Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

1. Tính cấp thiết của đề tài

Gia Lai là một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng – an ninh; có diện tích tự nhiên lớn thứ hai toàn quốc (15.536 Km2); có 17 đơn vị hành chính cấp huyện, 222 xã, phường, thị trấn, trong đó có 07 xã biên giới thuộc 03 huyện; có chiều dài 90 km đường biên giới trên bộ tiếp giáp với tỉnh Rattanakiri thuộc Vương quốc Campuchia. Dân số của tỉnh Gia Lai đứng thứ 22 toàn quốc (trên 1,3 triệu người), gồm có 34 dân tộc, trong đó, người dân tộc thiểu số chiếm 45%, chủ yếu là dân tộc Jrai (30,16%) và Bahnar (12,3%). Trên địa bàn tỉnh có 5 tôn giáo, với 330.604 tín đồ, chiếm 23,5% dân số toàn tỉnh, trong đó số tín đồ là đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 44,02%. Từ năm 2010 đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh Gia Lai tình hình tội phạm xảy ra với chiều hướng ngày càng gia tăng, Tòa án phải xét xử hình sự sơ thẩm 5645 vụ/11.905 bị cáo.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 102 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/03/2014 của Bộ chính trị đã xác định Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 về cơ bản là đúng đắn; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm. Quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự do Tòa án thực hiện trong công tác xét xử. Quyết định hình phạt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị, xã hội và pháp luật. Chỉ khi hình phạt được quyết định một cách chính xác và công bằng, thì mục đích của hình phạt mới đạt được; có tác dụng trừng trị, giáo dục và cải tạo người phạm tội, ngăn ngừa tội phạm mới và răn đe giáo dục người khác. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm là một phần trong quyết định hình phạt nói chung được thực hiện cơ quan Tòa án nhân dân trong công tác xét xử. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng chế định đồng phạm trong hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động xét xử nói riêng thì thấy còn có nhiều vấn đề bất cập. Đặc biệt là vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm. Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn một hình phạt cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội. Khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, nhiều Tòa án đã gặp không ít khó khăn do một số quy định về quyết định hình phạt còn mang tính khái quát cao, chưa chặt chẽ, một số quy định khác còn chưa theo kịp tiến trình phát triển của đời sống kinh tế xã hội… Chính những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao hiệu quả của hình phạt. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống đề tài “Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm”, làm rõ hơn về mặt lý luận nhằm góp phần vào việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam là yêu cầu cấp thiết, đáp ứng quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đó chính là lý do mà đề tài “Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” đã được lựa chọn để nghiên cứu.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Trước yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung, đặc biệt là những tội phạm được thực hiện bằng hình thức đồng phạm, Luận văn này nhằm mục đích làm rõ hơn, cụ thể hơn về mặt lý luận những vấn đề quyết định hình phạt trong vụ án đồng phạm, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của quyết định hình phạt trong vụ án hình sự có đồng phạm. Trên cơ sở lý luận chung về đồng phạm và quyết định hình phạt trong đồng phạm người nghiên cứu kế thừa một cách có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đó để làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận và việc áp dụng các quy định này của Bộ luật hình sự hiện hành vào thực tiễn xét xử, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

– Làm sáng tỏ vấn đề lý luận và thực tiễn về đồng phạm và quyết định hình phạt trong đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.

– Làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định về quyết định hình phạt trong đồng phạm.

– Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự và bảo đảm áp dụng đúng các quy định về quyết định hình phạt trong đồng phạm.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn này nghiên cứu quyết định hình phạt trong vụ án hình sự có đồng phạm (thông qua thực tiến xét xử án hình sự sơ thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai) mà cụ thể là các vấn đề như:

– Một số vấn đề chung về đồng phạm;

– Một số vấn đề chung về quyết định hình phạt;

– Nguyên tắc quyết định hình phạt trong đồng phạm;

– Các căn cứ quyết định hình phạt trong đồng phạm;

– Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc quyết định hình phạt trong đồng phạm;

– Việc áp dụng các quy định về quyết định hình phạt trong đồng phạm trong thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về nội dung: Luận văn nghiên cứu quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm được thực hiện trong phạm vi của chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự;

– Về địa bàn và thời gian: Luận văn sử dụng số liệu xét xử và 100 bản án đã được xét xử trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong các năm từ 2010 đến 2015.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm, quan điểm và đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về chính sách hình sự.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, phương pháp so sánh để giải quyết nội dung đặt ra từ đề tài.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Kết quả của đề tài góp phần làm phong phú thêm cho lý luận của khoa học luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm.

Luận văn góp phần vào việc quyết định hình phạt trong đồng phạm của cơ quan Tòa án, cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của chế định quyết định hình phạt trong vụ án hình sự có đồng phạm trong lĩnh vực lập pháp, cũng như việc áp dụng chúng trong thực tiễn; góp phần cá thể hóa hình phạt và cá thể hóa tội phạm.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo trong lĩnh vực pháp luật, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các cán bộ đang làm công tác thực tiễn trong các cơ quan tiến hành tố tụng, các cán bộ nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành tư pháp luật hình sự.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Gia Lai

Chương 3: Những giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đúng trong trường hợp đồng phạm

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM

    1. 1.1. Khái quát về đồng phạm
      1. 1.1.1. Khái niệm đồng phạm

Nghiên cứu thực tiễn công tác phòng ngừa và chống tội phạm cho thấy một tội phạm có thể do một hoặc nhiều người thực hiện. Được coi là đồng phạm khi những người phạm tội có chung hành động và cùng cố ý thực hiện một tội phạm cụ thể. Pháp luật hình sự các nước quan niệm không giống nhau về khái niệm đồng phạm.

Như vậy quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đã cho chúng ta khái niệm đầy đủ và thống nhất về đồng phạm. Ta biết rằng đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm. Hay nói cách khác, khi một tội phạm được thực hiện bởi ít nhất là hai chủ thể và hai chủ thể đó thỏa mãn dấu hiệu “cùng cố ý” thì trường hợp đó tội phạm được coi là đồng phạm.

      1. 1.1.2. Đặc trưng cơ bản của đồng phạm

Theo nội dung khái niệm về đồng phạm quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999, tội phạm được coi là đồng phạm đòi hỏi phải có những dấu hiệu đặc trưng và bắt buộc sau:

a. Những dấu hiệu khách quan

Thứ nhất, có sự tham gia của hai người trở lên thực hiện một tội phạm.

Thứ hai, có sự cùng chung hành động của người tham gia vào việc thực hiện một tội phạm.

b. Những dấu hiện chủ quan

Thứ nhất, có sự cùng cố ý của những người tham gia thực hiện tội phạm. Nếu thiếu dấu hiệu này thì mặc dù hành vi của những người phạm tội thỏa mãn dấu hiệu khách quan ở trên cũng sẽ không có đồng phạm mà chỉ là hình thức nhiều người cùng phạm một tội [30, tr.23].

Thứ hai, có mục đích trong đồng phạm. Với những tội phạm luật hình sự quy định mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm thì những người đồng phạm phải có mục đích phạm tội đó. Nếu không thỏa mãn dấu hiệu cùng mục đích phạm tội thì sẽ không có đồng phạm.

      1. 1.1.3. Ý nghĩa của khái niệm đồng phạm

Chế định đồng phạm nói chung và khái niệm đồng phạm nói riêng lần đầu tiên được quy định trong luật hình sự của nước ta có ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức to lớn. Nó đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta.

Khái niệm đồng phạm có ý nghĩa thống nhất về mặt nhận thức trong nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử. Bên cạnh những ý nghĩa nói trên, khái niệm đồng phạm còn có ý nghĩa trong việc xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của đồng phạm khi so sánh với các hình thức phạm tội khác như hình thức phạm tội riêng lẻ, hình thức phạm tội do nhiều người thực hiện nhưng không có đồng phạm.

      1. 1.1.4. Những loại người đồng phạm

Theo quy định tại Điều 20 BLHS 1999 thì: “1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. 2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức điều là những người đồng phạm”.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ , thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Người giúp sức là người tạo những điều kiện, tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Mức độ nguy hiểm cho xã hội trong trường hợp đồng phạm so với trường hợp phạm tội đơn lẻ là lớn hơn nhiều, khả năng thành công khi phạm tội rất cao. Việc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm, vừa phải căn cứ vào những nguyên tắc chung được áp dụng cho tất cả những trường hợp phạm tội, vừa phải tuân thủ những nguyên tắc có tính đặc thù.

    1. 1.2. Khái niệm, ý nghĩa quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm
      1. 1.2.1. Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội [8, tr.386].

Khi quyết định hình phạt đối với trường hợp đồng phạm, Tòa án không những phải tuân thủ những quy định về căn cứ quyết định hình phạt áp dụng cho trường hợp phạm tội nói chung mà còn tuân thủ theo những quy định về căn cứ quyết định hình phạt riêng áp dụng cho trường hợp đồng phạm.

Căn cứ quyết định hình phạt trong đồng phạm được quy định tại Điều 58 BLHS năm 2015 quy định: “Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đó”

      1. 1.2.2. Ý nghĩa của quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Thứ nhất, quyết định hình phạt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị -xã hội và pháp lý.

Thứ hai, quyết định hình phạt đúng là cơ sở pháp lý đầu tiên để đạt được mục đích của hình phạt: trừng trị và giáo dục.

Thứ ba, quyết định hình phạt đúng là cơ sở quan trọng để có thể nâng cao hiệu quả của hình phạt.

1.3. Các nguyên tắc quyết định hình phạt trong đồng phạm

Căn cứ vào những tiêu chuẩn trên, việc quyết định hình phạt cần phải dựa vào những nguyên tắc sau đây:

* Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc pháp chế XHCN thể hiện khi quyết định hình phạt là ở chỗ, khi áp dụng hình phạt đối với người bị kết án Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của luật hình sự.

*Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa: Nguyên tắc này thể hiện khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của người phạm tội trong một tổng thể thống nhất biện chứng, hài hòa và hợp lý.

* Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt: Đây là nguyên tắc quan trọng khi quyết định hình phạt. Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc này thể hiện khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự và ý thức pháp luật XHCN, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội.

* Nguyên tắc công bằng: Nguyên tắc công bằng xã hội của việc quyết định hình phạt thể hiện ở chỗ, loại và mức hình phạt do Tòa án tuyên phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm.

Các nguyên tắc quyết định hình phạt có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau và tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất. Tóm lại, các nguyên tắc quyết định hình phạt là các nguyên tắc đặc thù cho quá trình quyết định hình phạt, định hướng cho hoạt động của tòa án để quyết định hình phạt đúng đắn cho người phạm tội. Các nguyên tắc quyết định hình phạt tuy đặc thù cho quá trình quyết định hình phạt nhưng chúng vẫn nằm trong thể thống nhất với các nguyên tắc của luật hình sự.

1.4. Các căn cứ quyết định hình phạt trong đồng phạm

Các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do luật hình sự quy định hoặc do giải thích luật mà có, buộc Tòa án phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người thực hiện tội phạm. Theo quy định của Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1999 thì các căn cứ quyết định hình phạt bao gồm: – Các quy định của Bộ luật hình sự; – Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của của hành vi phạm tội; – Nhân thân người phạm tội ; – Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự: Khi quyết định hình phạt, Tòa án trước hết phải căn cứ vào các quy định của BLHS, tức là căn cứ vào các quy định của phần chung và phần các tội phạm của BLHS.

* Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thể hiện ở tổng thể của hai khái niệm “tính chất” và “mức độ” nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.

* Nhân thân người phạm tội: Nhân thân đó là một khái niệm nhiều mặt, bao gồm những đặc điểm, đặc tính khác nhau thể hiện bản chất xã hội, thể hiện tính cá biệt và tính không lặp lại của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự coi là tội phạm.

* Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cân nhắc các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ của việc quyết định hình phạt, tức là một trong những điều kiện quan trọng của việc cá thể hóa hình phạt.

Thực tiễn xét xử còn cho thấy, ý thức pháp luật XHCN của Thẩm phán và Hội thẩm cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc quyết định hình phạt. Trong một vụ án, có nhiều tình tiết thu thập được rất đa dạng, phức tạp và mâu thuẫn với nhau có ảnh hưởng khác nhau đến việc quyết định hình phạt. Để có một phán xét và quyết định cụ thể về loại và mức hình phạt cần tuyên, các Thẩm phán và Hội thẩm phải dựa vào ý thức pháp luật của mình để đánh giá ý nghĩa của từng tình tiết ở dạng riêng lẻ và ở dạng tổng thể của chúng, xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết chủ quan và khách quan và trong phạm vi chế tài tương ứng, chọn và quyết định một loại và mức hình phạt đúng pháp luật, công bằng, có khả năng lớn để cải tạo, giáo dục người phạm tội, cũng như phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung.

Kết luận Chương 1

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP

ĐỒNG PHẠM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH GIA LAI

    1. 2.1. Quy định của Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm
      1. 2.1.1. Quy định của Bộ luật hình sự về các nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Đồng phạm là một hình thức thực hiện tội phạm đặc biệt mà trong đó hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm. Do đó, khi tội phạm được thực hiện bởi đồng phạm thì tội phạm đó thay đổi về chất và mang tính nguy hiểm cao hơn tội phạm riêng lẻ. Do tính chất đặc thù đó, cho nên nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm không giống trường hợp phạm tội riêng lẻ. Vì vậy, quyết định hình phạt trong đồng phạm ngoài việc tuân thủ các quy định của quyết định hình phạt nói chung, tòa án còn phải tuân thủ các nguyên tắc đặc thù của quyết định hình phạt trong đồng phạm

a. Nguyên tắc tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm đã thực hiện

b. Nguyên tắc mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện đồng phạm

c. Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt của những người đồng phạm

      1. 2.1.2. Các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Khi quyết định hình phạt đối với những người tham gia đồng phạm cụ thể, Tòa án phải dựa vào các căn cứ cụ thể sau đây:

a. Căn cứ thứ nhất: khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải cân nhắc tính chất của đồng phạm.

b. Căn cứ thứ hai: Khi Tòa án quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm phải căn cứ vào tính chất tham gia hành động phạm tội của từng người đồng phạm.

c. Căn cứ thứ ba: Tòa án quyết định hình phạt là phải cân nhắc tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

d. Căn cứ thứ tư: Khi quyết định hình phạt đối với từng người đồng phạm, tòa án phải cân nhắc những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của từng người đó.

2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Dưới đây là số liệu thống kê tổng kết công tác xét xử các loại vụ án hình sự qua các năm 2010 đến năm 2015 và số liệu khảo sát từ 566 bản án mà tác giả đã nghiên cứu trong đó có vụ án đồng phạm.

Bảng 2.1. Bảng thống kê số vụ và số bị cáo phạm tội nói chung so sánh với số vụ và số bị cáo phạm tội bằng đồng phạm nói riêng

(từ năm 2010 đến năm 2015)

SỐ LIỆU XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015

(Từ ngày 01/10/2010 đến 30/09/2015)

NămTội phạm nói chungTội phạm được thực hiện bằng đồng phạmTỷ lệ
VụBị cáoVụBị cáoVụBị cáo
201084198204124%21%
201193206123913%19%
201294215255227%24%
201393238248526%36%
2014102208217321%35%
20151003303712037%36%
Tổng566139513941024,55%30,01%

(Số liệu từ nguồn Văn phòng Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai)

Bảng số liệu cho thấy số vụ án được thực hiện bằng đồng phạm có chiều hướng gia tăng cả về số vụ án và số người tham gia trong một vụ đồng phạm so với số vụ án và số người tham gia phạm tội nói chung.

    1. Những kết quả đạt được và những hạn chế từ thực trạng quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai từ năm 2010 đến năm 2015

Qua đọc và nghiên cứu 139 bản án xét xử các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm thì thấy: về cơ bản Tòa án đã tuân thủ đầy đủ các căn cứ quyết định hình phạt chung cũng như căn cứ quyết định hình phạt riêng đối với trường hợp đồng phạm. Hầu hết các bản án đã đánh giá tính chất của đồng phạm, đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án đồng phạm cũng như cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để quyết định một hình phạt công bằng, hợp lý và phù hợp pháp luật.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bản án chưa nghiên cứu đầy đủ về tính chất đồng phạm, chưa tuân thủ triệt để các căn cứ quyết định hình phạt chung quy định tại Điều 45 BLHS 1999 cũng như các căn cứ đặc thù quy định tại Điều 20 và Điều 53 BLHS về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, dẫn đến xác định vai trò người tham gia trong đồng phạm không đúng, còn bỏ lọt tội phạm đã tham gia trong đồng phạm.

* Xác định những người tham gia trong trường hợp phạm tội bằng đồng phạm không đúng, từ đó quyết định hình phạt nhẹ hơn nhiều so với tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo trong đồng phạm.

* Về việc xét đến tính chất của đồng phạm, Điều 53 BLHS đã quy định: Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm. Qua thống kê 139 bản án thì có nhiều bản án không đánh giá tính chất của đồng phạm là đồng phạm giản đơn, đồng phạm phức tạp hay phạm tội có tổ chức. Việc không đánh giá tính chất của đồng phạm thì không phân tích đánh giá chính xác được tội phạm được thực hiện với hình thức gì, là đồng phạm giản đơn hay đồng phạm phức tạp… từ đó, đánh giá về mức độ nguy hiểm cho xã hội mà tội phạm đã xâm phạm đến để có quyết định hình phạt phù hợp.

* Về việc xét đến tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm chưa đúng, từ đó xác định vai trò của những người đồng phạm chưa chính xác. Do vậy, quyết định hình phạt đối với họ chưa đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà họ đã tham gia thực hiện tội phạm.

* Một số trường hợp bỏ lọt tội phạm do xác định đồng phạm không đúng hoặc thiếu; do quy định của BLTTHS về giới hạn xét xử của tòa án (quy định tại Điều 196 BLTTHS) đã làm cho Tòa án xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo không đúng.

* Về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nghiên cứu 139 vụ án có đồng phạm cho thấy, các bản án đều áp dụng những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về riêng người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với chính người đó. Đa số các bản án đều đã áp dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 48 của BLHS và hướng dẫn của HĐTPTC tại Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/08/2000 của HĐTPTANTC.

2.3. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

      1. 2.3.1. Nguyên nhân khách quan

+ Các quy định hiện hành của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn còn rất chung chung, dẫn đến những khó khăn lúng túng trong thực tế áp dụng.

+ Quy định tại Điều 196 BLTTHS về giới hạn của việc xét xử đó là Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà viện kiểm sát tuy tố, tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác trong điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố.

+ Hầu hết các điều luật trong phần các tội phạm của BLHS đều có chung hình phạt rất dài, điều này tạo nên những bất cập trong việc quyết định hình phạt, đó là mức độ đến đâu thì xử phạt bị cáo mức 07 năm tù, mức 10 năm tù hay 15 năm tù. Điều này cũng dễ gây nên tùy nghi trong việc quyết định hình phạt.

      1. 2.3.2. Nguyên nhân chủ quan

+ Với số lượng án lớn mà mỗi thẩm phán phải giải quyết, việc dành đủ thời gian để nghiên cứu sâu về các văn bản pháp luật liên quan đến vụ án là yêu cầu khó có thể được đáp ứng trong thực tế.

+ Có những vụ án liên quan đến các lĩnh vực đòi hỏi hiểu biết về kiến thức chuyên ngành phức tạp như tin học, tài chính, kế toán… mà thẩm phán không thể dễ dàng có được.

+ Nhận thức của những người tiến hành tố tụng về đồng phạm, các loại người đồng phạm nhiều khi chưa chính xác, còn có sự nhầm lẫn giữa khái niệm người giúp sức với ý nghĩa là một loại người trong đồng phạm với từ giúp sức, trợ giúp thông thường (giữa những người đồng phạm đều có sự trợ giúp lẫn nhau).

+ Mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm phát sinh hàng loạt các vấn đề xã hội theo hướng tiêu cực cũng ảnh hưởng đến hoạt động quyết định hình phạt, chính sách khen thưởng, bồi dưỡng đối với cán bộ công tác trong ngành pháp luật còn chưa được coi trọng đúng mức, chế độ lương, chế độ thưởng và các chế độ phụ cấp khác cho những người hoạt động trong ngành pháp luật còn thấp.

Kết luận Chương 2

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

CHƯƠNG 3

NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYẾT ĐỊNH ĐÚNG HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM

3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện và bảo đảm áp dụng đúng quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Chế định quyết định hình phạt trong đồng phạm là một trong những chế định quan trọng của Luật hình sự Việt Nam. Mặc dù Bộ luật hình sự đã sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả. Tuy nhiên, một số quy phạm của chế định đồng phạm và chế định quyết định hình phạt nói riêng và quyết định hình phạt trong đồng phạm nói chung trong Bộ luật hình sự hiện hành, ở các mức độ khác nhau vẫn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trong hoạt động thực tiễn.

Quyết định hình phạt đúng không chỉ có tác dụng đối với người phạm tội mà còn thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời còn đề cao được tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung. Nhìn chung, khi quyết định hình phạt, đặc biệt là quyết định hình phạt trong đồng phạm các Hội đồng xét xử đã nâng cao tinh thần trách nhiệm khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, động cơ, mục đích, hoàn cảnh, điều kiện và nhân thân người phạm tội để quyết định hình phạt tương xứng. Chính vì vậy, các vụ án hình sự có kháng cáo, kháng nghị ngày càng có chiều hướng giảm. Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp quyết định hình phạt không đúng, trong đó đại đa số là quyết định hình phạt quá nhẹ và cho hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật, số vụ án quyết định hình phạt quá nặng không nhiều. Việc xét xử quá nhẹ, cho hưởng án treo không đúng pháp luật cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ các vụ án có kháng cáo giảm. Việc quyết định hình phạt không đúng có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là không thực hiện đúng các quy định của Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt, nhiều Tòa án đã không chú ý đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà chỉ chú ý đến các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng. Đáng lưu ý là việc áp dụng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cũng thiếu căn cứ, không chính xác, nhiều Tòa án đã xác định cả những tình tiết không phải là tình tiết giảm nhẹ và không được quy định trong điều luật cũng như các văn bản hướng dẫn.

Qua thực tiễn xét xử của tòa án các cấp ta nhận thấy tuy đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn một số tồn tại, thiếu sót trong việc xét xử các vụ án hình sự và quyết định hình phạt trong vụ án có đồng phạm. Nguyên nhân chủ quan một phần do tinh thần trách nhiệm hoặc năng lực, nghiệp vụ chuyên môn của thẩm phán nói riêng và hội đồng xét xử nói chung. Do vậy, để nâng cao chất lượng xét xử và đảm bảo hình phạt được áp dụng một cách công bằng, chính xác thì các thành viên hội đồng xét xử phải thường xuyên trau dồi kiến thức, chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp; thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải thường xuyên cập nhật kiến thức mới, văn bản pháp luật mới. Thẩm phán phải thực sự công tâm khi xét xử để đảm bảo hình phạt được tuyên đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đấu tranh với tiêu cực trong quá trình giải quyết vụ án. Phải xử lý nghiêm đối với trường hợp cán bộ xét xử oan sai, phải xác định rõ trách nhiệm của từng thành viên hội đồng xét xử để từ đó xử lý cho chính xác.

Ngày 01 tháng 7 năm 2016, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lức pháp luật. Tuy nhiên trong bộ luật mới những quy định về quyết định hình phạt trong đồng phạm cũng chưa được đề cập một cách đầy đủ. Những quy định về quyết định hình phạt trong đồng phạm chỉ là những quy định chung. Việc hoàn thiện pháp luật là một quá trình lâu dài, do đó trong phạm vi luận văn này, tác giả đưa ra một số giải pháp sau nhằm ngày càng hơn nữa hoàn thiện pháp luật nói chung và quy định của pháp luật về quyết định hình phạt trong đồng phạm nói riêng.

3.2. Những giải pháp bảo đảm áp dụng quy định đúng về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

      1. 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự

Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đặt ra yêu cầu pháp luật phải được áp dụng công bằng, nhất quán, pháp luật phải bảo đảm tính công khai, sự minh bạch, dễ tiếp nhận, pháp luật phải cụ thể, rõ ràng.

* Một là về Điều 20 và Điều 53 BLHS năm 1999 (Điều 17 và Điều 58 BLHS năm 2015)

* Hai là về cơ chế lựa chọn hình phạt:

Lựa chọn hình phạt chính xác, phù hợp với tính chất của tội phạm có ý nghĩa hết sức quan trọng, quyết định một hình phạt chính xác sẽ phát huy được hiệu quả giáo dục, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

* Ba là, Luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định khung hình phạt rất rộng, vì vậy việc lựa chọn hình phạt rất khó khăn. Về vấn đề này, PGS-TS Phạm Văn Tỉnh đã đưa ra đề xuất xác định cho được một đại lượng hình phạt phù hợp để đo lường các loại tội phạm trong BLHS, cũng như để quy định với từng tội danh khi xét xử, đó là khái niệm “mức phạt tương thích”, đại lượng chung và nhỏ hơn cả của hình phạt chính, được dùng để đo lường mức độ nguy hiểm cụ thể đối với từng tội danh.

* Bốn là sửa đổi BLHS theo hướng giảm các hình phạt tù ở một số tội phạm ít nghiêm trọng.

* Năm là triển khai thực hiện các quy định của Luật tổ chức tòa án sửa đổi năm 2014, trong đó thực hiện việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm theo án lệ. Một giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đó là phát triển án lệ.

      1. 3.2.2. Một số giải pháp khác nhằm bảo đảm quyết định hình phạt đúng trong trường hợp đồng phạm

Để có được những Thẩm phán vừa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, vừa có phẩm chất đạo đức tốt, kiến thức xã hội phong phú, có tâm huyết với công việc, yêu cầu đòi hỏi phải cần có giải pháp tốt cụ thể là các vấn đề sau:

Một là, vấn đề tuyển dụng cán bộ: để tuyển chọn được những cán bộ có đức có tài, “vừa hồng, vừa chuyên”, có tâm huyết với nghề, trước hết từ khâu thi tuyển phải đảm bảo nghiêm túc, không có tiêu cực trong thi tuyển.

Hai là, không ngừng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, trách nhiệm nghề nghiệp cho các Thẩm phán.

Ba là, có cơ chế phù hợp để tạo điều kiện cho Hội đồng xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, khi xét xử thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Bốn là, tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho các Hội thẩm; Hoàn thiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn Hội thẩm theo hướng quy định: người được bầu hoặc cử làm Hội thẩm cần phải có trình độ pháp lý nhất định.

Năm là, một vấn đề cũng rất quan trọng đối với hệ thống Tòa án hiện nay đó là đời sống cán bộ công chức chưa được quan tâm đúng mức, đồng lương còn thấp so với mặt bằng chung của xã hội, vì vậy dễ nảy sinh vấn đề tiêu cực.

Sáu là, cần xây dựng quy chế quản lý, giám sát đối với Thẩm phán và Hội thẩm trong việc thực thi nhiệm vụ.

Bảy là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật, trách nhiệm công dân trong phòng chống tội phạm.

Kết luận Chương 3

KẾT LUẬN

Đồng phạm và một hình thức thực hiện tội phạm đặc biệt mà trong đó hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm. Do đó, khi tội phạm được thực hiện bởi đồng phạm thì tội phạm đó thay đổi về chất và mang tính nguy hiểm cao hơn tội phạm riêng lẻ. Vì vậy, quyết định hình phạt trong đồng phạm là trường hợp quyết định hình phạt đặc biệt, vừa phải tuân thủ quy định chung của chế định quyết định hình phạt, vừa phải tuân thủ quy định đặc thù của trường hợp đồng phạm. Việc nắm vững bản chất pháp lý của quyết định hình phạt sẽ giúp tòa án các cấp quyết định hình phạt trong thực tế được đúng. Quyết định hình phạt trong đồng phạm là việc tòa án lựa chọn một loại và mức hình phạt cụ thể với mức độ cụ thể không chỉ cho một bị cáo mà cho nhiều bị cáo trong vụ án về một hoặc nhiều tội mà họ cùng phạm. Quyết định hình phạt trong đồng phạm đúng không chỉ là cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt cũng như nâng cao hiệu quả của hình phạt mà còn góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Do tính chất đặc thù của đồng phạm là một hình thức thực hiện tội phạm đặc biệt mà trong đó hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm nên nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt không giống với các trường hợp phạm tội riêng lẻ. Khi quyết định hình phạt đối với những người phạm tội trong vụ án đồng phạm, ngoài việc tuân theo các nguyên tắc quyết định hình phạt trong đồng phạm, tòa án còn phải dựa vào các căn cứ quyết định hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự để tạo cơ sở pháp lý cho tòa án quyết định hình phạt được đúng đắn. Các căn cứ quyết định hình phạt là cơ sở pháp lý được quy định trong Bộ luật hình sự mà Tòa án tuân thủ khi quyết định hình phạt cho người phạm tội. Các căn cứ này bao gồm: tính chất của đồng phạm; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, mức độ tham gia của từng người đồng phạm; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của riêng từng đồng phạm. Qua thực tiễn áp dụng quy định về quyết định hình phạt trong đồng phạm cho thấy khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội nói chung và đối với từng người đồng phạm nói riêng vẫn có nhiều thiếu sót như quyết định hình phạt còn quá nhẹ, áp dụng chế định án treo không đúng quy định pháp luật… Để nâng cao hiệu quả hoạt động quyết định hình phạt của tòa án thì công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như cải tiến phương pháp làm việc của các cán bộ xét xử giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Mặt khác, công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật trong quần chúng nhân dân để nhân dân hiểu và tự giác tuân thủ pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho hoạt động xét xử của Tòa án thật sự có hiệu quả

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, pháp luật và thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn tỉnh Gia Lai, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm như: hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự về đồng phạm theo hướng tạo cơ chế cho phép Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với người đồng phạm phù hợp với vai trò và mức độ tham gia đồng phạm của họ; kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật liên quan đến quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm; triển khai thực hiên án lệ, tăng cường nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ làm công tác xét xử, tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động xét xử…Chúng tôi tin rằng những giải pháp này không chỉ phù hợp với Gia Lai mà còn phù hợp với nhiều địa phương trong cả nước, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự ở nước ta.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HINH SU\LE VAN NHAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *