Vai trò của Hương ước đối với Nhà nước tại thôn làng tại vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam hiện nay

Vai trò của Hương ước đối với Nhà nước tại thôn làng tại vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

Điểm nổi bật của dân tộc Việt Nam là yếu tố cộng đồng – một giátrị được

tạo lập, củng cố và duy trì qua nhiều thế hệ. Đó là sức mạnh truyền thống, vừa có tính quốc gia, lại vừa có tínhđịaphương được sảnsinh từ làng xã. Chiếucủavua Gia Long năm 1804 nêu rõ:“nước là họpcác làng mà thành. Từ làngmà đến nước, dạy dân nên tục, vương chính lấy làng làm trước”. Ngay cả thực dân Pháp khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, cũng phải rút ra kết luận: “Làng Việt Nam là cái chìa khóa để giải mã bí mật Việt Nam, thần kỳ Việt Nam” (P.Mus – học giả, sĩquan quânđội Pháp đầu thế kỷXX). Những quan niệm nhưthếđãxác nhận một thực tế hiển nhiên: làng Việt Nam từ xưa đến nay luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng trong tất cả các vương triều, nhànước,trong việc hoạchđịnhcác chiến lược cai quản, xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên,vớiđặc thù vốn có là tínhtựquản rất cao của thôn, làng theo tập tục “phép vua thua lệ làng” lại là một trở ngại lớn trong việc nhà nước muốn can thiệp, nắm bắt và quản lý đời sống xã hội ở thôn, làng. Về mặt chính quyền, nhà nước thông qua xã để quản lý dân làng, nhưng xã khó có thể làm tốt chức năng quản lý hành chính của mình nếu như không thông qua một cấp trung gian khác là thôn. Do đó, ngày 11 tháng 5 năm 1998 Chính phủđã đề ra Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, khẳng định: “Thôn, làng, bản, ấp không phải làmộtcấpchính quyền nhưng là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư, bảo đảm đoàn kết, giữ gìn trật tự an toàn xã hội vàvệ sinh môi trường, xây dựng cuộc sống mới, tương trợ giúp đỡ nhau trongsảnxuất và đờisống; giữ gìn, phát huy truyền thốngtốt đẹpvà thuần phong mỹ tụccủacộngđồng nhằm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốtquyền, nghĩa vụ của công dân và nhiệm vụcấptrên giao” [21, Điều 13]. Như vậy, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã cũng đã thể hiện rõ tinh thần nhà nước muốn thực hiện sự quản lý của mình đến cấp cơ sở nhỏ nhất trong cộng đồng dân cưthì trước tiên phải tiến hành thông qua việc nắm lấy thôn, làng.

Để làm được điều đó, song song với quá trình tái lập cấp thôn, nhànước cần phải có hướng phục hồi các yếu tố truyền thống, đặc biệt là sự xuất hiện trở lại của hàng loạt các thiết chế phi quan phươngở thôn, làng. Các thiết chế phi quan phương này chính là nơi lưugiữnhững giá trị và chuẩn mực củacộng đồng,điều chỉnh những hành vi ứng xửcủacon người. Sức sống của hươngướcvẫn còn ditồn

tới ngày nay, ngay cả trong khung cảnh xã hội nông thôn đang chuyển mìnhtừcổ truyền tới hiện đại. Bởi hương ước làmộtdi sản văn hóa lớn, có giá trị nhiều mặt, trong đónổibật nhất là vai trò quản lý xã hội nông thôn. Sẽ là phiến diện và không công bằng nếu cho rằng, ngày nay, sựbiến đổi mạnh mẽ của đời sống nông thôn Việt Nam, vấn đề hương ước chỉ còn là câu chuyện lịch sử. Nhìn vào thực tế của kinh tế thị trường, đô thị hóa, công nghiệp hóa, nhiều người hoài nghi cho rằng hươngước tự nó sẽ mất giá trị. Tuy nhiên, hương ước vẫn có cơ sở tồn tại và sẽ vẫn còn tồn tại. Khi cơsởhạtầng (kinhtế)thayđổithì kiến trúc thượng tầng (trongđócó nhà

nước, pháp luật,… và kể cả hương ước) cũng sẽ thay đổi theo – đó là quy luật. Song thay đổi – điều đó không có nghĩa là biến mất, hoặc mất đi hoàn toàn. Việc mất đi cóchăng chỉ là những hủ tục lạc hậu, những tàn dư cũ cổ hủ, lỗi thời (thậm chí kể cả tên gọi“hươngước”đi chăng nữa). Hươngướcnếuđượctích hợp,bổsung những nội dung mới, nó vẫn còn nguyên giá trị đúng với bản chất của nó là công cụ tự quản, chứađựng những quy định không trái luật và hỗ trợ cho luật; thực hiện chức năng giữ gìn vàphát huy những giá trị vật chất và tinh thần của làng xã trong thời hiện đại. Hiện nay Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, đề cao vị thếcủa pháp luật, song không phải vì thế mà xem nhẹ các công cụ điều chỉnh quan hệ xãhội khác, trong đó có hương ước. Thực tế, nếu biết kế thừa, khai thác trên tinh thần “gạn đục khơi trong”, phát huy những mặt tích cực, hợp lý và loại bỏ những yếutố lạc hậucủa hương ướccũ, chúng ta cóthể sửdụng hương ước như một phương tiện hỗ trợ cóhiệuquảtrong việc quản lý kinh tế – xã hội, đưa nông thôn Việt Nam vào quỹ đạo phát triển lành mạnh: dân chủ và pháp quyền, đoàn kết, hợp tác trong sựđồng thuận của cộng đồng. Đây là nhân tố cơ bản đảm bảo sự ổn định chính trị tích cực, lành mạnh, phát huy được quyền tự chủ, sáng tạo của từng địa phương, là tiền đềvà điều kiện của phát triển bền vững. Xét từ góc độ pháp lý và văn hóa pháp lý, việc xây dựng và thực hiện hương ước mới ở thôn, làng là việc làm quan trọng. Đây vừa là công cụ hỗ trợ cho quản lý nhà nước, có tác dụng tích cực tới quản lý hành chính,đồng thời phát huy được khả năng tự quản, tự điều chỉnh của cộng đồng dân cư.

Với những phân tích nêu trên, việc lựa chọnđề tài “Vai trò của hương ướcđối với quản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

– Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vai tròcủa hương ướcđối với quản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ,

– Xây dựng cơ sở cho việc đánh giá thực trạng vai trò của hương ước đối với quản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay,

– Đề xuất các quan điểm, giải pháp để phát huy vai trò của vai trò của hươngước đối với quản lý nhà nướctại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Phân tích những phương diện thể hiện vai trò của hương ước trên cơ sởphạm vi nội dung quản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ,

– Phân tích những yếu tố tác động đến vai tròcủa hương ước đối với quản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ,

– Nghiên cứu thực trạng vai trò của hương ước đối với quản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, chỉ rõ cả những bất cập còn tồn tại, cũng như nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó,

– Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm phát huy hiệu quả vai trò của hươngước đối với quản lý nhà nướctại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hương ước ở các thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ, vai trò của hươngước đối với hoạt động quản lý nhànướctạithôn, làng ở Việt Nam hiện nay.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Môi trường của làng Việt truyền thống mỗi miền Bắc – Trung – Nam khác nhau. Có làng trung du, có làng đồng bằng và ven biển, có làng cụm lại trên giảiđất cao giữa vùng chiêm trũng, có làng ở Nam Bộ (thường được gọi là ấp). Trong đó, ở nông thôn Nam Bộ và một số nơi khác, theo nhiều nhà quản lý, không nhất thiết phải có hương ước. Hương ước chỉtồntại phổ biến ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Do đó, đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu vai trò của hương ước vùng đồng bằng Bắc Bộ – nơi làng xã cổ truyền hình thành sớm, có kết cấu xã hội bền chặt, đồng thời cũng là nơi hương ước được soạn thảo và sửdụng nhiều nhất trong cả lịch sử và hiện tại.

Nguồn tư liệu chính của luận án là các bảnhương ước mới được soạn thảo từnăm 2000 đến nay của các thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay. Đồng thời luận án sử dụng một số bản hương ước cổ thời phong kiến để có sự so sánh với hương ước ngày nay. Luận án cũng kế thừa những thành quả nghiên cứu về làng Việt cổ truyền, nông thôn thời đại mới, về quản lý nhà nước, về hương ước, pháp luật trong mối quan hệ với hương ước đã được công bố từ trước đến nay.

Phạm vi thời gian: Luận án chủ yếu nghiên cứu giai đoạn từ năm 2000 trở lại đây.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quanđiểm củaĐảngCộng sản Việt Nam về chiến lược xây dựng nông thôn mới, về hoàn thiện pháp luật đảm bảo cho quá trình phát huy dân chủ ở cơ sở, xây dựng chính quyền ở cơ sở, cộng đồng làng xã ở Việt nam hiện nay. Đặc biệt là các quan điểm về văn hóa, quản lý nhà nướcvà tựquản cộng đồng, về thực hiện dân chủ cơ sở, quan hệ giữa pháp luật với hương ước, phong tục, tập quán.

+ Phương pháp phân tích và khái quát hoá: được sử dụng để phân tích, đánh giá các phương diện thể hiện vai trò, giá trị của hươngước đối với hoạt động quản lý nhà nước tại thôn, làng ở Việt Nam hiện nay.

+ Phương pháp so sánh: được sửdụng đểso sánh và đánh giá những giá trịcủa pháp luật và hương ước – những giá quy phạm xã hội có tác dụng to lớn trongđờisống xã hội nói chung và đời sống thôn, làng nói riêng.

+ Phương pháp nghiên cứu liên ngành: để nghiên cứu về bản chất, nội dung, vai trò của hương ước trong đời sống thôn, làng, luận án sử dụng phối kết hợp nhiều ngành khoa học khác nhau như: luật học, triết học, sử học, xã hội học.

+ Phương pháp thống kê, mô tả, tổng hợp, khảo sát xã hội học: được sử dụngđểthống kê, đánh giá thực trạng vai trò của hương ướctrongđờisống thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay.

5. Đóng góp mới của luận án

– Luận án đã nghiên cứu một cách hệ thống và khoa học lý luận về sựtựquản của thôn, làng, về nhu cầu quản lý nhà nước tại thôn, làng; xây dựng được lýthuyết về vai trò, các khía cạnh thể hiện vai trò của hương ước đối với hoạt động quản lý nhà nước tại thôn, làng.

– Luận án đi sâu tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân vai trò của hương ước đối với quản lý nhà nước tại thôn, làng.

– Luận án đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị của hương ước cũng như khắc phục những mặt hạn chế còn tồn tại của hương ước trong quản lý nhà nước tại thôn, làng ở Việt Nam hiện nay..

Kết quảnghiên cứucủa đề tài luận án là bổ sung quan trọng vào lý luận nhận thức về việc quản lý nhànướctại thôn, làng, góp phần làm phong phú thêm nhận thức về vai trò của hương ước đếnthực tế quản lý nhà nướctại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Luận án là công trình tham khảo cần thiết cho các nhà quản lý, các cán bộ làm công tác nghiên cứu và giảng dạy khoa học pháp lý, các nghiên cứu sinh, học viên cao học luật và sinh viên các trường luật.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổsung, hoàn thiện và làm sâu sắc những vấn đề lý luận về vai trò của hương ướcđối với quản lý nhà nướctại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Qua đó, góp phần phát triển, hoàn thiện những tri thức lý luận về luật học nói chung vàvềquản lý nhà nước tại thôn, làng, về vai trò của hương ước trong đời sống thôn, làng nói riêng.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

– Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứuvà giảng dạykhoa học pháp lý, cũng như các nhà hoạt động thực tiễn,

– Các giải pháp mà luận án đề xuất góp phần hoàn thiện chính sách về việc khai thác vai tròcủahương ướctrong quản lý thôn, làng ở đồng bằng BắcBộViệt Nam trong điều kiện hiện nay,

– Các giải pháp luận án đưa ra có giá trị tham khảo đối với các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luậtvề vấn đề xây dựng vàthực hiện hương ước,

– Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo giúp cho chính quyền cơsở vàbộ máytựquản ởthôn, làng vùngđồngbằng Bắc Bộ có thêm định hướngtrong công tác quản lý xãhội của địaphương mình, giúp cho các thôn, làng có giải pháp kết hợpđồng bộgiữa pháp luật và hương ước trong việc xây dựng nông thôn mới, thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở.

7. Cấu trúc của luận án

Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận về vai trò của hương ước trong việc quản lý nhà nướctại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.

Chương 3: Thực trạng vai trò của hương ướcđốivớiquản lý nhànướctại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay.

Chương 4: Quanđiểmvà giải pháp phát huy vai trò của hương ước đối với quản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay.

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. Tình hình nghiên cứu đề tài

Là đề tài hấp dẫn cả vềkhoa học, lý luận và thực tiễn, hương ước từ lâu đã là đề tài thu hútsựchú ý nghiên cứu của nhiều giới, nhiều thế hệ nghiên cứu trong và ngoài nước với nhiều cấp độ nghiên cứu: sách chuyên khảo, bài báo khoa học, đềtài nghiên cứu các cấp, xuất phát từ những quan điểm khác nhau, nhằm những mụcđích khác nhau và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng có giá trị. Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận án, tác giả thấy rằng cần tổng quan tình hình nghiên cứu ba nhóm công trình sau đây: Nhóm một: Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nướcđối với thôn, làng; Nhóm hai: Các công trình nghiên cứu về vai trò của hươngước đối với việc tựquản của thôn, làng; và Nhóm ba: các công trình nghiêncứu vềvai trò của hương ước trong việc quản lý nhà nướcđối với thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.

Vai trò của Hương ước đối với Nhà nước tại thôn làng tại vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam hiện nay
Vai trò của Hương ước đối với Nhà nước tại thôn làng tại vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam hiện nay

1.1.1. Nhóm các công trình nghiêncứuvềquản lý nhànướcđốivới thôn, làng

1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về vai trò của hương ướcđối với việc tự quản của thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam

1.1.3. Các công trình nghiên cứu về vai trò của hương ướcđối với hoạt độngquản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam

1.2. Đánh giá về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.2.1. Những thành tựu được kế thừa, sử dụng trong luận án từ các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, các công trình nghiên cứu được tác giả liệt kê trênđâyđã đạt được nhữngmụctiêunhất định mà đềtài đặt ra. Những kết quả nghiên cứu của các đề tài, các cuốn sách, luận án, luận văn, bài báo nêu trên lànhững cơ sở quan trọng và hữu ích để tácgiảcó thể tham khảo vàkế thừa, sửdụng trong quá trình hoàn thiện đề tài luận án của mình.

Về mặt lý luận: Các công trình nghiên cứu đã đạt được những nội dung cụthể như sau: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã lý giải được sự ra đời của các khái niệm “xã”, “thôn”, “làng”; ý nghĩa của cách dùng từ“làng xã”dưới góc nhìn lịch sử; quá trình trở lại của cấp thôn và phân biệt được vị trí của “xã”và “làng”, “thôn” trong thiết chế chính trị ở nông thôn. Thứ hai, xác định rõ mối quan hệ giữa nhà nước và thôn, làng trong thế thừa nhận sựtựquản của thôn, làng, có sựdung hòa, kết hợp uyển chuyển với chính sách, quản lý của nhà nước. Thứ ba, phân tíchđược những ưu điểm và nhược điểm của hương ước hiện nay, cũng nhưsựảnh hưởng tích cực và tiêu cực của hương ước đến đời sống nông thôn. Thứ tư, làm rõmối quan hệ giữa hương ước với pháp luật, hương ước với các quy phạm khác, và mối liên hệ giữa hương ước – pháp luật – các quy phạm xãhộikhác trong quá trình dân chủ hóa nông thôn; qua đó đánh giá về vai trò của hương ước trong việc thực hiện và phát huy dân chủ ở nông thôn hiện nay.

Về mặt thực tiễn: Thứnhất, các tác giả đã khắc họa được những chuyển mình đổi thay của thôn, làng trong giai đoạn thử thách quyết liệt giữa truyền thống và đổi mới, dân tộc và hiện đại, quốc gia và hiện đại, qua việc tiến hành khảo cứuđiền dã tại các làng cụ thể: Làng Tơ (nay thuộc xã Đông La, huyện Hoài Đức, Hà Nội) trong cuốn “Làng Việt đối diện tương lai hồi sinh quá khứ”; hay bốnlàngđược nghiên cứu trong cuốn sách “Làngở vùng châu thổ sông Hồng:vấn đề còn bỏ

28

ngỏ”: làng Tó (thuộc xã Tả Thanh Oai), thôn Mộ Trạch (huyện Bình Giang), làng Ninh Hiệp (huyện Gia Lâm), làng Hay thuộc xã Ninh Dân, huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ. Thứ hai, các tác giả đãphân tích những biểu hiện sựtựquảncủalàngđồng bằng sông Hồng trong điềukiện kinh tếthị trườngở Việt Nam hiện nay; từđó, đềxuấtmộtsốgiải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong tự quản của làng ở đồng bằng sông Hồng hiện nay. Thứ ba, các công trình đã nghiên cứu về vai trò củahương ước trong đời sống xã hộiở nông thôn với thực tiễnđi từlịch sửtrong triều Nguyễn, thời Lê sơ,đếnđời sốnghệnnay của các thôn, làng cụ thể được tiến hành khảo cứu điền dã nêu trên. Thứ tư, nghiên cứu về việc quản lý nhà nước đối với hương ước qua thực tế quản lý ở các tỉnh: Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình. Thứ năm, Qua nghiên cứu về kinh nghiệm quản lýnông thôn ở những nước có nền kinh tế nông nghiệp truyền thống tương đồng với Việt Nam như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, các tác giả đã rút ra được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện quá trình quản lý nhà nước giai đoạn xây dựng nông thôn mới.

1.2.2. Những vấn đề liên quan đến luận án chưa được nghiên cứu, đề cập

Xuất phát từnhững hướng tiếp cận, phạm vi, đối tượng nghiên cứu khác nhau nên số lượng công trình nghiên cứu về vấn đề vai trò của hương ước đối với việc quản lý nhà nướctại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay chưa nhiều. Mặc dù, có một số công trình, bài viết, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩcó đề cập đếnvai trò của hương ước trong quản lý xã hội nông thôn,sựquản lý nhànướcđối với hương ước; nhưng với mục đích và cách tiếp cận khác nhau, nên chođến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâuvềvai trò của hương ước đối với việc quản lý nhà nướctạithôn, làng. Do đó, vẫn còn những nội dung khoa học chưa được giải quyết, cụ thể như sau:

– Các tác giả mới chỉ đánh giá về vai trò của hương ước trong việc xây dựng quản lý nông thôn nói chung và vai trò quản lý của nhà nước đối với việc thành lập, ban hành nội dung hương ước; chứ chưa đánh giá được khía cạnh hương ước có tácđộng, giá trị như thế nào đến việc quản lý nhà nước ở nông thôn.

– Các công trình nghiên cứu mới chỉ nêu ra các khía cạnh tác động tích cực và tiêu cực của hương ước trong đời sống xã hội nông thôn, chứchưa xây dựng được lý luận toàn diện về khái niệm vai trò; các khía cạnh phương diện cụ thể thể

29

hiện vai trò của hương ước; những nhân tố tác động đến vai trò của hương ước đối với quản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.

1.2.3. Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu luận án

Từviệc đánh giá những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quanđã đượccông bố, đặt ra cho nghiên cứu sinh những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sau đây:

– Luận giải nội dung khái niệm “vai trò của hương ước đối với quản lý nhà nướctại thôn, làng”;

– Chỉ ra được các phương diện thể hiện vai trò của hương ước đối với việc quản lý nhà nước tại thôn, làng;

– Phân tíchđược các nhân tố tác động đến vai trò của hương ước đối với việc quản lý nhà nước tại thôn, làng.

– Trên cơ sở những phân tích lý luận đó, cần đưa ra đánh giá thực trạng vai trò của hương ước đối với việc quản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay và lý giải nguyên nhân của những thực trạng đó.

– Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy những giá trị của hương ước cũng như giảm thiểu những bất cập còn tồn tại của hương ước đối với việc quản lýnhà nướctại thôn, làng vùngđồngbằngBắcBộ, cụ thểlà những nhóm giải pháp trong hoạt động xây dựng hương ước, tổ chức thực hiện hương ước và kiểm tra, giám sát việc thực hiện hương ước.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Để giải quyếtđềtài luận án, các câu hỏi nghiên cứu và giảthuyết nghiên cứu được xây dựng và đặt ra như sau:

1. Vấn đề quản lý nhà nước đối với thôn, làng hiện nay cần nhìn nhận nhưthế nào cho phù hợp?

Giả thuyết nghiên cứu: Vấn đề quản lý nhà nước đối với thôn, làng từ lịch sử đến hiện tại đã diễn ra hai xu hướng: một là, nhà nước mặc kệ thôn, làng; hai lànhà nước tìm cách nắm và quản lý thôn, làng. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử đã cho thấy: một mặt, nhà nước không thể bỏ rơi thôn, làng, vì pháp luật của nhà nước sẽ bị đóng khung, chặn cửa trước lũy tre làng – trong khi thôn, làng lại là yếu tố quan trọng trong quá trình nhà nước muốn thực hiện sự quản lý của mình đối với toàn xã hội. Mặt khác, nhà nước cũng không thể hành chính hóa thôn, làng, biến thôn,

30

làng thành cấp chính quyền nối dài của cơ sở được, vì bản thân thôn, làng là một thiết chế tựquản khá độclậpvới những kết cấuxã hội – văn hóa khábềnvững. Vậy, nhà nước cần phải xác định: thừa nhận sự tự quản của thôn, làng, không can thiệp quá sâu vào công việc của thôn, làng. Nhà nước cần coi thôn, làng là cái đích mà quản lý nhànước hướngđếnnhưng cũngvừalà phươngtiện hỗtrợgiúp cho quản lý nhà nước hoàn thiện hơn. Muốn như vậy, nhà nước cần phải nắm bắt và sửdụng hươngướcthànhmộtcôngcụhiệuquảhỗtrợcho quá trình quản lý nhànước ở thôn, làng.

2. Nhà nước thực hiện hoạt động quản lý tại thôn, làng với những nội dung gì? Giả thuyết nghiên cứu: Nội dung quản lý nhà nước đối với thôn, làng không

chỉ nhắm đến vấn đề sưu thuế, binh lính như thời phong kiến. Mà ngày nay, nhà nước cần có sựquản lý toàn diện các lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, môi trường sinh thái đểnhằmđảmbảomộtnông thôn phát triển bềnvững. Theo đó, trong quản lý nhà nước đối với thôn, làng, có thể và cần phải phân biệt các mức độ quản lý khác nhau, cụ thể:

– Những vấn đề thuần túy là công việc của nhà nước, thôn, làng không được can thiệp;

– Những vấn đề mang tính tựquản của thôn, làng, nhà nước không cần (chưa cần) can thiệp;

– Những vấn đề vừa có sự quản lý nhà nước, vừa có sự tự quản của thôn, làng. 3. Những khía cạnhcụthể thể hiện vai trò của của hươngướcđốivới hoạt

động quản lý nhà nước tại thôn, làng là gì?

Giả thuyết nghiên cứu:Từnhững nội dung quản lý nhà nước tại thôn, làng, vai trò của hương ước sẽ được thể hiện ở các khía cạnh:

– Hương ước với vai trò là sự thỏa thuận ý chí của thôn, làngdướisựphê duyệt của cấp chính quyền, sẽ là cầu nối đểgiải quyết hài hòa mối quan hệ giữa quản lý nhà nước với tự quản của thôn, làng;

– Hương ước là công cụ để đảm bảo việc thực hiện dân chủ ở thôn, làng;

– Hươngướcgiúp nhà nước thực hiện hoạt động quản lýtạithôn, làng đượcđầy đủ và toàn diện hơn;

– Hương ước giúp cụ thể hóa, mềm hóa nội dung của pháp luật vào đời sống thôn, làng;

31

-Từđó,hương ướcgiúp nhà nướctinh gọn bộmáy quản lý, tiết kiệm nguồn chi ngân sách cho các hoạt động quản lý tại thôn, làng.

Kết luận chương 1

Sựtổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nướccho thấy, chủ đềhương ước và sựquản lý nhànướcở thôn, làng là một đề tài hấp dẫn được rất nhiều các học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trên bình diện nghiên cứu lý luận về hương ước, vềlàng xã và sự quản lý nhà nước ở thôn, làng, nhiều công trình khoa họccấpBộ,công trình nghiên cứu có sựhợp tác hỗtrợtừphía viện nghiên cứu nước ngoài hoặc các quỹ khoa học phi chính phủ, các luận án, luận văn đã tập trung nghiên cứu, phân tích về: cơ cấu và cá tính truyền thống của làng xã, sự thay mình chuyểnđổicủalàng xã trong giaiđoạncông nghiệp hóa- hiện đạihóa ngày nay; đặc điểm, vai trò của hương ước trong đời sống nông thôn cũng được làm sáng

tỏ; tái hiện mối quan hệ hai chiều xuyên suốt từlịch sửđến hiện tại giữa nhà nước và thôn, làng nhằm đảm bảo sựtựquản của thôn, làng trong phạm vi quản lý của nhà nước. Trên bình diện nghiên cứu ứng dụng thực tiễn cũng có những công trìnhđi vào nghiên cứu vai trò của hương ước trong quản lý xã hội ở mộtđịa phương cụthể (Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình), sự quản lý của nhà nước đối với thôn, làng trong một giai đoạn lịch sử ứng với một triều đại nhất định.

Tuy nhiên, đa phần các công trình nghiên cứu đề cập tới hương ước đềuđược triểnkhai trong bối cảnh nghiên cứu làng xã, do vậy, nặngvề góc độ lịch sử- văn hóa – xã hội và thiếu một cái nhìn của khoa học luật học. Các nhà nghiên cứu lịch sử thường lấy những dữ kiện của hương ước nổi trên bề mặt của cuộc sống làng mạc làmđốitượngnghiêncứuvà xem chúng như là những hiệntượngvăn hóa. Do vậy, hương ước – một hệ thống luật lệ thành văn rất có giá trị về mặt pháp lý cũng chỉ được sử dụng như một nguồn tài liệu để minh họa mặt này hay mặt khác của đời sống làng xã cổ truyền. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu luật học khi triển khai một số đề tài cóđề cập đến hương ước thì chưa giải quyết trọn vẹn được vấn đề của hương ước dưới góc độ pháp lý, đặc biệt là cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đi vào phân tích, luận giải, đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống vấn đề vai tròcủa hương ước đối với quá trình quản lý nhà nước ở thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay. Bởi thế, tác giả thấy rằng cần phải tiếp tục nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ luật học để góp phần đáp ứng những nhu cầu lý luận và thực tiễn đặt ra.

32

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HƯƠNG ƯỚC ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TẠI THÔN, LÀNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VIỆT NAM

2.1. Hương ước trong đời sống thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam 2.1.1. Thôn, làng và tự quản của thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam 2.1.1.1. Quan niệm về thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam

Làng Việt được hình thành từ cuối thời nguyên thủy một cách tự nhiên, do yêu cầu nội tạitừđờisống chung của cộng đồng mà không có sự can thiệp của các thế lực bên ngoài [71, tr. 47]. Thờikỳ Bắc thuộc, chính quyền tìm mọi cách vươn xuống tậncơ sở đểnắm lấy vàsửdụng làng Việt truyền thống như một côngcụphục vụcho mưuđồthống trịvàđồng hóa của chúng. Đầu thế kỷthứVII, chính quyền đô hộ đãthiết lập chính quyền cấp cơ sở là“xã”, mỗixã tương ứng với một làng, xuất hiện cách gọi chung “làng,xã” vàkéo dài đến tận ngày nay. Đầuthế kỷ thứX, chính quyền tự chủ họ Khúc từng bước tiến hành cải cách hành chính, chia cả nước thành năm cấp hành chính: lộ, phủ, châu, xã, giáp. Khi cấp xã được nhànước chính thống hóa trở thành đơn vịhành chính cấpcơsởthì cấp “thôn”cũng dường nhưđồng thời xuất hiện với tư cách là đơn vị hành chính cấp cơ sở, tươngđương vớixã (tư liệu lịch sửsớmnhất mà hiện nay biết được có nói đến “thôn” làbài minh khắc trên quả chuông đồng có niên đại Mậu Thân, niên hiệu Càn Hòa thứ 6, năm 948, được lưu giữ tại nhà thờ Đức thánh Trần, thôn Nhật Tảo, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội, ngay tại dòng đầu ghi rõ “Giao chỉ huyện, Hạ Liêm thôn”. Theo tài liệu này, “thôn” được hiểu là đơn vịhành chính cấp cơsở,tương đương với “xã”). Nhưvậy, có thể nói trong thời kỳ Lý – Trần – Lê, “xã”, “thôn” là những cách gọi khác nhau của đơnvị hành chính cấp cơ sở, trong đó, “xã”, “thôn”đều được tổ chức tương ứng với đơn vị tụ cưtựnhiên của dân cư, đó là “làng”. Đến triều Nguyễn, việc tổ chức bộ máy hành chính có sựcải tổ lại, thôn không còn tương ứng với xã, mà có vẻ thôn là đơn vị hành chính dưới cấp xã. Nhà nước thông qua xã để quản lý dân làng, nhưngxã đểlàm tốt chức năng quản lý hành chính của mình đã thiết lập ra cấp thôn. Thôn vì thế đã trở thành đầu mối kết nối và điều hòa hai hệ thống quản lý: hành chính (xã) và tựquản (làng), tạo nên mô hình quản lý“xã thôn” theo khái niệm Giáo sư Nguyễn Hồng Phong đã sử dụng trong tác phẩm

33

“Xã thôn Việt Nam”. Mô hình xã – thôn được duy trì trong suốt các triều đại phong kiến, chođếnkhi thực dân Pháp chiếm được nước ta, chúng đã tìm mọi cách để duy trì hiện trạng này [108, tr. 62]. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị hành chính cấp xãdầnđượcmởrộng.Mới đầucó thể vài ba làng hình thành lênmộtxã, dần dần, xã tiếp tục mở rộng hơn, và cho đến nay, một xã có thể có địa giới tươngứng với địa vực của hàng chục làng (tất nhiên bên cạnh đó vẫn tồn tại một số xã chỉcó địa bàn tương ứng một làng). Ngày nay, nhà nước vẫn tiếp tục thừa nhận sựtồn

tại của thôn, làng. Nghị định số 29/1998/NĐ-CP của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ởxã, Điều 13 quy định như sau: “Thôn, làng, ấp, bản không phải là một cấp chính quyền, nhưng là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư”. Như vậy, với những kết quả nghiên cứu về tổchức chính quyền cơsởcủaNhànướcViệt Nam trong suốt chiều dài lịchsửcho thấy, việc phân định rạch ròi ba khái niệm“thôn”, “làng”, “xã” là điều không dễ;tùy từng giaiđoạn lịchsửkhác nhau chúng cóthểcó những cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, xétmộtcách chung nhất, cóthểhiểu:“Làng”là khái niệm chỉ hình thức tụ cư tự nhiên, cộng đồng tự quản của người dân;“Xã” làkhái niệm chỉđơn vị hành chính lãnh thổ, một cấp chính quyền nhà nước; “Thôn” là khái niệm được dùng trong quản lý hành chính (và cả trong văn tế), nó có thể được xem nhưlàmột“đơnvị hành chính – lãnh thổ”dưới cấpxã. Trong lịch sử, thôn cóthểcó phạm vi không gian trùng hợp với làng, hoặc nhỏ hơn làng. Dưới chế độ mới, đa

số thôn có phạm vi không gian trùng với làng, vì vậy cách nói mới “thôn, làng” đã xuất hiện. Hiện nay, Nhà nước Việt Nam có chủ trương sáp nhập thôn nhằm mụcđích giảm bớt số người hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước như trưởng thôn, bí thư chi bộ; theo đó, thôn có thể có phạm vi không gian rộng hơn làng, tương ứng với phạm vi không gian của một số làng, tuy vậy, cách nói“thôn, làng” vẫn được sử dụng, kể cả trong văn bản hành chính. Do nhu cầu của quản lý, xã và thôn cóthể có nhiều biến đổi, nhưng làng vẫn luôn bền vững, thậm chí đến mức“siêu ổn định” [3, tr. 54].

Làng ở đồngbằngBắcBộ cónhững nét đặc thù so với “làng” ở đồng bằng Nam Bộ. Các khóm, ấp ở Nam Bộ có tính mở nhiều hơn, thường kéo dài hai bên bờsông hoặc hai bên đường lớn, chứ không bị bao vây khép kín bởi lũy tre làng như

34

làng ở đồng bằng Bắc Bộ. Các khóm, ấp ở Nam Bộ được thành lập do sự quy tụ, tập hợp tựnhiên của những con người phiêu tán, nên dân số có thể tăng giảm tùy theo tình hình sản xuất và đời sống. Người dân nếu thấy dễ sinh sống thì ở lại, thấy khó làm ăn thì chuyển đi nơi khác. Do đó, kết cấu khóm, ấp ở Nam Bộ không thể chặt chẽ như làng ở đồng bằng Bắc Bộ, thậm chí lúc đầu không có hương ước, lệ làng và

tộc ước như các làng miền Bắc [88, tr. 23].

Trên phương diện quản lý nhà nước, có thểthấy làng Việt truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ có những đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, làng là đơn vị kinh tế xã hội dựa trên sự liên kết các gia đình. Vai trò của dòng họvớitưtưởng “tộc quyền” chiếm vị trírất quan trọng trong đời sống xã hội – chính trị – pháp lý của người dân. Nó chi phối cách thứcxửsựcủa các thành viên cùng huyết thống, thậm chí còn tác động,ảnhhưởnglớn đếnviệctổ chức quyền lực và quản lý xãhộicủa nhà nước. Với tưtưởngtộcquyền, các dòng họ đều sửdụng tối đa tinh thần “đi việclàng để giữlấy họ”. Điềunày lý giải thực tếở nhiềuđịaphương, việc tranh giành quyền lực không chỉ diễn ra giữa các làng, màcòn diễn ra giữa các dòng họ trong một làng.

Thứ hai, mỗi làng là một đơn vị xã hội có tính địa vực và dân cư mang nặng tính cục bộ, bản vị. Làng là một cơ chế khép kín, một cộngđồngđộc lập, tựquản, mặc cho những biến động của xã hội, của đất nước, dân làng luôn biết cách làm giảm sựcan thiệptừbên ngoài,kể cảsựcan thiệp của nhànước để tiếp tục cuộc sống với nhịp điệu riêng của mình.

Thứ ba, trong phạm vi làng, tínhchất tựquản luôn song hành cùng quản lýnhà nước. Khi hệ thống quản lý hành chính cấp xã xuất hiện, hệ thống tự quản vẫn còn rất mạnh và giữvị trí chi phối đời sống dân làng. Trong quá trình vận hành, không phải lúc nào hai hệ thống này cũng thống nhất, mà nhiều khi chúng còn mâu thuẫn, thậm chí trái ngược và đối lập nhau. Tuy nhiên, theo xu hướng càng ngược về thờikỳ xa xưa thì tính tự quản càng mạnh, trái lại, yếu tố quản lý hành chính nhànước càng gần với ngày nay càng chiếm ưu thế hơn.

Thứ tư,đặcđiểmnổibật của văn hóa làng là tính cộng đồng và cộng cảm.Đây là đặc tính của cư dân nông nghiệp và là nền tảng cho thôn, làng ổn định, phát triển hàng nghìn năm. Tính cộng đồng, cộng cảm này làm cho “mỗicá nhân thuộc về làng trước khi thuộc về chính bản thân mình” [118, tr. 21]. Hay nói cách khác,

35

điểm đặc trưng nổi bật của làng Việt là tính liên kết chặt chẽ của những con người cùng chung sống trong một địa vực.

Ngày nay, đời sống kinh tế – xã hội có sự phát triển vượt bậc, làng Việt truyền thống cũng có sự vận động biến đổi. Người làng ngày nay đi làm ăn sinh sống ở khắp nơi trên cả nước, thậm chí cả ở nước ngoài, giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội vì vậy mởrộng rất nhiều. Yếu tố chính cư, ngụ cư không còn đậm đặc như trước mà có sự đan xen giữa những người từ làng khác, thậm chí xã khác. Các hộ gia đình trong làng dần chuyển ra sinh sống bám mặtđườnglớn, yếu tốcố kết trong làng không còn chặt chẽ như trước,yếutố “tộc quyền, huyết thống” cũng lỏng lẻo hơn. Đời sống kinhtế

văn hóa, xã hội, trình độ dân trí… của cư dân trong làng được nâng cao đáng kể.

Tuy nhiên, dù đời sống kinh tế xã hội có biến đổi nhưthếnào thì một điều có thể dễnhận thấy là ranh giới giữa nông thôn và đô thị vẫn chưa bị xóa bỏ, làng Việt vùngđồngbằngBắc Bộ với những dấu vết truyền thống vẫn còn tồn tại, văn hóa làng Việt với những giá trị đã được khẳng định qua thời gian vẫn còn tồn tại với sức sống mạnh mẽ của nó. Trong xã hội hiện đại, với triết lý quản lý nhà nước“xã hội to, nhà nước bé”, nhất là trong điều kiện cần có sự tự quản của cộng đồng thì vai trò của thôn, làng càng cần phải được khẳng định.

2.1.1.2. Tính tự quản của thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam

Từđiển tiếng Việt giải thích:”tựquản”là “tự mình trông coi, quản lý với nhau công việc của mình, không cần có ai điều khiển”[159, tr. 1670]. Theo quan niệm về tựquản địa phương được nêu tại Hiến chương Châu Âu của chính quyền tựquản địa phương năm 1985 thì, tự quản của thôn, làng có thể được hiểu là: quyền vàkhả năng thực sựcủathôn, làng được quyết định và quản lýmộtphần lớn các công việc xã hội, trong khuôn khổ pháp luật và phải chịu trách nhiệm nhằm phụcvụ lợi ích của dân cư địa phương (Hiến chương Châu Âu về chính quyền tựquản địa phương, Hội đồngChâu Âu, 1985định nghĩa “Tựquản địa phương được hiểu là quyền và khả năng thực sựcủa cơ quan tựquản địa phương đượcquyết định vàquản lý một phần lớn các công việc xã hội, trong khuôn khổ pháp luật và phải chịu trách nhiệm nhằm phục vụ lợiích của dân cưđịa phương”), theo đó, “tựquản”làmột sản phẩm hình thành của sự tự nguyện.

Nhìn từgócđộ cộng đồng, đó làsựtựnguyện xácđịnhnhững công việc thuộc khách thể của sựquản lý tập thể. Cùng với đó là sựtựnguyện thỏa thuận

36

những biện pháp quản lý như: xác định những điều khoản thưởng, phạt, tự nguyện đóng góp các nguồn tài chính cho tập thể để thực hiện các công việc chung.

Nhìn từ gócđộcá nhân, đólà sựtựnguyệncủa ngườidân trong việc tham gia hay ủy nhiệm cho người khác tham gia vào quản lý có tính chất tập thể, mỗi hoạt động của thành viên sẽ trở thành đối tượng quản lý của tập thể.

Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, đó làsựtựnguyện của nhà nước nhường quyền tự điều chỉnh một số vấn đề thuộc phạm vi nội bộ cho cộng đồng.

Hình thức tự quản của cộng đồng thôn, làng người Việt đã hình thành từ lâu trong lịch sử, có thể kể đến những nguyên nhân sau:

Một là, lịch sử đã chứng tỏ, nhà nước ở phương Đông nói chung, ở nước ta nói riêngđềura đời trên cơsở tập hợp các công xã nông thôn, tức nhà nướcxuất hiện là tổ chức liên làng, siêu làng. GS. Hà Văn Tấn cho rằng, từ mối liên hệ siêu làng mà hình thành ý thức cộng đồng siêu làng, rồi từý thức cộng đồng siêu làng tiền dântộchình thành ý thức cộngđồngsiêu làng dân tộc [142, tr. 51-58]. Điều đócó nghĩa là trước khi nhà nước ra đời, làng đã tồn tại như một thực thể riêng biệt với các thành viên, bộ máy quản lý, ý thức cộng đồng.

Hai là, ngay cả trongđiều kiệnxã hội có giai cấp và nhà nước, làng với tưcách là tập hợp của các cá nhân, tổ chức trên cùng một đơn vị cư trú (như: tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức quân sự); với sựđan xen của các mối quan hệ đa dạng (huyết thống, họ hàng, xóm, giáp, phường hội); sự dung hợp các hệ tư tưởng và tôn giáo, cùng với đặc trưng văn hóa tâm lý cộng đồng, đã tạo nên một thiết chếxã hội có “nội lực” mạnh mẽ, có thể duy trì được tính tự quản của mình để chống lại mọi sựthâmnhập từbên ngoài. Nói cách khác, bản thân làng đã luôn có sựđộc lập tương đối, kể cả với nhà nước.

Ba là, tính tựquản của thôn, làng được nhànước duy trì và dung dưỡng, bởi những lý do mang tính lịch sử khách quan, đến từsựhình thành nhà nước, nhu cầu quản lý và cả sự yếu kém trong quản lý của nhà nước giai đoạn đầu. Khi làng xãnhư một “tiểu quốc gia” với những mâu thuẫn ngầm trongnộibộ làng mà nhà nước khó có thể “xâm phạm” vào để điều hòađược, thì nhà nước đành “đểmặc” cho làng xã tựgiải quyết, chỉ cần trong phạm vi cho phép là không làm tổn hại đến nhà nước. Mặt khác, trong nhu cầu tồn tại của mình, nhànước cần sựđóng góp của người dânđể có sức người sứccủa dùng vào việc công và quốc phòng, nhưng ngườidânlại

37

chịu sựkiểm soát của làng xã về mọimặt từlâu đời. Do đó, nhànước phải đi đến người dân thông quabộ máy quản lý làng xã, theo hướngnhà nướcgiao chỉ tiêu, làng xã trực tiếp thực hiện, từ việc thu thuế, bắt lính, huy động lao dịch. Đổi lại, nhà nước muốn làng, xã làm lợi cho mình thì đương nhiên phải tôn trọng quyền tự quản – quyền “độc lập tương đối” của thôn, làng.

Nhu cầu thừa nhậnsựtựquản của thôn, làng từphía nhà nước vẫn đúng trong bối cảnh ngày nay, khi Nhà nước Việt Nam xác định mục tiêu xây dựng nhànước của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân. Cơ sở để nhà nước quản lý xã hội là quyền làm chủ của nhân dân lao động, ở hai phạm vi: làm chủ ở các đơn vị, tổchức, thiếtchếnhànước (với hình thức làm chủ bằng các thiết chếnhà nước) vàlàm chủ tại các cơ sở ở thôn, làng (thông qua các thiết chế phi nhà nước). Trên thực tế, không thể và không cần thiết phải nhà nước hóa mọi quan hệ xã hội, đặc biệt lànhững quan hệ giữa các thành viên của các cộng đồng dân cư ở các cơ sở. Chính vìvậy, việc thừa nhận sựtựquản của thôn, làng là một tất yếu khách quan trong quátrình phát triển của đời sống.

Có thể nhìn nhậnsựđộc lập trongtựquảncủathôn, làngvớisựquản lý của nhà nước ở các khía cạnh cụ thể như sau:

Về kinh tế: Tính tựquản của làng xãcổ truyền thời phong kiếnđược thể hiện ở việc phân chiaruộng đấtcông của làng xã và thu thuế. Theo danh nghĩa, tất cả ruộng đất đều thuộcquyền sở hữu của nhà vua. Tuy nhiên, việc phân chia ruộngđất công của làng xã thuộc về hội đồng kỳ mục – một thiết chế tựquản củathôn, làng; chính quyền nhà nước ít can thiệp vào.

Bước sang chế độ mới, việc chiếm hữu, sửdụng ruộng đất, việc thu thuế không còn là quyền và nhiệm vụ của thôn, làng nữa. Theo pháp luật hiện hành, xã làchính quyền cấp cơ sở trong bộ máy nhà nước, thôn, làng không phải là một cấp chính quyền, vì vậy nó không phải là một cấp ngân sách. Hiện tại, các khoản thu từ đất côngích trong thôn, làng (phần đất này không quá 5% quỹ đất nông nghiệp lấy từ đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản) phải nộp vào ngân sách nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý và chỉ được dùng cho nhu cầu công ích của xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật [128, khoản 3 Điều 132]. Như vậy, theo quy định của Luật đất đai năm 2013, phần đất thuộc quyền sử dụng chung của thôn, làng chỉ chiếm phần diện tích nhỏ, do làng tự canh tác và thu hoa lợi phục vụ

38

công ích của làng. Ngoài ra, nguồn thu chủ yếu của thôn, làng là từ các khoản đóng góp tự nguyện của người dân trong thôn, làng, các khoản ủng hộ, tài trợ của các cá nhân, tổ chức thuộc toàn quyền quyết định của dân làng [9, Điều 17], [168, Điều 10].

Về hành chính: Mỗi làng cổ truyền đều có bộ máy quản lý riêng, với thể chếluật lệ riêng. Cho đếnthời nhà Nguyễn, ở mỗi làng Bắc Bộ đều có hai thiết chếquản lý là cơ quan quyết nghị (hội đồng kỳ mục) và cơ quan chấp hành (lý trưởng, phó lý, trương tuần) [163, tr. 130]. Vớibộmáy hành chính riêng do chính dân làng thiết lập này, mọi công việc trong làng đều do làng tựgiải quyết, thông qua quyếtđịnh củaHội đồng kỳ mục. Làng hầu như chỉ liên kết vớibộ máy hành chính nhànước thông qua lý trưởng.

Ngày nay, theo qui định của pháp luật, thôn là sự hành chính hóa của làng, “Mỗi thôn có trưởng thôn, 01 phó trưởng thôn và các tổ chức tự quản khác của thôn” [8, khoản 1 Điều 4]. Cũng theo các quy định hiện hành, trưởng thôn vừa làđại diện cho cộng đồng dân cư, vừa là đại diện cho Ủy ban nhân dân xã, chịu sựquản lý và chỉ đạo của Ủy ban nhân dân xã. Trưởng thôn do nhân dân bầu (tại hội nghị thôn) và phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã công nhận. Ở thôn, làng ngày nay, không còn thiết chế tự quản có thẩm quyền quyết định tương tự Hội đồng kỳmục thời xưa, mà sựtựquản thể hiện qua thiết chế trưởng thôn chỉ dừng ở các công việc: tổ chức, xây dựng quy ước trong thôn, lập biên bản các trường hợp vi phạm pháp luật trên địa bàn thôn và báo cáo Ủy ban nhân dân xã xem xét xử lý hoặc báo cáo cấp trên theo quy định của pháp luật; tổ chức họp nhân dân thường kỳ và bất thường đểbàn bạc các vấn đề của thôn; huy động nhân dân trong thôn ngăn chặn, bắt giữ những người có hành vi phạm pháp quả tang, đồng thời báo ngay, hoặc đưa tớiỦyban nhân dân xã giải quyết. Như vậy,đứngởgócđộquản lý nhànước,trưởng thôn như một cánh taynốidàicủacấpchính quyền cơsởđểhỗtrợcho việc quản lý nhànướcở thôn, làng. Nhưng đứng từgóc độtựquản của thôn, làng, trưởng thôn do dân làng bầu lên (dưới thời phong kiến, họ không được xếp vào ngạch quan lại mà chỉ được coi là những “dân quan”) sống và làm việc trong cộng đồng làng. Trong đời sống hàng ngày, thiết chế này là thành phần quan trọng trong tự quản của làng.

Về văn hóa:Mỗilàng cổ truyền làmộtthiết chế văn hóa, có phong tục, tập quán, lệ làng riêng, có tín ngưỡng riêng, nghĩa địa riêng. Mỗi làng thờ một vị thần thành hoàng riêng, “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”.

39

Ngày nay, thôn, làng không còn là một đơn vị biệt lập khép kín, lốisống, cách ứng xửgiữa các làng không còn quá khác biệt,ởnhiều nơi trên miền Bắc,

nhiều làng sử dụng chung một nghĩa trang… Trên thực tế, chính quyền nhà nước đã trực tiếp tổ chức, quản lý đời sống văn hóa nói riêng, đời sống xãhộinói chung. Tuy nhiên, vẫn có những khoảng trống nhất định cho sựtựquản của dân làng, dân làng vẫn phải tựtổ chức, quản lý việc thực hành các nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo, ma chay, hiếu hỷ, theo phương châm:“sống nhờ làng, chết cũng nhờ làng”.

Về hìnhthức tựquản, Tự quản của thôn, làng được thực hiện thông qua sựvận hành của các tổ chức phi quan phương nhằm đáp ứng các nhu cầu trong nộibộcộng đồng. Nhà dân tộc học Trần Từ trong tác phẩm “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ” đã phânchia thiếtchếtựquản của làng thành các loại hình: giađình và dòng họ; xóm ngõ, giáp, phường, hội, và bộ máy quản lý làng xã.

Ngày nay, nhiều thiết chế cổ truyềnđãmất đi, chỉ có một số thiết chế vẫn còn giá trị trong các vấn đề như: (i) Nhằm giải quyết nhu cầu củng cố quan hệ huyết thống và thân tộc, được thực hiện thông qua thiết chế “dòng họ và gia đình”. Dòng họ tuy không đóng vai trò cốt yếu trong sản xuất, phát triển kinh tế, nhưng về mặt xã hội, họtồn tạinhư một sức mạnh tinh thần, tâm lý, ý thức rất lớn để phát huy truyền thống,để gắn kết các thành viênvớiquan niệm “một giọt máu đàohơn ao nước lã”, hay “chín đời còn hơn người dưng”. Sựvận hành của làng vùng đồng bằng Bắc Bộ thường phải dựa vào dòng họ,lấy dòng họ là một động lực. (ii) Đểcủng cố quan hệ láng giềng là nhiệm vụ của thiết chế “xóm ngõ”. Làng ở đồng bằng Bắc Bộ thường được phân thành các xóm, xóm lại phân thành nhiều ngõ với vài chục gia đình có quanhệ láng giềng với nhau. Chính lốisống quần cư trên cơsởmột nền nông nghiệp tự cấp, tự túc của xóm ngõ đã quy định thế ứng xử của người dân theo nguyên tắc “bán anh em xa, mua láng giềng gần”. (iii) Một sốlàng nghềvẫn còn giữ thiết chế phường, hội với mục đích tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất và kinh doanh, cùng giữ gìn nghề truyền thống của thôn, làng. Từ các thiết chế tựquản đó, tùy vào nhu cầu của từng địa phương ở từng giai đoạn đời sống xã hội nhấtđịnh, đã có rất nhiều các mô hình tự quản hiệu quả ra đời như “Khu dân cư tự quản bảo vệmôitrường”; “Gia đình an toàn – hạnh phúc -đạohạnh”, “xómđạobình yên”; “Cổng rào an ninh trật tự”, “camera an ninh”, “thắp sáng con đường”, “khu dân cư an toàn phòng, chống cháy, nổ” v.v… Trong các làng nghề thủ công nghiệp truyền thống

40

hoặc các làng nghề nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản) cung cấp lương thực, thực phẩm sạch theo tiêu chuẩn Vietgap hoặc Globalgap, tính tự quản càng trởnên cần thiết. Để có những sản phẩm như bún Phú Đô, nem Phùng, rau Vân Nội

[206], mở rộng hơn là vải thiều Thanh Hà, Lục Ngạn, nhãn lồng Hưng Yên… đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm đều rất cần đến vai trò tự quản của cộng đồng thôn, làng.Đặc biệt, trong điều kiện cả nước đang gồng mình chống dịch covid 19 hiện nay, vai trò tự quản của thôn làng càng trở nên đặc biệt có ý nghĩa.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Vai trò của Hương ước đối với Nhà nước tại thôn, làng tại vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam hiện nay

Vai trò của Hương ước đối với Nhà nước tại thôn làng tại vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam hiện nay Vai trò của Hương ước đối với Nhà nước tại thôn làng tại vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *