Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Đất nước chúng ta tuy chiến tranh đã kết thúc hơn 40 năm nhưng đến nay vẫn còn để lại hàng nghìn tấn bom, mìn, vật liệu nổ. Chỉ tính riêng số bom, mìn do quân đội Mỹ sử dụng tại Việt Nam là trên 15 triệu tấn, trong đó có khoảng 10% không phát nổ, hiện đang nằm rải rác trên diện tích khoảng 6,6 triệu ha của trên 10.500 xã trong cả nước (chưa kể trên biển). Có rất nhiều vụ nổ bom, mìn, vật liệu nổ đã xảy ra mà nguyên nhân chủ yếu là do người dân tự phá để lấy thuốc nổ và phế liệu để bán hoặc sử dụng.
Tỉnh Quảng Nam nằm ngay giữa miền trung Việt Nam, là địa phương có hai di sản văn hóa được thế giới công nhận, với diện tích 10.406 km2 và gần 1,5 triệu người gồm các dân tộc: Kinh, Hoa, Cơtu, Xê Đăng, Giẻ Triêng, Cor,… gồm 18 đơn vị hành chính (02 thành phố, 01 thị xã, 15 huyện). Trong những năm tháng kháng chiến, Quảng Nam là một trong những địa phương chịu nhiều sự tàn phá nặng nề của chiến tranh. Sau ngày đất nước giải phóng, số lượng bom, mìn, vật liệu nổ còn sót lại rất nhiều. Bên cạnh đó, được thiên nhiên ưu đãi, Quảng Nam có các mỏ vàng Bồng Miêu, Phước Sơn,… có các mỏ đá ở Quế Sơn, Nông Sơn,… với trữ lượng lớn được xem như báu vật nằm im trong lòng đất. Nguồn khoáng sản quý này đã đem lại cho người dân những giá trị vật chất vô cùng to lớn. Tuy nhiên, cùng với dòng chảy của nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực, nhiều vấn đề tiêu cực theo đó nảy sinh. Tình trạng khai thác trái phép diễn ra phức tạp, kéo dài. Mỗi năm có hàng trăm người dân từ khắp nơi đổ về các khu vực mỏ vàng, mỏ đá trên địa bàn tỉnh Quảng Nam dựng lán trại, sử dụng vật liệu nổ để khai phá đất và đá làm mất an ninh trật tự ở địa phương, gây ô nhiễm môi trường. Thực tế là vậy, xong cơ chế quản lý và chính sách pháp luật không phải lúc nào cũng ngay lập tức, kịp thời, phù hợp với thực trạng trên.
Việc nghiên cứu tội phạm cụ thể, ở đây là tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ được quy định trong Bộ luật hình sự dưới góc độ thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam không những có ý nghĩa sâu sắc về mặt lý luận mà bao hàm cả thực tiễn áp dụng pháp luật. Thông qua đề tài nhằm đưa ra một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ. Đồng thời, giúp người tiến hành tố tụng có cái nhìn toàn diện, khách quan, định tội danh và quyết định hình phạt chính xác hơn đối với loại tội này. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để thực hiện dưới dạng luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ. Nêu và phân tích những vấn đề chung về định tội danh và quyết định hình phạt. Kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nhằm đưa ra giải pháp, góp phần bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm ở địa phương nói riêng, trong cả nước nói chung.
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, những nhiệm vụ cụ thể cần phải thực hiện là: Nghiên cứu khái niệm và các dấu hiệu pháp lý, khái quát quá trình lập pháp hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ. Trình bày thực tiễn áp dụng các quy định đối với loại tội phạm này tại tỉnh Quảng Nam trong 05 năm (từ năm 2011 đến năm 2015). Đồng thời nêu một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ tại tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ dưới góc độ pháp luật hình sự và hoạt động định tội danh, định khung hình phạt cũng như quyết định hình phạt đối với loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một cách linh hoạt, đan xen các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp vụ án điển hình, phương pháp lịch sử và nghiên cứu thực tiễn…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn.
6.1. Ý nghĩa lý luận: Kết quả của hoạt động nghiên cứu lý luận góp phần làm nguồn tư liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp người tiến hành tố tụng ở tỉnh Quảng Nam nói riêng và địa phương khác nói chung trong hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ được chính xác hơn nhằm thực hiện hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Ngoài Phần mở đầu; Phần kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo; Danh mục các chữ viết tắt và Danh mục các bảng biểu, nội dung luận văn gồm 3 Chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2011 đến năm 2015.
Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHẾ TẠO, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT VẬT LIỆU NỔ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm
Theo Từ điển bách khoa mở, vật liệu nổ là chất hóa học hay các hợp chất, các vật liệu có khả năng tạo thành một thể tích khí lớn (gấp 15.000 lần thể tích ban đầu), phát ra nhiệt độ cao (3.000 – 4.000 độ C), áp suất rất cao, trong thời gian rất ngắn (1/10.000 giây). Các đặc trưng của một vật liệu nổ: Nó là một chất hóa học hay hợp chất hóa học không an định (không bền). Sự tăng lên đột ngột của chất nổ thường kết hợp bởi việc tạo ra nhiệt độ cao và thay đổi rất lớn về áp suất. Chất nổ có khả năng tạo ra một vụ nổ khi có kích thích ban đầu. Các kích thích ban đầu có thể là các xung cơ học, đâm chọc, va đập, cọ xát, nhiệt.
Qua khái niệm trên cho thấy định nghĩa về vật liệu nổ theo phương diện hóa học, qua đó thể hiện các chất tạo thành vật liệu nổ, chu trình hoạt động của các chất tạo ra chất nổ.
Tại Điều 3 Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30 tháng 6 năm 2011 giải thích về vật liệu nổ như sau:
6. Vật liệu nổ gồm thuốc nổ và các phụ kiện nổ.
7. Vật liệu nổ quân dụng là vật liệu nổ sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh.
8. Vật liệu nổ công nghiệp là vật liệu nổ sử dụng cho mục đích sản xuất công nghiệp, kinh tế, dân sinh [43].
Tại Điều 3 Nghị định số 39/2009/NĐ-CP ngày 23/4/2009 giải thích về thuốc nổ và các phụ kiện nổ như sau:
1. “Thuốc nổ” là hóa chất hoặc hỗn hợp hóa chất được sản xuất, sử dụng nhằm tạo ra phản ứng nổ dưới tác động của các kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện.
2. “Phụ kiện nổ” là các loại kíp nổ, dây nổ, dây cháy chậm, mồi nổ, các vật phẩm chứa thuốc nổ có tác dụng tạo kích thích ban đầu làm nổ khối thuốc nổ hoặc các loại thiết bị chuyên dùng có chứa thuốc nổ [7].
Tại khoản 1 Điều 232 BLHS năm 1999 và khoản 1 Điều 305 BLHS năm 2015 quy định như sau: “1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
1.1.2.1. Khách thể của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ là tội xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về vật liệu nổ, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự xã hội.
Đối tượng tác động của tội phạm này là vật liệu nổ, bao gồm thuốc nổ và các phụ kiện nổ như các loại kíp nổ, dây nổ, dây cháy chậm, mồi nổ, các vật phẩm chứa thuốc nổ có tác dụng tạo kích thích ban đầu làm nổ khối thuốc nổ hoặc các loại thiết bị chuyên dùng có chứa thuốc nổ. Tuy nhiên, chỉ vật liệu nổ công nghiệp mới là đối tượng của tội phạm này.
1.1.2.2. Mặt khách quan của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở các hành vi cụ thể: Chế tạo trái phép vật liệu nổ; Tàng trữ trái phép vật liệu nổ; Vận chuyển trái phép vật liệu nổ; Sử dụng trái phép vật liệu nổ; Mua bán trái phép vật liệu nổ; Chiếm đoạt vật liệu nổ.
1.1.2.3. Chủ thể của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
Chủ thể của tội phạm này là người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm, có năng lực TNHS và đủ độ tuổi chịu TNHS theo luật định. Người từ đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ trong mọi trường hợp phạm tội.
1.1.2.4. Mặt chủ quan của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
Mặt chủ quan của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ được thực hiện do lỗi cố ý. Về mặt lý trí, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là hành vi trái pháp luật hình sự và nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Động cơ và mục đích phạm tội thực hiện không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ.
1.2.1. Khái quát quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985: trong suốt giai đoạn này, pháp luật hình sự Việt Nam hầu như không có quy định nào riêng liên quan đến tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ.
Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 2015: BLHS năm 1985 tại điều 96 quy định như sau: “1. Người nào chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc hoặc chất phóng xạ thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”. Điều 232 BLHS năm 1999 quy định như sau: “1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”. Tuy nhiên, sự phát triển của xã hội các quy định của pháp luật hình sự chặt chẽ hơn và BLHS năm 2015 tại Điều 305 đã cụ thể hóa những quy định chung chung của Điều 232 BLHS năm 1999, theo đó xác định số lượng thuốc nổ, nụ xùy, ống nổ, dây cháy chậm, dây nổ và xác định mức độ hậu quả thiệt hại đối với con người và tài sản theo các khoản 2, 3, 4. Đồng thời, mức quy định của hình phạt bổ sung là phạt tiền không còn phù hợp với đời sống xã hội hiện nay nên đã nâng mức khởi điểm từ năm triệu đồng lên mười triệu đồng.
1.2.2. Quy định về cấu thành tội phạm
Dựa vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được CTTP mô tả, người ta phân chia các CTTP thành CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng, CTTP giảm nhẹ.
Đối với tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, theo khoản 1 Điều 305 của BLHS: Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Khoản 1 của điều luật quy định cấu thành cơ bản của tội phạm này.
1.2.3. Quy định về các tình tiết định khung tăng nặng
Theo quy định tại khoản 2 Điều 305 BLHS thì có những tình tiết định khung tăng nặng sau đây:
b) Thuốc nổ các loại từ 10 kilôgam đến 30 kilôgam hoặc từ 1.000 đến 3.000 nụ xùy hoặc ống nổ, từ 3.000 mét đến dưới 10.000 mét dây cháy chậm, dây nổ;
c) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;
d) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60 %;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121 %;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
Khoản 3 Điều 305 BLHS thì có những tình tiết định khung tăng nặng sau đây:
a) Thuốc nổ các loại từ trên 31 kilôgam đến 100 kilôgam; từ 3.001 đến 10.000 nụ xùy hoặc ống nổ hoặc từ 10.000 mét đến dưới 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ;
b) Làm chết 02 người;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61 % trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200 %;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
Khoản 4 Điều 305 BLHS thì có những tình tiết định khung tăng nặng sau đây:
a) Thuốc nổ các loại từ trên 101 kilôgam trở lên; từ 10.001 nụ xùy hoặc ống nổ trở lên hoặc từ 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ trở lên;
b) Làm chết 03 người trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61 % trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201 %;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.500.000.000 đồng trở lên;
1.2.4. Quy định về hình phạt trong chế tài
Khung cơ bản ở khoản 1 có mức hình phạt tù từ một năm đến năm năm.
Khung tăng nặng ở khoản 2 có mức phạt tù từ ba năm đến mười năm.
Khung tăng nặng ở khoản 3 có mức phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
Khung tăng nặng ở khoản 4 có mức phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.
1.3. Phân biệt tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ với các tội về súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự (Điều 306 BLHS năm 2015)
Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự là hành vi làm ra, cất giữ, chuyển dịch, bán hay mua để bán lại, cướp, bắt cóc nhằm chiếm đoạt, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, tham ô, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự. Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Người phạm tội thực hiện hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái phép (trừ hành vi chiếm đoạt) nhưng vẫn thực hiện.
Bộ luật hình sự Liên bang Nga (được Đuma Quốc gia thông qua ngày 24/5/1996; được Hội đồng Liên bang phê chuẩn ngày 05/6/1996) có những quy định tại Điều 222: Tội mua, chuyển giao, tiêu thụ, tàng trữ, vận chuyển hoặc mang theo trái phép vũ khí, các bộ phận chính của vũ khí, đạn dược, chất nổ và thiết bị gây nổ: “Hành vi mua, chuyển giao, tiêu thụ, tàng trữ, vận chuyển hoặc mang theo trái phép vũ khí, các bộ phận chính của vũ khí, đạn dược (trừ trường hợp là vũ khí dân dụng không có rãnh nòng hay nòng trơn, các bộ phận chính của vũ khí này và đạn dược đi kèm với nó), chất nổ và thiết bị gây nổ – bị hạn chế tự do đến ba năm, hoặc bị phạt giam đến sáu tháng, hoặc bị phạt tù đến bốn năm có hoặc không kèm theo bị phạt tiền đến tám mươi nghìn rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến ba tháng”. [34].
Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997 (sửa đổi, bổ sung các năm 1999, 2001, 2002, 2005) quy định về các tội phạm liên quan đến vật liệu nổ nằm trong chương II – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, bên cạnh đó các hành vi này nếu nhằm mục đích chống chính quyền thì cũng bị xử lý về các tội xâm phạm an ninh quốc gia tương ứng. Điều 125 quy định: “Người nào chế tạo, mua bán, vận chuyển, gửi bưu kiện, tàng trữ súng ống, đạn dược, chất nổ thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm; nếu có tình tiết nghiêm trọng, thì bị phạt tù đến 10 năm, tù chung thân hoặc tử hình” [18, tr.87].
Ở Canada, các tội phạm về vật liệu nổ được quy định tại Phần III – Súng và vũ khí khác của BLHS, trong đó, có các quy định về giải thích từ ngữ, các tội về chiếm hữu vũ khí, vật liệu nổ, … Cụ thể: hành vi chiếm hữu vũ khí, vật liệu nổ được quy định áp dụng trong trường hợp “Một người phạm tội khi mang theo hoặc chiếm hữu vũ khí, vũ khí giả, thiết bị bị cấm, đạn dược, chất nổ hoặc đạn dược bị cấm bất kì cho các mục đích nguy hiểm cho hòa bình công cộng hoặc cho mục đích gây án” [33, tr.278].
Trong Luật hình sự Thụy Điển (được thông qua năm 1962, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1965, được sửa đổi gần đây nhất vào ngày 01/5/1999), tội phạm liên quan đến vật liệu nổ được quy định rải rác trong các điều luật, trong đó, có quy định tại Chương 22 về Các tội phản bội tổ quốc và các tội phạm có liên quan (Phần hai – Các tội phạm), cụ thể về hành vi sản xuất, chiếm đoạt, đặc biệt là hành vi chuyển giao mìn nổ gây khả năng sát thương, với những người có hành vi sử dụng, phát triển, sản xuất, chiếm đoạt, chiếm hữu hoặc chuyển giao mìn sát thương thì sẽ “bị phạt tù đến bốn năm về tội hoạt động trái phép liên quan đến mìn sát thương, trừ trường hợp hành vi này được coi tội phạm theo pháp luật quốc tế” [37, tr.214].

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CHẾ TẠO, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
SỬ DỤNG, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT
VẬT LIỆU NỔ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
Trong 05 năm kể từ năm 2011 đến năm 2015, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã xảy ra 4427 vụ phạm pháp hình sự, trung bình mỗi năm xảy ra 885,4 vụ. Trong đó, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng là 1343 vụ, chiếm tỷ lệ 30,33%. Riêng đối với tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ đã xảy ra 102 vụ.
Số vụ án và số bị cáo phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ chiếm tỷ lệ lớn trong nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng tại tỉnh Quảng Nam. Trong 05 năm từ năm 2011 đến năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã xét xử sơ thẩm 102 vụ trên 105 bị cáo phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ. Như vậy, trung bình mỗi năm có khoảng 20,4 vụ chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ với khoảng 21 người phạm tội bị đưa ra xét xử.
Trên thực tế Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã tham khảo Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 07/01/1995 hướng dẫn áp dụng thống nhất trong việc điều tra, truy tố và xét xử đối với các hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 96 BLHS 1985. Theo đó chủ yếu căn cứ vào số lượng vật liệu nổ bắt được để truy cứu TNHS. Các cơ quan THTT trong quá trình định tội danh đối với các bị cáo đã đánh giá một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án hình sự để xem xét, định tội danh một cách đầy đủ, chính xác, các tình tiết trong hành vi phạm tội đã thỏa mãn các yếu tố CTTP đã được quy định trong Điều 232 BLHS năm 1999.
Qua khảo sát thực tế hoạt động định khung hình phạt đối với tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ thuộc loại CTTP này, tác giả thấy rằng ở khoản 2 (chiếm tỷ lệ 90%), khoản 3 (chiếm tỷ lệ 10%) của điều 232 BLHS năm 1999.
Từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam, định khung hình phạt theo khoản 2, 3 BLHS năm 1999 chủ yếu theo các điểm: Vật phạm pháp có số lượng lớn; vật phạm pháp có số lượng rất lớn; gây hậu quả nghiêm trọng; gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc tái phạm nguy hiểm; không có trường hợp nào có tổ chức, vận chuyển, mua bán qua biên giới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, về mặt lý luận, trong quá trình định khung hình phạt vẫn có những câu hỏi đặt ra, thực tiễn giải quyết vẫn còn mang tính tùy nghi. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là Liên ngành trung ương chưa có văn bản hướng dẫn để áp dụng thống nhất cho các cơ quan tố tụng giải quyết.
Thực tiễn quyết định hình phạt tại tỉnh Quảng Nam đối với các bị cáo phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong 05 năm, từ năm 2011 đến năm 2015, đa số đúng quy định pháp luật, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm này ở địa phương. Hình phạt chính được áp dụng chủ yếu là hình phạt tù dưới ba năm, áp dụng với 71 người phạm tội, chiếm tỷ lệ cao nhất (67,61%) và hình phạt tù trên dưới 3 năm nhưng cho hưởng án treo, chiếm tỷ lệ (20%).
Những sai sót hạn chế trong việc quyết định hình phạt thường là trong việc áp dụng pháp luật Tòa án đã so sánh, đánh giá không đúng về những tình tiết của vụ án với những căn cứ quyết định hình phạt. Quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ của Tòa án chính là quyết định hình phạt không tương xứng với tội phạm đã thực hiện.
Thứ nhất, về nguyên nhân chủ quan:
Một số Thẩm phán chưa đánh giá đúng hoặc còn lúng túng trong việc đánh giá tình tiết, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án nên không tránh khỏi sai sót.
Thứ hai, về nguyên nhân khách quan:
Liên ngành trung ương chưa có một văn bản hướng dẫn cụ thể về định lượng vật phạm pháp để truy tố, xét xử nên cách hiểu và vận dụng mang tính tùy tiện trong một số trường hợp.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CHẾ TẠO, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG, MUA BÁN
TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT VẬT LIỆU NỔ
Các nhà làm luật vẫn còn bỏ ngõ tình tiết “có tính chất chuyên nghiệp” do trong thực tiễn giải quyết các vụ án về tội liên quan đến vật liệu nổ, người phạm tội còn có hành vi chế tạo hoặc tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ diễn ra thường xuyên, lặp đi lặp lại.
Bên cạnh đó, cần quy định hành vi cướp vật liệu nổ là tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 2 Điều 305 BLHS năm 2015. Bởi đây là hành vi có tính nguy hiểm cao hơn rõ rệt so với các hành vi chiếm đoạt khác như trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm…
Quy định về vận chuyển, mua bán vật liệu nổ qua biên giới, BLHS năm 2015 chưa quy định cụ thể về việc mua bán thuốc nổ qua biên giới hay mua bán thuốc nổ trong nước là hình thức như thế nào.
Về trường hợp khi người dân lấy bom, mìn còn sót lại trong chiến tranh, do nhiều nguyên nhân mà người dân tìm cách tháo bom, mìn để lấy thuốc nổ và sử dụng trái phép. Trong những trường hợp này nếu hành vi đó đủ yếu tố cấu thành của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ sẽ bị coi là phạm tội liên quan đến vật liệu nổ và bị xử phạt tương ứng với hành vi phạm tội. Thực tế sẽ dẫn đến trong một số trường hợp cụ thể hình thức xử phạt quá nghiêm khắc so với hành vi phạm tội, không hợp lý. Để đảm bảo hiệu quả của việc áp dụng pháp luật, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự đồng thời ngăn ngừa được hành vi phạm pháp, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về trường hợp người dân lấy bom, mìn còn sót lại trong chiến tranh để bán hoặc sử dụng.
Cần thường xuyên giáo dục, nâng cao dân trí cho nhân dân để làm cho mọi người nhận thức đầy đủ, đúng đắn về các vấn đề đã được đặt ra trong cuộc sống.
Các đối tượng người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa kháng chiến cũ ở mọi vùng, miền của nước ta, đặc biệt là người dân ở các vùng còn nhiều bom, mìn sót lại từ chiến tranh cần được quan tâm với các chính sách cụ thể về giáo dục, tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật, giúp người dân nhận thức được sự nguy hiểm của bom, mìn…
Mọi trường hợp xử lý hành chính về hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ do cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành phải được thông báo về cơ quan quản lý hồ sơ. Bên cạnh đó, công tác thống kê báo cáo cần phải cải cách để việc thống kê tội phạm được chính xác là: chỉ thống kê những vụ chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ có đủ yếu tố cấu thành tội phạm còn những vụ liên quan đến vật liệu nổ không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chuyển xử lý bằng các hình thức khác không liệt kê vào sổ thống kê tội phạm. Làm được điều này tỷ lệ tội phạm được khám phá sẽ tăng lên và sát thực tế hơn.
Đối với hoạt động điều tra tội phạm: phải có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với nhau để áp dụng các biện pháp nghiệp vụ như: Thu thập rộng rãi tình hình, thông tin trong quần chúng nhân dân để phát hiện nhận định đối tượng gây án. Bên cạnh đó, cần phải quán triệt nhận thức về tầm quan trọng của công tác khám nghiệm hiện trường và đảm bảo các vụ chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ xảy ra đều phải được khám nghiệm hiện trường.
Đối với hoạt động truy tố người phạm tội: thường xuyên nắm tin báo, quản lý, thụ lý tin báo được đầy đủ về các hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ. Định kỳ, tổ chức nắm, kiểm tra việc tiếp nhận, xử lý tin báo tội phạm ở một số cơ quan có chức năng điều tra ban đầu, tại các Ủy ban nhân dân cấp xã; kiểm tra những thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng. Thường xuyên họp bàn với các cơ quan có thẩm quyền và cơ quan chức năng để thống nhất xử lý những tin báo có tình tiết phức tạp, có khác nhau về quan điểm; tin báo được công chúng, dư luận quan tâm để thống nhất xử lý, nhất là xử lý khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can.
Đối với giai đoạn xét xử vụ án: Thẩm phán được phân công cần nghiên cứu, nắm bắt thông tin trong vụ án hồ sơ vụ án để từ đó có hướng giải quyết, đảm bảo xử lý vụ án đúng hạn, xét xử đúng người, đúng tội.
Quản lý về hộ khẩu: Trong tình hình dân số ngày càng tăng, việc di dân tự do, đặc biệt là dân lao động tự do ở địa phương này đến địa phương khác làm ăn, sinh sống diễn biến phức tạp, gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý. Vì vậy cần phải có những quy định cụ thể đối với họ để đảm bảo việc quản lý người dân được chặt chẽ, qua đó giúp cho cơ quan chức năng biết được người nào mới thâm nhập vào địa bàn và người nào không có mặt tại địa bàn. Từ đó khi xảy ra tội phạm, cơ quan Công an có thể khoanh vùng đối tượng là người trong địa bàn hay ngoài địa bàn gây án, giúp cho việc điều tra khám phá được dễ dàng.
Công tác quản lý, giáo dục đối tượng: Đối với các đối tượng, nhất là các đối tượng chấp hành xong hình phạt tù trở về sống ở các xã, phường, thị trấn… phải được quản lý chặt chẽ và giáo dục phù hợp. Đặc biệt cần có sự phối hợp giữa ngành Công an với chính quyền cơ sở, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế ở địa phương phải tham gia thì việc giáo dục đối tượng sẽ mang lại kết quả thiết thực.
Tăng cường hợp tác quốc tế về vấn đề phòng, chống tội phạm về chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ.
Nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra tội phạm nói chung, tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ nói riêng luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học và cán bộ hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ chuyên ngành hình pháp học tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ. Mặt khác, trong những năm gần đây, tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ diễn biến rất phức tạp; trong khi đó, công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với tội phạm này đã bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc và bất cập, nên đã hạn chế hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ. Nhận thức được tính cấp thiết của việc nghiên cứu lý luận, đánh giá thực tiễn điều tra, xử lý tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ để đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng, hiệu quả điều tra đối với tội phạm này, tác giả luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ hiện nay.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, kết hợp với phân tích lý luận, khảo sát thực tế về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ thời gian qua, luận văn đã tiếp cận vấn đề nghiên cứu và luận giải ở bình diện lý luận để làm sáng tỏ khái niệm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, đồng thời phân tích các dấu hiệu pháp lý quy định về trách nhiệm hình sự đối với tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ. Bên cạnh đó, đã phân tích một cách sâu sắc đặc tính hình sự của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ và chỉ rõ những vấn đề cần phải chứng minh trong quá trình giải quyết các vụ phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ. Khái quát được thực trạng tình hình tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ và làm rõ thực trạng của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ.
Tỉnh Quảng Nam trong những năm gần đây, tình hình tội phạm nói chung rất phức tạp. Do đó, việc nghiên cứu đề tài: “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” có ý nghĩa hơn bao giờ hết.
Trên cơ sở những lý luận đó, tác giả đi sâu phân tích những vấn đề mang tính thực tiễn khi áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam từ năm 2011 đến năm 2015 (có tính toán số liệu cụ thể và các ví dụ chứng minh). Thực tiễn định tội danh (theo cấu thành tội phạm, theo cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng), thực tiễn định khung hình phạt, thực tiễn quyết định hình phạt (theo các khoản, khung). Từ đó, tác giả đưa ra những bất cập, những hạn chế và nguyên nhân cũng như giải pháp khắc phục những bất cập, hạn chế đó. Với những đề xuất được trình bày trong luận văn, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào hoạt động quyết định hình phạt cũng như đấu tranh, phòng chống tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ một cách tích cực và hiệu quả.
Với khả năng và thời gian nghiên cứu có hạn, quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những sai sót nhất định. Vì vậy, với tinh thần học hỏi cầu tiến, tác giả rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi của Qúy thầy cô, các nhà khoa học, cán bộ thực tiễn và đồng nghiệp để tác giả có thể tiếp tục hoàn thiện hơn đối với vấn đề mình nghiên cứu trong tương lai. Qua đây, tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến người hướng dẫn khoa học TS Đỗ Đức Hồng Hà đã giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành luận văn này.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HINH SU\LE THANH HAI\New folder


