BÁO CÁO THỰC TẬP Đơn vị thực tập BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG

BÁO CÁO THỰC TẬP Đơn vị thực tập BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG

1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BHXH HUYỆN KRÔNG BÔNG

1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Thực hiện Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ, ngày 15/6/1995 Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam có Quyết định số 18/QĐ-BHXH-TCCB về việc thành lập BHXH tỉnh Đăk Lăk. Ngày 29/07/1995, Giám đốc BHXH tỉnh Đăk Lăk ban hành Quyết định số 01 QĐ/TC-CB về việc thành lập Bảo hiểm xã hội huyện Krông Bông.

Là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh đặt tại huyện, có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo quy định.

BHXH huyện Krông Bông có trụ sở tại Tổ dân phố 1, thị trấn Krông Kmar, huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.

Tính đến tháng 12/2023, BHXH huyện có 11 lao động, trong đó có 5 nam, 6 nữ.

1.2. Chức năng, nhiệm vụ và cao cấu bộ máy

1.2.1. Vị trí, chức năng

Bảo hiểm xã hội huyện là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh đặt tại huyện, có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo quy định.

Bảo hiểm xã hội huyện chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Bảo hiểm xã hội huyện có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và trụ sở riêng.

Không tổ chức đơn vị Bảo hiểm xã hội huyện tại đơn vị hành chính là thành phố trực thuộc tỉnh, nơi có trụ sở Bảo hiểm xã hội tỉnh đóng trên địa bàn.

1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn

– Xây dựng trình Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về phát triển bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn và chương trình công tác hàng năm; tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình sau khi được phê duyệt.

– Phối hợp với các phòng, ban liên quan tham mưu cho Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện xây dựng, ban hành nghị quyết, kế hoạch chỉ đạo tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện.

– Thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.

– Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bảo hiểm xã hội tỉnh, cụ thể:

+ Cấp, quản lý mã số bảo hiểm xã hội; cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế cho người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý, sử dụng phôi sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế theo đúng quy định;

+ Xác định, khai thác, phát triển, quản lý người tham gia và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Tổ chức thu hoặc ký hợp đồng ủy quyền cho tổ chức dịch vụ thu các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức và cá nhân tham gia. Từ chối việc đóng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế không đúng quy định của pháp luật. Kiểm tra việc đóng nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động. Thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội tỉnh;

+ Giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội huyện; Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính cấp huyện; theo dõi tăng, giảm số người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội;

+ Tiếp nhận hồ sơ giải quyết việc tính thời gian công tác cho người lao động có thời gian công tác trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 (bao gồm trường hợp người lao động không còn hồ sơ gốc thể hiện thời gian làm việc trong khu vực nhà nước và điều chỉnh làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm) theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội tỉnh;

+ Chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; từ chối chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế không đúng quy định;

+ Tiếp nhận khoản kinh phí từ ngân sách Nhà nước chuyển sang để đóng, hỗ trợ đóng cho người tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội tự nguyện;

+ Quản lý, sử dụng, hạch toán kế toán các nguồn kinh phí và tài sản của Bảo hiểm xã hội huyện theo phân cấp;

+ Tổ chức ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với các cơ sở khám, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định hiện hành; thực hiện tạm ứng, giám định chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, thanh quyết toán chi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đối với các cơ sở khám, chữa bệnh được phân cấp ký hợp đồng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; thanh toán trực tiếp chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế cho người có thẻ bảo hiểm y tế; bảo vệ quyền lại của người tham gia bảo hiểm y tế và chống lạm dụng, trục lợi chế độ bảo hiểm y tế;

+ Tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ, giải đáp, tư vấn chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; khảo sát, đo lường sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện.

– Giải quyết các khiếu nại, kiến nghị, phản ánh về việc thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức, cá nhân tham gia và các cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định.

– Thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính; công tác kiểm soát thủ tục hành chính và công tác pháp chế theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội tỉnh. Tổ chức triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN vào hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện.

BÁO CÁO THỰC TẬP Đơn vị thực tập BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG
BÁO CÁO THỰC TẬP Đơn vị thực tập BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG

– Tổ chức thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định.

– Thực hiện số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính và số hóa hồ sơ, tài liệu hành chính, nghiệp vụ; thực hiện công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu hành chính, nghiệp vụ; hồ sơ của người tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế (gồm cả giấy và điện tử) theo quy định.

– Hướng dẫn việc thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho các tổ chức, cá nhân tham gia.

– Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn, các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế để giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định. Phối hợp với các đơn vị có liên quan trình Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng kế hoạch giao chỉ tiêu phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên cơ sở kế hoạch được giao.

– Đề xuất, kiến nghị, phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Tham gia đoàn thanh tra, kiểm tra do Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh thành lập.

– Có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn. Gửi văn bản kiến nghị khởi tố kèm theo chứng cứ, tài liệu có liên quan đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tại cấp huyện để xem xét, khởi tố theo quy định của pháp luật khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của Bộ luật Hình sự.

– Đề nghị các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương thực hiện điều tra lại các vụ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo phân cấp quản lý.

– Định kỳ cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng các chế độ, thủ tục thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động, người sử dụng lao động hoặc khi người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức công đoàn yêu cầu; cung cấp đầy đủ và kịp thời tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

– Triển khai thực hiện các quy chế, chương trình, kế hoạch phối hợp với các cơ quan, đơn vị theo ký kết của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và của Bảo hiểm xã hội tỉnh.

– Quản lý viên chức, người lao động của Bảo hiểm xã hội huyện.

– Tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; khai thác và bảo mật dữ liệu công nghệ thông tin; thực hiện chế độ thông tin, thống kê, báo cáo, thi đua – khen thưởng theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội tỉnh.

– Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh giao và theo quy định của pháp luật.

1.2.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy

Theo sơ đồ thì Giám đốc BHXH huyện Krông Bông chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động của cơ quan với sự tham gia của các bộ phận nghiệp vụ. Các bộ phận này có quan hệ chặt chẽ, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình quản lý các hoạt động của BHXH huyện Krông Bông.

GIÁM ĐỐC

CÁC PHÓ GIÁM ĐỐC

Bộ phận một cửa

Bộ phận Kế hoạch -Tài chính

Bộ phận thu – sổ thẻ

Bộ phận chế độ BHXH

Bộ phận truyền thông

Bộ phận Giám định BHYT

Bộ phận văn thư – lưu trữ, văn phòng

1.4. Kết quả hoạt động tại BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021-2023

– Công tác thu, phát triển người tham gia BHXH, BHTN, BHYT

Trong 3 năm giai đoạn 2021-2023 trên địa bàn huyện Krông Bông sẩy ra nhiều thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh Covid-19, dịch bệnh sốt xuất huyết diễn biến phức tạp…, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đời sống, sinh hoạt của người dân. Hơn thế nữa, trong giai đoạn này UBND huyện Krông Bông xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế hằng năm giảm 10% do vậy lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp không tăng; các doanh nghiệp trên địa bàn hoạt động ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ nên số lao động trong khối này là rất hạn chế. Bảo hiểm xã hội Krông Bông luôn xác định công tác thu và phát triển đối tượng là nhiệm vụ trọng tâm, Lãnh đạo cơ quan đã đưa ra nhiều giải pháp đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức một số chỉ tiêu thu, phát triển người tham gia nêu tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, Nghị quyết số 28-NQ/TW và Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, cụ thể:

Bảng 1. Kết quả phát triển người tham gia BHXH, BHYT giai đoạn 2021 – 2023

STTNăm


Loại hình

Năm 2021Năm 2022Năm 2023
số
người
Tỷ lệ so
với LLLĐ
số
người
Tỷ lệ so
với LLLĐ
số
người
Tỷ lệ so
với LLLĐ
1BHXH bắt buộc3.2217,773.2457,873.2557,66
2BHTN2.4065,812.4235,882.3615,56
3BHXH tự nguyện7391,781.0752,611.0852,55
4Tỷ lệ bao phủ BHYT92.407100,3793.038101,5295.043100,7

– Số người tham gia BHXH tính đến 31/12/2023 là 4.340 người, chiếm khoảng 10,21% so với lực lượng lao động trong độ tuổi, tăng 918 người tương ứng 26,8% so với năm 2019;

– Số người tham gia BHYT năm 2023 là 95.043 người, đạt tỷ lệ bao phủ 100,7% dân số, tăng 2.019 người (21,6%) so với năm 2019;

– Tổng số thu BHXH, BHTN, BHYT năm 2023 là 78.172 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch.

Bảng 2. Kết quả công tác thu giai đoạn 2021 – 2023

ĐVT: 1.000.000đ

S TT Năm

Loại hình

Năm 2021Năm 2022Năm 2023
Số
tiền
Tốc độ
phát triển
Số
tiền
Tốc độ
phát triển
Số
tiền
Tốc độ
phát triển
1BHXH bắt buộc47.652112,7448.152113,9249.638117,43
2BHTN3.161114,403.161114,402.980107,85
3BHXH tự nguyện1.461271,062.778515,403.292610,76
4BHYT17.782112,6220.515129,9318.380116,41
Cộng70.056114,1774.606121,5978.172127,40

– Tổng số tiền nợ: 367 triệu đồng, chiếm 0.47% kế hoạch giao ( kế hoạch 78.172 triệu đồng ).

Song song với công tác tuyên truyền, việc nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cũng giữ vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế. Chính vì vậy Bảo hiểm xã hội huyện đã tích cực tác động sự quan tâm của các ngành, các cấp để nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ và chất lượng khám chữa bệnh BHYT của các cơ sở khám chữa bệnh ngày càng tốt hơn.

2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐĂK LĂK

2.1. Phân tích môi trường hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk

2.1.1. Môi trường vĩ mô

a. Các yếu tố thuộcmôi trường tự nhiên

Huyện Krông Bông nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Đăk Lăk, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 55 km về phía Đông – Nam theo Quốc lộ 27. Phía Tây giáp huyện Lắk, Phía Tây Bắc giáp huyện Cư Kuin, huyện Krông Ana. Phía Bắc giáp huyện Krông Pác, huyện Ea Kar. Phía Đông giáp huyện M’Drăk, huyện Vĩnh Khánh (Khánh Hòa). Phía Nam giáp huyện Lạc Dương (Lâm Đồng).

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 1.257,49 km2 chiếm 6,38% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, tổng dân số khoảng 95.074 người, toàn huyện có trên 16 dân tộc khác nhau, trong đó: người kinh chiếm trên 71%, các dân tộc thiểu số còn lại chiếm 29%.Huyện có 13 xã và 01 thị trấn gồm: Thị trấn Krông Kmar và các xã: Yang Reh, Ea Trul, Hòa Sơn, Hòa Lễ, Hòa Phong, Cư Pui, Cư Drăm, Yang Mao, Khuê Ngọc Điền, Cư Kty, Hòa Tân, Hòa Thành, Dang Kang. Trình độ dân trí ở vùng đồng bằng dân tộc tại chỗ còn hạn chế nên công tác định canh định cư không ổn định, tỷ lệ đói nghèo còn cao, nhiều vùng đồng bào còn thiếu đất và vốn để sản xuất.

Bản đồ hành chính huyện Krông Bông

Krông Bông nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng do vừa bị ảnh hưởng của độ cao, vừa bị ảnh hưởng của các dãy núi lớn Cư Yang Sin nên khí hậu Krông Bông có hai mùa mưa nắng rõ rệt với những đặc trưng chính sau:

– Nắng nhiều: trung bình 180 giờ/tháng. Năng lượng bức xạ tổng cộng lớn: trung bình từ 150 – 160 kcal/cm2 năm. Nhiệt độ cao và ôn hòa: nhiệt độ trung bình năm từ 23,7 – 27,30C. Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ có thể xuống đến khoảng 17,3 – 20,10C. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4 và tháng 5, nhiệt độ trung bình có thể lên đến 28 – 300C. Bên cạnh đó, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm khá lớn (mùa khô biên độ nhiệt trên 100C).

– Lượng mưa: Có hai tiểu vùng mưa: vùng phía Đông bao gồm xã Hòa Phong và 3 xã Cư Pui, Cư Drăm, Yang Mao, có mùa mưa kéo dài và kết thúc cũng muộn hơn. Lượng mưa nhiều hơn so với các xã phía Tây và phía Bắc của huyện. Nhìn chung, trên toàn huyện có lượng mưa lớn (trung bình từ 1.800 – 2.200 mm/năm), mùa mưa dài.

b.Các yếu tố kinh tế – xã hội

Huyện Krông Bông có địa bàn rộng 1.257,49 km2 dân cư đông, phân bố không đều, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, mũi nhọn là trồng cây thuốc lá, cây mì, bắp, đậu các loại, giá cả các mặt hàng nông sản không ổn định. Kinh tế – xã hội phát triển chậm, thuộc một trong 5 huyện nghèo của tỉnh Đăk Lăk. Các doanh nghiệp trên địa bàn huyện có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, gặp khó khăn trong việc sản xuất, kinh doanh do thiên tai, dịch bệnh gây ra.

Năm 2021, mặc dù chịu tác động ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, nhưng với sự lãnh đạo,chỉ đạo sát sao của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện, sự đồng thuận của nhân dân,nên tình hình kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện duy trì ổn định và phát triển. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất tăng 5,84% so với cùng kỳ năm 2020; giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp đạt 2.824 tỷ đồng; giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng đạt 1.682 tỷ đồng; giá trị thương mại và dịch vụ đạt 2.653 tỷ đồng.

Năm 2022, giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiêp đạt 3.084 tỷ đồng, tăng 9,21%; giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng đạt 1.895 tỷ đồng, tăng 12,66%; giá trị thương mại, dịch vụ đạt 2.960 tỷ đồng, tăng 11,57% so với năm 2021.

Năm 2023, giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiêp đạt 3.329 tỷ đồng, tăng 7,94%; giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng đạt 12.106 tỷ đồng, tăng 11,13%; giá trị thương mại, dịch vụ đạt 3.537 tỷ đồng, tăng 19,49% so với năm 2022.

Bảng 3. Điều kiện kinh tế – xã hội tại huyện Krông Bông giai đoạn 2021-2023

Chỉ tiêuNăm 2021Năm 2022Năm 2023So sánh %/(+ – )
2022/20212023/2022
Tổng giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp (tr.đ)2.8243.0843.3299,217,94
Tổng giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng (tr.đ)1.6821.8952.10612,6611,13
Tổng giá trị thương mại và dịch vụ (tr.đ)2.6532.9603.53711,5719,49

c. Lực lượng lao động

Dân số toàn huyện năm 2023 khoảng 108.996 người gồm: nam giới chiếm 50,6% tổng dân số và nữ giới chiếm 49,4%; dân số thành thị chiếm 7,6% và dân số nông thôn chiếm 92,4%, trong đó lực lượng lao động trên 15 tuổi khoảng 53.900 người.

Bảng 4. Dân số và lực lượng lao động huyện Krông Bông giai đoạn 2021-2023

Mục202120222023
Tổng cộng (người)106.156107.713108.996
Theo giới tính
Nam ( người)53.70454.54555.195
Tỷ lệ (%)50,5950,6450,64
Nữ ( người)52.45253.16853.801
Tỷ lệ (%)49,4149,3649,36
Theo địa bàn   
Thành thị ( người)8.1978.2398.239
Tỷ lệ (%)7,72 7,65 7,56
Nông thôn ( người)97.95999.474100.757
Tỷ lệ (%) 92,28 92,35 92,44
Lao động trên 15 tuổi52.68653.24153.900
Tỷ lệ (%)56,13 49,43 49,45

2.1.2. Môi trường nghành

– Trải qua 29 năm xây dựng và trưởng thành, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã không ngừng phát triển và đạt được các thành tích quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước. Qua đó góp phần bảo đảm ổn định chính trị – xã hội để phát triển đất nước.

Phát triển theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Ngày 16/2/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 19-CP thành lập Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động – Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. BHXH Việt Nam ra đời tạo dấu mốc cải cách quan trọng nhằm thu gọn đầu mối tổ chức, thực hiện chính sách BHXH theo hướng tập trung, thống nhất trong phạm vi toàn quốc.

Hệ thống tổ chức của BHXH Việt Nam gồm 3 cấp: trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện. Qua từng thời kỳ, tổ chức bộ máy đã từng bước được kiện toàn theo hướng linh hoạt, hiệu quả, chuyên nghiệp, hiện đại, giảm đầu mối; giảm chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; phù hợp với tinh thần Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp (DN). Qua đó, tạo điều kiện để ngành BHXH Việt Nam thực hiện hiệu quả, hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.

Lưới an sinh xã hội không ngừng mở rộng tới mọi người dân, người lao động, khi diện bao phủ BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), BH thất nghiệp liên tục tăng, góp phần củng cố vững chắc nền an sinh xã hội của đất nước.

Trong quá trình hình thành và phát triển, ngành BHXH Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm sâu sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng. Sự quan tâm này thể hiện cụ thể thông qua các chỉ thị, nghị quyết, trong đó đặc biệt như: Nghị quyết số 21- NQ/TW năm 2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020; Nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2018 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về cải cách chính sách BHXH… Đây là những định hướng quan trọng, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của hệ thống BHXH, BHYT,BHTN, nói chung và BHXH Việt Nam nói riêng.

Từ năm 1995 đến hết năm 2023, toàn nghành BHXH đã giải quyết khoảng hơn 144,8 triệu lượt người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khoẻ; từ năm 2010 đến hết năm 2022 phối hợp giải quyết gần 9,7 triệu người hưởng các chế độ BH thất nghiệp; hiện tổng số người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hang tháng hơn 3,3 triệu người.

2.1.3. Các yếu tố thuộc môi trường nội bộ

a. Nguồn nhân lực của BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

Năm 2023, tổng số cán bộ viên chức, người lao động trong cơ quan có 11 người đã qua kinh nghiệm thực tiễn, có phẩm chất đạo đức tốt, có nghiệp vụ chuyên ngành đào tạo cơ bản, trong đó: có 01 viên chức trình độ Thạc sĩ, 09 người có trình độ đại học, 01 người lao động có trình độ phổ thông, số cán bộ nữ là 6 người. Về cơ cấu tổ chức bao gồm: Giám đốc, 01 Phó Giám đốc, 01 Kế toán trưởng, số cán bộ còn lại được phân công vị trí việc làm tại các bộ phận nghiệp vụ.

BHXH huyện Krông Bông có 01 đội ngũ cán bộ viên chức trẻ, tuổi trung bình 38 tuổi, người nhỏ nhất 30 tuổi, người cao nhất 48 tuổi, ngày càng được củng cố về chất lượng, ý thức trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của viên chức không ngừng được nâng lên, luôn nêu cao tình thần đoàn kết phối hợp cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bảng 5. Nguồn nhân lực của BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

MụcNăm 2021Năm 2022Năm 2023
Số lượng (người)111011
Đại học trở lên (người)10910
Phổ thông trung học (người)111
Độ tuổi dưới 40 tuổi989
Độ tuổi trên 40 tuổi222

b. Môi trường công nghệ:

Ngành BHXH với quan điểm xuyên suốt “Lấy người dân, doanh nghiệp làm chủ thể, trung tâm phục vụ”, tất cả các kết quả, nhiệm vụ của ngành BHXH Việt Nam đều nhằm mang tới những lợi ích tối ưu, tốt hơn cho người tham gia, thụ hưởng các chính sách BHXH, BHYT, BHTN.

Công tác chuyển đổi số của ngành được thực hiện mạnh mẽ, toàn diện, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức của người đứng đầu đến từng cán bộ; thấy được tầm quan trọng của công tác ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số với hoạt động của ngành.

Các lĩnh vực hoạt động của ngành đều được số hóa và ứng dụng công nghệ thông tin, với gần 30 hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin quản lý các quy trình nghiệp vụ, hàng nghìn tài khoản trong ngành thường xuyên truy cập, khai thác và sử dụng để thực hiện các nghiệp vụ.

Hệ thống thông tin giám định BHYT của ngành đang kết nối với cơ sở KCB BHYT có hợp đồng khám chữa bệnh trên toàn quốc. Đây là công cụ hiệu quả, giúp công tác KCB BHYT công khai, minh bạch, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người tham gia BHYT.

Việc giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH không chỉ góp phần giảm tải áp lực giải quyết hồ sơ, thủ tục cho cơ quan BHXH, mà còn giúp các tổ chức, cá nhân tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức và chi phí đi lại khi giao dịch với cơ quan BHXH.

Như vậy, 100% thủ tục của ngành đã được cung cấp dịch vụ công trực tuyến và tích hợp trên Cổng dịch vụ công BHXH Việt Nam; đồng thời từng bước tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Gần như tất cả các hoạt động của ngành, cũng như các giao dịch của người người dân, doanh nghiệp với cơ quan BHXH đã được thực hiện trên môi trường số.

2.2. Định hướng chiến lược phát triển của BHXH huyện Krông Bông đến năm 2030

BHXH huyện Krông Bông nằm trong hệ thống BHXH Việt Nam, vì vậy chiến lược của ngành BHXH Việt Nam cũng là chiếc lược của BHXH huyện Krông Bông không thể tách rời được.

Ngày 11/01/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 38/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành BHXH Việt Nam đến năm 2030, nhằm phát triển ngành BHXH Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH, BHTN, BHYT cho người lao động và Nhân dân.

Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2025, đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 2,5% lực lượng lao động trong độ tuổi (năm 2030, các chỉ tiêu này lần lượt đạt khoảng 60% và 5%); có khoảng 55% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, BHXH hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội (năm 2023: 60%); khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHTN (năm 2030: 45%); trên 95% dân số tham gia BHYT (năm 2030: trên 97%).

Đến năm 2025, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết thủ tục hành chính đạt tối thiểu 90% (năm 2030: 95%). Chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia BHXH trên 85% (năm 2030: 90%). Số người nhận các chế độ BHXH, BHTN qua các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực đô thị trên 68% (năm 2030: 75%).

Về lĩnh vực chuyển đổi số, đến năm 2025, phấn đấu đạt: (1) 100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động; (2) 95% hồ sơ công việc của ngành BHXH Việt Nam được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước); (3) 100% người tham gia BHXH, BHTN, BHYT có tài khoản giao dịch điện tử, đã cài đặt ứng dụng VssID – BHXH số có thể theo dõi quá trình đóng, hưởng các chế độ BHXH, BHTN, BHYT, tra cứu thông tin, thực hiện dịch vụ công trực tuyến; (4) 100% người dân tham gia BHYT đã được cấp Căn cước công dân có thể sử dụng thay thế thẻ BHYT khi đi khám chữa bệnh.

Đến năm 2030: (1) Hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm; (2) Kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành khác để triển khai dịch vụ công và tạo thuận lợi cho người dân, đơn vị sử dụng lao động và triển khai kiểm tra, kiểm soát dựa trên dữ liệu lớn; (3) 100% các hệ thống thông tin của BHXH Việt Nam có liên quan đến người dân, tổ chức, doanh nghiệp được tái cấu trúc và ứng dụng công nghệ hiện đại, đưa vào vận hành, khai thác được kết nối, liên thông qua các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu; (4) 100% hồ sơ công việc của ngành BHXH Việt Nam được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước).

2.3. Kết quả hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2021 – 2023

2.3.1. Về công tác tổ chức và điều hành

Trên cơ sở dự toán được BHXH tỉnh giao, Chi bộ BHXH huyện đã xây dựng Nghị quyết ngay từ đầu năm, hằng tháng sinh hoạt có đánh giá, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết, khắc phục những mặt còn tồn tại nhằm xây dựng Nghị quyết cho sát đúng với tình hình thực tế để lãnh đạo chính quyền tổ chức thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả.

Cơ quan xây dựng Kế hoạch công tác cụ thể của từng bộ phận theo từng tháng, từng quý trong năm. Phân công cán bộ ngoài thực hiện công tác chuyên môn còn phải bám sát đơn vị mình phụ trách hướng dẫn lập danh sách, đôn đốc thu để đạt và vượt kế hoạch cấp trên giao.

2.3.2. Về phối hợp với cấp ủy chính quyền địa phương

Hằng năm, công tác phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương luôn được quan tâm, chú trọng. BHXH huyện Krông Bông đã chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT trên địa bàn; tham mưu, đề xuất đưa mục tiêu, kế hoạch thực hiện lộ trình BHXH, BHYT vào nghị quyết, chương trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; tham mưu thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT; tiếp tục triển khai có hiệu quả việc phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT đạt kết quả cao.

Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, công tác khai thác thu và phát triển người tham gia BHXH, BHYT có sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân về vai trò, trách nhiệm cũng như mục đích, ý nghĩa của việc tham gia BHXH, BHYT, góp phần tạo niềm tin sâu sắc trong toàn xã hội về các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước nói chung và chính sách BHXH, BHYT nói riêng.

2.3.3. Công tác thu, phát triển người tham gia BHXH, BHTN, BHYT

Trong giai đoạn 2021-2023 trên địa bàn huyện Krông Bông xảy ra nhiều thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh Covid-19, dịch bệnh sốt xuất huyết diễn biến phức tạp…, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đời sống, sinh hoạt của người dân. Hơn thế nữa, trong giai đoạn này UBND huyện Krông Bông xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế hằng năm giảm 10% do vậy lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp không tăng; các doanh nghiệp trên địa bàn hoạt động ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ nên số lao động trong khối này là rất hạn chế. BHXH Krông Bông luôn xác định công tác thu và phát triển đối tượng là nhiệm vụ trọng tâm, Lãnh đạo cơ quan đã đưa ra nhiều giải pháp đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức một số chỉ tiêu thu, phát triển người tham gia nêu tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, Nghị quyết số 28-NQ/TW và Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, cụ thể:

Bảng 6. Kết quả phát triển người tham gia BHXH, BHYT, BHTN của BHXH Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\BAO CAO 2024/ BÁO CÁO THỰC TẬP Đơn vị thực tập BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG

BÁO CÁO THỰC TẬP Đơn vị thực tập BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG BÁO CÁO THỰC TẬP Đơn vị thực tập BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG BÁO CÁO THỰC TẬP Đơn vị thực tập BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *