Tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô – Nghiên cứu trường hợp một số quốc gia Đông Nam Á
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU LUẬN ÁN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của Chính phủ các nước, các tổ
chức nhân quyền và các cá nhân, tổ chức kinh tế khác…Vì vậy, xóa đói giảm nghèo là nhiệmvụquan trọng hàngđầu,được các quốc gia ưu tiên thực hiện. Trong bối cảnh đó, tài chính vi mô (TCVM) được xem là một trong những công cụ đắc lực cho công cuộc xóađóigiảm nghèo và ngày càngđượcquan tâm mở rộng, nâng cao chất lượng phục vụ nhằm cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng,
tạo nềntảng giúp cảithiện đời sốngngườinghèo (Ledgerwood, 1999; Robinson, 2001; Ashim, 2010; Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013).
Cung cấp các khoản cho vayđốivớingườinghèo, không có tài sản thế chấp, không có thu nhập hoặc thu nhập (rất) thấp và không ổn định thường được các ngân hàng thươngmạitruyền thống xem là hoạt động kinh doanh có rủi ro cao. Rủi ro cao thì phảiđượcbùđắp bằng một mứclãi suất cao hơn.Điềunày càng khiến người nghèo vốn khó tiếpcậndịch vụ tài chính của các ngân hàng thương mại truyền thống
lại càng khó khăn hơn và hầu như người nghèo đãbị loại trừkhỏi hệ thống tài chính chính thống. Dù vậy, người nghèo vẫn cần phải có những nhu yếu phẩm để duy trì cuộc sống (như thực phẩm, chăm sóc sức khỏe, nước sạch, quần áo, chỗ ở,..). Thiếu khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính có xu hướng tước đi các phương tiện cải thiện thu nhập, đảm bảo tồn tại và đối phó với các trường hợp khẩn cấp của người nghèo
(Robinson, 2001; Ledgerwood & cộng sự, 2013; Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013). Gần đây, với sựhình thành và phát triển của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô
(TCVM),ngườinghèođược tiếpcận vàsửdụng dịch vụ tài chính, ngân hàng– “ngân hàng của người nghèo” – điều mà trước đây người nghèo hầu như rất khó tiếp cận – Như Robinson (2001) đã viết “Giống như thực phẩm, tín dụng là nhân quyền”. Nhưvậy, nhờ TCVM mà quyền này củangười nghèo được thực thi. Tuy nhiên, các tổchức hoạt động TCVM chỉ có thể duy trì và mở rộng hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo khi quá trình này có thể tạo ra thu nhập đủ để trang trải cho tất cả các chi phí trong quá trình hoạtđộng(Gibbons & Meehan, 1999; Nadiya, 2014).
Do đó, các tổ chức hoạt động TCVM cần đạt hiệu quả kinh tế để phát triển bền vững. Thế nhưng, các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, nhiều tổ chức hoạt động TCVM vẫn chưa bền vững (Hartarska & Nadolnyak, 2007; Ngo, 2012; Abrar & Javaid, 2016; Lê & cộng sự, 2020). Phát triển bền vững các tổ chức hoạt động TCVM vì vậy trởnên cấp bách và có ý nghĩa sâu sắc cả về khía cạnh kinh tế và xã hội. Nghiên cứu vềtính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô gần đây đã trở thành một chủ đề được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm (Bogan, 2012; Ngo, 2012; Nadiya, 2014; Bayai, 2017; Lê & cộng sự, 2020).
Ngoài ra, việc xác định tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM từ các nghiên cứu thực nghiệm hiện nay (Ahlin & cộng sự, 2010; Bayai, 2017; Lê & cộng sự, 2020) vẫn chưa được thỏa đáng khi bao gồm nguồn thu nhập từđầu tư(nhưđầu tư tài chính) và thu nhập từlãi do biến động tỷ giá – Đây vốn là những hoạt động không gắn liền với sứ mạng của ngành công nghiệp TCVM – Trong khi đó, tôn chỉhoạt động/ sứmạng ban đầu của TCVM là cho vay đối với người nghèo, người cóthu nhập thấp (Cull & cộng sự, 2007; Ashim, 2010; Ledgerwood & cộng sự, 2013). Bên cạnh đó, thước đo mức độ tiếp cận khách hàng nghèo của các tổ chức hoạt động TCVM trong các nghiên cứu thực nghiệm hiện nay (Crombrugghe & cộng sự, 2008; Nyamsogoro, 2010; Ngo, 2012; Nadiya, 2014) cũngbộclộnhiều hạn chế,.. Ở một khía cạnh khác, các công bố gần đây của Worldbank (2022) và Merchant Machine
(2022) cho thấy, Đông Nam Á là khu vực tập trung nhiều quốc giacó tỷ lệ dân sốtrưởng thành không có tài khoản ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính tương tự nhiều nhất thế giới.
Từ thực tế trên, đề tài “Tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô
– Nghiên cứu trường hợp một số quốc gia Đông Nam Á” được thực hiện nhằm tìm ra các yếu tố quyết định đến tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam), trên cơ sở đóđưara (các) hàm ýchính sách góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á và tại Việt Nam.
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
1.3. Khoảng trống nghiên cứu
1.4. Mục tiêu nghiên cứu 1.4.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu chính của luận án nhằm kiểm định tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á (OSS) thông qua xem xét các nhân tốquyết định đến OSS, trong đó tập trung vào các yếu tố cấu trúc vốn, danh mục cho vay có rủi ro (PAR>30), mức độtiếp cận khách hàng. Mặt khác, nhằmbổtrợcho mục tiêu chính, củng cố thêm các bằng chứng về vai trò của cấu trúc vốn, danh mục cho vay có rủi ro (PAR>30) và mức độ tiếp cận khách hàng trong việc xác định tácđộngcủa các yếu tố đến tính bền vững OSS, luận án còn phân tích tác độngcủa sựtương tác giữa danh mục cho vay có rủi ro (PAR>30) với cấu trúc vốn lên OSS và
(tác động của sự tương tác) giữa PAR>30 với tiếp cận khách hàng lên OSS. Trên cơsở các kết quả phân tích thực nghiệm có được, tác giả đề xuất các khuyến nghị vàhàm ý chính sách nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tài chính, tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
1.4.2. Mục tiêu cụ thể
Để triển khai mục tiêu chung, các mục tiêu nghiên cứu cụ thể được thiết kế như sau:
(1) Xây dựng giả thuyết và lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp nhằm đánh giátính bền vững của cáctổ chức hoạt độngTCVM tại một số quốc gia Đông NamÁ (OSS), trong đó có xem xét đến vai trò của cấu trúc vốn, danh mục cho vay có rủi ro (PAR>30) và mức độ tiếp cận khách hàng;
(2) Phân tích định lượng tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á (OSS), thông qua phân tích tác động của các yếu tốđếnOSS, đặc biệt là các yếu tốcấu trúc vốn, danh mục cho vay có rủi ro
(PAR>30) và mức độ tiếp cận khách hàng. Trong đó, quan tâmđến tácđộngphi tuyến của cấutrúc vốn, tácđộngphi tuyếncủadanhmụccho vay có rủi ro
(PAR>30) và tác động của mức độ tiếp cận khách hàng nghèo lên tính bền vững OSS. Bên cạnh đó, thông qua phân tích tác động của mức độtiếp cận khách hàng nghèo đến tính bền vững OSS, luận án kiểm định khả năng “trôi dạt sứ mạng” (mission drift) của các tổchức hoạt động TCVM tạimột sốquốc giaĐông Nam Á.
(3) Phân tích vai trò của cấu trúc vốn và mức độ tiếp cận khách hàng trong việc xácđịnhtácđộngcủa (các) yếu tố đến tính bền vững OSS. Theo đó, luận án xem xét, liệu tác động của danh mục cho vay có rủi ro (PAR>30) đến tính bền vững OSS thay đổi hay giữ nguyên khi thay đổi tỷ lệ các nguồn vốn (trong cấu trúc vốn) hoặc khi tăng cường tiếp cận khách hàng. Kết quảnày còn giúp tác giảkiểm định quan điểm quản trị nguồn vốn của các nhà quản lý tại các tổ chức hoạt độngTCVM, cũng như đánh giá hiệu quả tài chính, tính bền vững OSS của các tổ chức hoạt động TCVM trong quá trình phục vụ khách hàng nghèo/ tiếp cận khách hàng nghèo. Như vậy, mục tiêu nghiên cứu này sẽ bổ trợ mục tiêu nghiên cứu thứ 2.
(4) Bên cạnh đó, luận án cũng đánh giá tác động của các yếu tố đến tính bền vững OSS của các tổ chức hoạt động TCVM tại Việt Nam thông qua phân tích tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại Việt Nam trong quá trình phục vụ khách hàng nghèo, và kiểm định khả năng trôi dạt sứ mạng của các tổ chức hoạt động TCVM tại Việt Nam (trong quá trình phục vụ khách hàng nghèo).
(5) Dựa vào các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận án rút ra một số khuyến nghịvà hàm ý chính sách nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tài chính, tính bền vững OSS của cáctổ chức hoạt độngTCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á, trongđó cóViệt Nam.
1.5. Câu hỏi nghiên cứu
Nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu của luận án, câu hỏi nghiên cứu được xây dựng như sau:
(1) Mô hình nghiên cứu nào là phùhợp để đánhgiá tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á (bao gồm Việt Nam), cóxem xét đến vai trò của cấu trúc vốn, danh mục cho vay có rủi ro và mức độ tiếp cận khách hàng? (giải quyết mục tiêu nghiên cứu 1)
(2) Tác động của cấu trúc vốn đến tính bền vững OSS thay đổi hay giữ nguyên khi
thay đổi tỷ lệ các nguồn vốn (trong cấu trúc vốn)? Liệu có tồn tại một ngưỡng nợ mục tiêu cho các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông NamÁ? (giải quyết mục tiêu nghiên cứu 2)
(3) Tác động của danh mục cho vay có rủi ro (PAR>30) đến tính bền vững OSS thay đổi như thế nào (nếu có) khi tỷ lệ PAR>30 thay đổi? Phải chăng PAR>30 luôn tác động tiêu cực đến tính bền vững OSS1, bất kể với các tỷ lệ cao/ thấp khác nhau? Liệu có tồn tại một ngưỡng PAR>30 mục tiêu mà các tổ chức hoạt động TCVM hướng đến nhằm tối đa hóa tính bền vững OSS1? (giải quyết mục tiêu nghiên cứu 2)
(4) Các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á có trôi dạt sứmạng? Việc tăng cường tiếp cận khách hàng có giúp các tổchức hoạt động TCVM tạimột sốquốc gia Đông Nam Á gia tăng tính bền vững OSS? (giải quyết mục tiêu nghiên cứu 2)
(5) Các tác động của danh mục cho vay có rủi ro (PAR>30) đến tính bền vững OSS thay đổi hay giữ nguyên khi thay đổi tỷ lệ các nguồn vốn hoặc khi tăng cường tiếp cận khách hàng (tức khi thay đổi mức độ tiếp cận khách hàng)? (giải quyết mục tiêu nghiên cứu 3)
(6) Quan điểm quản trị nguồn vốn chủ sở hữu (vốn nhận viện trợ) cóbị “giảm nhẹ”, trong khi đề cao quản trị nguồn vốn thương mại, gồm tiền gửi, vốn vay (vì đây là những khoản phải trả)? (giải quyết mục tiêu nghiên cứu 3)
(7) Các tổchức hoạt độngTCVMtạiViệt Nam có đạtbền vững OSS trong quátrình phục vụ khách hàng nghèo/ có bị trôi dạt sứ mạng? (giải quyết mục tiêu nghiên cứu 4)
(8) Các hàm ý chính sách nhằm góp phần nâng cao hiệu quảtài chính, tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á, trongđó cóViệt Nam là gì? (giải quyết mục tiêu nghiên cứu 5)

1.6. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1.6.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô tại một sốquốc gia Đông Nam Á (gồm Việt Nam, Lào, Campuchia,Indonesia và Philippines) và các yếu tố tác động đến tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô tại các quốc gia nói trên.
1.6.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Nội dung chính của luận án nhằm nghiên cứu tính bền vững của các tổchức hoạt độngTCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á (OSS1). Luận án tập trung phân tích mối quan hệ giữa tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM và cácyếu tốcấu trúc vốn, danh mục cho vay có rủi ro trên 30 ngày (PAR>30), mức độ tiếp cận khách hàng của tổ chức hoạt động TCVM cùng một số yếu tố khác (nhưđặc điểm của tổ chức TCVM, các yếu tố kinh tế vĩ mô).
Phạm vi về không gian nghiên cứu
Luận án đánh giá thực trạng hoạt động, tính bền vững các tổ chức hoạt động tài chính vi mô tại một sốquốc gia Đông Nam Á (OSS1), gồm Việt Nam, Lào,
Campuchia, Indonesia và Philippines (trong giai đoạn 2006 – 2019)
Phạm vi về thời gian nghiên cứu
Luận án thực hiện nghiên cứu tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM
tại một số quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 2006 – 2019. Mặc dù tác giả mong
muốn thu thập một bộdữliệu đầy đủhơn cho giai đoạn 2006 –2021. Tuy nhiên, nhiều tổ chức không gửi dữ liệu cập nhật cho MIX Market1 và bộ dữ liệu cập nhật mới nhất từ MIX Market chỉ đến Quý 2/2019 (truy cập ngày 29/07/2021; cập nhật ngày 15/01/2022). Đây cũng là hạn chế khách quan của nghiên cứu này. Vấn đề này cũng đã được nhiều nghiên cứu trước đây chấp nhận và được xem là “đặc trưng trong phân tích TCVM” (Nadiya, 2014; Ngo, 2012; Bayai, 2017).
1 Microfinance Information Exchange, hay MIX Market là sàn giao dịch thông tin về TCVM, được công nhận là nguồn dữ liệu toàn cầu, uy tín hàng đầu về TCVM. Dữ liệu TCVM do MIX Market cung cấp hiện được lưu trữ trên website của Worldbankvà được cácnhà nghiên cứu khắp nơi trên thế giới tin dùng (Cull & cộng sự, 2007; Bogan & cộng sự, 2007; Ngo, 2012; Nadiya, 2014; Githaiga, 2021).
1.7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tàisử dụng kết hợp phương pháp định tínhvà địnhlượngđể giải quyết các mục tiêu nghiên cứu được đặt ra. Cụ thể như sau:
Đối với mục tiêu nghiên cứu 1: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, tổng quan khung lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan nhằm xác định cácyếu tố ảnh hưởngđến tính bền vững OSS. Trên cơ sở đó lựa chọn môhình nghiên cứu phù hợp, có cân nhắc thêm vấn đề xử lý nội sinh bằng cách chọn (các) biến giải thích là biến thuộc năm (t-1), trong khi biến phụ thuộc là biến thuộc năm t;
Đối với các mục tiêu nghiên cứu 2, 3 và 4: Để ước lượng tính bền vững của các
tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á (OSS), cũng như vai trò, tác động của các yếu tố đến tính bền vững OSS, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình ước lượng khoảnh khắc tổng quát hệthống (System Generalized Method of moments estimation models, System GMM hay S.GMM). Thứnhất,đâylà phương phápxửlýđượcvấn đề nội sinh do các mối quanhệđồng thời hoặc nhân quả ngược giữa các biến (Blundell & Bond, 1998; Githaiga, 2021). Thứhai, tác giảsửdụng mô hình động, nghĩa là giá trị kỳ trước của biến phụ thuộc giúp dự báo giá trị kỳ sau của biến này, và đây là giả định khá phù hợp cũng nhưđãđược sửdụng trong một số nghiên cứu (Githaiga, 2021). Mô hình này phát sinh vấnđề cần xửlý nội sinh do sử dụng biến trễ của biến phụ thuộc trong mô hình như một biến giải thích. Điều này dẫn đến nhu cầu sử dụng System GMM để khắc phục vấnđề này (Arellano & Bond, 1991; Blundell & Bond, 1998).
Đối với mục tiêu nghiên cứu 5:Đểcó thểrút ra một sốkhuyến nghị, hàm ýchính sách cho các tổ chức hoạt động TCVM (tại một số quốc gia Đông Nam Á) vàcác đối tượng khác, tác giả sử dụng đồng thời hai phương pháp nghiên cứu định tính và địnhlượng. Với phương pháp nghiên cứu định tính, tác giả dựa vào tổng hợp các nghiên cứu về lý thuyết và thực nghiệm để đưa ra lời giải thích thỏa đáng cho các kết quả nghiên cứu về tính bền vững OSS, cũng như sự tác động của các yếu tố đến tính bền vững OSS. Trong khi đó, phương pháp nghiên cứu địnhlượng(như mô tả ở trên) giúp tác giả ước lượng cụ thể tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một
số quốc gia Đông Nam Á (OSS), cũng như tác động của các yếu tố đến tính bền vững OSS. Trên cơ sở đó, luận án rút ramột sốnhận địnhvề thực trạng, đặc điểm, khảnăng tự vững và các yếu tố quyết định đến tính bền vững OSS của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á và đưa ra các hàm ý chính sách.
1.8. Những đóng góp mới của luận án 1.8.1. Về mặt học thuật, lý luận
Thông qua nghiên cứu về lý luận và thực trạng hoạt động, tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á, luận án có nhữngđóng góp mới về mặt học thuật, lý luận như sau:
(1) Sứ mạng TCVM là hướng đến cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản cho người nghèo, người có thu nhập thấp. Do đó, khi đánh giá tính bền vững của các tổchức hoạt động TCVM nên chú trọng vào nguồn thu nhập gắn liền với sứ mạng TCVM (tức thu nhập từ cho vay, tiết kiệm, thanh toán,..) và cần loại bỏ nguồn thu nhập không từ hoạt động chính của các tổ chức hoạt động TCVM (chẳng hạn thu nhập từ các hoạt động đầu tư,..). Việc làm này giúp các nhà phân tíchđưa ra kết quả đánh giá chính xác hơn về khả năng tự vững của các tổ chức hoạt động TCVM. Nếu cáctổ chức hoạt độngTCVM chỉ dựa vào nguồn thu nhập chính như vậy và đạt khả năng tự vững OSS, sau đó, các tổ chức này được kỳvọng có khả năng tự vững cao hơn trong quá trình hoạt động.
(2) Khi nghiên cứu mức độ tiếp cận khách hàng nghèo (theo chiều sâu), cũng nhưphân tích về sự trôidạt sứ mạng(trôi dạt nhiệm vụ) của các tổ chức hoạt động TCVM trong phục vụkhách hàng nghèo và đo lường mức nghèo của khách hàng TCVM với thước đo quy mô khoản vay bình quân trên mỗi khách hàng vay vốn (ALSPB), nhất là đối với những nghiên cứu trên phạm vi nhiều quốc gia, để có thể kiểm soát mức nghèo bình quân cho các khách hàng TCVM ở các quốc gia, cần thiết tham chiếu ALSPB với thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia. Việc làm này giúp nhà phân tích xây dựng được thước đo mức nghèo của khách hàng TCVM chính xác hơn so với bình quân mẫu nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu, vì vậy, sẽ phản ánh chính xác hơn mục tiêu nghiên cứu vềkhả năng tiếp cận khách hàng của các tổ chức hoạt động TCVM.
(3) Qua phân tích, nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn, danh mục cho vay có
rủi ro (PAR>30) và OSS, cũng như tương tác giữa PAR>30 với các thành phần cấu trúc vốn và OSS, luận án còn góp phần làm sáng tỏ quan điểm quản trị các nguồn vốn hoạt động của các tổ chức hoạt động TCVM. Theo đó, luận án cung cấp bằng chứng cho thấy, trong bối cảnh một số quốc gia Đông Nam Á (trongđó có Việt Nam), các nhà quản trị tại các tổ chức hoạt động TCVM không mang quan điểm nguồn vốn nhận viện trợ là vốn “cho không, biếu không” trong quản trịvà không có sựkhác biệt vềquan điểm quản trịgiữa các nguồn vốn nhưnguồn vốn chủ sở hữu (bao gồm vốn nhận tài trợ) và các nguồn vốn thương mại (vốn vay, tiền gửi). Đồng thời, luận án tái khẳng định tồn tại một ngưỡng nợmục tiêu tối ưu mà tại đó, tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM là
lớn nhất.
(4) Một số nhà khoa học đã nỗ lực tìm hiểu mối quan hệ giữa danh mục cho vay córủi ro trên 30 ngày (PAR>30) và tính bền vững của các tổchức hoạt động TCVM (OSS), hầu hếtcác nghiên cứu đều cho thấy mối quan hệtrên là tiêu cực. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây đều tập trung phân tích mối quanhệtuyến tính giữa PAR>30 và OSS, vấn đề ngưỡng mục tiêu về danh mục cho vay
có rủi ro trên 30 ngày chưa được nghiên cứu. Kết quả nghiêncứu về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt, trong xu hướng thương mại hóa trong lĩnh vực TCVM, các tổ chức hoạt động TCVM được khuyến nghị mở rộng quy mô hoạt động nhằm tăng tính bền vững. Tuy nhiên, nhiều tổ chức hoạt động TCVM còn ngần ngại song song với việc mở rộng quy mô hoạt động, tăng dư nợ cho vay sẽ kéo theo danh mục cho vay có rủi ro gia tăng (vì vậy làm sụt giảm tính bền vững). Do đó, việc xác định tồn tại ngưỡng PAR>30 mục tiêu có tác dụng giúp các tổ chức hoạt động TCVM có thêm đánh giá về tương quan giữa PAR>30 vàOSS, từ đó xây dựng chính sách kinh doanh phù hợp nhằm tăng cường tínhbền vững OSS. Như vậy, luận án này góp phần làm sáng tỏ vấn đề ngưỡng PAR>30 mục tiêu của các tổ chức hoạt động TCVM. Thông qua đó đưa ra lời giải đáp
cho câu hỏi, có phải PAR>30 luôn tác động tiêu cực đến tính bền vững OSS, bất kểởcác tỷlệcao/ thấp khác nhau? Câu hỏi này đến nay chưa được giải quyết. Luận án này cũng lấp đầy khoảng trống nêu trên.
(5) Cuối cùng, thông qua nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ tiếp cận khách hàng và tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á (OSS1), luận án làm sáng tỏ các nghi vấn: Các tổ chức hoạt động TCVM
tại một số quốc gia Đông Nam Á có trôi dạt sứ mạng? (các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á có đạt bền vững bằng cách hạn chếtiếp cận khách hàng nghèo?), việc tăng cường tiếp cận khách hàng có giúp các
tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á cải thiện tính bền vững OSS? Các vấn đề vừa nêu đến nay vẫn chưa được giải quyết và luận án này được xem là tiên phong trong việc lấp đầy khoảng trống nói trên.
Như vậy, thông qua những đóng góp mới nói trên, luận án đã góp phần bổ sung, làm sáng tỏ tranh luận về tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một sốquốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
1.8.2. Về mặt thực tiễn
Luận án đã góp phần giải quyết một số vấn đề thực tiễn liên quanđến hoạt động TCVM, cụ thể:
(1) Luận án góp phần xácđịnh tồn tại ngưỡng nợmục tiêu của các tổchức hoạt động TCVM. Kết quả nghiên cứu này giúp các tổ chức hoạt động TCVM xácđịnh ngưỡng nợ mục tiêu tối ưu,từ đó,có thể vận dụng vào trong hoạt động thực tiễn tại cáctổ chức hoạt độngTCVM góp phần tăngcườngvà tối đa hóa tính bền vững OSS1.
(2) Bên cạnh ngưỡng nợ mục tiêu, luận án còn cung cấp bằng chứng cho thấy tồn tại ngưỡng danh mục cho vay có rủi ro trên 30 ngày (PAR>30). Đâylà cơ sở đểcác tổ chức hoạt động TCVM tham chiếu trong quá trình hoạt động, từ đó, xây dựng chính sách cho vay phù hợp, một mặt nhằm tối đa hóa danh mục cho vay (cơ sở tạo ra lợi nhuận), mặt khác hạn chế tối đa rủi ro có thể phát sinh trong quá trình hoạt động.
(3) Ngoài ra, luận án cũng đã góp phần làm sáng tỏ vấn đề tranh luận trong thực tiễn và cung cấp bằng chứng cho thấy, các nhà quản trị tại các tổ chức hoạt động TCVM không mang quan điểmvốn nhận viện trợlà vốn “cho không, biếu không” nên không chú trọng quản trị trong thực tiễn hoạt động của các tổ chức hoạt động TCVM. Không có sự khác biệt trong quan điểm quản trị các nguồn vốn hoạt động tại các tổ chức hoạt động TCVM.
(4) Các tổchức hoạt độngTCVM vẫn có thểđạtđược bền vững trong quá trình phục vụ, cung cấp tín dụng cho khách hàng nghèo. Trôi dạt sứ mạng đã không xảy ra trong bối cảnh các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam).
1.9. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, luận án gồm 5 chương được thiết kế như sau:
Chương 1. Giới thiệu luận án và tổng quan nghiên cứu
Trong chương này tác giả đã lược khảo tổng quan các nghiên cứu liên quan đến luận án, từ đó phân tích để đưa ra khoảng trống nghiên cứu. Thông qua đó, tác giảxác định được nội dung của đề tài nghiên cứu. Chương 1 cũng đảm nhận nhiệm vụgiới thiệu mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, cũng như những đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn của luận án.
Chương 2. Cơ sở lý luận về tài chính vi mô và tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô
Ở chương 2, tác giả trình bày cơ sở lý luận, khung lý thuyết về tài chính vi mô, tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô. Các lý thuyết làm nền tảng cho việc phân tích và giải thích các kết quả nghiên cứu về tính bền vững của các tổchức hoạt động TCVM cũng đã được tác giả giới thiệu trong chương này. Theo đó, các lý thuyết chính như lý thuyết cấu trúc vốn (lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tựphân hạng, lý thuyết chi phí đại diện), lý thuyết quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, lý thuyết đánh đổi giữa tiếp cận khách hàng và tính bền vững của các tổ chức
hoạt động TCVM. Qua lược khảo các nghiên cứu trước đây ở trong và ngoài nước, tác giả đã đưa ra mục tiêu nghiên cứu của luận án. Bên cạnh đó, các nhân tố tác độngđến tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM cũng đã được trình bày trong chương này. Đồng thời, tác giả cũng đã giới thiệu các tiêu chí đo lường và đánh giátính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM, làm nền tảng cho các phân tíchtính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM ở những phần tiếp theo.
Chương 3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương này đảm nhận vai trò xây dựng các biến và mô hình nghiên cứu tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM. Bên cạnh đó, các giả thuyết nghiên cứu cũng được trình bày trong chương 3. Đây chính là nền tảng để tác giả thực hiện phân tích và nghiên cứu tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM, cũng như đưa ra một số hàm ý chính sách trong các chương tiếp theo.
Chương 4. Kết quảnghiên cứu tính bền vững của các tổchức hoạt động tài
chính vi mô – Nghiên cứu trường hợp một số quốc gia Đông Nam Á
Chương 4 trình bày các kết quả nghiên cứu và thảo luận về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn, danh mục cho vay có rủi ro, mức độtiếp cận khách hàng, cùng với tương tác giữa danh mục cho vay có rủi ro với cấu trúc vốn, tiếp cận khách hàng vàtính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Ánói chung và Việt Nam nói riêng. Bên cạnh đó, tác giả cũng thực hiện một số so sánh, kiểm tra tính vững của các kết quả nghiên cứu thông qua phân tích, so sánh tính bền vững theo thước đo OSS truyền thống và thước đo OSS bằng phương pháp đo lường mới, OSS1.
Chương 5. Kết luận và các hàm ý chính sách
Các đúc kết từ quá trình nghiên cứu được trình bày trong chương 5, cùng với đólà một số hàm ý chính sách nhằm góp phần giúp các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng tăng cường tính bền vững OSS.
Cuối cùng là phần Kếtluận. Đây là phần tóm lược các nội dung nghiên cứu chính và hạn chế của luận án, cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo. Trên cơsở đó, các nghiên cứu sau cóthểthực hiện nghiên cứu dựa vào hạn chếcủa luận án này nhằm đưa ra các phân tích và đánh giá đầy đủ nhất về tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM tại một số quốc gia Đông Nam Á, cũng như ở Việt Nam.
1.10. Kết luận chương 1
Thông qua chương 1 tác giả đã giới thiệu tổng quan về luận án, bao gồm tính cấp thiết của đề tài, tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan, khoảng trống nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp mới của luận án và kết cấu của luận án. Do đó, chương 1 đảm nhận vai trò phác thảo bức tranh chung về kết cấu, nội dung và các định hướng nghiên cứu của luận án.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ TÍNH BỀN
VỮNG CỦA CÁC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ2.1. Các vấn đề cơ bản về tài chính vi mô
2.1.1. Khái niệm tài chính vi mô
Tài chính vi mô (TCVM) từ lâu đã được xem là công cụ hiệu quả trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở các quốc gia trên thế giới. Trong những thập kỷ gần đây, việc cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ hỗ trợ cho người nghèo nhằm giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện điều kiện sống của người nghèo, người có thu nhập thấp được các quốc gia và các tổ chức quốc tế quan tâm phát triển. Thuật ngữ “tài chính vi mô” được hiểu như là các mô hình cung cấp dịch vụtài chính cho người nghèo và TCVM thu hút được sự quan tâm của Chính phủ các nước, các tổ chức đa phương, nhà tài trợ, các doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu khắp nơi trên thế giới.
Vì vậy, khái niệm về TCVM cũng được rất nhiều nhà kinh tế và các tổ chức đưa ra. Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo (Consultative Group to Assist the Poor, CGAP, 2003),“Tàichính vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơbản đápứng nhu cầu của người nghèo, bao gồm: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm…”. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á, ADB (2000), “Tài chính vi mô là việc cung cấpcác dịchvụtài chính như tiền gửi, cho vay, dịchvụthanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp hoạt động kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp nhỏ”. Theo Ledgerwood (1999), “Tài chính vi mô là một phương pháp phát triển kinh tếthông qua các dịch vụtài
chính nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp… Tài chính vi mô thường bao gồm cả hai yếu tố: trung gian tài chính và trung gian xã hội”.
Như vậy, tổng hợp những khái niệm trên, ta có thể hiểu TCVM là một trong những cách thức phát triển kinh tế nhằm cung cấp các dịch vụ cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm và dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư, nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống. TCVM vừa là công cụ ngân hàng, vừa là công cụ phát triển.
Bên cạnh đó, trong các tài liệu về TCVM, thuật ngữ “tài chính vi mô” (Microfinance) và “tín dụng vi mô” (Microcredit) đôi khi được sử dụng thay thế cho nhau. Tuy nhiên, chúng đề cập đến các mức độ khác nhau, riêng biệt nhau trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho nghười nghèo. Tín dụng vi mô (TDVM) chỉ đơn
giản làđề cập đến tấtcả các loại cho vay, các khoản vay – cho vay nhỏ (các khoản vay có giá trị nhỏ) được cung cấp trực tiếp cho một cá nhân hoặc gián tiếp thông qua các nhóm bởi các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác, có hoặc không có tàisảnthế chấp. TDVM chủyếuhướng đếnngườinghèo (Rutherford, 2000). Trong khi đó, TCVM, như đã trình bày ở trên, đề cập đến gói dịch vụ tài chính (bao gồm các dịchvụnhư tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm và các dịch vụ khác) nhằm vào người nghèo.Điềunày có nghĩa là TCVM bao gồm TDVM và các sản phẩm, dịch vụ tài chính khác (tiết kiệm, bảo hiểm, chuyển tiền,..)
Rõ ràng, sự khác biệt giữa TCVM và TDVM cho thấy rằng các tổ chức TCVM cần tự điều chỉnh để cung cấp các dịch vụ tài chính đầy đủ (đặc biệt là tiết kiệm) đến người nghèo. Chuyển đổi mô hình hoạt động (từ các tổ chức TCVM bán chính thức sang các tổ chức TCVM chính thức) nhìn chung dẫn đến cải thiện quản trị và cơ cấu quyền sở hữu và là cách duy nhất mà một tổ chức TCVM có thể thương mại hóa (de Sousa-Shields & Frankiewicz, 2004). Bằng cách làm này, các tổ chức TCVM cóthểmở rộng tiếp cận, tăng số lượng khách hàng TCVM, tăng trưởng tín dụng, tăng cường và đa dạng nguồn vốn,.. nhằm đạt mục tiêu hiệu quả và bền vững tài chính.
2.1.2. Khái niệm và phân loại tổ chức hoạt động TCVM
Với sự bùng nỗ mạnh mẽ của TCVM trên toàn cầu, nhiều tổ chức, nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm về tổ chức TCVM. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), tổ chức TCVM được định nghĩa là các tổ chức có hoạt động kinh doanh chính là cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô như tiền gửi, cho vay, dịch vụthanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho các hộ gia đình nghèo và thu nhập thấp vàcác doanh nghiệp siêunhỏ(ADB, 2000). Ledgerwood (1999) cho rằng tổchức TCVM là các nhà cung cấp các dịch vụtài chính cho người nghèo,chủyếu là tín dụng và tiết kiệm, ngoài ra còn có bảo hiểm và một số dịch vụ thanh toán khác. Theo
Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), “Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ” và“Tíndụng quy mô nhỏ là khoản cho vay có giá trị nhỏ, có hoặc không có bảo đảm cho các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp để sử dụng vào các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện điều kiện sống.” Các nhà cung cấp TCVMđược chia thành ba khu vực: Chính thức (formal institutions), bán chính thức (semiformal institutions) và phi chính thức (informal institutions). Các nhà cung cấp TCVM được phân loại như sau:
Bảng 2.1. Các đơn vị cung cấp dịch vụ TCVM 2
| Khu vực chính thức (Formal institutions) | Khu vực bán chính thức (Semiformal institutions) | Khu vực phi chính thức (Informal institutions) |
| – Ngân hàng (Banks) – Cáctổchức tài chính phi ngân hàng (Nonbank financial institutions) – Các tổ chức TCVM (MFIs) chính thức | – Các hiệp hội tín dụng (Credit unions); – Các NGO – Các chương trình, dự án, tổchức TCVM (MFIs) bán chính thức | – ROSCAs – Họ hàng, bạn bè,.. – Những người cho vay cánhân; tiệm cầm đồ,.. |
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ Ledgerwood, 1999; Charitonenco & Campion,
2003; ADB, 2010; Ledgerwood & cộng sự, 2013)
2 Khu vực chính thức (bao gồm các tổ chức TCVM chính thức) là các tổ chức TCVM được NHTƯcấp phép và chịu sự giám sát của NHTƯ (regulated and supervised by central bank); Khu vực bán chính thức (gồm các tổ chức TCVM bán chính thức- các NGO, các tổ chức/ chương trình TCVM) không do NHTƯ cấp phép,được đăng ký hoạt độngvà chịu sự quản lý của Chính phủ; hoạt động tuân theo luật thương mại, không theo luật ngân hàng; Khu vực phi chính thức gồm các hoạt động TCVM dựa vào cộngđồnglà chính, hoạt động không tuân theo luật thương mại hoặc luật ngân hàng (Ledgerwood, 1999; Charitonenco & Campion, 2003; Ledgerwood & cộng sự, 2013).
Như vậy, ta có thể hiểu tổ chức TCVM là tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM cho người nghèo, người có thu nhập thấp (gồm cá nhân, hộ gia đình) và các doanh nghiệp siêu nhỏ. Dịch vụ TCVM bao gồm các dịch vụ tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, bảo hiểm,.. Các nhà cung cấp TCVM được chia thành ba khu vực:
Chính thức, bán chính thức và phi chính thức3 2.1.3. Vai trò, sứ mạng của tài chính vi mô
2.1.3.1. Vai trò của tài chính vi mô
Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm cho thấy, TCVM đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội và được xem như chính sách xóa đói giảm nghèo hiệu quảtại các quốc gia đang phát triển (Woller & cộng sự, 1999; Ledgerwood, 1999; ADB, 2000; Woller & Woodworth, 2001; Brau & Woller, 2004). TCVM đảm nhận “vai trò kép” cả về kinh tế và xã hội.
❖Vai trò kinh tế của TCVM
Thông qua quá trình cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo, người cóthu nhập thấp, các tổ chức hoạt động TCVM thực hiện các chức năng quan trọng nhưhuy động tiền gửi/ tiết kiệm, tái phân bổ tiết kiệm cho đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ. Do đó, TCVM đã trở thành một trong những công cụđắc lực đểgiảm nghèo đói và gia tăng thu nhập cho người nghèo, người có thu nhập thấp.
Trong lĩnh vực TCVM, các tổ chức TCVM cung cấp các sản phẩm và dịch vụvề cơ bản như các ngân hàng thương mại nhưng với quy mô nhỏ hơn, chẳng hạn tiết kiệm, cho vay (tiêu dùng, giáo dục,..), bảo hiểm vi mô, dịch vụ thanh toán, lương hưu,.. (Brau & Woller, 2004). Người nghèo đã được chứng mình rằng cũng có nhu
3 Việc phân loại tổ chức TCVM chính thức, bán chính thức và phi chính thức tại Việt Nam cũng tương đồng vớithông lệquốc tế(Ledgerwood & cộng sự, 2013; ADB, 2010; VMFWG, 2016; Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013).
cầu và khả năng tham gia tiết kiệm, mặc dù giá trị các khoản tiết kiệm là nhỏ và không thường xuyên (Churchill, 2002; Nourse, 2001; Robinson, 2001; Beverly & cộng sự, 1999). Do đó, thông qua các hoạt động TCVM, người nghèo không những được tiếp cận các dịch vụ tài chính và tìm được nơi an toàn để gửi tiết kiệm, tích lũy vốn màcòn có thể nhận được những khoản “lợi nhuận” từcác khoản tiền gửi mang lại. Dùgiá trị các khoản tiền lãi không cao (do số vốn tiết kiệm thường nhỏ), nhưng nếu người nghèo duy trì và tham gia tiết kiệm đều đặn, giá trị các khoản tiền gửi sẽ được nhân lênrấtnhiều (Robinson, 2001). Bên cạnh đó, việc tham gia cáchoạt độnggửi tiền/ tiết kiệm còn có tác dụng giúp người nghèo nâng cao tính kỷ luật trong chi tiêu và dạy họ cách “đầu tư” sinh lời an toàn trong phạm vi số vốn ít ỏi (Robinson, 2001; Ledgerwood, 1999). Đối với các tổ chức hoạt động TCVM, thông qua việc cung cấp dịch vụtiền gửi và tiết kiệm vi mô chorấtnhiều người nghèo, người có thu nhập thấp, các tổ chức TCVM cũng có thể huy độngđượcsố vốn khá lớn và sử dụng nguồn vốn này tài trợ cho cáchoạt độngcho vay. Đây là một trong những nguồn vốn giá rẻ vàkhá dồi dào mà các tổ chức TCVM có thể hướng đến nhằm giảm sự phụ thuộc vào các nguồn vốn ưu đãi, vốn trợ cấp,..
Bên cạnhđó,tín dụng vi mô thườngđược mở rộngmà không cần tài sản bảođảm theo cách truyền thống. Thông qua hoạt động cho vay, nguồn vốn tín dụng vi môđược phân bổ đếnngười nghèo, người có thu nhập thấp và những doanh nghiệp siêu vi mô (doanh nghiệp siêu nhỏ). Nhờ có nguồn vốn tín dụng, khách hàng TCVM có thêm cơ hội đầu tư, kinh doanh, trao đổi hàng hóa và dịch vụ, là tiền đề để người nghèo cải thiện thu nhập, nâng cao mức sống (Hermes & cộng sự, 2008; Robinson, 2001). Thật vậy, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã cung cấp bằng chứng cho thấy, tiếp cận tín dụng còn trao cho người nghèo cơ hội tựchủ, tựtạo việc làm cho chính mình hoặc tiến hành kinh doanh tạo ra lợi nhuận nhỏ trong thời gian dài (Morduch & Haley, 2002; Vetrival & Kumarmangalam, 2010), tiếp cận TCVM giúp người nghèo cải thiện thu nhập đáng kể và thoát nghèo (Morduch, 2005; Zeller & Diagne, 2001). Rõ ràng, TCVM đã góp phần đáng kể vào việc giúp người nghèo cải thiện vị thế xã
hội, phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ, tựtạoviệc làm cho chính mình, gia tăng thu nhập và thoát nghèo.
❖Vai trò xã hội của TCVM
Nhưđã đề cập ở những phần trước,cho vay đối với người nghèo – thu nhập thấp và không có tài sản thế chấp – được các ngân hàng thương mại truyền thống xem làhoạt động kinh doanh rủi ro. Do đó, người nghèo đã bị loại trừ khỏi hệ thống tài chính chính thức. Dù vậy, người nghèo cũng có những nhucầucơ bản như bao người khác (như nhu cầu về thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ cơ bản, giáo dục, nước sạch,..) và cần các dịch vụ tài chính (cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm và chuyển tiền) để phụcvụ đời sống nghèo khó của họ, cùng với đó là nhu cầu về các dịch vụ xã hội khác. Nhờ sựxuất hiện của TCVM, người nghèo được tiếp cận các dịch vụ tài chính cơ bản và trở
thành khách hàng của ngân hàng – “Ngân hàng của người nghèo”. Giống như thực phẩm, tín dụng là nhân quyền. Nhờ TCVM, quyền này của người nghèo được thực thi. Bên cạnh tín dụng, người nghèo cũng được sử dụng các dịch vụ tài chính cơ bản khác từ các nhà cung cấp TCVM. Rõ ràng, TCVM tạo cơ hội cho người nghèo, người có thu nhập thấp tiếp cận các dịch vụ tài chính, hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng, tăng cường năng lực tham gia vào các hoạt động xã hội.
Trong những năm qua, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện và đã đi đến những kết luận về tác động của TCVM đối với giảm nghèo. Phần lớn các nghiên cứu cung cấp bằng chứng ủng hộ những tác động tích cực của TCVMđối với việc tăng thu nhập hoặc giảm tính dễ bị tổn thương của người nghèo. Đã có một vài nghiên cứu với phần lớn bằng chứng tích cực và thuyết phục về sức khỏe, dinh dưỡng và giáo dục
(Pitt & Khandker, 1998; Wright, 2000). Các nghiên cứu này đã cho thấy, TCVM về cơ bản là một quá trình dài hạn có xu hướng hỗ trợ người nghèo về mặt tài chính, kết hợp cáckỹnăng, kiến thức, kinh nghiệm và vốn tài chínhđểbứt phá thoát nghèo vàthay đổi cuộc sống vì một tương lai tốt đẹp và tươi sáng hơn. Ngoài ra, TCVM cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến khách hàng làphụ nữ, vì ở mọi cấp độ nghèo, phụ nữđược xem là thành phần nghèo nhất (Robinson, 2001; Ledgerwood, 1999). Do đó, TCVM cũng thường được đề cập gắn liền với việc cho vay đối với khách hàng là nữ
giới. Vì vậy, tiếp cận TCVM còn được xem là quá trình trao quyền cho phụ nữ nhằm cung ứng nguồn vốn đểphụ nữphát triển các mô hình kinh tế, các hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ, tự tạo việc làm, từ đó, gia tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống (Ledgerwood, 1999).
Tầm quan trọng của TCVM đối với sự phát triển kinh tế – xã hội đã được khẳngđịnh trong thực tế bằng nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm (Woller & cộng sự, 1999; Woller & Woodworth, 2001; D’Espallier & cộng sự, 2011; CGAP, 1995; Gibbons & Meehan, 1999; Nadiya, 2014). Mặt khác, tầm quan trọng của TCVM cũngđã được khẳng địnhqua việc Liên Hiệp Quốc chọn năm 2005 là năm quốc tếvềTCVM. Sau đó, năm 2006, giải Nobel Hòa bình đã được trao cho người sáng lập ra Ngân hàng Grameen, “Ngân hàng của người nghèo” nổi tiếng tại Bangladesh, Muhammad Yunus,.. (Ngo, 2012). Rõ ràng, với những đóng góp quan trọng cho sựphát triển kinh tế – xã hội, TCVM đã được xem là một trong những chính sách xóađói giảm nghèo hiệu quả.
2.1.3.2. Sứ mạng của tài chính vi mô
Sứ mạng hàng đầu của TCVM là cung cấp dịch vụ tài chính cơ bản cho người nghèo, người có thu nhập thấp (Aigbokhan, 2008; Hammill & cộng sự, 2008; Mersland & Strom, 2010). Do đó, trong lĩnh vực TCVM, các nhà khoa học, nhà quản lý chính sách, nhà thực hành TCVM,.. thường quan tâm đến khía cạnh phục vụ khách hàng là người nghèo, người có thu nhập thấp của các nhà cung cấp TCVM (Nadiya, 2014; Gibbons & Meehan, 1999). Theo đó, các tổ chức hoạt động TCVM càng cómức độtiếp cận sâu, rộng và cung ứng các dịch vụtài chính đến với khách hàng
(người nghèo, người có thu nhập thấp) càng được xem là có mức độ tiếp cận khách hàng tốt. Trái lại, các tổ chức ít hoặc không cung cấp dịch vụ tài chính đến với người nghèo, người có thu nhập thấp, thay vào đó là khách hàng giàu có hơn (ít nghèo hơn)được xem làbịtrôi dạt sứmạng/ trôidạtnhiệm vụ(Mission drift) (Gibbons & Meehan, 1999; Nadiya, 2014; Ashim, 2010; Hulme & Mosley, 1996; Olivares- Polanco, 2005).
2.1.4. Các hoạt động TCVM và đặc điểm của TCVM 2.1.4.1. Các hoạt động TCVM
Các tổ chức TCVM cung cấp các sản phẩm và dịch vụ về cơ bản như các ngân hàng thương mại nhưng với quy mô nhỏ hơn, chẳng hạn tiết kiệm, cho vay (tiêu dùng, giáo dục,..), bảo hiểm vi mô, dịch vụ thanh toán, lương hưu,.. (Ledgerwood, 1999; Brau & Woller, 2004; Ledgerwood & cộng sự, 2013).
❖Tín dụng vi mô
Các sản phẩm tín dụng mang lại cho khách hàng khả năng vay tiền để đổi lấy một thỏa thuận hoàn trả các khoản tiền với lãi suất và / hoặc phí vào một thời điểm nào đó trong tương lai. Các sản phẩm tín dụng vi mô khá đa dạng, bao gồm tín dụng cho người lao động nghèo phát triển kinh tế, tín dụng cho các đối tượng yếu thế trong xã hội tạo lập mô hình sinh kế, tín dụng cho người nghèo sửa chữa nhà ở, tín dụng cho các hộ gia đình sống trong vùng ô nhiễm, cải thiện môi trường sống, tín dụng cho người nghèo chữa bệnh hoặc cho con em đi học, tín dụng cho mục đích bổ sung vốn lưu động đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ,.. (Robinson, 2001; Morduch, 2008). Trong đó, các khoản cho vay được cấu trúc dựa trên nhu cầu của khách hàng, khảnăng của nhà cung cấp và các yêu cầu về quản trị rủi ro nhằm đảm bảo khả năng thu hồi nợ vay, cũng như khả năng thanh toán của khách hàng. Các thành phần cốt lõi của một khoản cho vay gồm quy mô, thời hạn, phương pháp cho vay, tài sản bảo đảm, lãi suất (Ledgerwood & cộng sự, 2013).
Quy mô các khoản vay vi mô tùy thuộc vào nhiều yếu tố (như nhu cầu và khảnăng trả nợ của người vay, khả năng của nhà cung cấp) và giá trị khoản vay thường nhỏ, có thểthấp nhất là 5,0 USD cho mộtkhoản vay cá nhân tiêu dùng. Quy môkhoản vay có thể tăng theo thời gian dựa trên nhu cầu của khách hàng, khả năng trảnợ và lịch sử tín dụng,.. Thời hạn cho vay của các khoản tín dụng vi mô thường ngắn,
từ ba tháng đến một năm. Tuy nhiên, thời hạn cho vay cũng có thể lên đến ba năm hoặc lâu hơn (Ledgerwood & cộng sự, 2013). Bên cạnh đó, TCVM chủ yếu cung cấp tín dụng cho người nghèo, người có thu nhập thấp, vì vậy, bên cạnh cho vay có tài sản bảo đảm (collateral), tín dụng vi mô còn được mở rộng mà không cần tài sản thế
chấp theo kiểu truyền thống. Nếu tài sản thế chấp vật lý (physical collateral) là một yêu cầu cho vay, hầu hết khách hàng TCVM sẽkhông được tham gia do mức độnghèo nàn của họ (vì vậy, người nghèo mới bị loại trừ khỏi hệ thống tài chính chính thống). Vì người nghèo không có tài sản thế chấp, các tổ chức TCVM tập trung vào việc sử dụng tài sản thế chấp xã hội (social collateral), thông qua cho vay theo nhóm, bên cạnh phương pháp cho vay riêng lẽ, trong đó cho vay theo nhóm chiếm ưu thếgần như tuyệtđối(Brau & Woller, 2004; Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013). Cuối cùng, lãi suất tín dụng vi mô thường cao hơn lãi suất cho vaycủacác ngân hàng thương mại, vì giá trị các khoản vay thường nhỏ nhưng rủi ro cao. Mức lãi suất tín
dụng vi mô thường từ 20%/năm – 40%/năm, tùy theo quốc gia và khu vực (Morduch, 2008). Mức lãi suất trên vẫn thấp hơn nhiều so với lãi suất của tư thương không chính
thức (60%/năm – 120%/năm) (Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013).
❖Tiết kiệm vi mô
Bên cạnh nhu cầu tín dụng, người nghèo cũng có nhu cầu tiết kiệm và bảo hiểm (Churchill, 2002; Robinson, 2001; Nguyễn Kim Anh & cộng sự,2013; Nourse, 2001). Các dịch vụ tiết kiệm của các nhà cung cấp TCVMcó thể đượcchia thành tiết kiệm bắt buộc (compulsory savings) và tiết kiệm tự nguyện (voluntary savings), trongđó, tiết kiệm bắt buộc phát triển mạnh hơn và phổ biến hơn tiết kiệm tựnguyện (Ledgerwood, 1999; Robinson, 2001; Ledgerwood & cộng sự, 2013). Đặcđiểmcủa các hộ gia đình nghèo là rất dễ bị tổn thươngtrướcnhững cú sốc bên ngoài. Theo truyền thống, các hộ gia đình nghèo đã quản lý rủi ro và đối phó với các cú sốc bên ngoài thông qua sựkếthợpcác mạng lưới hỗ trợ xã hội, tiết kiệm và vay mượn từ
những người cho vay không chính thức. Sự xuất hiện của TCVM, nhất là tiết kiệm vi mô, cung cấp cho người nghèo lựa chọn ứng phó và quản lý rủi ro mang tính chất chủđộng hơn.
Do đó, thông qua các hoạt động TCVM, người nghèo không nhữngđược tiếp cận các dịch vụ tài chính và tìm được nơi an toàn để gửi tiết kiệm, tích lũy vốn màcòn có thể nhận được những khoản “lợi nhuận” từcác khoản tiền gửi mang lại. Do giá trị các khoản tiền gửi (tiết kiệm)của ngườinghèo thường nhỏ (vốn gốc nhỏ), tiền
lãi phát sinh vì vậy không nhiều. Tuy nhiên, nếu người nghèo duy trì tích lũy và tham gia tiết kiệm đều đặn, giá trị các khoản tiền gửi sẽ được nhân lên rất nhiều (Robinson, 2001). Bên cạnh đó, việc tham gia các hoạt động tiết kiệm còn có tác dụng giúp người nghèo nâng cao tính kỷ luật trong chi tiêu và họ có thể học cách đầu tư sinh lời an toàn trong phạm visốvốn ítỏicủa mình (Robinson, 2001; Ledgerwood, 1999). Rõ ràng, tiết kiệm là chiến lược quản lý rủi ro không thể thiếu của người nghèo,.. (Grosh & Somolekae, 1996; Brau & Woller, 2004).
Thu nhập Thu nhập Thu nhập
Thời gian (1a)
Thời gian (1b)
Thời gian (1c)
Hình 2.1. Tiết kiệm giúp cải thiện cuộc sống của người nghèo Trong đó:
– Đường không liền nét thể hiện dòng tiền khi người nghèo tham gia tiết kiệm; – Hình 1a: Tiết kiệm giúp nâng cao đời sống người nghèo
– Hình 1b: Tiết kiệm giúp người nghèo dễ dàng chi tiêu
– Hình 1c: Tiết kiệm giúp bảo vệ người nghèo trước những cú sốc
(Nguồn: Ledgerwood & cộng sự, 2013)
❖Bảo hiểm vi mô
Nhưtrên đã đề cập,người nghèo rất dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài. Người nghèo, người có thu nhập thấp cũng phải đương đầu với những rủi ro giống như người khác, nhưng những rủi ro này lại có tác động về mặt tài chính năng nề và lâu dài hơn. Hơn nữa, mức độtổn thương của người có thu nhập thấp sẽtrởnên nghiêm trọng hơn sau mỗi lần họ gánh chịu tổn thất, tạo thành một “vòng lẩn quẩn”
cản trở quá trình cải thiện tình trạng kinhtế vàđiều kiện sống (Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013; Robinson, 2001). Do đó, tham gia vào các chương trình bảo hiểm vi mô cung cấp lựa chọn khác cho người nghèo để ứng phó và quản lý rủi ro trong đời sống (Ledgerwood, 1999; Ledgerwood & cộng sự, 2013). Giống như nhu cầu lớn vềtín dụng và tiết kiệm, người ta tin rằng, người nghèo cũng có nhu cầu về bảo hiểm (Churchill, 2002).
❖Dịch vụ thanh toán
Ngoài các hoạt động tín dụng, tiết kiệm và bảo hiểm vi mô, các tổ chức TCVM còn cung cấp dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, thẻ tín dụng, cho thuê tài chính vi mô,..
(Ledgerwood, 1999; Ledgerwood & cộng sự,2013; Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013). Trong đó, các dịch vụ thanh toán chủ yếu đi kèm theo sản phẩm tiền gửi/ tiết kiệm. Bên cạnh đó,tạicác quốc gia có ngành công nghiệp TCVM phát triển như
Bangladesh, Philippines, Ấn Độ, Indonesia,…các tổ chức TCVM còn cung cấp các dịch vụ tài chính với các ứng dụng công nghệ cao như thẻ tín dụng, thẻ thông minh,.. Tuy nhiên, nhìn chung, dịch vụ thanh toán trong TCVM chưa phát triển vì khách hàng TCVM chủ yếu là người nghèo, người có thu nhập thấp nên nhu cầu chuyển tiền vàthanh toán qua các hoạt động TCVM chưa cao (Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013).
❖Các hoạt động TCVM khác
Một trong các nội dung tạo nênsựthành công của TCVM là cung cấp thêm nhiều cơ hội và nâng cao năng lực của khách hàng – người nghèo, người có thu nhập thấp. Điều này xuất phát từ quá trình cùng tham gia của khách hàng trong việc xây dựng và vận hành các tổ, nhóm, bao gồm các dịch vụ phi tài chính đi kèm như giáo dục tài chính, hỗ trợ phát triển kinh doanh, tập huấn nông nghiệp,.. nhằm giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng. Quá trình này nhận sự hưởng ứng tích cực của người nghèo, người có thu nhập thấp và được người nghèo, người có thu nhập thấp đánh giá cao do các lợi ích xã hội mà TCVM mang lại cho người nghèo, người có thu nhập thấp như tính kỷ luật trong chi tiêu, hiểu biết tốt hơn, tự tin hơn và
tham gia nhiều hơn vào các hoạt động cộng đồng, cũng như bình đẳng giới và chất lượng cuộc sống được cải thiện (Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013).
2.1.4.2. Đặc điểm của TCVM
TCVM chủyếuhướngđến cung cấp các dịch vụtài chính cơ bản cho người nghèo, người có thu nhập thấp. Cáchoạt độngTCVM nhìn chung cómột số đặc điểm như sau:
•Đối tượng khách hàng: Cho vay đối với người nghèo, người có thu nhập thấp,
phụ nữ nghèo (nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa)
Như đã đề cập ở những phần trước, cho vay đối với người nghèo có thu nhập ít và không có tài sản bảo đảm thườngđược các ngân hàng thương mại xem là hoạt động kinh doanh rủi ro, vì vậy người nghèo hầu như bị loại khỏi hệ thống tài chính chính thống. Thiếu khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính cơ bản đã tước đi cơ hội và phương tiện cải thiện thu nhập của người nghèo (Robinson, 2001). Do đó, cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản cho người nghèo đóng vai trò tích cực trong nền kinh
tế thông việc giúp người nghèo cải thiện thu nhập, khả năng thương lượng, tính kỷluật trong chi tiêu và đầu tư, củng cố vị thế trong xã hội,.. (Morduch & Haley, 2002; Morduch, 2005; Zeller & Diagne, 2001). Do đó, một trong những mục tiêu chính của ngành công nghiệp TCVM là xóa đói giảm nghèo. Vì vậy, đối tượng khách hàng màTCVM hướng đến chủ yếu là người nghèo, người có thu nhập thấp. Tuy nhiên, ở bất kỳmức độnghèo nào,phụnữcũng được xem là nghèo nhất (Ledgerwood, 1999; Robinson, 2001). Do đó, tiếp cận TCVM còn được xem là trao quyền cho phụ nữ. Trao quyền cho phụ nữ là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh thế giới đang phát triển, trong đó, phụ nữ thường ít có cơ hội về kinh tế, giáo dục, tiếng nói xã hội, chính trị bởi các “chuẩn mực” xã hội do nam giới thống trị, cả ở phạm vi xã hội, lẫn trong các hộ gia đình của riêng họ (Brau & Woller, 2004). Ngoài ra, do mức độ nghèo đói, phần lớn thu nhập ít ỏi kiếm được, người nghèo dành để mua thực phẩm, nước uống và các nhu yếu phẩm khác. Vì vậy, đa số ngườinghèo, người có thu nhập thấp cótrình độ học vấn không cao (Demirguc-Kunt & cộng sự, 2022; Ledgerwood, 1999). Thông qua các hoạt động TCVM, người nghèo, nhất làphụ nữ được tiếp cận cácdịch
vụ tài chính cơ bản, từ đó, có thể giúp họ thay đổi cuộc sống, thoát khỏi đói nghèo, có điều kiện hơn để đầu tưcho sức khỏe (y tế), giáo dục, cũng như cải thiện vị thế vàtiếng nói xã hội của người nghèo, đặc biệt là phụ nữ(Pitt & Khandker, 1998; Ledgerwood, 1999; Robinson, 2001).
•Các khoản vay, giao dịch nhỏ TCVM có giá trị nhỏ
TCVM hướng đến cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản cho người nghèo, người có thu nhập thấp (như tín dụng, tiết kiệm, chuyển tiền, bảo hiểm, lương hưu,..), dođó, các giao dịch TCVM chủ yếu có giá trị nhỏ (Ledgerwood, 1999; Nadiya, 2014; Gibbons & Meehan, 1999).
• Phần lớn các khoản vay không có tài sản bảo đảm
Hoạt động cho vay của các tổ chức TCVM chủ yếu hướng đến người nghèo, người có thu nhập thấp, vì vậy, phần lớn các khoản tín dụng vi mô được mở rộng màkhông cần tài sản thế chấp theo kiểu truyền thống. Nếu tài sản thế chấp là một yêu cầu vay vốn, hầu hết khách hàng TCVM sẽ không thể tham gia do mức độ nghèo nàn của họ. Tuy nhiên, để tăng khả năng thu hồi vốn vay, các tổ chức TCVM tập trung vào việc sử dụng tài sản thế chấp xã hội (social collateral), thông qua cho vay theo nhóm (Brau & Woller, 2004; Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013).
• Lãi suất các khoản cho vay TCVM thường cao hơn lãi suất của các ngân hàng
thương mại
Đối với người nghèo, lãi suất không phải là vấn đềquan trọng nhất mà cách thức phân phối tín dụng và thủtục vay vốn được tinh giản, nhanh chóng và thuận tiện, không làm lỡ cơ hội đầu tư, tiêu dùng khẩn cấp mới là yếu tố quan trọng hàngđầu. Hơn nữa, giá trị các khoản cho vay vi mô thường nhỏ, dođó,dù lãi suất cho vay có phần cao hơn so với các khoản vay được cung cấp bởi ngân hàng thương mại truyền thống thì số tiền lãi phải trả cũng không phải là con số quá cao đối với người vay nhưng đối với tổ chức cho vay (tổ chức TCVM), mức lãi suất cao hơn này được xem là phần bù chấp nhận rủi ro khi cung cấp các khoản cho vay đối với người nghèo (có thu nhập thấp, rủi ro cao,..). Theo đó, mức lãi suất đối với các khoản cho vay vi
mô thường dao động trong khoảng từ 20%/năm – 40%/năm, tùy theo quốc gia và khu vực (Morduch, 2008). Dù vậy, mức lãi suất này vẫn thấp hơn nhiều so với lãi suất
của tư thương không chính thức, lên đến 60%/năm – 120%/năm (Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013).
2.1.5. Những thách thức chính đối với tài chính vi mô
•Nguồn vốn hoạt động hạn chế, còn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn viện trợ, trợ
cấp, vốn ưu đãi
Quá trình hình thành, tồn tại và phát triển các tổ chức hoạt động TCVM gắn liền với sự luân chuyển các nguồn vốn phục vụ cho các hoạt động đặc thù của TCVM, trong đó, nguồn vốn ưu đãi, trợ cấp (vốn từ thiện, vốn tài trợ của Chính phủ và các tổchức phi chính phủ) giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển bền vững của các tổchức hoạt động TCVM, đặc biệt là trong giaiđoạn đầu hìnhthành và phát triển (de Sousa-Shields & Frankiewicz, 2004). Tuy nhiên, nguồn vốn trợ cấp, vốn viện trợ, kểcả vốn ưu đãi là hữu hạn, việc phụ thuộc vào các nguồn vốn này sẽ hạn chế khả năng mở rộng thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về TCVM. Mặt khác, hầu hết các chương trình TCVM, các NGO không được phép huy động tiền gửi tự nguyện từ công chúng và chỉ được cung cấp dịch vụ tiết kiệm và huy động tiền gửi từ chính khách hàng TCVM của họ. Điều này cũng làm hạn chế việc tăng trưởng nguồn vốn tiền gửi nhằm phục vụ cho các hoạt động của các tổ chức TCVM (Ronbinson,2001).
Trong xu thếnguồn vốn ưu đãi, vốn trợcấpngày càng khan hiếm, việc phát triển nguồn vốn thương mại (vốn vay thương mại, vốn huy động từ tiền gửi) phục vụcho các hoạt động TCVM là rất cần thiết. Các tổ chức TCVMhoạt độngtrêncơ sởnguồn vốn thươngmại với độnglực tạo ra lợi nhuận, họ hoạt động tích cực để tăng doanh thu, giảm chi phí nhằm tạo ra doanh thu hiệu quả để trang trải tất cả các chi phí hoạt động, duy trì sự phát triển bền vững mà không phải phụ thuộc vào nguồn vốn ưu đãi hay vốn trợ cấp (Bogan, 2012). Thiếu vốn thương mại cho các hoạt động TCVM là đáng lo ngại. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn là sự ưa thích vốn phi thương mại hơn của hầu hết các tổchức TCVM (de Sousa-Shields & Frankiewicz, 2004). Các tổ chức TCVM được trợ cấp vốn có ít động cơ để tiếp cận nguồn vốn thương mại, vì họtiếp tục nhận được vốn trợcấp, vốn ưu đãi với chi phí thấp (Robinson, 2001). Bên cạnh đó, một số tổ chức TCVM vẫn thích là tổ chức không nhận tiền gửi,
họphụthuộc rất nhiều vào nguồn vốn viện trợ, vốn ưu đãi (de Sousa-Shields & Frankiewicz, 2004).
• Hoạt động TCVM tiềm ẩn nhiều rủi ro
Trong quá trình hoạt động, cung cấp dịch vụtài chínhđến với người nghèo, người có thu nhập thấp, các tổ chức cung cấp TCVM tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong sốđó, phải kể đến các rủi ro chính sau đây: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro an toàn vốn(Ledgerwood, 1999; Ledgerwood & cộng sự, 2013; Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013).
Rủi ro tín dụng: Khách hàng của các tổ chức hoạt động TCVM chủ yếu là người nghèo, thu nhập thấp và không có tài sản bảo đảm, dođó,các khoản cho vayđược cấp chủ yếu dựa vào uy tín của khách hàng trong cộng đồng và sự tin tưởng của các
tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM đối với họ. Mặc khác, trình độ học vấn của khách hàng TCVM thường không cao, vì vậy, họ thường sử dụng nguồn vốn vay kém hiệu quả. Nếu các tổ chức hoạt động TCVM không cung cấp kiến thức để người nghèo
(khách hàng TCVM) có thể sử dụng vốn tốt hơn, biết kiểm soát quá trình sử dụng vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay thì khả năng vỡ nợ (default)là rất cao. Khi đó, tổ chức hoạt động TCVM phải đối mặt với việc gia tăng nợ xấu, tăng rủi ro tín dụng và phải trích lập dự phòng rủi ro mất vốn nhiều hơn. Điều này sẽ gây tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời và tính bền vững của các tổ chức TCVM.
Rủi ro về lãi suất: Tổ chức hoạt động TCVM có chi phí hoạt động rất lớn do phải chuẩn bị về đội ngũ nhân lực tiếp cận với khách hàng, đến tận nơi để cung cấp dịch vụ. Các khoản chi phí để đảm bảo hoạt động TCVM thường cao hơn so với các
tổ chức tài chính thông thường. Dođó,lãi suất cho vay tín dụng vi mô có xu hướng cao hơn lãi suất cho vay thông thường tại các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, nếu lãi suất quá cao sẽ là gánh nặng trả nợ với khách hàng, đặc biệt là người nghèo, gây ra các rủi ro về tín dụng. Vì vậy, việc áp dụng lãi suất cho vay phù hợp để khách hàng không gặp phải rủi ro lãi suất là vấn đề lớn mà các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM cần quan tâm. Mặt khác, Chính phủ các quốc gia cũng thường quy định về mức lãi suất trần trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng và nếu lãi suất trần quá
thấp so với những chi phí mà tổ chức phải chi ra để triển khai sản phẩm thì tổ chức cho vay vi mô sẽ dễ gặp phải rủi ro phá sản, phải ngừng hoạt động
Rủi ro về an toàn vốn: Người nghèo rất dễ bị tác động xấu và khó có khả năng phục hồi bởi các sự cố như thiên tai, mất mùa, dịch bệnh,.. Do đó, một khi các sự cốnày xảy ra sẽ làm ảnhhưởng nặng nề đến thu nhập của người nghèo, làm cho đời sống người nghèo vốn đã khó lại càng khó khăn hơn. Trong hoàn cảnh đó, nếu họ sửdụng vốn vay từ cáchoạt độngTCVM, họ sẽ đối mặt với rủi ro mất khả năng thanh toán. Kết quả là, các tổ chức cho vay vi mô phát sinh các khoản nợ vay không cókhảnăng thu hồi, mất an toàn vốn. Ở một khía cạnh khác, rủi ro an toàn vốn còn đề cập đến vấn đề phânbổ các nguồn vốn một cách hợp lý. Theo đó, các tổ chức hoạt động TCVM quản lý các nguồn vốn hiệu quả sẽ phân bổ vốn hoạt động phù hợp nhằm đạt được cấu trúc vốn tối ưu. Điều này sẽ có lợi cho các tổ chức TCVM trong việc tận dụng các nguồn vốn hoạt động với chính sách giá cả (lãi suất) hợp lý. Từ đó cóthểxây dựng các chính sách kinh doanh mang tính chiến lược nhằm đạt hiệu quả hoạt động lâu dài (Ledgerwood, 1999).
Rủi ro thanh khoản: Khi rủi ro tín dụng, rủi ro mất vốn xảy ra thì các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM sẽ gặp thêm vấn đề về thanh khoản, do nguồn vốn hoạt động TCVM vốn đã khan hiếm, lạicàng khan hiếm hơn.Kếtquảlà, tổchức hoạtđộng TCVM do không đảm bảo được nguồn vốn thực hiện các nghĩa vụ tài chính như chi trả các khoản nợ đến hạn, thanh toán các khoản tiền gửi đến hạn cho khách hàng hoặc không đủ vốn để rộng thị trường, gia tăng dư nợ cho vay,..
Bên cạnh đó, còn có một số loại rủi ro khác như rủi ro chính sách, quản lý, rủi ro tỷ giá đối với các tổ chức TCVM có sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ từ các tổ chức quốc tế,.. (Ledgerwood, 1999; Ngo, 2012; Yaron, 1992).
Ngoài ra, theo Idama & cộng sự (2014), các tổ chức TCVM còn có thể đối mặt với các rủi ro bên ngoài như (1) môi trường cạnh tranh: sựcạnh tranh giữa các tổchức hoạt động TCVM với các tổ chức tín dụng khác, (2) rủi ro về môi trường pháp lý và (3) rủi ro về môi trường kinh tế – xã hội.
• Nhiềutổchức hoạt động TCVM vẫn chưađạt hiệu quảvà tựbền vững (tài
chính) trong quá trình hoạt động
Tài chính vi mô mang lại cho người nghèo cơ hội vượt qua đói nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống và trở nên tự chủ thông qua các mô hình sản xuất kinh doanh nhỏ, phát triển kinh tế, tạo lập sinh kế,.. Tuy nhiên, các tổ chức hoạt động TCVM chỉcó thể duy trì và mở rộng phạm vihoạt độngkhi đảm bảo hiệu quả tài chính nhằm phát triển bền vững. Theo đó, các tổ chức hoạt động TCVM phải tự tạo ra lợi nhuận đủtrang trải cho tất cảcác chi phí trong quá trình hoạt động(Ledgerwood, 1999; CGAP, 2003; Nadiya, 2014). Vì nếu không đạt được bền vững, không bao giờ có đủnguồn vốn trợ cấp để duy trì hoạt động TCVM về lâu dài (Christen, 2000). Bền vững tài chính vì vậy là yêu cầu tiên quyết để các nhà cung cấp TCVM tự chủ tài chính vàtiếp tục duy trì các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính đến với người nghèo, người có thu nhập thấp. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, nhiều tổchức hoạt động TCVM vẫnchưa tựbền vững trong quá trình hoạt động (Ngo, 2012; Hartarska & Nadolnyak, 2007; Abrar & Javaid, 2016; Lê & cộng sự, 2020).
• Nguy cơ trôi dạt sứ mạng trong TCVM
Sứ mạng ban đầu của TCVM là cung cấp dịch vụ tài chính cơ bản đến với người nghèo, người rất nghèo (Aigbokhan, 2008; Hammill & cộng sự, 2008; Mersland & Strom, 2010). Tuy vậy, nhưđã đề cập ở trên,các tổ chức TCVM chỉ có thể duy trìhoạt động và tiếp tục cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo khi họ có thể trang trải tất cả các chi phí, tức là các tổ chức TCVM cần đạt được bền vững trong quá trình hoạt động. Thế nhưng, nếu quá chú trọng đến khả năng bền vững và tự chủ tài chính, các tổ chức hoạt động TCVM có xu hướng hướng đến những khách hàng giàu có hơn
(Hulme & Mosley, 1996; Cull & cộng sự, 2007). Điều nàydễ làm “trôi dạt sứ mạng” (Mission drift) của các tổ chức TCVM. Trôi dạt sứ mạng trong TCVM hàm ý rằng, các tổ chức TCVM, bằng cách nào đó, không cho vay đối với người nghèo, thay vào
đó là khách hàng giàu có hơn, tức là định hướng lại thành phần khách hàng từ người nghèo sang người giàu có hơn (Ashim, 2010; Nadiya, 2014).
2.2. Tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô
2.2.1. Khái niệm tính bền vững của các tổ chức hoạt động TCVM
Có nhiều quan điểm khác nhau về tính bền vững. Tính “bền vững” là “tồn tại lâu dài” (Navajas & cộng sự, 2000), cũng là “khả năng tái diễn hiệu suất theo thời gian” (Schreiner, 2000). Phát triển bền vững, theo Liên Hiệp Quốc, là sự phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng và nhu cầu của thếhệmai sau (Nguyễn Kim Anh & cộng sự, 2013). Theo Thapa
(2007), tính bền vững trong TCVM liên quan đến bền vững về tổ chức, quản lý hoặc tài chính. Mahajan & Nagasri (1999) cho rằng tính bền vững TCVM liên quan đến tính bền vững vềsứmệnh, tính bền vữngvềtài chính, tính bền vững vềnhu cầu, khuôn khổpháp lý và quy định, cũng như quyền sởhữu và quản trịcác tổchức TCVM. Trong số các hình thức bền vững nói trên, vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm nhất trong các nghiên cứu về TCVM là tính bền vững về tài chính (Nadiya, 2014).
2.2.2. Các mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô
Bền vững về tài chính của các tổ chức tài chính vi mô đề cập đến khả năng các tổ chức tài chính vi mô tự tạo ra thu nhập để trang trải tất cả các khoản chi phí trong quá trình hoạt động. Có hai mức độ bền vững tài chính (Financial Sustainability, FS)đối với các tổ chức TCVM4: Tự bền vững về hoạt động (Operational Self- Sustainability, OSS) và tự bền vững về tài chính (Financial Self-Sustainability, FSS) (Ledgerwood, 1999; Foster & cộng sự, 2003; Lê & cộng sự, 2020). Trong đó, thước
4 Ngoài hai chỉ số OSS và FSS, một số tài liệu TCVM còn sử dụng chỉ số phụ thuộc trợ cấp (Subsidy Dependence Index, SDI) để đánh giá khả năng tài chính của một tổ chức TCVM. SDI là một thước đo tính bền vững về tài chính mà một tổ chức TCVM hoạtđộng phụthuộc vào trợ cấp (tổchức TCVM dựa vào tiền trợ cấp để hoạt động), chỉ số này do Jacob Yaron phát triển tại World Bankđểtính toán mức độ mà một tổ chức TCVM cần trợ cấp để kiếm được lợi nhuận bằng chi phí cơ hội của vốn (Ledgerwood, 1999; Robinson, 2001; Yaron, 1992).
đo cơ bản về tính bền vững tài chính của một tổ chức TCVM là OSS(Nadiya, 2014). OSS là thước đo thể hiện khả năng tự tạo ra thu nhập đủ để trang trải chi phí tài chính, chi phí hoạt động và dự phòng rủi ro cho vay (dự phòng mất vốn), bất kể các tổ chức TCVM này cóđược trợ cấp hay không (Meyer, 2002; Ledgerwood, 1999). Một tổchức TCVMbền vững về hoạt động(OSS) nhưvậy cuối cùng được kỳ vọng sẽ đạt được trạng thái bền vững về tài chính (FSS), là một trạng thái bền vững cao hơn, biểu thị khả năng tổ chức TCVM tự tạo ra đủ thu nhập để trang trải mọi chi phí tài chính, chi phí hoạt động, chi phí dự phòng mất vốn và chi phí vốn mà không cần bất kỳ các khoản trợ cấp hoặc các nguồn vốn ưu đãi khác (Ledgerwood, 1999; Rosenberg, 2009; Charitonenko & Campion, 2003).
Bên cạnh bền vững về tài chính, tính bền vững về thể chế (Institutional Self- Sustainability, ISS) của các tổ chức TCVM cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Theo đó, tổ chức TCVM được xem là bền vững về thể chế là tổ chức TCVM phải:
Đăng ký hợp pháp và tuân thủ các yêu cầu về giám sát; Quyền hạn và trách nhiệm được xác định rõ ràng của chủ sở hữu, hội đồng quản trị và ban quản lý; Có đội ngũ các nhà quản lý và kỹthuật viên mạnh mẽđược đào tạo tốt(Ledgerwood, 1999). Theo Nguyễn Kim Anh & cộng sự (2013) trích dẫn quanđiểm bền vững về thể chếcủa tổ chức TCVM từ tổ chức Planetfinance: Tổ chức TCVM được xem là bền vững về thể chế (ISS) đáp ứng các tiêu chí: (i) Cấu trúc quản trị và tư cách pháp lý của tổchức (có pháp nhân và có sựtách bạch giữa chủsởhữu, ban quảntrịvà ban điều hành); (ii) Tổ chức có kế hoạch chiến lược (tầm nhìn, sứ mệnh và các mục tiêu phát triển); (iii) Tổ chức có báo cáo tài chính đúng theo chuẩn mực và được kiểm toán độc lập hàng năm và (iv) Tổ chức có hệ thống quản lý thông tin (MIS) chuyên nghiệp vàminh bạch. Trong khi đó, Charitonenko & Campion (2003), Ledgerwood & cộng sự
(2013) mô tả tính bền vững về thể chế của tổ chức TCVM tăng dần theo mức độ chính thức/ hội nhập khu vực tài chính chính thức (level of fomality/ Integration; level of fomalization) (chi tiết được trình bày tại mục 2.2.3. Đo lường tính bền vững trong TCVM – Tự bền vững về thể chế (ISS)).
Tóm lại, bền vững là tồn tại lâu dài, là khả năng tái diễn hiệu suất theo thời gian. Tính bền vững trong TCVM liên quan nhiều khía cạnh, từ bền vững về nhu cầu,sứmệnh, tổ chức, thể chế,.. đến tính bền vững về tài chính. Tuy nhiên, tính bền vững thu hút nhiều quan tâm nhất trong TCVM là bền vững về tài chính, với haimức độbền vững:Bền vững về hoạt động(OSS) và bền vững về tài chính (FSS). Trong đó, thước đo cơ bản về tính bền vững tài chính của các tổ chức TCVM là OSS, là thước đo thể hiện khả năng của nhà cung cấp TCVM tự tạo ra đủ thu nhập từ hoạt động đểtrang trải chi phí tài chính, chi phí hoạt động và dự phòng rủi ro cho vay (dự phòng mất vốn).
Như vậy, tổ chức TCVM không thể mở rộng phạm vi hoạt và cung cấp dịch vụTCVM đến với khách hàng (người nghèo, người có thu nhập thấp) ngày càng nhiều hơn, thậm chí họ không thể tiếp tục duy trì hoạt động, nếu không phát triển bền vững. Rõ ràng, nghiên cứu chuyên sâu về tính bền vững các hoạt động TCVM có ý nghĩa cấp bách và thiết thực. Với góc độ tiếp cận từ các tổ chức TCVM (nhằm nâng cao tính tự chủ, độc lập về tài chính), luận án này đặt trọng tâm nghiên cứu tính bền vữngở khía cạnh bền vững hoạt hoạt động (OSS), là mức thước đo cơbản về bền vữngtài chính của các tổ chức TCVM.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô – Nghiên cứu trường hợp một số quốc gia Đông Nam Á
Tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô – Nghiên cứu trường hợp một số quốc gia Đông Nam Á Tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô – Nghiên cứu trường hợp một số quốc gia Đông Nam Á Tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô – Nghiên cứu trường hợp một số quốc gia Đông Nam Á Tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô – Nghiên cứu trường hợp một số quốc gia Đông Nam Á Tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô – Nghiên cứu trường hợp một số quốc gia Đông Nam Á Tính bền vững của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô – Nghiên cứu trường hợp một số quốc gia Đông Nam Á

