Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 5
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tình hình tai nạn giao thông trong những năm qua trên cả nước nói chung và trên địa bàn Quân khu 5 nói riêng diễn biến phức tạp và gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho xã hội. Đứng trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng đã và đang tích cực, chủ động đưa ra nhiều giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất số vụ tai nạn giao thông có thể xảy ra. Nhưng trên thực tế tình trạng vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vẫn chưa có chiều hướng suy giảm. Một số vụ vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ xảy ra trong thời gian qua đã gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về người và tài sản.
Việc ADPL trong hoạt động xét xử tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của các Tòa án quân sự khu vực – Quân khu 5, mặc dù đã đem lại kết quả nhất định nhưng vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót do nhiều nguyên nhân như: các quy định của pháp luật hình sự về loại tội phạm này chưa thật sự rõ ràng, cụ thể, các văn bản hướng dẫn thi hành chưa đầy đủ, kịp thời, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán chưa cao… Tất cả những điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu làm rõ những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam, đánh giá thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự để xử lý loại tội phạm này. Vì lý do đó, tác giả chọn Đề tài: “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 5” làm Luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn ADPL hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Điều 202 BLHS Việt Nam năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 của các Tòa án quân sự khu vực – Quân khu 5, tác giả đã đưa ra các giải pháp đảm bảo hiệu quả ADPL hình sự trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn Quân khu 5 trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết như sau:
– Phân tích làm sáng tỏ những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Điều 202 BLHS Việt Nam năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.
– Khái quát quá trình lập pháp hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ giai đoạn từ năm 1945 đến BLHS năm 2015.
– Khái quát những vấn đề lý luận và phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm này của các Tòa án quân sự khu vực – Quân khu 5.
– Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ADPL hình sự đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Quân khu 5.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận, quy định của BLHS về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và thực tiễn xét xử của các Tòa án quân sự khu vực – Quân khu 5 về tội phạm này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh, quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ dưới góc độ Luật hình sự Việt Nam trên địa bàn Quân khu 5; thời gian 05 năm (2011 – 2015).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tội phạm nói chung và đấu tranh phòng, chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một cách linh hoạt và đan xen các phương pháp nghiên cứu của khoa học Luật hình sự như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và khảo sát thực tiễn…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã đánh giá khái quát quá trình hình thành và hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ qua các giai đoạn phát triển của đất nước, làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 202 BLHS Việt Nam năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 (nay là Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, được quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015).
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá hoạt động ADPL hình sự để xử lý tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của các Tòa án quân sự khu vực – Quân khu 5, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả ADPL hình sự để xử lý tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, góp phần vào công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn Quân khu 5 nói riêng và các địa phương khác nói chung trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt và danh mục các bảng biểu, Luận văn có kết cấu gồm 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của các Tòa án quân sự khu vực – Quân khu 5.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI
VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Giai đoạn 1945 – 1985
Trước khi BLHS năm 1985 ra đời, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chưa được quy định thành một tội phạm độc lập mà chỉ mới được hướng dẫn xử lý hành vi phạm tội trong lĩnh vực giao thông đường bộ bằng các Thông tư, Sắc luật… Hình phạt được quy định đối với tội phạm này là rất nghiêm khắc, có thể xử phạt đến tử hình; mặc dù thực tiễn giai đoạn đó không ghi nhận trường hợp nào bị xử phạt tử hình về tội phạm này.
1.1.2. Giai đoạn 1985 – 1999 (theo Bộ luật hình sự năm 1985)
BLHS năm 1985 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa VII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 27/6/1985 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1986, đây là BLHS đầu tiên của Nhà nước ta.
Tại Điều 186, Chương VIII – Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính, quy định Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng
Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo BLHS năm 1985 được quy định chung trong tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng.
Kể từ khi ban hành đến năm 1999, BLHS năm 1985 được sửa đổi, bổ sung 04 lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997. Qua các lần sửa đổi, bổ sung, nội dung cơ bản của Điều 186 không có gì thay đổi, chỉ có sự thay đổi về tên của tội danh từ tội “vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiệm trọng” thành tội “vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải” (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985 đã được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt nam thông qua ngày 12/8/1991).
1.1.3. Giai đoạn 1999 đến nay (theo Bộ luật hình sự năm 1999)
BLHS năm 1999 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2000.
Trong BLHS năm 1999, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định tại Điều 202, Chương XIX – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng.
1.1.4. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Bộ luật hình sự năm 2015
BLHS năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015. Trong BLHS năm 2015, tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại Điều 260, Chương XXI – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng.
Trên cơ sở khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS năm 1999: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”, tác giả đưa ra khái niện tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:
“Tội phạm vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là tội phạm được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS sự điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời”.
- 1.2.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
1.2.2.1. Khách thể
Khách thể của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là: “Hành vi phạm tội xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông vận tải đường bộ, an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tài sản của Nhà nước, của các chủ thể khác trong xã hội”.
Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là tội phạm có cấu thành vật chất nên ngoài hành vi khách quan, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là dấu hiệu bắt buộc phải có trong CTTP.
+ Hành vi khách quan của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ.
+ Hậu quả của hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ: Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Đó là thiệt hại về tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác.
+ Về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và thiệt hại xảy ra:
Hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với hậu quả do hành vi đó gây ra phải có mối quan hệ nhân quả với nhau, nghĩa là hành vi vi phạm đó phải có trước và là nguyên nhân gây ra hậu quả, đồng thời hậu quả đó phải do chính hành vi đó trực tiếp gây ra.
1.2.2.3. Chủ thể
Chủ thể của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là người trực tiếp điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ, từ đủ 16 tuổi trở lên và không ở trong tình trạng không có năng lực TNHS.
1.2.2.4. Mặt chủ quan
Đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ lỗi là yếu tố bắt buộc trong CTTP của tội này, còn động cơ, mục đích không phải là yếu tố bắt buộc.
Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được thực hiện với lỗi vô ý ở một trong hai dạng, đó là: lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc lỗi vô ý vì cẩu thả.
1.3.1. Chế tài theo khung cơ bản
Mức hình phạt quy định trong cấu thành cơ bản của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là: “Phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”. Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội mà người phạm tội có thể bị áp dụng một trong ba hình phạt nêu trên.
1.3.2. Chế tài theo các khung tăng nặng
* Khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:…
* Khoản 3 Điều 202 BLHS năm 1999, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, quy định: “Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”.
1.3.3. Hình phạt bổ sung
Theo khoản 5 Điều 202 BLHS năm 1999, đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, ngoài việc áp dụng hình phạt chính thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ÐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM QUY ÐỊNH VỀ ÐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA CÁC
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC – QUÂN KHU 5
2.1.1. Thực tiễn định tội danh theo cấu thành cơ bản
Việc định tội danh của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong thời gian qua của các cơ quan tiến hành tố tụng Quân khu 5 cơ bản là đúng với diễn biến hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế, đã góp phần đấu tranh có hiệu quả tương đối tốt đối với loại tội phạm này.
Các vụ án nói chung và các vụ án về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng khi xảy ra đều đã được khởi tố, điều tra, truy tố đúng tội danh. Trong 05 năm, từ năm 2011 đến năm 2015 không có vụ án nào về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bị Tòa án quân sự khu vực – Quân khu 5 trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
2.1.2. Thực tiễn định tội danh theo các khung tăng nặng
– Về tình tiết “không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999:
Trong thời gian qua trên địa bàn Quân khu 5 có nhiều trường hợp người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây tai nạn giao thông và bị truy tố, xét xử theo điểm a khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999.
– Về tình tiết “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999:
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ít khi được áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này.
– Về tình tiết “Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999:
Trên thực tế rất ít trường hợp sau khi gây tai nạn, người gây tai nạn điều khiển phương tiện đã gây tai nạn bỏ chạy khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn, nên thực tế ít khi được áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này.
– Về tình tiết “Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999:
Trên thực tế rất ít trường hợp sau khi gây tai nạn giao thông mà người điều khiển phương tiện gây tai nạn lại không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông để điều khiển phương tiện gây tai nạn bỏ chạy, nên việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này trên thực tế hầu như không có.
– Về tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 202 và “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại khoản 3 Điều 202 BLHS năm 1999:
Trên thực tế vẫn có vướng mắc là việc người bị hại từ chối giám định, dẫn đến không có căn cứ để áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng này, thậm chí không có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.
2.2.1. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Việc quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của các Tòa án quân sự khu vực – Quân khu 5 trong thời gian qua đều đảm bảo có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của bị cáo cũng như những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự được áp dụng.
Đặc biệt, hình phạt tiền được các Toà án áp dụng tương đối rộng rãi trong những năm gần đây được dư luận ủng hộ, đáp ứng chính sách hình sự hướng thiện, giảm phạt tù, tăng cường các hình phạt không phải tù trong chính sách hình sự được quán triệt trong Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020.
2.2.2. Thực tiễn áp dụng các biện pháp trách nhiệm hình sự khác
Trong những năm qua, đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ xảy ra trên địa bàn Quân khu 5, các Tòa án quân sự khu vực – Quân khu 5 ngoài việc áp dụng hình phạt – là hình thức TNHS phổ biến nhất, các biện pháp TNHS khác như miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc đưa vào trường giáo dưỡng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội hầu như không được áp dụng.
2.3.1. Những hạn chế, vướng mắc
* Thực tiễn định tội danh đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn Quân khu 5 của các cơ quan tiến hành tố tụng Quân khu 5 trong thời gian qua tuy đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn một số hạn chế, sai sót, cụ thể như sau:
– Do đánh giá không đúng mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra cũng như lỗi của người vi phạm trong vụ tai nạn giao thông hoặc thu thập chứng cứ ban đầu thiếu chặt chẽ nên đẫn đến sai sót.
– Về tình trạng người bị hại từ chối giám định và có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự.
Trên thực tế có nhiều vụ tai nạn giao thông lỗi hoàn toàn do người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra làm cho một hoặc nhiều người bị thương nặng, nhưng khi họ có đơn xin từ chối giám định và yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự thì được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm.
– Thực tiễn cũng cho thấy, có những trường hợp do người tham gia giao thông khác (người điều khiển phương tiện thô sơ, xe súc vật kéo, người đi bộ…) vi phạm quy tắc an toàn khi tham gia giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng nhưng đã không được xử lý hình sự do chủ thể được quy định chỉ là người điều khiển phương tiện giao thông. Cũng có một số trường hợp, hành vi như vậy được xử lý về tội cản trở giao thông đường bộ theo Điều 203 BLHS năm 1999; nhưng việc xử lý đó là khiên cưỡng, không đúng bản chất của hành vi vi phạm. Điều 260 BLHS năm 2015 đã khắc phục được khiếm khuyết này của BLHS năm 1999.
* Trong quyết định hình phạt cũng có những hạn chế nhất định. Cụ thể là:
– Quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ: Là trường hợp Tòa án quyết định hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ của tội phạm đã thực hiện, dẫn đến mục đích của hình phạt không đạt được.
– Các Toà án quân sự đã rất hạn chế áp dụng hình phạt bổ sung cấm lái xe trong một thời hạn nhất định. Điều này dẫn đến nguy cơ tái phạm loại tội phạm này.
2.3.2. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế
2.3.2.1. Nguyên nhân từ các bất cập của Bộ luật hình sự và nhận thức pháp luật
Điều 202 BLHS năm 1999 quy định khá đầy đủ và cụ thể nhưng vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định như:
Theo quy định của Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì phương tiện giao thông đường bộ không bao gồm cả xe máy chuyên dùng (Xe máy thi công; xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh). Do đó, trong thực tiễn định tội danh các vụ tai nạn giao thông phát sinh một số vướng mắc liên quan đến người điều khiển xe máy chuyên dùng gây tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng.
– Tình tiết “Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 BLHS: Tình tiết này quy định còn chung chung, chưa cụ thể nên trên thực tế khi áp dụng tình tiết này vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau nên việc áp dụng cũng chưa được thống nhất, như trường hợp người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông gây ra hậu quả nghiêm trọng trong khi họ bị mất giấy phép hoặc bằng lái xe…
– Tình tiết “Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 202 BLHS: Tình tiết này quy định cũng chưa được rõ ràng nên trên thực tế có trường hợp ý thức là bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm nhưng sau đó thấy không thể trốn tránh được nên đã ra trình diện tại cơ quan có thẩm quyền, có trường hợp bỏ chạy vì sự bị đe dọa đến tính mạng…Việc chứng minh tình tiết này trên thực tế rất khó khăn vì đó là ý thức chủ quan của người phạm tội.
– Quy định về mức tối thiểu và mức tối đa trong khung hình phạt còn quá rộng nên trong hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án (Thẩm phán và hội thẩm) còn mang tính tùy nghi, có khi là quá nhẹ hoặc quá nặng.
2.3.2.2. Nguyên nhân do trình độ, năng lực của người áp dụng pháp luật
Các thẩm phán trẻ đa số là thiếu kinh nghiệm xét xử nên việc định tội danh hoặc quyết định hình phạt chưa thật sự chính xác hoặc còn nhầm lẫn trong việc xác định các tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS nên không tránh khỏi những sai sót.
Một số thẩm phán còn hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ các yêu cầu của pháp luật (cả về luật nội dung và luật hình thức) khi xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nên dẫn đến việc bị cấp phúc thẩm cãi sửa hoặc hủy án để điều tra, xét xử lại.
Đội ngũ Hội thẩm quân nhân đa số là hạn chế về kiến thức pháp lý, chủ yếu đều đang đương chức, hoạt động kiêm nhiệm nên thời gian giành cho việc nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi xét xử chưa nhiều. Việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ Hội thẩm quân nhân chưa được thực hiện thường xuyên nên cũng ảnh hưởng đến việc ADPL trong giải quyết các vụ án hình sự.
2.3.2.3. Các nguyên nhân khác
Công tác chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra của cấp trên đối với cấp dưới chưa được thường xuyên, chưa sâu sát.
Đội ngũ Thẩm phán hiện còn thiếu so với biên chế, bên cạnh đó chỉ tiêu giải quyết án hàng năm đặt ra cũng gây ra áp lực cho đội ngũ Thẩm phán.
Một số Thẩm phán chưa tận tâm, tận lực, động cơ thiếu trong sáng nên cũng ảnh hưởng đến chất lượng trong ADPL hình sự.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc của các cơ quan tiến hành tố tụng còn thiếu thốn, chưa đảm bảo và chưa ổn định. Bên canh đó những tác động của tiêu cực xã hội cũng ảnh hưởng đến chất lượng ADPL hình sự.
Chế độ, chính sách đối với cán bộ công tác trong các cơ quan tiến hành tụng chưa thật sự phù hợp, chưa đủ để bảo đảm họ thật sự khách quan, vô tư trong hoạt động ADPL hình sự.

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ÐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM QUY ÐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ÐƯỜNG BỘ
– Quán triệt chính sách hình sự hướng thiện trong Cải cách tư pháp, coi trọng tính phòng ngừa, giảm hình phạt tù, tăng cường hình phạt tiền và hình phạt cải tạo không giam giữ;
– Cụ thể hoá tư tưởng tôn trọng và bảo vệ quyền con người của Hiến pháp năm 2013; quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội… ;
– Đảm bảo tính cụ thể, minh bạch, khả thi trong kỹ thuật lập pháp; QPPL ban hành phải bảo đảm thuận tiện, dễ áp dụng và có tính thống nhất trong ADPL;
– Khắc phục những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn ADPL hình sự những năm qua…
3.2.1. Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Qua thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS để giải quyết các vụ án hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, thấy rằng cần sửa đổi, bổ sung Điều 260 BLHS năm 2015, cụ thể như sau:
– Về cách sắp xếp thứ tự các khoản trong Điều luật: Đưa khoản 4 lên thành khoản 1; khoản 1 thành khoản 2; khoản 2 thành khoản 3; khoản 3 thành khoản 4; giữ nguyên khoản 5 và khoản 6 để người đọc dễ hiểu, dễ hình dung quy định của Điều luật theo thứ tự từ khoản nhẹ nhất đến khoản nặng nhất.
– Đối với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260: Cần bổ sung thêm cụm từ “Trong thời hạn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe; trong thời hạn bị cơ quan có thẩm quyền cấm điều khiển phương tiện đó”. Viết lại hoàn chỉnh là: “Không có giấy phép lái xe theo quy định; Trong thời hạn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe; trong thời hạn bị cơ quan có thẩm quyền cấm điều khiển phương tiện đó”.
– Đối với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260: Cần sửa đổi cụm từ “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng”, thành “Điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc đang trong tình trạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia; điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn; điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.”
3.2.2. Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
– Nên bổ sung tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (khoản 4 Điều 260 BLHS năm 2015) vào danh sách các tội phạm được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Việc này đã được thực tiễn chấp nhận nhiều năm qua và là quy định khuyến khích người gây tai nạn tích cực bồi thường thoả đáng cho người bị hại.
– Cần có chế tài thoả đáng (hành chính, hình sự) xử lý người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại cố tình từ chối giám định thiệt hại về sức khoẻ, tài sản, thậm chí là về nguyên nhân cái chết để có cơ sở xử lý người có hành vi vi phạm an toàn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng.
3.2.3. Quán triệt và hướng dẫn áp dụng Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
– Cần có sự giải thích, hướng dẫn đồng bộ của các cơ quan có thẩm quyền để Điều 260 BLHS năm 2015 được hiểu và áp dụng một cánh thống nhất đối với các cơ quan thực hiện chức năng tư pháp trên phạm vi cả nước.
– Cần mở các lớp tập huấn chung và tập huấn chuyên sâu về những điểm mới của BLHS năm 2015 nói chung và Điều 260 BLHS năm 2015 nói riêng, cho đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm.
– Tuyên truyền, phổ biến những nội dung cơ bản của BLHS năm 2015 đến mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội để nâng cao hiểu biết, nhận thức cho nhân dân về những nội dung cơ bản của BLHS năm 2015.
– Tổ chức các cuộc thi về tìm hiểu các quy định của BLHS năm 2015 và các Luật, Bộ luật được Quốc Hội khóa XIII thông qua trong năm 2015.
3.2.4. Nâng cao năng lực Thẩm phán và Hội thẩm
+ Đối với Thẩm phán:
– Nâng cao chất lượng của đội ngũ Thẩm phán trên cơ sở nâng cao chất lượng của hoạt động xét xử, lấy hoạt động xét xử làm trung tâm và trọng tâm là giải pháp xây dựng đội ngũ Thẩm phán trong sạch, vững mạnh về đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ. Thường xuyên thực hiện công tác quy hoạch cán bộ, luân chuyển cán bộ, đảm bảo đủ biên chế để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài, đảm bảo tính liên tục, kế thừa và đồng đều về chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác của đội ngũ Thẩm phán.
– Thường xuyên kiểm tra chất lượng đội ngũ Thẩm phán về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác thông qua các phiên tòa rút kinh nghiệm để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức pháp lý, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán.
+ Đối với Hội thẩm: Nâng cao chất lượng đội ngũ Hội thẩm; đổi mới tiêu chuẩn tuyển chọn Hội thẩm, tiêu chuẩn của Hội thẩm phải đạt được trình độ nhất định về kiến thức pháp lý; có quy định bắt buộc về đào tạo, bồi dưỡng hàng năm cho Hội thẩm; hoàn thiện các quy định của pháp luật về Hội thẩm để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
3.2.5. Nâng cao chất lượng điều tra các vụ án về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên trong điều tra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng.
Đào tạo các chức danh Điều tra viên, Kiểm sát viên với trình độ nhận thức pháp pháp luật cao, hiểu biết một cách đúng đắn và sâu sắc các quy định của pháp luật, cũng như đường lối, chính sách của Đảng và lợi ích của công dân…
3.2.6. Các giải pháp khác
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan hoạt động tư pháp, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp nhằm bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp về chính trị, tổ chức, cán bộ…
Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành BLHS, BLTTHS nói chung và Điều 260 BLHS năm 2015 nói riêng về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới trong hệ thống các cơ quan hoạt động tư pháp.
Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh nhất là những cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn và nâng cao trách nhiệm pháp lý; cụ thể hóa các tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác đối với từng chức danh tư pháp.
Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm căn cứ để phán quyết trong bản án.
Hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và của nhân dân đối với hoạt động tư pháp, nhất là hoạt động xét xử của Tòa án.
Có chế độ, chính sách đãi ngộ hợp lý đối với các chức danh tư pháp để họ yên tâm công tác, chuyên tâm vào công việc chuyên môn.
Đầu tư thỏa đáng cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kỹ thuật cho các cơ quan hoạt động tư pháp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.
Phối hợp với các cơ quan, ban ngành làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và thường xuyên xét xử lưu động các vụ án hình sự để nâng cao nhận thực pháp luật cho toàn xã hội.
1. Tội phạm liên quan đến an toàn giao thông đường bộ đã được quy định khá sớm trong các văn bản QPPL hình sự và ngày càng được hoàn thiện. Kế thừa kỹ thuật lập pháp hình sự của những văn bản QPPL trước đây, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 tiếp tục hoàn thiện quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với nội dung cụ thể, rõ ràng hơn cả về dấu hiệu định tội và dấu hiệu định khung hình phạt. Đây là cơ sở pháp lý thống nhất cho việc định tội danh và quyết định hình phạt trong thực tiễn xét xử của các Tòa án.
Tuy nhiên, QPPL của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là quy phạm viện dẫn. Do đó, ít nhiều cũng gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn. Điều đó đặt ra vấn đề cần nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp luật của tội phạm này.
2. Qua khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, thấy rằng: Mặc dù hoạt động ADPL của các Tòa án quân sự khu vực – Quân khu 5 đã đạt được những kết quả nhất định, tỷ lệ án được đưa ra xét xử chiếm tỷ lệ cao, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, đảm bảo công lý, công bằng trong hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau nên hoạt động ADPL trong xét xử các vụ án về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong thời gian qua vẫn còn những hạn chế, sai sót nhất định trong việc định tội danh, quyết định hình phạt cần phải được khắc phục.
3. Để xây dựng hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trước hết cần phải quán triệt mục tiêu, quan điểm chỉ đạo được đề ra trong chiến lược cải cách tư pháp của nước ta từ nay đến năm 2020.
Từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trong xét xử các vụ án hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của các Tòa án quân sự khu vực – Quân khu 5 cho thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót nhất định. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót đó rất đa dạng, có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Do vậy, tác giả đã đưa ra các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả ADPL về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như: hoàn thiện quy định của BLHS về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; hoàn thiện một số quy định của BLTTHS; quán triệt và hướng dẫn áp dụng Điều 260 của BLHS năm 2015 về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; Nâng cao năng lực của đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm cũng như nâng cao chất lượng điều tra các vụ án về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ…
Với khả năng và thời gian nghiên cứu có hạn, nội dung của Luận văn không thể tránh khỏi những sai sót nhất định. Do vậy, với tinh thần học hỏi, cầu tiến, tác giả rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi của quý thầy cô, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn…để tác giả có thể tiếp tục hoàn thiện hơn đối với đề tài này trong tương lai. Qua đây, tác giả cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Trần Văn Độ, người hướng dẫn khoa học và các thầy giáo, cô giáo đã hỗ trợ, giúp đỡ để để tác giả có thể hoàn thành Luận văn này.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HINH SU\HOANG THANH DUC\SAU BAO VE


