Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, sự phát triển của khoa học và kỹ thuật đang diễn ra nhanh chóng, đời sống kinh tế của con người đã và đang được cải thiện đáng kể nhưng chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức của sự phát triển. Đó là nguy cơ suy giảm từng ngày, từng giờ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự suy thoái các yếu tố căn bản của môi trường sống. Tài nguyên rừng – một trong những nguồn tài nguyên có khả năng tự tái tạo và có tính quyết định trong việc duy trì cân bằng sinh thái toàn cầu đang đứng trước nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng cả về lượng và chất. Các nhà khoa học đã cảnh báo, mất rừng không chỉ đơn thuần là sự suy giảm một nguồn tài nguyên mà nó còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng như quá trình sa mạc hoá; các thiên tai như lũ lụt, lở đất, hạn hán và các tác hại về môi trường sinh thái như phá hoại sinh cảnh, tuyệt chủng các loài sinh vật, ô mhiễm nguồn nước,… Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển cũng đang đứng trước những nguy cơ khủng hoảng về môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Cho đến nay, bên cạnh việc đem lại lợi ích kinh tế, chúng ta không thể phủ nhận được vai trò cực kỳ quan trọng của rừng nước ta trong việc giữ đất, giữ nước, điều hoà không khí và bảo vệ môi trường sinh thái. Trước những biến đổi về môi trường trong thời gian qua, chúng ta càng hiểu được tầm quan trọng của rừng.

Bên cạnh lợi ích về kinh tế, rừng có vai trò hết sức quan trọng trong việc giữ đất, giữ nước, điều hòa không khí và bảo vệ môi trường sinh thái. Hiện trạng mất rừng và suy thoái rừng đã và đang gây ra những hậu quả vô cùng tai hại cho đời sống nhân dân cũng như sự ổn định nhiều mặt của đất nước. Do vậy, bảo vệ rừng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường đòi hỏi Nhà nước phải có chế độ quản lý bảo vệ thích hợp nguồn tài nguyên này, đặc biệt là bảo vệ bằng pháp luật. Trong những năm qua, mặc dù Quốc Hội đã thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ngày 03/12/2004 (sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ngày 12/8/1991), Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20/6/2012 và Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản như: Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007, Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009, đến nay là Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013. Tuy nhiên, thực tiễn vi phạm hành chính về lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp và các quy định của pháp luật cũng chưa toàn diện để xử lý, giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Do đó, việc nghiên cứu về thực trạng pháp luật xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng để tìm ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này luôn là vấn đề cấp thiết đặt ra.

Là thành phố trực thuộc Trung ương, nhưng Đà Nẵng lại có diện tích rừng giàu tài nguyên, có giá trị lớn về đa dạng sinh học với 28.000 ha rừng đặc dụng, trong đó có 15.000 ha rừng nguyên sinh, ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch. Song cũng chính vì vị trí không quá xa so với trung tâm đô thị nên tình trạng rừng bị xâm hại cũng diễn biến rất phức tạp.

Đây là vấn đề rất phức tạp và bức xúc hiện nay, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành cần phải có sự quan tâm, chú trọng của các cấp, các ngành chức năng và cộng đồng xã hội đồng thời có những giải pháp tích cực để ngăn chặn, xử lý kịp thời và có hiệu quả theo quy định của pháp luật.

Từ những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ luật học. Đề tài được thực hiện sẽ góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về xử phạt VPHC và nâng cao hiệu quả trong hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu:

Đề tài có mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận về xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, trên cơ sở đó tìm ra những bất cập, vướng mắc ngay trong các quy định và thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng;

– Phân tích và đánh giá thực trạng VPHC và hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

– Phân tích và kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử phạt VPHC cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng; thực trạng xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng và tìm ra phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu là một vấn đề có nội dung rất rộng, trong khuôn khổ của một luận văn cao học, học viên chỉ đề cập và nghiên cứu một cách khái quát những vấn đề cơ bản về pháp luật về xử phạt VPHC và thực trạng xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại địa bàn thành phố Đà Nẵng trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến nay.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Bên cạnh đó, học viên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể để giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý về xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng góp phần nâng cao lý luận, nhận thức về xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.

Những kết luận rút ra từ tình hình VPHC và thực tiễn xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng còn là cơ sở để hình thành phương hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý VPHC nói chung và nâng cao hiệu quả hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng nói riêng.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp tích cực cho việc hoàn thiện pháp luật về xử lý VPHC. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng và ban hành nghị định quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng.

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo học tập, nghiên cứu cho sinh viên và các đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề này.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.

Chương 2. Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng.

Chương 3. Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ

BẢO VỆ RỪNG

    1. 1.1. Quan niệm về quản lý và bảo vệ rừng

Quản lý và bảo vệ rừng là quá trình các chủ thể quản lý nhà nước xây dựng chính sách, ban hành pháp luật và sử dụng công cụ pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm đạt được yêu cầu, mục đích bảo vệ rừng nhà nước đã đặt ra.

    1. 1.2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng
      1. 1.2.1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và bị xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

      1. 1.2.2. Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Mặt khách quan; Mặt chủ quan; Chủ thể của vi phạm hành chính; Khách thể của vi phạm hành chính.

      1. 1.2.3. Phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Theo Nghị định 157/2013/NĐ-CP, có 3 nhóm hành vi VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, bao gồm: Vi phạm các quy định về quản lý rừng, sử dụng rừng; Vi phạm các quy định về phát triển rừng, bảo vệ rừng; Vi phạm quy định về quản lý lâm sản.

    1. 1.3. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng
      1. 1.3.1. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, quyết định các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp luật) đối với các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

      1. 1.3.2. Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Thứ nhất, mọi VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh;

Thứ hai, việc xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, đảm bảo công bằng, đúng quy định của pháp luật;

Thứ ba, việc xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng;

Thứ tư, chỉ xử phạt khi có hành vi VPHC về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản;

Thứ năm, người có thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng có trách nhiệm chứng minh VPHC;

Thứ sáu, đối với cùng một hành vi VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

      1. 1.3.3. Các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Các hình thức xử phạt

* Hình thức phạt chính: Cảnh cáo; Phạt tiền

* Hình thức phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động khai thác, chế biến lâm sản; Tịch thu tang vật, công cụ, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC (trừ trường hợp tang vật, phương tiện bị cá nhân, tổ chức VPHC chiếm đoạt, sử dụng trái phép).

* Người nước ngoài VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng còn có thể bị xử phạt trục xuất.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc cá nhân, tổ chức VPHC khắc phục những thiệt hại, tác động do hành vi VPHC gây ra, duy trì trật tự quản lý nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội và thể hiện được tính kiên quyết và triệt để trong xử lý VPHC về quản lý và bảo vệ rừng.

      1. 1.3.4. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng được quy định từ Điều 26 đến Điều 29 Nghị định 157/2013/NĐ-CP bao gồm: Thẩm quyền xử phạt VPHC của Kiểm lâm; Thẩm quyền xử phạt VPHC của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; Thẩm quyền xử phạt VPHC của thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân, Bội đội biên phòng, Quản lý thị trường.

      1. 1.3.5. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

1.3.5.1. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

* Xử phạt VPHC không lập biên bản

* Xử phạt VPHC có lập biên bản

Trình tự thủ tục: a. Lập biên bản VPHC; b. Xác minh tình tiết của vụ việc VPHC; c. Thực hiện việc giải trình; d. Ban hành quyết định xử phạt.

1.3.5.2. Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

* Trường hợp thi hành quyết định xử phạt không lập biên bản: Cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt và được nhận chứng từ thu tiền phạt.

* Trường hợp thi hành quyết định xử phạt có lập biên bản:

Cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng có trách nhiệm chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt VPHC. Nếu trong quyết định xử phạt VPHC có ghi rõ thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn ghi trong quyết định đó.

* Trường hợp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC:

Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt theo quy định.

    1. 1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng
      1. Thứ nhất, yếu tố chính trị, pháp luật; Thứ hai, yếu tố kinh tế; Thứ ba, các yếu tố xã hội; Thứ tư, yếu tố địa lý; Thứ năm, yếu tố cán bộ, công chức thi hành pháp luật.
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ RỪNG

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng
      1. 2.1.1. Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng có liên quan đến vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

2.1.1.1. Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.2. Đặc điểm kinh tế – xã hội

      1. 2.1.2. Tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng

Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng, trong 5 năm qua (2011-2015), lực lượng chức năng thành phố đã phát hiện 644 vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, bình quân hàng năm là 128,8 vụ. Trong 5 năm đó, số vụ vi phạm hành chính thấp nhất là năm 2011: 99 vụ, cao nhất là năm 2012: 162 vụ; 3 năm tiếp đó giảm dần, đến năm 2015 giảm còn 122 vụ.

Bảng 2.1. Thống kê tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực

quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ 2011 – 2015

Hành vi vi phạmNăm (vụ)Tổng

cộng

20112012201320142015
Lấn, chiếm rừng2849528
Khai thác rừng trái phép57138437
Vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng2181620637
Vi phạm các quy định của Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy rừng gây cháy rừng417515445
Phá rừng trái pháp luật5763425
Vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng2425861578
Vận chuyển lâm sản trái pháp luật1427171634108
Mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với các quy định của Nhà nước4047553943224
Vi phạm thủ tục hành chính trong quản lý rừng, sử dụng rừng; mua, bán, vận chuyển, chế biến, kinh doanh, cất giữ lâm sản36912762
Tổng cộng99162133128122644

(Nguồn: Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng)

      1. 2.1.3. Hậu quả và nguyên nhân của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.1.3.1. Hậu quả

Thứ nhất, đối với nền kinh tế: Các tổn thất về kinh tế ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống. Người dân phải chịu cảnh giá cả thực phẩm và nhiên liệu leo thang; Nhà nước phải đối mặt với việc lợi nhuận từ các ngành du lịch và công nghiệp giảm sút đáng kể, nhu cầu thực phẩm và nước sạch của người dân sau mỗi đợt bão lũ rất cấp thiết, chi phí khổng lồ để dọn dẹp đống đổ nát sau bão lũ…

Thứ hai, đối với môi trường: Nạn chặt phá rừng làm giảm sự đa dạng sinh thái và môi trường bị suy thoái, làm tăng sự xói mòn đất ở các khu rừng đầu nguồn gây nên các trận lũ lụt, hạn hán. Ngoài ra, nạn phá rừng còn là một nhân tố đóng góp cho sự nóng lên của trái đất và được coi là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng hiệu ứng nhà kính.

Thứ ba, đối với an ninh chính trị, văn hoá – xã hội: Những tác hại của vi phạm hành chính trong quản lý và bảo vệ rừng đã ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Thứ tư, đối với công tác quản lý: VPHC trong quản lý và bảo vệ rừng làm cho các cơ cơ quan quản lý cấp cơ sở gặp nhiều khó khăn do hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, các giải pháp chống buôn bán, vận chuyển, chặt phá rừng còn mang tính tình huống, nặng về hành chính chưa giải quyết triệt để tận gốc.

2.1.3.2. Nguyên nhân

Nguyên nhân khách quan:

Thứ nhất, lợi nhuận trong khai thác, buôn bán gỗ rất lớn dẫn đến người dân ở những nơi có sẵn rừng khai thác đem bán, cung cấp cho thị trường.

Thứ hai, chưa có một chế tài đủ mạnh để chặn đứng nạn phá rừng, hậu quả do vi phạm pháp luật ngày càng nghiêm trọng.

Thứ ba, việc xử lý tang vật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng hiện nay gặp không ít khó khăn.

Thứ tư, giới hạn phạm vi định lượng để xử lý hành chính hoặc chuyển sang truy cứu trách nhiệm hình sự còn quá rộng tạo kẽ hở cho kẻ phạm tội lợi dụng, coi thường thường pháp luật.

Thứ năm, các vụ VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng diễn ra hầu hết ở các vùng xa xôi, hẻo lánh trong khi trang thiết bị, phương tiện cần thiết thiếu thốn, chưa phát hiện xử lý kịp thời các hành vi vi phạm các quy định của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, nhiều vi phạm diễn ra trên thực tế không bị xử lý.

Nguyên nhân chủ quan:

Thứ nhất, một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa xác định công tác Quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp là thuộc trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương.

Thứ hai, trình độ nhận thức, việc áp dụng các quy định pháp luật, kỹ năng xử lý vi phạm của một số công chức Kiểm lâm còn thấp.

Thứ ba, công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và cơ chế chính sách về lâm nghiệp chưa được thực hiện có hiệu quả trên địa bàn.

Thứ tư, sự phối hợp giữa các lực lượng Kiểm lâm, Công an, Quân đội và sự phối hợp giữa các quận – huyện giáp ranh trong công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn còn chưa chặt chẽ, thường xuyên, liên tục.

Thứ năm, cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao, lực lượng quản lý và bảo vệ rừng chưa đủ mạnh để trấn áp “lâm tặc”.

    1. 2.2. Tình hình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng
      1. 2.2.1. Quan điểm và các văn bản của thành phố Đà Nẵng về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Nhờ sự chỉ đạo, triển khai liên tục, quyết liệt và đồng bộ các giải pháp của UBND thành phố Đà Nẵng, đến nay, tình hình khai thác, vận chuyển, kinh doanh lâm sản, động vật rừng trái phép đã được ngăn chặn, kiểm soát và từng bước ổn định, góp phần cùng với nhiệm vụ phát triển rừng đã nâng dần độ che phủ rừng qua từng năm; hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từng bước mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố.

      1. 2.2.2. Kết quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng

Thực tế cho thấy, cơ quan chức năng của thành phố Đà Nẵng đã có nhiều cố gắng trong triển khai thực hiện việc xử lý VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng. Coi đây là một trong những biện pháp mang tính răn đe nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm tiếp theo, đa số các vụ vi phạm đều đã được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Theo thống kê, giai đoạn 2011 – 2015 trong tổng số 644 vụ vi phạm được phát hiện, đã xử lý 592 vụ, chiếm 91,9%, thu nộp ngân sách Nhà nước 2.849,3 tỷ đồng.

Qua xử lý các vụ VPHC về quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong 05 năm từ 2011 – 2015, đã tịch thu được 374,7m3 gỗ các loại và nhiều loại lâm sản như gốc rễ cành nhánh, củi, mây…, động vật rừng như vọoc, rắn, trăn, khỉ, chim, tê tê…. Các vụ bắt giữ liên quan đến động vật hoang dã bất hợp pháp từ năm 2011 – 2015 ở Đà Nẵng cho thấy có 761 cá thể động vật đã bị thu giữ và 263,2 kg thịt và bộ phận của chúng. Chuyển giao Trung tâm cứu hộ 01 cá thể động vật hoang dã quý hiếm (Vọoc), thả lại vào rừng tự nhiên 599 cá thể (2011: 137 cá thể, 2012: 105 cá thể, 2013: 138 cá thể, 2014: 16 cá thể, 2015: 203 cá thể), tiêu hủy 161 cá thể động vật hoang dã chết và 263,2 kg thịt và bộ phận của chúng.

Ngoài số vụ vi phạm đã được xử lý theo đúng quy định của pháp luật, thực tế cho thấy vẫn còn tồn tại một lượng không nhỏ số vụ vi phạm chưa bị xử lý hoặc đã có quyết định xử lý nhưng chưa được thực hiện.

Ngoài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này, trong 5 năm qua, các ngành chức năng của thành phố Đà Nẵng đã khởi tố 12 vụ án hình sự:

      1. 2.2.3. Những hạn chế, bất cập về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng

Thứ nhất, số vụ VPHC về quản lý và bảo vệ rừng được kiểm tra, phát hiện và xử phạt hành chính còn ít hơn nhiều so với tổng số lượng vụ VPHC trên thực tế. Vẫn còn để lọt nhiều hành vi VPHC trong quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa có địa bàn khó khăn, hiểm trở.

Thứ hai, chưa đẩy lùi được tình trạng VPHC trong quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố.

Thứ ba, công tác xử lý VPHC còn kéo dài dây dưa, nhiều hành vi vi phạm mặc dù đã có quyết định xử phạt hành chính nhưng việc thực thi quyết định khá chậm do đối tượng vi phạm cố tình chây ỳ hoặc bỏ trốn.

Thứ tư, tỷ lệ các vụ vi phạm về bảo vệ và phát triển rừng bị khởi tố, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật còn thấp.

Thứ năm, một số quy định của pháp luật liên quan đến công tác xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng còn bất cập:

* Theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 43 Luật xử lý vi phạm hành chính thì Kiểm lâm viên chỉ có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền, ngoài ra không có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện VPHC; Kiểm lâm viên và Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm không có quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả dẫn đến việc bất hợp lý và ách tắc trong quá trình xử lý.

* Theo quy định tại Khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính thì việc gia hạn tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, chứng chỉ hành nghề không được quá 30 ngày. Nhưng trong trường hợp tạm giữ để đảm bảo thi hành quyết định xử phạt thì không thể biết trước người bị xử phạt sẽ thi hành quyết định sớm hay trễ (trong thời gian 30 ngày hay sau đó), có khiếu nại, khởi kiện hay không nên không thể xác định được thời hạn để gia hạn và nếu gia hạn tạm giữ đến một thời điểm mà đến thời điểm đó người vi phạm chưa nộp phạt thì có trả lại tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề hay không. Quy định này mâu thuẫn với quy định tại Khoản 2 Điều 126 Luật này là “tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt phải được trả ngay cho người bị xử phạt sau khi thi hành xong quyết định xử phạt“.

* Bất hợp lý còn thể hiện trong việc khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính và khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện VPHC. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm lại không có quyền khám phương tiện vận tải, đồ vật và khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện VPHC trong khi chức danh này thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật luật được quy định cao hơn nhiều so với Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm và Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động nên gặp nhiều khó khăn và giảm hiệu quả trong thực thi công vụ. (Khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính và Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện VPHC được quy định tại Điều 128 và Điều 129 Luật Xử lý VPHC, trong đó không quy định thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm).

* Về chức năng nhiệm vụ của Kiểm lâm: Kiểm lâm viên phải quản lý một diện tích rừng lớn, lại phân bố trên một địa bàn rộng, với địa hình rất phức tạp. Khi thực hiện nhiệm vụ của mình Kiểm lâm viên phải thực hiện 7 nhiệm vụ (quy định tại Quyết định số 83/2007/QĐ-BNN ngày 04/10/2007 về nhiệm vụ công chức Kiểm lâm địa bàn cấp xã). Trong đó có nhiệm vụ quan trọng là kiểm tra hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản, phát hiện các vụ phá rừng, khai thác rừng, vận chuyển, buôn bán lâm sản và động vật rừng trái phép. Nhưng theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 16 Quyết định số 59/2005/QĐ-BNN ngày 10/10/2005 quy định về việc kiểm tra, kiểm soát lâm sản thì phải có ít nhất 02 cán bộ Kiểm lâm. Như vậy, khi phát hiện có vụ vi phạm Kiểm lâm viên phụ trách địa bàn nếu thực hiện đúng quy định của Ngành thì không được kiểm tra, bắt giữ tang vật, phương tiện vi phạm hoặc phải chấp nhận vi phạm quy định của ngành để ngăn chặn, bắt giữ.

* Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản: Hành vi vi phạm gây hậu quả mà tang vật là thực vật rừng nhóm IA, động vật rừng nhóm IB vượt quá mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa quy định tại Điều 21, 22, 23 (trừ hành vi nuôi động vật rừng nhóm IB) được xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự;

Và quy định tại điểm c, khoản 8, Điều 21 Nghị định 157/2013/NĐ-CP: Người có hành vi săn, bắn, bẫy, bắt, nuôi, nhốt, lấy dẫn xuất từ động vật rừng; giết động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB trái quy định của pháp luật có giá trị từ trên 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 7 của Nghị định này) bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng.

Như vậy, theo quy định trên thì các hành vi săn, bắn, bẫy, bắt, nuôi, nhốt, lấy dẫn xuất từ động vật rừng; giết động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB chỉ bị xử lý hình sự nếu giá trị tang vật là động vật rừng, nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB có giá trị trên 100 triệu đồng. Tức là phải định giá để xác định giá trị của cá thể động vật bị xâm phạm để xử lý.

Trong thực tế việc định giá các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm được pháp luật bảo vệ và nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại gặp rất nhiều khó khăn đối với các cơ quan chuyên môn.

* Trên thực tế phát hiện thêm hành vi vi phạm đối với cây rừng tự nhiên nhưng chưa có chế tài xử phạt. Hiện nay, các khu rừng tự nhiên của thành phố Đà Nẵng xuất hiện hiện tượng “ken cây” làm cây rừng chết dần theo thời gian (vạt vỏ quanh thân cây rừng). Nghị định 157/2013/NĐ-CP chưa quy định xử phạt đối với hành vi này nên thực tế để xử lý trường hợp trên gặp vướng mắc, cụ thể:

+ Không thể xử lý người có hành vi ken cây rừng về hành vi khai thác rừng trái phép vì người vi phạm không lấy lâm sản.

+ Xử lý về hành vi phá rừng trái pháp luật thì không xác định được diện tích rừng vi phạm để xử phạt vì khi ken cây người vi phạm chỉ chọn những cây lớn để ken và tại thời điểm ken cây thì cây rừng chưa chết.

* Bất cập trong quản lý động, thực vật rừng:

Theo Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (sau đây gọi là Nghị định 32/2006/NĐ-CP), thì:

– Nhóm I: Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại gồm:

+ Thực vật rừng nhóm IA có 15 loài;

+ Động vật rừng nhóm IB có 62 loài.

– Nhóm II: Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại gồm:

– Thực vật rừng nhóm IIA có 37 loài;

– Động vật rừng nhóm IIB có 89 loài.

Và theo Danh mục động vật rừng thông thường được ban hành kèm theo Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/9/2012 của Bộ NN&PTNT quy định về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động rừng vật thông thường (sau đây gọi là Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT) có 160 loài.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chỉ xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự đối với 77 loài thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác sử dụng thuộc Nhóm I và 136 loài thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác sử dụng thuộc Nhóm II có trong Danh mục được ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP và 160 loài động vật rừng thông thường có trong Danh mục được ban hành kèm theo Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT.

Nhưng trên thực tế thì có hàng nghìn loài thực vật rừng, thực vật rừng khác cũng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm cần được ưu tiên bảo vệ và có nguy cơ tuyệt chủng nhưng không có tên trong Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Danh mục động vật rừng thông thường. Như vậy, không thể xử phạt VPHC hoặc xử lý hình sự đối với những loài thực vật rừng, động vật rừng khác (không có tên trong 2 Danh mục trên) vì ko có căn cứ của pháp luật. Điều này gây ra khó khăn trong quá trình quản lý thực vật rừng, động vật rừng tại địa phương, tạo kẽ hở pháp luật cho các đối tượng săn, bắn, bẫy bắt, nuôi nhốt, giết mổ, kinh doanh động, thực vật rừng mà không có chế tài để xử lý.

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP

NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ RỪNG

    1. 3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Thứ nhất, xuất phát từ những hạn chế bất cập về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng như: Số vụ vi phạm hành chính về quản lý và bảo vệ rừng được kiểm tra, phát hiện và xử lý còn ít so với thực tế, vẫn còn để lọt nhiều hành vi vi phạm, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa có địa bàn khó khăn, hiểm trở; một số quy định của pháp luật liên quan đến công tác xử phạt vi phạm hành chính còn bất cập, đặc biệt quy định về chức năng, nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách về bảo vệ rừng là lực lượng Kiểm lâm;…

Thứ hai, xuất phát từ tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng trước bối cảnh nước ta đang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi sự tăng cường vai trò pháp chế xã hội chủ nghĩa, sự thượng tôn pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm cả pháp chế trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng nhằm ổn định trật tự xã hội.

Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu đảm bảo quyền con người, quyền công dân, khắc phục chính các tồn tại của chế định này trong pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.

    1. 3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Thứ nhất, phải dựa trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng.

Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.

Thứ ba, phải dựa trên cơ sở bảo vệ, bảo tồn và phát triển kết hợp với khai thác, sử dụng rừng một cách bền vững.

Thứ tư, hợp tác và hội nhập là xu hướng tất yếu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng nói riêng.

    1. 3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
      1. 3.3.1. Các giải pháp hoàn thiện nội dung pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Đề nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định của pháp luật:

* Luật xử lý vi phạm hành chính:

– Sửa đổi Khoản 1, 2 Điều 43: Bổ sung thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cho Kiểm lâm viên; thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả cho Kiểm lâm viên và Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm.

– Sửa đổi Khoản 8 Điều 125: Quy định thêm thời gian gia hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, chứng chỉ hành nghề (có thể quá 30 ngày) nếu người vi phạm không chấp hành quyết định xử phạt hoặc có khiếu nại, khiếu kiện về quyết định xử phạt vi phạm hành chính để đảm bảo việc thi hành quyết định xử phạt và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 126 Luật này là “tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt phải được trả ngay cho người bị xử phạt sau khi thi hành xong quyết định xử phạt“.

– Sửa đổi Điều 128 và Điều 129: Bổ sung thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm về Khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính và Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

* Nghị định 157/2013/NĐ-CP:

– Sửa đổi Điểm a Khoản 2 Điều 7 và Điểm c Khoản 8 Điều 21: Không cần định giá để xác định giá trị của cá thể động vật nhóm IB bị xâm phạm để xử lý hình sự mà chỉ cần có hành vi gây hậu quả mà tang vật là động vật nhóm IB và có hành vi săn, bắn, bẫy, bắt, nuôi, nhốt, lấy dẫn xuất từ động vật rừng; giết động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB trái quy định của pháp luật thì được xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự.

– Bổ sung vào Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi “vạt vỏ cây rừng”.

* Nghị định 32/2006/NĐ-CP:Bổ sung: Bổ sung thêm những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm chưa có vào Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm như: Khỉ mặt đỏ, Cáo lửa, Sóc bay đen trắng, Tê tê Java, Rùa núi vàng,…

* Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT: Bãi bỏ Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT: Vì trên thực tế có rất nhiều loài động vật rừng mà trong Danh mục các loài động vật rừng thông thường được ban hành kèm theo Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT không quy định. Việc quản lý động vật rừng chỉ cần áp dụng theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Ngoài quy định tại Nghị định này thì những loài động vật rừng khác mặc nhiên là loài động vật rừng thông thường, nếu chúng bị xâm hại sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

      1. 3.3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

* Thứ nhất, đối với Chi cục Kiểm lâm:

Một là, công tác xây dựng lực lượng.

Hai là, hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra trong bảo vệ rừng.

Ba là, đổi mới hoạt động kiểm tra quản lý và bảo vệ rừng.

Bốn là, nâng cao năng lực và phẩm chất cán bộ Kiểm lâm

Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền.

Sáu là, tăng cường công tác phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm với các cơ quan hữu quan có liên quan.

Bảy là, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào quản lý và bảo vệ rừng.

Tám là, kết hợp giữa cơ quan xử lý vi phạm với thiết chế tự quản, giám sát tại địa phương.

* Thứ hai, đối với các cấp, các ngành và chính quyền địa phương:

Một là, khắc phục những yếu kém, hạn chế trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Hai là, tăng cường biên chế cho lực lượng Kiểm lâm, đặc biệt là Kiểm lâm phụ trách địa bàn.

Ba là, khắc phục những hạn chế trong hoạt động quản lý của các cơ quan bảo vệ rừng

Bốn là, rà soát tổng diện tích và rừng hàng năm để có phương án bảo vệ, có chính sách khuyến khích xã hội hóa công tác trồng rừng và bảo vệ rừng.

Năm là, tạo công ăn việc làm, đào tạo nghề, nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số, tạo đầu ra cho các sản phẩm nông lâm kết hợp, chế biến và bảo quản nông sản…

KẾT LUẬN

Rừng là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đang trong tình trạng bị khai thác và sử dụng quá mức. Bảo vệ và phát triển rừng được xem là chiến lược quốc gia hiện nay nhằm duy trì sự cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường. Do vậy, công tác xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng để lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực này không thể xem nhẹ.

Những năm gần đây, diện tích rừng bị tàn phá vẫn không giảm và đang là vấn đề đặc biệt quan tâm của các cấp các ngành và chính quyền địa phương. Nguyên nhân khách quan là do áp lực về dân số ở các vùng có rừng tăng nhanh, đòi hỏi cao về đất ở và đất canh tác nên nạn phá rừng kiếm kế sinh nhai, lấy đất sản xuất vẫn ngày một gia tăng. Mặt khác, do cơ chế thị trường, giá cả một số mặt hàng nông, lâm sản tăng cao, nhu cầu về đất canh tác các mặt hàng này cũng tăng theo, nên đã tạo động lực người dân phá rừng để lấy đất trồng các loại cây có giá trị cao hoặc buôn bán, sang nhượng đất lâm nghiệp trái phép.

Việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật còn chậm, chưa kịp thời để xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Chưa có chiến lược hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, do vậy việc ban hành các văn bản còn mang tính giải quyết tình thế cấp thiết.

Có thể khẳng định rằng, công tác xử phạt VPHC đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, đồng thời nâng cao ý thức của người dân cũng như cán bộ nhà nước trong việc tăng cường phối hợp hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.

Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này còn chưa đồng bộ, chưa hoàn chỉnh, hiệu quả quản lý chưa cao, tính nhất quán chưa chặt chẽ gây ra sự khó khăn trong việc áp dụng cũng như thực hiện. Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật về xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là cần thiết để đáp ứng yêu cầu phòng chống vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng trong giai đoạn hiện nay. Với lý do đó, học viên chọn đề tài: “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu.

Mục đích của đề tài là đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại địa bàn thành phố Đà Nẵng. Bên cạnh đó tìm ra những bất cập, vướng mắc ngay trong các quy định và thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng; nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi VPHC trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Đề tài đã xây dựng được các phương hướng và đề ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng. Bên cạnh những giải pháp đã nêu trên, về cơ bản chúng ta vẫn cần những giải pháp về kinh tế, xã hội với mục đích nâng cao đời sống kinh tế, xã hội cho người dân, giảm dần áp lực của người dân vào rừng, tạo cho người dân thói quen sử dụng các sản phẩm thay thế các sản phẩm truyền thống lâu nay vẫn lấy từ rừng. Đồng thời, tạo sự phát triển bền vững cả về mặt sinh thái môi trường cũng như về kinh tế, giúp người dân hưởng lợi từ rừng một cách lâu dài và khoa học. Thực hiện đồng bộ các giải pháp về phát triển kinh tế – xã hội, sử dụng rừng và hưởng lợi từ rừng một cách bền vững và có hiệu quả lâu dài, có như vậy mới mong hạn chế và ngăn chặn được tình trạng phá rừng trái phép, xâm hại tài nguyên rừng như hiện nay./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HANH CHINH\NGO VAN TUAN\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *