Biện pháp tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
- Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền có nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quan điểm của Đảng ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm theo hướng xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp luật là nòng cốt, phát huy sức mạnh của toàn xã hội có ý nghĩa quan trọng, định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự (TTHS), chế định các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn (BPNC) tạm giam trong TTHS Việt Nam.
Biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn được hình thành rất sớm và có vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, nó là phương tiện cưỡng chế nhà nước có hiệu quả nhất để phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Việc áp dụng BPNC này sẽ hạn chế quyền và tự do của cá nhân được hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Trong trường hợp người bị tạm giam oan thì “chẳng những người ấy đau khổ, mà cả gia đình, con cái họ”. Và không ít trường hợp áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp tạm giam chịu sự tác động của tiêu cực. Vấn đề này làm giảm uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) và giảm sút lòng tin của nhân dân vào chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Đây là vấn đề nhạy cảm mà thế lực thù địch lợi dụng để kích động “vi phạm nhân quyền”. Mặt khác, biện pháp này là phương tiện pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đối với người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cả người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo, cũng như thân nhân của họ. Để thi hành được biện pháp này Nhà nước đã bỏ ra những chi phí không nhỏ cho bộ máy hoạt động, cơ sở vật chất nhà tạm giữ, trại tạm giam và nhiều khoản bồi thường thiệt hại cho người bị oan. Bởi vậy BPNC tạm giam và việc thi hành nó luôn gắn liền với chính trị, pháp luật, xã hội, kinh tế mà nhà nước, tổ chức và cá nhân đều đặc biệt quan tâm.
Tuy nhiên, trong khoa học luật TTHS, biện pháp tạm giam vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách thỏa đáng đối với tầm quan trọng của nó theo định hướng của Đảng ta về việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Nhiều vấn đề cần phải được làm sáng tỏ để có quan điểm thống nhất, đầy đủ và toàn diện như bản chất pháp lý, mục đích, căn cứ áp dụng, căn cứ phân loại và những căn cứ áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp tạm giam; còn thiếu những đánh giá, tổng kết thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ chúng, hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng…
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận đối với biện pháp ngăn chặn tạm giam, thực tiễn áp dụng, thay thế, hủy bỏ, trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2015, nhằm đánh giá những mặt tích cực, hạn chế, xác định những nguyên nhân, tồn tại của chúng, trên cơ sở đó đưa ra phương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn tạm giam nhằm nâng cáo hiệu quả áp dụng trong giai đoạn hiện nay không những có ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng, mà còn là vấn đề cấp thiết mang tính thời sự. Đây là lý do giải thích cho việc chọn đề tài: “Biện pháp tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”.
Tình hình nghiên cứu đề tài
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật TTHS về tạm giam, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tạm giam trong TTHS Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Hệ thống làm rõ những vấn đề lý luận về tạm giam trong TTHS;
– Phân tích làm rõ quy định của pháp luật TTHS hiện hành về tạm giam;
- Làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật TTHS về tạm giam;
– Nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật TTHS về tạm giam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung, luận văn nghiên cứu biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Do khó khăn trong việc khảo sát, mặt khác với yêu cầu của một luận văn thạc sỹ nên tác giả chỉ khảo sát việc áp dụng biện pháp tạm giam do lực lượng Cảnh sát tiến hành, không khảo sát việc áp dụng tạm giam do lực lượng Quân đội và lực lượng An ninh thực hiện.
+ Về không gian, luận văn khảo sát thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam trên phạm vi tỉnh Quảng Ngãi
+ Về thời gian, luận văn khảo sát thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam từ năm 2010 đến năm 2015.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng của triết học Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để phục vụ cho việc nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã hệ thống, phân tích làm rõ được những vấn đề lý luận về biện pháp tạm giam trong TTHS.
Trên cơ sở phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng áp dụng pháp luật về biện pháp tạm giam, luận văn đề xuất kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện chế định tạm giam trong TTHS và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng của biện pháp tạm giam trong TTHS Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu về biện pháp ngăn chặn tạm giam.
Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1. Nhận thức chung về biện pháp tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2. Quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng áp dụng pháp luật về tạm giam trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tạm giam trong tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
NHẬN THỨC CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, cải cách tư pháp là một nội dung chủ yếu, quan trọng trong quá trình đổi mới trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội ở nước ta hiện nay.
Biện pháp ngăn chặn trong TTHS là một trong những chế định pháp lý tố tụng quan trọng được quy định tại Chương VI Bộ luật TTHS năm 2003 và một số điều ở các chương khác. Những biện pháp này bao gồm: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.v.v..
Theo tác giả biện pháp tạm giam là BPNC trong TTHS do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp luật định nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Từ sự phân tích trên có thể rút ra:
- Biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS.
- Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam là bị can, bị cáo.
- Việc áp dụng biện pháp tạm giam là nhằm ngăn chặn đối tượng tiếp tục phạm tội, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, trốn tránh trách nhiệm pháp lý.
- Căn cứ thẩm quyền, thủ tục và thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam được quy định chặt chẽ và cụ thể trong luật.
Hầu hết các nhà luật học trong nước đều thống nhất việc áp dụng các BPNC nói chung có hai mục đích: a) Ngăn chặn tội phạm; b) Bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [8, tr.21]. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn TTHS, mục đích của việc áp dụng các BPNC phụ thuộc vào nhiệm vụ của từng giai đoạn TTHS khác nhau.
Mục đích áp dụng biện pháp tạm giam là kết quả mà các cơ quan THTT hướng đến khi áp dụng. BPNC được áp dụng nhằm ngăn chặn kịp thời tội phạm hoặc bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Theo quan niệm phổ biến hiện nay căn cứ áp dụng BPNC nói chung và tạm giam nói riêng là:
- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm;
- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử;
- Căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội;
- Để bảo đảm thi hành án.
– Về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam: Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các cơ quan THTT, người THTT theo quy định của pháp luật, trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ được giao để thực hiện các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng trong việc áp dụng, hủy bỏ, thay thế BPNC tạm giam.
– Về thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam: Theo Đại từ điển Tiếng Việt, thủ tục là các bước tiến hành một công việc với nội dung trình tự nhất định, theo qui định của cơ quan nhà nước: Thủ tục là tổng hợp những hành vi tố tụng của cơ quan THTT, người THTT trong phạm vi quyền hạn của mình tiến hành các công việc cần thiết theo quy định của pháp luật TTHS.
– Về thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam:
Thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam là khoảng thời gian nhất định từ thời điểm bắt đầu tạm giam đến thời điểm kết thúc việc áp dụng biện pháp tạm giam được ghi rõ trong lệnh tạm giam. Nếu quy định thời hạn tạm giam quá ngắn sẽ không phục vụ tốt cho công tác điều tra. Ngược lại, nếu quy định thời hạn tạm giam quá dài sẽ dẫn đến lạm dụng tạm giam, “lấy tạm giam thay điều tra”.
Hoạt động TTHS bao gồm hoạt động của nhiều nhóm chủ thể có quyền hạn, nghĩa vụ khác nhau. Đó là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn, ở mỗi giai đoạn các chức năng tố tụng được giao cho những chủ thể khác nhau thực hiện.
– Quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát
- Quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Trại tạm giam
- Quan hệ giữa Cơ quan điều tra và người bị tạm giam
– Quan hệ giữa Cơ quan điều tra và người bào chữa
Trong lịch sử lập pháp TTHS Việt Nam, biện pháp tạm giam lần đầu tiên được ghi nhận trong Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về Tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán; Sắc lệnh số 40/SL ngày 29/03/1946 về bảo đảm quyền tự do cá nhân; Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/07/1946 về tổ chức bộ máy Tư pháp Công an và Sắc lệnh số 85/SL ngày 7/11/1950 về cải cách bộ máy Tư pháp. Căn cứ vào các văn bản này thì “Tư pháp Công an có nhiệm vụ bắt người phạm pháp và giao cho các Tòa án xét xử, quyền ký lệnh tạm giam bị cáo thuộc về ông giám đốc ty Liêm Phóng”.
Đến nay Bộ luật TTHS 2003 đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế không còn phù hợp với tình hình mới, do vậy ngày 27/11/2015 Quốc Hội đã hông qua Bộ luật TTHS năm 2015 nhằm khắc phục những điểm hạn chế của Bộ luật TTHS năm 2013 và đặt những bước phát triển mới đối với Luật TTHS Việt Nam.
Các quốc gia trên thế giới rất quan tâm đến việc tạm giam TTHS. Pháp luật trong TTHS của nhiều quốc gia trên thế giới đều quy định cụ thể về biện pháp ngăn chặn tạm giam.
– Qui định về biện pháp tạm giam trong Bộ luật TTHS Nhật Bản
– Qui định về biện pháp tạm giam trong Bộ luật TTHS Liên bang Nga
– Qui định về biện pháp tạm giam trong pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TẠM GIAM
Biện pháp ngăn chặn tạm giam được quy định tại Chương VI và một số Điều ở các chương khác của Bộ luật TTHS năm 2003 (Điều 120, Điều 177, Điều 228, Điều 243, Điều 303, Điều…). Trong Bộ luật TTHS năm 2015 được quy định tại các Điều 113, Điều 119, Điều 329, Điều 503… Để làm rõ quy định về biện pháp tạm giam cần phải phân tích, làm rõ các khía cạnh sau: Đối tượng áp dụng, căn cứ áp dụng, thẩm quyền áp dụng, thời hạn áp dụng và thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam.
- 2.1.1. Quy định của pháp luật về đối tượng và căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam
- 2.1.2. Quy định của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam
- 2.1.3. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thời hạn tạm giam
- 2.1.4. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp tạm giam và chế độ tạm giam
Theo báo cáo tổng kết công tác của VKSND tỉnh Quảng Ngãi, từ năm 2010 đến năm 2015, tình hình thụ lý án hình sự ở cả hai cấp cơ quan như sau: Tuy số lượng vụ án tăng giảm không nhiều, nhưng tính chất mức độ nguy hiểm thì đáng báo động: Nhiều vụ giết người chỉ xuất phát từ những va chạm nhỏ đã dẫn đến giết người theo kiểu xã hội đen táo bạo. Đặc biệt số bị cáo chưa thành niên phạm tội tăng với tính chất chuyên nghiệp và côn đồ hơn. Các vụ án tham nhũng, hoạt động của tội phạm có tổ chức, băng nhóm ngày càng gia tăng. Xu hướng móc nối với cán bộ có chức vụ quyền hạn để tạo sự bao che, bảo kê ngày càng rõ rệt. Các vụ án ma túy ngày càng lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt.
* Theo số liệu về công tác kiểm sát việc tạm giam ở Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi (năm 2010 – 2015) thì tình hình tạm giam tăng giảm không đều
Theo kết quả khảo sát của tác giả nêu trên thì tỉ lệ giải quyết các trường hợp bị áp dụng biện pháp tạm giam ở tỉnh Quảng Ngãi còn tồn đọng tương đối nhiều.
Khảo sát tình hình tạm giam trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thấy rằng hầu hết các trường hợp áp dụng tạm giam đều tuân thủ theo đúng quy định pháp luật. Cơ quan THTT, người THTT đã quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp tạm giam. Việc áp dụng biện pháp tạm giam hiện nay đã có những tiến bộ đáng kể, bảo đảm dân chủ, pháp chế, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Bên cạnh, những ưu điểm kết quả đã đạt, vẫn tồn tại một số hạn chế trong quá trình áp dụng biện pháp tạm giam, thể hiện:
– Về việc xác định căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam
Qua khảo sát thấy rằng đại đa số các cơ quan điều tra khi đề nghị VKS phê chuẩn lệnh tạm giam đều ghi căn cứ chung chung là: “để bảo đảm công tác điều tra, xử lý”; hoặc “nhận thấy cần thiết phải tạm giam bị can, bị cáo không để họ bỏ trốn, gây cản trở khó khăn cho quá trình điều tra hoặc tiếp tục phạm tội…”.
Trên thực tế có nhiều trường hợp không cần thiết áp dụng biện pháp tạm giam, nhưng bị can vẫn bị tạm giam.
– Về việc áp dụng quy định về thời hạn tạm giam
Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp với số lượng ngày càng tăng, nhưng số lượng cán bộ trong các cơ quan THTT luôn luôn thiếu, nên không đáp ứng được yêu cầu công tác.
Tại tỉnh Quảng Ngãi, các cơ quan THTT tuy đã cố gắng tích cực nhanh chóng giải quyết các trường hợp bị áp dụng biện pháp tạm giam, nhưng không cần thiết phải tiếp tục tạm giam, tuy vậy cũng chỉ đạt ở mức vừa phải, tỉ lệ dao động từ 67% đến 73%.
– Việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp tạm giam
Việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp tạm giam luôn được pháp luật quy định một cách rõ ràng, cụ thể. Tuy nhiên, “trong tình hình nước ta còn những khó khăn gay gắt về kinh tế – xã hội, pháp luật chưa hoàn thiện, ý thức pháp luật còn thấp và lối sống theo pháp luật chưa trở thành thói quen, tiềm thức, tiêu chuẩn của đạo đức và nhân cách con người thì việc vi phạm pháp luật, vi phạm quyền công dân vẫn còn không ít”. Cụ thể, về quyền trình bày lời khai của bị can, bị cáo là người bị tạm giam đã mâu thuẫn với quy định “thành thật khai báo” được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Pháp luật quy định quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa nhưng thực tế quyền này không được bảo đảm.
Để bảo đảm quyền kháng cáo của họ đó là trách nhiệm của Ban giám thị Trại tạm giam. Quyền này thực tế cũng chưa được bảo đảm.
Pháp luật quy định bồi thường thiệt hại cho những trường hợp oan đã rõ ràng, nhưng với những trường hợp sai do lỗi của cơ quan THTT như “tạm giam quá hạn” thì chưa có cơ chế để người bị áp dụng biện pháp tạm giam “sai” yêu cầu bồi thường.
– Về chế độ đối với người bị tạm giam
Chế độ tạm giam so với những năm trước đây đã được cải thiện đáng kể.
Thực tế, khảo sát tại một số Nhà tạm giữ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cho thấy: cơ sở vật chất xuống cấp, ô nhiễm, hệ thống cống rãnh thường xuyên tắc nghẽn, tình trạng quá tải và quá tải cục bộ ở khu vực giam giữ vì số lượng buồng giam có hạn. Công tác quản lý giam giữ còn lỏng lẻo, một số cán bộ chiến sỹ thiếu tinh thần trách nhiệm. Một số can phạm lợi dụng sơ hở đưa vật cấm vào buồng giam, tình trạng người bị tạm giam mới là người chưa thành niên, người tái phạm, tái phạm nguy hiểm thường xuyên vi phạm nội quy, các biện pháp xử lý chưa đủ sức răn đe dẫn đến tình trạng đánh nhau, kêu la gây mất trật tự. Tuy nhiên, từ năm 2010 đến năm 2015 tỉnh Quảng Ngãi chưa xảy ra tình trạng đánh nhau dẫn đến chết người trong trại tạm giam, Nhà tạm giữ. Nhưng tình trạng người bị tạm giam trốn trại ở các Nhà tạm giữ vẫn còn.
Thống kê số phạm nhân tại trại tạm giam công an
tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2010 đến năm 2015
| TT | NĂM | NAM | NỮ | TỔNG SỐ |
| 1 | 2010 | 69 | 0 | 69 |
| 2 | 2011 | 55 | 02 | 57 |
| 3 | 2012 | 35 | 0 | 35 |
| 4 | 2013 | 44 | 03 | 47 |
| 5 | 2014 | 29 | 03 | 32 |
| 6 | 2015 | 20 | 01 | 21 |
Nguồn: Công an tỉnh Quảng Ngãi
– Nguyên nhân của hạn chế, sai sót, vi phạm trong áp dụng biện pháp tạm giam:
– Nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất, do biên chế thiếu và phân công chưa hợp lý nên nhiều ĐTV trong một số CQĐT phải chịu áp lực công việc rất lớn, vì ít người, nhiều việc nên nhiều ĐTV phải cùng lúc thụ lý nhiều vụ án.
Thứ hai, do hệ thống pháp luật về tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự chưa đầy đủ.
Thứ ba, do những năm gần đây, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, số lượng người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân đưa vào các nhà tạm giữ, trại tạm giam gia tăng. Phương tiện, điều kiện trang thiết bị phục vụ công tác kiểm sát còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ công tác.
– Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, Đội ngũ cán bộ THTT hiện nay vừa thiếu về số lượng, yếu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chưa đáp ứng được yêu cầu công tác.
Thứ hai, vẫn còn một số cán bộ, KSV có ý thức trách nhiệm và năng lực, trình độ còn hạn chế, chưa nhận thức được đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò, thẩm quyền của kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, tinh thần trách nhiệm trong công việc chưa cao.
Thứ ba, Lãnh đạo nhiều đợn vị chưa thực quan tâm đến công tác tạm giam, bố trí cán bộ vừa thiếu về số lượng, yếu về chất lượng.
Thứ tư, Sự phối hợp công tác giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý giam giữ, cơ quan thi hành án hình sự chưa chặt chẽ, thường xuyên.
Thứ năm, Việc phối hợp giữa VKS với CQĐT và các cơ quan hữu quan trong việc kiểm sát, thanh tra việc tuân thủ pháp luật, kiểm sát giam giữ và quản lý người bị tạm giam vẫn còn những thiếu sót.
Thứ sáu, Công tác quản lý giam giữ còn lỏng lẻo, chưa nghiêm dẫn đến việc vẫn còn những trường hợp tự tử trong thời gian tạm giam, cũng như những vi phạm khác tại nơi tạm giam.
Thứ bảy, so với đời sống kinh tế – xã hội hiện nay thì chế độ đãi ngộ đối với ĐTV, KSV, Thẩm phán vẫn chưa thỏa đáng, chưa tạo sự yên tâm trong công tác và là một nguyên nhân khiến một bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất,…
Việc xử lý vi phạm đối với cán bộ còn mang tính hình thức, xử lý nội bộ, không bảo đảm sự nghiêm minh.

CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
VỀ TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTHS về chế định các BPNC nói chung và BPNC tạm giam nói riêng là vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính thời sự ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nó xuất phát từ những yếu cầu, quan điểm cơ bản của Đảng về cải cách tư pháp.
Cùng với chủ trương đổi mới kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nước ta, yêu cầu khách quan đặt ra là phải đổi mới Bộ máy Nhà nước, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước cho phù hợp. Đề cao việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế. Kết hợp đồng bộ đổi mới quan điểm lập pháp với cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Trong đó, cải cách tư pháp giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, các cơ quan tư pháp là công cụ quan trọng để Đảng và Nhà nước thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm dân chủ, pháp chế XHCN.
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối về cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, thể hiện qua nhiều Nghị quyết của Đảng, đặc biệt Nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Tiếp tục phát huy và thực hiện nhiệm vụ mà Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị. Nghị quyết 49/NQ/TW ngày 02/06/2005 về “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” được ban hành. Đây là những văn bản đặc biệt quan trọng, định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật TTHS ở Việt Nam.
Ta có thể hiểu rằng, cải cách tư pháp là một đòi hỏi tự thân của nền công lý và dân chủ tại Việt Nam, trong quá trình xây dựng Nhà nước Pháp quyền của dân, do dân và vì dân, đây là một yêu cầu cấp thiết.
Như chúng ta đã biết, Cơ quan Tư pháp ở Việt Nam bao gồm: CQĐT, VKS, Tòa án và Cơ quan thi hành án. Cải cách tư pháp là cải cách tổ chức và phương thức hoạt động của các Cơ quan Tư pháp và các cơ quan bổ trợ tư pháp như Luật sư, Công chứng, Giám định tư pháp, Thừa phát lại,… Trên cơ sở đánh giá thực trạng cơ quan Tư pháp trong thời gian vừa qua, Nghị quyết 49 nhận định:
Công tác Tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chính sách hình sự, TTHS còn bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung. Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý. Đội ngũ cán bộ Tư pháp, bổ trợ Tư pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí sa sút, thoái hóa. Vẫn còn tình trạng oan sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử.
Cải cách Tư pháp đứng trước những thách thức: tình hình tội phạm diễn biến phức tạp với tính chất và hậu quả ngày càng nghiêm trọng. Đòi hỏi các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người và phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật, pháp chế XHCN, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm.
Từ những nhận xét trên, Nghị quyết 49 đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể về cải cách tư pháp trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu sau:
– Hoàn thiện pháp luật tố tụng, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
– Đề cao hiệu quả phòng ngừa, tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm.
– Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho ĐTV, KSV và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập, chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định tố tụng của mình. Xác định rõ căn cứ tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp tạm giam;
– VKS giữ nguyên chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra;
– Xác định rõ nhiệm vụ của CQĐT theo hướng là CQĐT chuyên trách, thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra TTHS.
Chế định tạm giam được quy định trong Bộ luật TTHS năm 2003 đã tạo ra một hành lang pháp lý cho mọi hành vi, mọi hoạt động của các chủ thể trong xã hội. Tuy nhiên, pháp luật luôn chậm và lạc hậu hơn so với sự vận động và phát triển của kinh tế – xã hội. Do vậy, sau một thời gian áp dụng có những tác động tích cực, mang lại hiệu quả trong hoạt động tố tụng nhưng biện pháp tạm giam vẫn tồn tại những điểm bất cập, thiếu sót.
Chế định tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, quyền con người dễ bị xâm phạm, tổn thương và hậu quả để lại có thể rất nghiêm trọng vì nó động chạm đến quyền tự do thân thể, đi lại là quyền nhân thân cơ bản của công dân.
Bảo vệ quyền con người luôn gắn liền với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Do đó, hơn ở đâu hết, bảo vệ quyền con người trong việc áp dụng biện pháp tạm giam có ý nghĩa vô cùng quan trọng: bảo đảm dân chủ, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm pháp chế, không để cho những thế lực thù địch phản động lợi dụng xuyên tạc dưới chiêu bài “Nhân quyền” để phá hoại sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
Do vậy, việc hoàn thiện chế định tạm giam theo tư tưởng cải cách tư pháp phù hợp trong giai đoạn phát triển hiện nay là một đòi hỏi tất yếu.
Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tạm giam phải làm rất nhiều việc. Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ, trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở chương 1 và chương 2, tác giả tập trung đề cập một số nội dung sau:
3.2.1.1. Hoàn thiện cơ chế lãnh đạo và cơ chế giám sát đối với việc tạm giam
– Thứ nhất là cơ chế lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với hoạt động TTHS .
– Thứ hai là cơ chế giám sát việc áp dụng pháp luật về tạm giam
3.2.1.2. Cần rà soát phân loại cán bộ và chú trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo.
– Thứ nhất, cần phải rà soát, phân loại điều tra viên trên phạm vi toàn quốc.
– Thứ hai, cần phải quan tâm, chú trọng việc bồi dưỡng, tập huấn cho Điều tra viên và cán bộ làm công tác điều tra.
– Thứ ba, cần đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy.
3.2.1.3. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ việc tạm giam
Như trên đã trình bày, hiện các Trại tạm giam, nhà tạm giữ thuộc Bộ Công an thiếu chỗ giam giữ, chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu; trang bị kĩ thuật, phương tiện mới chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu.
Để bảo đảm quyền cho người bị tạm giam, để quản lý người bị tạm giam nhằm phục vụ điều tra, việc đầu tư phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ tạm giam là việc làm cấp bách và cần thiết.
Theo tác giả, ngoài ngân sách của trung ương, các địa phương cũng cần hỗ trợ cơ quan điều tra trong việc đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ tạm giam. Việc bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ tạm giam không chỉ là phục vụ yêu cầu trong TTHS mà còn là vấn đề mang tính chính trị – xã hội, là vấn đề nhân quyền.
Ngày 27/11/2015 Quốc Hội đã thông quan Bộ luật TTHS năm 2015 nhằm phục những điểm hạn chế không phù hợp của Bộ luật TTHS năm 2003.
+ Cách thức thiết kế và bố cục chương
+ Quy định cụ thể hơn về các biện pháp bắt (Điều 109)
+ Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 110)
+ Bổ sung và quy định chặt chẽ những người có thẩm quyền bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ (Điều 110 và Điều 117)
+ Quy định cụ thể những việc cần làm ngay sau khi bắt người hoặc nhận người bị bắt (Điều 104)
+ Quy định chặt chẽ căn cứ tạm giam và rút ngắn thời hạn tạm giam (Điều 119 và Điều 173)
+ Sửa đổi các quy định về biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú (các điều 121, 122 và 123)
+ Bổ sung biện pháp tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124)
Như vậy để có thể tạm giam theo qui định trên thì phải có hai điều kiện:
+ Điều kiện thứ nhất là, tội mà bị can, bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng mà BLHS qui định hình phạt tù trên 2 năm. Nếu hình phạt mà BLHS qui định hình phạt tù dưới 2 năm thì không được tạm giam.
+ Điều kiện thứ hai là: Có căn cứ xác định bị can, bị cáo có dấu hiệu bỏ trốn
Từ những luận giải trên, tác giả nhận thấy cần sớm đưa vào áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật TTHS năm 2015, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 để đảm bảo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết 49 về “Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020”. Đồng thời cần quán triệt, tuyên truyền sâu rộng đến người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người bào chữa cũng như toàn bộ quần chúng nhân dân để hiểu và thực hiện đúng những quy định của các bộ luật nêu trên.
Tạm giam là BPNC quan trọng của pháp luật TTHS. Bởi vì, nó là biện pháp cưỡng chế Nhà nước do người có thẩm quyền được quy định trong BLTTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo để ngăn chặn tội phạm và đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, nên được coi là phương tiện pháp lý sắc bén, có hiệu quả nhất để giải quyết tình hình tội phạm. Nó còn thể hiện chuyên chính của Nhà nước ta trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm bằng sức mạnh cưỡng chế, tính ưu việt của Nhà nước XHCN, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lý vụ án, tôn trọng và bảo vệ quyền con người được hiến pháp và pháp luật ghi nhận.
Việc nghiên cứu nguyên tắc áp dụng, thay thế, hủy bỏ BPNC tạm giam như: sử dụng BPNC tạm giam để đấu tranh, xử lý tội phạm, bảo đảm pháp chế XHCN và dân chủ, nhân đạo XHCN có ý nghĩa quan trọng nâng caao nhận thức cho người có quyền hạn tố tụng để áp dụng chúng trong thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm làm giảm tình hình tội phạm dựa trên các căn cứ, phạm vi, mục đích được xác định trong điều luật đối với BPNC tạm giam, đồng thời không để xảy ra những vi phạm pháp luật khi áp dụng BPNC này.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc áp dụng pháp luật về tạm giam vẫn tồn tại những bất cập làm hạn chế hiệu quả tố tụng, gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm mất lòng tin, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan THTT. Đáp ứng yêu cầu của Hiến pháp 2013 và Nghị quyết 49 về Cải cách tư pháp, xây dựng cơ quan tư pháp thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ pháp chế, không để cho các thế lực thù địch phản động lợi dụng xuyên tạc, bêu xấu; bảo vệ sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội trong tình hình tội phạm ngày càng gia tăng phức tạp… Tất cả những điều đó, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và thường xuyên hoàn thiện những quy định về biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng.
Qua quá trình nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng áp dụng, có thể đưa ra một số kết luận sau:
Thứ nhất, biện pháp tạm giam là một biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, có vai trò đặc biệt quan trọng trong TTHS và trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cũng như của quần chúng nhân dân. Việc Quốc Hội thông qua Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật TTHS năm 2015 và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời kỳ mới nhằm đề cao và tôn trọng quyền con người. Kết hợp hài hòa giữa việc bảo đảm cho hoạt động tố tụng kịp thời, nhanh chóng, chính xác với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Thứ hai, việc quy định biện pháp tạm giam phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của nước ta. Đòi hỏi sự rõ ràng, chặt chẽ từ căn cứ áp dụng, thẩm quyền, thời hạn cho đến đối tượng áp dụng, chế độ tạm giam. Cần có những văn bản hướng dẫn kịp thời, đầy đủ, giúp việc nhận thức và áp dụng thống nhất. Hạn chế, việc sửa đổi liên tục, tạo ra một sự ổn định nhất quán của pháp luật và áp dụng pháp luật.
Thứ ba, Bộ luật TTHS năm 2015 đã được Quốc Hội thông qua là cơ sở để các cơ quan, người có thẩm quyền THTT áp dụng biện pháp tạm giam trong quá trình giải quyết VAHS. Do đó, vấn đề con người là nhân tố quan trọng. Cần không ngừng xây dựng, đào tạo, tăng quyền hạn và trách nhiệm của người THTT giúp họ chủ động, sáng tạo, nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của đất nước.
Do vấn đề nghiên cứu rộng, phức tạp và khả năng nghiên cứu còn hạn chế, nhất định không tránh khỏi những khiếm khuyết, thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quý Thầy giáo, Cô giáo và người quan tâm để đề tài được hoàn thiện hơn.
Việc nghiên cứu về lý luận và thực trạng nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tạm giam là một vấn đề tuy không mới nhưng rất phức tạp. Là một vấn đề được sự quan tâm của nhiều giới, ban, ngành vì những vướng mắc, bất cập của nó trong thực tiễn. Thông qua nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ để nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tạm giam trong thời gian tới, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp. Cuối cùng tôi xin gởi những lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô, những đơn vị, cơ quan, anh, chị, em, bạn bè, đặc biệt là thầy Phó giáo sư-Tiến sĩ Phùng Thế Vắc người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, tạo những điều kiện thuận lợi để hoàn thành luận văn.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HINH SU\NGUYEN CONG THANH\SAU BAO VE


