xét xử giám đốc thẩm gắn với nghiên cứu kỹ từng bản án giám đốc thẩm và việc thực hiện phán quyết của cấp giám đốc thẩm của từng vụ án để chỉ ra kết quả, vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm để giải quyết Chương 3.

CHƯƠNG 3
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM
3.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm
3.1.1. Yêu cầu cải cách tư pháp
Luận văn đã xác định các yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kháng nghị giám đốc thẩm là để phục vụ yêu cầu Cải cách tư pháp theo nghị quyết số 08 năm 2002 và Nghị quyết 49 năm 2009 của Bộ chính trị
3.1.2. Yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác xét xử
Hiện thực hóa nghị quyết 49 về chiến lược cải cách tư pháp, chủ trương của Đảng, nội lực hóa các Công ước quốc tế về quyền con người tại Hiến Pháp 2013 được quy định rõ về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dâ; khoản 1 Điều 102 quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3.1.3. Yêu cầu tăng cường hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự
Hoạt động tố tụng hình sự thường xuyên bị ảnh hưởng nhiều yếu tố, vậy yêu cầu tiên quyết và trung nhất để thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp là vấn đề con người để tác động qua lại, kiểm soát lẫn nhau, không ngừng xây dựng các tiêu chí để nâng cao hiệu quả các hoạt động tố tụng và thực hiện đúng nguyên tắt tranh tụng theo BLTTHS 2015, tránh trường howph oan sai.
3.1.4. Yêu cầu tăng cường hoạt động kiểm sát
Hiến pháp năm 2013 đã quy định về chức năng nhiệm vụ của VKSND và được Luật hóa tại Điều 2 LTCVKSND2014, thì VKSND là thực hành quyền công tố và kiểm soát hoạt động tư Pháp, như vậy có thể nói là hoạt động của cơ VKSND nhân danh Nhà nước thực hiện các hoạt động tố tụng để tham gia giải quyết vụ án theo quy định của Pháp Luật chuyên ngành. Kiểm sát hoạt động Tư pháp của Tòa án và các cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra .., qua đó có nhiều ý kiến trái chiều như Tòa án nhân danh Nhà nước xét xử thực hiện quyền tư pháp, mà VKSND lại kiểm sát hoạt động tư pháp của Tòa án là bấc hợp lý. Nhưng chúng tôi cho rằng, VKSND kiểm sát hoạt động của Tòa án là nhằm phục vụ tốt hoạt động xét xử và thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, nên không phải là mâu thuẫn, đồng thời qua việc kiểm sát tư pháp cũng còn để tránh trường hợp VKSND tiến hành hoạt động tư pháp để bảo vệ quan điểm của mình như: kháng nghị, đề nghị kháng nghị trong tố tụng. Qua đó Hiến Pháp 2013 ra đời, hàng loạt các Luật chuyên ngành và các Bộ Luật được sửa đổi, bổ sung; điều đó thể hiện sự pháp điển hóa của hệ thống Pháp Luật, đồng thời đặt ra những thách thức, đòi hỏi cao đối với hoạt động tố tụng nói chung, tố tụng hình sự nói riêng nhằm đưa pháp Luật vào cuộc sống.
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng Kháng nghị giám đốc thẩm
3.2.1. Hoàn thiện pháp Luật
3.2.1.1. Đối với BLTTHS2015 và LTCTAND, LTCVKSND năm 2014
Đối với BLTTHS 2015: Luận văn đã nêu ra những bất cập và góp ý kiến cụ thể đề nghị sửa đổi, bổ sung, giải thích đối với BLTTHS 2015, gồm: Điểm o khoản 1 Điều 4 và các Điều 72,73,87,298,307,322, 358, 373, 379, 381, 383. Đặc biệt, chúng tôi đề nghị sửa đổi các Điều 388, 389,390,391,392,393, cụ thể như: Điều 388 BLTTHS 2015 quy định thẩm quyền cấp giám đốc thẩm và thẩm quyền này được cụ thể hóa tại các Điều 389, 390, 391 và 392. Theo chúng tôi, xuất phát từ nội dung kháng nghị (phạm vi và hướng kháng nghị) và thẩm quyền của cấp giám đốc thẩm sẽ làm phát sinh xét xử giám đốc thẩm xét kháng nghị hoặc xét cả ngoài phạm vi kháng nghị đối với bán án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật hoặc bản án phúc thẩm, và quyết định giám đốc thẩm cũng có thể là đối tượng bị kháng nghị. Luật quy định như trên, thực tiễn sẽ gặp nhiều vướng mắc, chẳng hạn:
kháng nghị chỉ một phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm, phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm không chấp nhận kháng nghị và cũng không xét đến các phần khác, thì việc khoản 1 Điều 388 và Điều 389 quy định “Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị” là chưa khái quát được các phạm vi và hướng kháng nghị và thẩm quyền giám đốc thẩm trong thực tế. Giả sử: A phạm 2 tội bị kết án 1 tội Cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 BLHS 1999; 01 tội Trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138. Người có thẩm quyền kháng nghị với phạm vi chỉ về hình phạt của tội Trộm cắp và theo hướng hủy phần hình phạt của bản án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại tăng hình phạt. Nhưng hành vi A bị kết án khoản 3 Điều 104 lẽ ra phải định tội giết người, mà chưa được kháng nghị về vấn đề này và Hội đồng giám đốc thẩm không xét đến. Do vậy, nếu Hội đồng giám đốc thẩm tuyên như quy định tại khoản 1 Điều 388 hoặc Điều 389 là không ổn vì chỉ xét một phần bản án bị kháng nghị mà thôi.
Đối với khoản 2, khoản 3 và khoản 4, khoản 5 Điều 388 (được cụ thể hóa tại các Điều 390,391,392,393) có nhiều bất cập, chẳng hạn lý do sau đây:
Nếu bị cáo phạm tội đơn lẻ và chỉ phạm một tội, hoặc phạm nhiều tội, mà kháng nghị giám đốc thẩm đối với toàn bộ bản án hoặc quyết định, thì Hội đồng giám đốc thẩm áp dụng các quy định nêu trên sẽ thuận lợi; nhưng nếu chỉ kháng nghị một phần của bản án đối với một tội hoặc đối với nhiều tội (chẳng hạn chỉ kháng nghị về hình phạt hoặc về dân sự hoặc về án phí hoặc xử lý vật chứng hoặc về hình phạt và về áp dụng khung hình phạt…) thì sẽ khó khăn trong từng trường hợp cụ thể vì không thể tuyên hủy bản án, quyết định để điều tra lại hoặc để xét xử lại hoặc tuyên sửa bản án, mà chỉ có thể tuyên hủy một phần bản án để điều tra lại hoặc để xét xử lại hoặc tuyên sửa một phần mà thôi;
Nếu vụ án có đồng phạm phạm một tội hoặc nhiều tội mà kháng nghị đối với toàn bộ bản án hoặc quyết định, thì Hội đồng giám đốc thẩm áp dụng các quy định nêu trên sẽ thuận lợi; nhưng nếu chỉ kháng nghị một phần của bản án đối với một tội đối với 1 bị cáo hoặc đối với nhiều tội đối với một số bị cáo hoặc kháng nghị về dân sự, án phí, về hình phạt, khung hình phạt,…thì áp dụng rất khó khăn (vì có thể chấp nhận phần kháng nghị này nhưng không chấp nhận phần kháng nghị khác hoặc xét đến ngoài phạm vi kháng nghị…).
Do đó đề nghị sửa các Điều 388, 389,390,391, 392, 393 theo hướng sau (chữ in nghiêng là đề nghị sửa đổi, bổ sung):
– Điều 388: Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. 2. Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật. 3. Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.4. Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án. 5. Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. 6. Đình chỉ xét xử giám đốc thẩm vụ án. – Điều 389: Không chấp nhận kháng nghị: Hội đồng giám đốc thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi xét thấy bản án, quyết định đó có căn cứ và đúng pháp luật.
– Điều 390: Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật: Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm nhưng bị hủy, sửa không đúng pháp luật.
– Điều 391: Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại: Hội đồng giám đốc thẩm hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại nếu có một trong các căn cứ quy định tại Điều 371 của Bộ luật này. Nếu hủy để xét xử lại thì tùy trường hợp, Hội đồng giám đốc thẩm có thể quyết định xét xử lại từ cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm….
– Điều 392: Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án: Hội đồng giám đốc thẩm hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án hoặc các phần của vụ án nếu có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ theo quy định của BLHS (như do áp dụng hiệu lực hồi tố...) hoặc có căn cứ theo quy định của BLDS (nếu kháng nghị về dân sự), của Luật chuyên ngành (vì chủ thể tội phạm theo BLHS 2015 bao gồm cả pháp nhân thương mại nên khi giải quyết vụ án có thể phải áp dụng cả luật này).
– Điều 393. Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật: Hội đồng giám đốc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện…
2. Đối với LTCTAND và LTCVKSND 2014: Cần sửa đổi, bổ sung những bất cập của các Luật này về nghĩa vụ phát hiện kịp thời sai lầm của bản án, quyết định giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật, nghĩa vụ báo cáo đề nghị kháng nghị, nghĩa vụ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để ràng buộc nghĩa vụ của các chủ thể có trách nhiệm, có thẩm quyền và để thống nhất giữa quy định của luật chuyên ngành với luật tố tụng hình sự, mà chúng tôi đã nêu ra sự bất cập này ở phần nguyên nhân hạn chế của hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm tại Chương 2.
3.2.1.2. Đối với BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2014
Qua nghiên cứu Điều 244 “Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm” của BLHS năm 2015, thấy rằng: Cấu thành cơ bản của khoản 1 Điều này quy định hành vi phạm tội khi vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm e khoản 1 Điều này. Khung tăng nặng khoản 2 Điều này từ điểm a đến điểm đ đã lượng hóa hành vi phạm tội. Khung tăng nặng khoản 3 Điều này từ điểm a đến điểm d đã lượng hóa hành vi phạm tội.
Như vậy, về kỹ thuật lập pháp thì phần nào tháo gỡ hạn chế, vướng mắc của Điều 190 BLHS 1999 và Điều 190 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là tên của Điều 244 “Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”, trong khi khoản 1 Điều này đưa khách thể bảo vệ bao gồm cả động vật và thực vật, và tại các tình tiết định tội (từ điểm a đến điểm e khoản 1 Điều này) thì điểm d có quy định đối tượng tác động của tội phạm bao gồm cả động vật và thực vật; nhưng tại các tình tiết định khung tăng nặng của khoản 2 Điều này (từ điểm a đến điểm d) cũng chỉ quy định về động vật; khoản 3 Điều này tại các tình tiết định khung tăng nặng (từ điểm a đến điểm d) cũng chỉ quy định về động vật, mà thôi.
Do vậy, để bảo vệ các loài động vật và thực vật quý hiếm trải qua hàng triệu năm tiến hóa, sinh tồn mới có được nay đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, cũng như thuận lợi cho việc xây dựng văn bản pháp lý hướng dẫn thực hiện, thì trước hết cơ quan lập pháp cần phải sửa lại tên của Điều 244 BLHS 2015 thành Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật, thực vật nguy cấp, quý hiếm; đồng thời phải bổ sung vào khoản 2 và khoản 3 Điều luật này về đối tượng được bảo vệ là thực vật nguy cấp, quý hiếm.
3.2.2. Đối với Tòa án nhân dân tối cao
Kiến nghị Chánh án tòa án nhân dân tối cao sớm ra chỉ thị về tăng cường công tác kháng nghị giám đốc thẩm, trong đó cần quy định rõ trách nhiệm của TAND cấp có thẩm quyền kháng. nghị phải có nghĩa vụ phát hiện kịp thời các bản án, quyết định của TAND cấp dưới có sai lầm để kháng nghị; quy định Chánh án, những người làm công tác thanh tra, kiểm tra của các TAND địa phương phải có trách nhiệm phát hiện kịp thời và đề nghị lên TAND cấp có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm những bản án, quyết định đủ căn cứ kháng nghị và quy định cụ thể về quy trình phát hiện, đề xuất, báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với TAND các cấp
3.2.3. Đối với Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
Để thực hiện đúng quy định của BLTTHS 2015, LTCTAND năm 2014, LTCVKSND năm 2014, Chánh án TANDCC và Viện trưởng VKSNDCC cần phải chú trọng hơn nữa công tác kháng nghị theo các thủ tục đặc biệt, trong đó có thủ tục giám đốc thẩm. Do vậy, theo tôi, cần áp dụng các biện pháp sau đây:
Thực tế TANDCC; VKSNDCC tại Đà Nẵng mỗi đơn vị quản lý 09 tỉnh Miền Trung với hơn 100 đơn vị của 02 cấp trực thuộc, nên không đảm bảo
Từ điều kiện trên, để đáp ứng yêu cầu chuyên môn, TANDCC; VKSNDCC cần phải cử cán bộ của mình là những người không phải người địa phương biệt phái thường xuyên về từng tỉnh để tiến hành kiểm tra các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và hồ sơ của Tòa án 02 cấp.
Mặt khác, hàng năm, các đơn vị cần luân chuyển cán bộ biệt phái để nâng cao chất lượng kiểm tra phục vụ công tác kháng nghị.
3.2.4. Đối với Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
Đối với Tòa án nhân dân tỉnh. Để thực hiện Nghị quyết 49 của Bộ chính trị, Hiến pháp 2013, LTCTAND năm 2014, các luật tố tụng, BLHS 2015,…, các Chương trình quốc gia về phòng chống vi phạm, tội phạm và việc triển khai thực hiện của cấp ủy, chính quyền địa phương, hàng năm, trong Kế hoạch công tác của TAND tỉnh và Chương trình công tác của các TAND huyện đã luôn chú trọng đặt lên hàng đầu việc thực hiện và áp dụng pháp luật trong giải quyết các loại án hình sự. Tuy nhiên, ngoài công tác kiểm tra định kỳ toàn diện của TAND tỉnh và kiểm tra các bản án, quyết định mà TAND cấp huyện gửi lên TAND tỉnh, theo chúng tôi, TAND tỉnh cần thành lập tổ công tác tiến hành kiểm tra đột xuất việc nghiên cứu hồ sơ vụ án và đường lối giải quyết của Chủ tọa phiên tòa trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, việc ra một trong các quyết định tố tụng trong giai đoạn này có đúng và đầy đủ hay không; và cần cử đoàn kiểm tra tham dự một số phiên tòa xét xử án hình sự rút kinh nghiệm của tất cả các TAND cấp huyện trực thuộc và TAND tỉnh (theo hướng kiểm tra đối với từng Thẩm phán 02 vụ/năm) (các thành viên đoàn kiểm tra ghi theo mẫu dưới đây), với yêu cầu đặc biệt chú trọng việc thực hiện và áp dụng các quy định của BLHS, BLTTHS, các luật chuyên ngành và các văn bản pháp luật hướng dẫn trong quá trình xét xử tại phiên tòa, nhất là vai trò của chủ tọa phiên tòa trong hoạt động chấp hành quy định pháp luật về trình tự, thủ tục phiên tòa (thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa, thủ tục tranh luận tại phiên tòa, thủ tục nghị án và tuyên án); xác định căn cứ của những trường hợp hoãn phiên tòa hoặc tiến hành xét xử; đánh giá quá trình điều khiển của chủ tọa phiên tòa trong thẩm vấn, tranh luận, nghị án, hoạt động chứng minh để giải quyết từng yêu cầu đặt ra đối với vụ án để kịp thời chỉ ra các vi phạm trong quá trình này và tổ chức sơ kết để rút kinh nghiệm chung trong giao ban ngành TAND tỉnh và yêu cầu đơn vị, cá nhân có vi phạm, nghiêm túc có biện pháp khắc phục; đồng thời kiểm tra việc Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán ban hành các quyết định, văn bản tố tụng, bản án và việc giao, tống đạt, gửi các văn bản này cho những chủ thể liên quan. Qua hình thức kiểm tra này sẽ thuận lợi và kịp thời phát hiện bản án có vi phạm đủ căn cứ kháng nghị; nếu có mà không có kháng cáo, kháng nghị thì cũng cần phải kiên quyết báo cáo đề nghị Chánh án TANDCC kháng nghị giám đốc thẩm.Về mẫu “Phiếu nhận xét đánh giá phiên tòa rút kinh nghiệm” (xem Phụ lục Luận văn).
Và để đảm bảo nguyên tắc xét xử độc lập, Ủy ban Thẩm phán và các Tòa chuyên trách không trả lời thỉnh thị của các TAND huyện nữa, mà nhiều trường hợp Lãnh đạo giao cho cán bộ Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án nghiên cứu và có ý kiến tham mưu để trao đổi. Do đó cần chú trọng bố trí các cán bộ có năng lực, kinh nghiệm và tinh thần bảo vệ pháp chế vào Phòng này. Thường xuyên quán triệt cán bộ làm công tác kiểm tra phải tận tụy với công việc, chuẩn mực trong đánh giá vi phạm. Việc kiểm tra án đã có hiệu lực pháp luật cần phải chú trọng đến chất lượng nghiên cứu hồ sơ và ra một trong các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, việc xây dựng đề cương xét hỏi, chiến thuật và trình tự xét hỏi, quá trình chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên Tòa và kết quả chứng minh của HĐXX, việc nghị án và ra bản án trong từng vụ án cụ thể để đánh giá chất lượng. Kết luận kiểm tra bằng văn bản phải chỉ ra sai phạm cụ thể trong từng vụ việc và yêu cầu cơ quan được kiểm tra tổ chức họp toàn đơn vị để yêu cầu TP, Thư ký vi phạm nghiêm túc khắc phục, vi phạm của Hội thẩm phải được trực tiếp góp ý hoặc thông qua hội nghị Hội thẩm, vi phạm của KSV phải được thông báo qua giao ban liên ngành.
TAND tỉnh; Tòa án cấp cao cần tăng cường kiểm tra các bản án, quyết định sơ thẩm, bản án phúc thẩm và lập phiếu kiểm tra có nhận xét đề xuất của người được phân công nghiên cứu, qua đó nếu đủ căn cứ kháng nghị thì cấp có thẩm quyền cần kiên quyết, không nên ngại va chạm, né sai phạm cho cơ quan và NTHTT cấp dưới. Đối với Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án TAND tỉnh, khi Thẩm tra viên kiểm tra các bản án, quyết định sơ thẩm về hình sự của TAND cấp huyện, theo chúng tôi cần phải lập “Phiếu kiểm tra bản án, quyết định sơ thẩm” (xem Phục lục Luận văn).
Đối với công tác kiểm tra nghiệp vụ của TAND tỉnh. Hiện thực hóa Quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017 của Chánh án TANDTC và Quy chế kiểm tra trong hệ thống tòa án nhân dân của Tòa án nhân dân tối cao; cuối năm 2017, Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án TAND tỉnh đã dự thảo và tham mưu lên Chánh án TAND tỉnh ban hành Kế hoạch kiểm tra và Đề cương kiểm tra năm 2018 của TAND cấp tỉnh đối với các TAND cấp huyện. Qua nghiên cứu dự thảo Kế hoạch kiểm tra và Đề cương kiểm tra, xuất phát từ yêu cầu thực tế, chúng tôi kính đề nghị cần sửa đổi, bổ sung như sau (xem Phụ lục Luận văn).
Ngoài ra, chúng tôi đề nghị TAND tỉnh cần chủ trọng về bố trí nhân sự của Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án, nhất là việc kiện toàn lãnh đạo Phòng đủ khả năng đảm trách vai trò nhiệm vụ được giao (hiện chỉ có 1 đồng chí Phó Phòng phụ trách nhưng sắp đến tuổi nghỉ hưu) và bố trí nhân sự có thể đảm trách được công tác này.
– Đối với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh. Cần tổ chức cuộc thi về kỹ năng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kỹ năng phát hiện sai lầm, vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm, kỹ năng tham mưu đề xuất kháng nghị theo các thủ tục.
Luôn chú trọng tăng cường mối quan hệ phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng trên nguyên tắc đảm bảo chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành.
Điều quan trọng nhất vẫn là phát huy vai trò của con người trong việc bố trí sắp xếp, đề bạt cán bộ. Do vậy, cần chú trọng thực hiện quy định của Đảng về luân chuyển cán bộ và không bố trí người địa phương giữ chức vụ lãnh đạo.
Cần chú trọng hơn nữa công tác kiểm sát bản án để báo cáo đề nghị kháng nghị theo thủ tục đặc biệt những bản án, quyết định đủ các căn cứ kháng nghị, trong đó kể cả đề nghị kháng nghị theo hướng có lợi hoặc để minh oan hoặc để điều tra lại đối với người bị kết án hoặc để thay đổi tội danh.
Cần đặc biệt chú trọng về công tác cán bộ làm công tác giải quyết án hình sự. Thường xuyên phát hiện và trao đổi, xử lý vi phạm, sai sót trong công tác giải quyết án hình sự mà qua công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, qua hoạt động kiểm sát đã phát hiện để uốn nắn, xử lý sai phạm về hành chính – tư pháp hoặc theo thủ tục tố tụng.
Cần ban hành quy chế về xử lý vi phạm của cán bộ, kịp thời phát hiện và xử lý các sai lầm, vi phạm nghiêm trọng của bản án, quyết định và tác động trở lại đến các hoạt động tố tụng, nhất là hoạt động chứng minh của VKS và Tòa án, đòi hỏi phải luôn chú trọng tăng cường kiểm sát xét xử. Vì vậy, cần xác định hoạt động kháng nghị là trách nhiệm của VKS, của việc phát hiện vi phạm và tham mưu của các KSV có trách nhiệm, chứ không phải là quyền của VKS. Theo chúng tôi, VKSND cần phải lập “Phiếu kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm” (xem Phục lục Luận văn).
Kết luận Chương 3
Từ nội dung nghiên cứu tại Chương 1 và Chương 2 và 3 để ra các yêu cầu và các giải pháp. Các giải pháp này chúng tôi cho rằng là thiết thực để nâng cao hiệu quả hoạt động phát hiện vi phạm, kháng nghị và xét xử giám đốc thẩm không chỉ đối với địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, mà còn có ý nghĩa trong việc xây dựng pháp luật, phục vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, nâng cao chất lượng động tố tụng hình sự và phục vụ công tác nghiên cứu, học tập, ngăn chặn vi phạm, tội phạm trong hoạt động tư pháp.
KẾT LUẬN
Lịch sử lập pháp của Nhà nước ta ghi nhận xét xử sơ thẩm, phúc thẩm các vụ án hình sự là thủ tục mang tính nguyên tắc và các thủ tục tố tụng đặc biệt ngày càng được kiện toàn.
Thực tế nói lên rằng hoạt động kháng nghị và kết quả xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị sẽ tác động trở lại rất tích cực đối với hiệu quả quá trình tố tụng và với những người tiến hành tố tụng. Vì thế, Chương 1 Luận văn giải quyết lý luận về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự với khái niệm, nội dung, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở của quy định kháng nghị giám đốc thẩm, quá trình lịch sử lập pháp của hoạt động này. Chương 2 làm rõ quy định của pháp luật về kết quả hoạt động kháng nghị thông qua xét xử giám đốc thẩm và nêu ra hạn chế cơ bản của hoạt động này mà nguyên nhân khách quan từ phía quy định pháp luật tố tụng, pháp luật chuyên ngành, nguyên nhân chủ quan và sự liên quan của hai nguyên nhân. Từ lý luận và thực tiễn, Chương 3 đề cập đến các yêu cầu nâng cao hiệu quả kháng nghị giám đốc thẩm và đề ra các giải pháp cụ thể về pháp luật tố tụng, luật tổ chức và giải pháp đối với các cơ quan tiến hành tố tụng để góp phần nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm.
Xét xử ra bản án, quyết định giải quyết vụ án hình sự là vấn đề quan trọng nhất, trung tâm nhất, cốt lõi nhất của pháp luật tố tụng hình sự, vì thế hoạt động này luôn là vấn đề thời sự. Dù nhiều hạn chế song hy vọng Luận văn có thể được người quan tâm đến ứng dụng trong giảng dạy, học tập, xây dựng và áp dụng pháp luật, góp phần nâng cao tri thức khoa học và tạo môi trường tố tụng hình sự ngày càng hoàn thiện.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\HINH SU\TRAN MINH TU


