Thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sựở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án là hoạtđộng đưa các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật củaTòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra thi hành;đảmbảotính nghiêm minhcủapháp luật; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân và xã hội; góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
Đối với công tác thi hành án nói chung, công tác thi hành án dân sự nói riêng,từ khi thực hiện đườnglối đổimới đếnnay,Đảng tađãđưara nhiều chủ trương, địnhhướng quan trọng tạo cơsở cho việc hoàn thiện pháp luật;đổi mới tổ chức và hoạt độngcủa các cơ quan thi hành án dân sự; tăng cường pháp chế trong hoạt động thi hành án dân sự, trong đó dấu mốc lập pháp quan trọng là Luật Thi hành án dânsự năm 2008 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2009) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2015).
Trên cơ sở Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, hệ thống thi hành án dân sự đã không ngừng được hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thực tiễn công tác thi hành án dân sự thời gian qua cho thấy rằng bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác thi hành án dân sự cũng còn những tồn tại, hạn chế nhất định, trong đó vấn đềbức xúc hiện nay là tình trạng án tồn đọng, chưa tổ chức thi hành được. Tính đến ngày 30/9/2017, tổng số việc các cơ quan thi hành án dân sự trong toàn quốc phải thi hành là 869.430 việc, đãthi hành xong là 549.415 việc, còn 320.015 việc (chiếm 20,75% tổngsốviệc phải thi hành) chưa thi hành được) [72]. Đáng chúýlà để đảmbảohiệu quảthi hành án, có nhiều vụviệc, cơ quan thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế do đươngsự
không tự nguyện thi hành, cản trở, chống đối việc thi hành án (chỉ riêng trong năm 2017, các cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định cưỡng chế có huyđộng lực lượnglà 5.549 trường hợp) [72] . Như vậy, về nguyên tắc, quá trình thực hiện pháp luật về thi hành án dânsựđể thi hành bản án, quyết địnhcóhiệu lực pháp luật thì thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự chỉđặt ra khi đương sự không tự nguyện thi hành án. Tuy nhiên, từ thực tiễn công tác thi hành án dânsự cho thấy rằng thực hiện pháp luậtvềcưỡng chế thi hành án dân sự cũng còn những vướngmắc, bất cập cảvề lý luận và thực tiễn cầnphải có sự nghiên cứu có hệ thống và toàn diện hơn. Ví dụ như: về mặt lýluận, chưa làm rõ mối quan hệ giữa tự nguyện và cưỡng chế trong thi hành án dân sự khi mà về nguyên tắc thì cưỡng chế chỉ đặt ra khi đương sự không tựnguyện thi hành án nhưng sự tự nguyện của đương sự vẫn được khuyến khích sau khi cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp cưỡngchế; hoặc như mối quanhệ giữa việc áp dụng các biện pháp bảo đảmvà các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự.Về mặt thựctiễn, trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án dân sự còn chồng chéo, kéo dài; trong nhiều việc thi hành án, các chủ thể chưa thực hiện đúng quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự (người phải thi hành án cản trở, chống đối việc cưỡng chế thi hành án; chấp hành viên chưa tuân thủ đúng các trình tự,thủ tục cưỡngchế; cá nhân, tổ
chức liên quan can thiệp trái pháp luật vào quá trình cưỡngchế…);cácđiều kiện đảm bảothực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự (kinh phí,
phương tiện làm việc, côngcụ hỗ trợ…) chưa phù hợp với đặcthù của hoạtđộng thi hành án dân sự và yêucầu đảm bảohiệu lực, hiệu quả cưỡng chế thi
hành ándân sự…Thực trạng nêu trên đòi hỏi phải có sựnghiên cứu, làm rõmột sốvấnđề lýluận về thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sựvà luận giải một số phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện phápluật vềcưỡng chế thi hành án dân sự, từ đó, tác giả chọn đề tài: “Thực
Thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sựở Việt Nam” cóýnghĩa cấpthiết cả về mặt lý luận và thực tiễn trước yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành án dân sự hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơsởlàm sángtỏnhững vấnđềlý luậnvềthực hiện pháp luật về cưỡngchế thi hành án dân sự; thực trạng thực hiện phápluật vềcưỡng chế thi hành án dân sự, (trong đó tập trung là đánh giá những ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân), luậnán đềxuất các quan điểm và giải phápđảmbảohiệuquảđảmbảothực hiện pháp luậtvềcưỡngchếthi hành án dân sự ở ViệtNam trước những yêu cầu mới của công tác thi hành án dân sự ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được cácmục đích đặt ra trên đây, luận án thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
– Nghiên cứu, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự.
– Phân tích khái niệm, bảnchất,đặc điểmcủa cưỡngchếthi hành án dân sự và thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự; nội dung, vai trò của thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự và những yếu tố ảnh hưởngđến hoạt động này.
– Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật vềcưỡngchếthi hành án dân sự ở Việt Nam từ khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có hiệu lực đến nay.
– Đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về cưỡngchế thi hành án dân sự ở Việt Nam trước những yêu cầu mới của công tác thi hành án dân sự.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự và chính sách, pháp luật liên quan đến thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiêncứu
Luận án tập trung nghiên cứu thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự dưới góc độ lý luận chungvềnhànước và pháp luật; nghiên cứu hoạt động thi hành án dân sự, cưỡng chế thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và mối quan hệ với cơ quan, tổ chứccó liên quan trên phạm vi toàn quốc (không bao gồm thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự của Thừa phát lại). Thời gian nghiên cứuđược giới hạn từ năm 2008 đến nay (thời điểmQuốc hội ban hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008).
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu ở trên, luận án dựa trên cơ sở lýluận và cơ sở thực tiễn sau đây:
-Vềphương pháp luận, luận ánsửdụng phương pháp luận của chủnghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộmáy nhà nước, nhất là nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật; các quan điểm, đường lối của Đảngthể hiện trong các Nghị quyết, đặc biệt là các Nghịquyết Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và Nghị quyết có đề cập đếnvấnđềxây dựng nhà nước pháp quyền của các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương các khóa và các nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp.
Về cơ sở thực tiễn: Luận án bám sát thực tiễn cải cách bộ máy nhà nước và cải cách tư pháp, nhất là qua hơn ba mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới ở nước ta thời gian qua.
Trên cơ sở phương pháp luận nói trên, luận án sẽ sử dụng các phương pháp cụ thể tại các chương như sau:
– Phương pháp lịch sử,phân tích, quy nạp được sửdụng chủ yếu tại chương 2, nêu lên các cơ sở lý thuyết củavấnđề đặt ra, từ đó khái quát hóa thành những luận điểm,quan điểmlàmnềntảng lý thuyết xuyên suốt nội dung của luận án (ví dụ như: để nghiên cứu, làm rõ những đặc trưng của thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự so với thực hiện pháp luật nói chung cũng như thực hiện pháp luậtvề cưỡngchếhình sự, cưỡngchế hành chính; nghiên cứu quá trình hoàn thiện pháp luật là cơ sở cho thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự…).
– Phương pháp lịchsử,phân tích, tổng hợp, thống kê được áp dụng nhằm làm rõ những nội dung của chương 3.Đâylà chương đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự với những ví dụ, số liệu cụ thể qua đó rút ra những ưu điểm, tồn tại, hạn chế tạo cơ sở cho việc đềxuất các giải pháp ở chương 4. Ngoài ra, phương pháp phân tích cũng được áp dụng nhằm làm sáng tỏ những nhậnđịnh,quan điểm đã được đưa ra về những vấn đềliên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài luận án.
– Phương pháp phân tích, chứng minh được sử dụng chủ yếu tại chương 4để làm rõ những quan điểm, giải pháp nhằmđảmbảo hiệu quả thực hiện pháp luậtvề cưỡng chế thi hành án dânsựphùhợpvới yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
5. Dự kiến những đóng góp mới của luận án
So với các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đếnthi hành án dân sự và cưỡng chế thi hành án dân sự đã được công bố, Luận án này có dự kiến có những đóng góp mới như sau:
Thứnhất, luận án phân tích, làm sángtỏkhái niệm, đặc điểm, vai tròcủa cưỡngchế thi hành án dân sự và thực hiện pháp luật vềcưỡngchế thi hành án dân sự.
Thứ hai, bằng việc phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật vềcưỡng chế thi hành án dân sự, đặc biệt là áp dụng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự từ khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008, luận án làmsáng tỏ tính quyết định của áp dụng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự đối với các yêu cầuthi hành nghiêm chỉnh các bảnán, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Thứ ba, bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, luận án kiến nghị, đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật thi hành án dân sự nói chung, pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng và luận giải các giải phápđảm bảo thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
–Về lý luận, kết quảcủa luận án góp phần vào hoàn thiện lý luậnvềthực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng; chỉ rõ thực trạng và đề xuất giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật vềcưỡng chếthi hành án dân sự trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
–Về thực tiễn, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các cơ sở đào tạo luật và các cơsở đào
tạo chức danh tư pháp.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương, 10 tiết.

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Thực thi các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án và cơ quan, tổ chức có thẩmquyền để đảmbảo công lý, công bằng trong xã hội luôn là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, những nhà
lập pháp và thực thi pháp luật. Vì vậy, trong luận án, khi nghiên cứu thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự, tác giả sẽ nghiên cứu vấn đề nàyđã được đềcập, nghiên cứu như thế nàoở các bình diện quốc tế và trong nước,những vấnđề gì cầntiếp tục đặt ra giải quyết trongđiều kiện thực tếcủa Việt Nam. Đây chính là cơ sở cho việc đưa ra những kết quả nghiên cứu mới về vấnđề này.
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
1.3. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ NHỮNGVẤNĐỀ ĐẶT RA TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu một số công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam nêu trên, Nghiên cứu sinh rút ra một số nhận xét sau đây:
1.3.1. Về những kết quảnghiên cứu đã đạt được
– Thứ nhất, thực hiện pháp luật thi hành án dân sự nói chung, thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và bảo vệ các quyền cơ bản của con người, quyền công dân. Các công trình nghiên cứu liên quan đếnthực hiện pháp luậtvềcưỡngchếthi hành án dânsựđãcông bốsẽ là nền tảngđểtác giả tiếpcậnsâu hơn, toàn
diện hơn về thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay.
–Thứhai, thực hiện pháp luậtvề cưỡng chế thi hành án dân sự dưới góc độ khoa học pháp lý có thể tiếp cận theo từng biện pháp cưỡng chế (khấu trừ tiền trong tài khoản; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba
giữ….) hoặcđối tượngcưỡngchế (độngsản,bấtđộngsản, thực hiện hoặc khôngđược thựchiện công việc nhất định) hoặc kết hợp cả hai cách tiếp cận. Vì vậy, thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới cần được tiếp cận theo xu hướng kết hợp này.
– Thứ ba, vẫn còn “khoảng trống” trong nghiên cứu với đối tượngđặc biệt là cưỡng chế thi hành án dân sự,cụthể là: chưa có nghiên cứu đầyđủ, toàn diện, chuyên sâu, cóhệ thống cảvề lýluận, pháp luật thực định và thực tiễn thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành án dânsự để bảo đảmthực thi nghiêm chỉnh cácbảnán, quyết định có hiệu lựcpháp luật. Các công trình nêu trên chủ yếu tập trung nghiên cứumột số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự nói chung (ví dụ như: môhình tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự; hoàn thiện pháp luật về thi hành án dânsự;trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân
sự…). Việc nghiên cứu thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự mới chỉ dừng ở góc độ thểchế (các nguyên tắc, biện pháp,điều kiệnáp dụng cưỡngchế thi hành án dânsựtheo quyđịnhpháp luật; những khó khăn, vướngmắc trong thực tiễn áp dụng), nhất là chỉ đề cập đến việc áp dụng các quy định pháp luật cưỡng chế thi hành án dân sự mà chưa đề cập sâu vào các hình thức thực hiện pháp luật khác như tuân thủ pháp luật,sử dụngpháp luật, thi hành pháp luật vềcưỡng chế thi hành án dân sự cũng như áp dụng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự theo từng biện pháp cưỡngchế cụ thể để
từ đó nhận diện những đặc thù của từng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Đồng thời, các kiến nghị, khuyến nghị nêu ra chủ yếu về đổi mới tổ chức, hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự nói chung mà chưa tập trung sâu vào việc đánh giá thực trạng và kiến nghị các giải pháp thực hiện các quyđịnh pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự với nghĩa là các biện pháp bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành án dân sự.
Từ đó, liên quan đến thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự,Nghiên cứu sinh thấycầnphải làm rõ một số vấn đề như: mối quan hệ giữacưỡngchếthi hành án dânsự với việc bảo đảmquyền con người nói chung, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự nói riêng; vai trò, ý nghĩa của các
hình thức thực hiện pháp luật về cưỡngchếthi hành án dânsự…Những nghiên cứu này xuất phát từ mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến và cái đặc thù (cưỡng chế nói chung, cưỡng chế hành chính, cưỡng chếthi hành án dânsự nói riêng). Dođó,khi chưa làm rõ những vấnđề lý luận này thì tất yếu không thể có những đánh giá khoa học, có sức thuyết phục vềthực trạng vấn đề thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự trong thực tiễn và đề ra biện pháp, cơchếhữuhiệu nhằm bảo đảmhiệu lực, hiệu quả cưỡng chế thi hành án dân sự.
1.3.2. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu như nêu trên và xuất phát từ thực tếlàmột sốcông trình nghiêncứu được côngbốvào nhữngthời điểm trướcđây nên trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp, cải cách hành chính hiện nay, công tác thi hành án dân sự đứng trước nhiều yêu cầu mới, vì vậy, Luận án tiếp tục nghiên cứu tập trung vào một số vấn đề sau đây:
Một là, nghiên cứu, làm sâu sắc hơn khái niệm, bản chất, đặcđiểm, vai trò của cưỡng chế thi hành án dân sự; thực hiện phápluật về cưỡngchế thi
hành án dân sự và các hình thức thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự.
Hai là, phân tích, đánh giá các yếu tố ảnhhưởngcũng như các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự.
Ba là, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự hiện nay để từ đó xác định những yêu cầu cơ bản để nghiên cứu, đềxuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dânsự vàbảo đảm thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam đáp ứngyêucầuxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, cải cách tưpháp, cải cách hành chính ở nước ta trong thời gian tới.
1.3.3. Các câu hỏi đặt ra khi nghiên cứu
Với mục đích tiếpcậnthực hiện pháp luật về cưỡngchếthi hành án dân sự nhằm đảmbảo thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; làm sâu sắc thêm thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự cả vềphương diện lý luận và thực tiễn, tác giả thấy rằngcầnphải làm rõmối quan hệ giữa thực hiện pháp luật vềcưỡng chế thi hành án dân sự với hiệu lực, hiệu quả thi hành án dân sự. Để giải quyết được vấn đề này, cần đặt ra giả thuyết nghiên cứu như sau: Thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam chưa thực sự hiệu lực, hiệu quả do pháp luật chưa được hoàn thiện, đồng bộ; chưa có được mô hình tổ chức thi hành án dân sựphù hợp hoặc đã có nhưng hoạt động kém hiệu quả trên thựctế.
Từ giảthuyết nghiên cứu nêu trên, tác giảthấy rằng luận án cần nghiên cứu và giải đáp có hệ thống các câuhỏi, cụthể là: Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự; thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự?Đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luậtvềcưỡng chếthi hành án dân sự? Lịchsử pháp luật vềcưỡngchế thi hành án dân sự? Thực trạng thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam?; Các quan điểm, định
hướngđảmbảo thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự trong giai đoạnhiện nay,tầmnhìn 2030? Các giải phápđảmbảo thực hiện pháp luật về cưỡng chếthi hành án dân sự nhằm thực thi nghiêm chỉnh các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật ở Việt Nam?
KẾTLUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương này, Luận án đã khái quát các kết quả củacác công trình nghiêncứutrong và ngoài nước liên quan đếnthực hiện pháp luật vềcưỡng chế thi hành án dân sự. Nội dung của chương nhấn mạnh việc đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là yêu cầu chung trong thi hành pháp luật của các nước.Để đảmbảo thực thi nghiêm chỉnh các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, pháp luật của các nước đều quy định cụ thể về việc cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chếnhân danh quyềnlựcNhà nướckhi ngườiphải thi hành án, tổchức, cánhân liên quan không tự nguyện thi hành án; quyền và nghĩavụ củacác chủ thể liên quan khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và trình tự,thủ tục
tổ chức cưỡngchế thi hành án dân sự nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân.
Chương này cũng chỉ ra kết quả cơ bản của các công trình nghiên cứu đã côngbố,nhất là những công trìnhđãcông bố ở Việt Nam và nhận thức những kết quả này làm cơ sở cho việc tiếp tục phát triển theo hướng nghiên cứu củaLuận án; đồng thời cũng chỉ ra những vấn đề tiếp tục cần nghiên cứu trong Luận án; giả thuyết nghiên cứu, những câu hỏi đặt ra và trở thành những nội dung sẽđượctrình bày trong các phần tiếp theo của Luận án.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
2.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự2.1.1.1. Khái niệm thi hành án dân sự
Trong đời sống xã hội, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vàđược Nhà nước bảo đảm thực hiện, vì vậy pháp luật là cơ sở cho hành vi xử sự của các chủ thể và đòi hỏi các chủ thể phải thực hiện các hành vi hợp pháp – hành vi phù hợpvới pháp luật, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn có những chủ thể vi phạm pháp luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ (lợi ích của Nhà nước, xã hội, tổ chức và cá nhân) hoặc giữa cácchủ thểcó thể phát sinh các tranh chấp. Khi hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải truycứutrách nhiệm hình sựvà khi các tranh chấp phát sinh mà các bên khôngtự giải quyết đượcthìviệc xét xử, giải quyết tranh chấp được giải quyết bởi các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (Theo quyđịnhpháp luật hiện hành của Việt Nam, hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lývụ việc cạnh tranh) và kết quả của việc xét xử, giải quyết tranh chấp được thể hiện là các bản án, quyết định, trong đó xác định cụ thểtrách nhiệm pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể (hình phạt, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại …).
Về nguyên tắc, các bản án, quyết định chỉ thể hiện kết quả về mặt pháp lý, nếu khôngđược thực thi trên thực tế thì khôngđạt được mục đích cuối
cùng của hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp. Do đó, để đảm bảo quyền và nghĩavụ củacácchủ thểtrên thựctếthì cácbảnán, quyết định phảiđược thi hành nghiêm chỉnh theo trìnhtự,thủtục pháp luật về thi hành án. Hoạtđộng thi hành án có thể được nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau nhưng theo nghĩa chung nhất có thể quan niệm: thi hành án là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục,trình tự đượcpháp luật quyđịnh nhằm đảm bảo đầy đủ,kịp thời quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức theo bản án, quyết định có hiệu lực thi hành.
Về bản chất, thi hành án là quá trình thực tế hóa các quyền và nghĩa vụ theo bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, tuy nhiên, tùy theo tính chất của bản án, quyết định, thì việc tổ chức thi hành án được thực hiện theo các trình tự,thủ tục có tính đặc thù nhất định. Theo quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam, các bản án, quyết địnhcó hiệu lực thi hànhđược thi hành theo trình tự, thủ tục thi hành án hình sự, thi hành án dân sự và thi hành án hành chính, trong đó cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên có thẩm quyền tổ chức thi hành phần “dân sự” trong các bản án, quyết định theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Đó là: bản án, quyết định dân sự; hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tàisảnthu lợi bất chính, xử lývậtchứng, tài sản, án phívà quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chínhcủaTòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phásản, quyết định xửlývụviệc cạnh tranh củaHội đồngxửlý vụviệc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại (Điều 1, Luật Thi hành án dân sự).
Với phạm vi thi hành phần dân sự như trên nên thi hành án dân sự có những nguyên tắc đặc thù nhất định so với thi hành án hình sự, thi hành án hành chính. Vídụ như: nguyên tắc tôn trọng quyền tựđịnhđoạt và sự thỏa thuậncủa đươngsự;khuyến khíchđương sự tự nguyện thi hành án; nguyên
tắc nhân đạo trong thi hành án dân sự; việc áp dụng các biện pháp cưỡng chếchỉ khi đương sự không tự nguyện thi hành án; bảo đảmsự phối hợpgiữa các cơ quan với việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước,tập thể, cá nhân…Những nguyên tắc này cũng là cơ sởcho việc quyđịnhtrình tự,thủtục tổ chức thi hành án phù hợp với tính chất, đặc điểmcủa hoạt độngthi hành án dân sự. Vìvậy, từ những khái quát, phân tích nêu trên, có thể khái niệm: thi hành án dân sự là hoạt động đảmbảo thực hiện đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực thi hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
2.1.1.2. Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự
Khái niệm thi hành án dân sự nêu trên cho thấy về nguyên tắc khi bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành, nếu không chấp hành thìsẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự tươngứng.
Cũng như cưỡngchế nói chung, cưỡngchế thi hành án dân sự cũng xuất phát từ yêu cầu, nguyên tắc chung là dùng quyền lực nhà nước để buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết địnhđã có hiệu lực pháp luật của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằmđảm bảotính phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, giáo dục người vi phạm; lập lại tình trạng như trước khi có hành vi vi phạm hay buộc chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả gây ra và các biện pháp khác pháp luật quy định.
Về nguyên tắc, cưỡng chế thi hành án dân sự chỉ đặt ra khi đươngsự không tự nguyện tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết địnhcó hiệu lực pháp luật, vì vậy, cưỡng chế thi hành án dân sự cóthể được tiếp cận ở những góc độ khác nhau. Có quanđiểmcho rằng cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp được pháp luật quy định, thể hiện quyền lực của Nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, nhằm buộc người phải thi hành án
thi hành đúng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án [74, tr.26]. Có quan điểm cho rằng cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp do cơ quan thi hành án áp dụng nhằm buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc hành vi để thi hành bản án, quyết định theo quy định
của pháp luật…
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng điểm chung nhất đều cho rằng mục đích của cưỡng chế thi hành án dân sự là nhằm buộc người phải thi hành án thi hành đúng nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án nếu họ có điều kiện thi hành mà không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, để đảm bảo ý nghĩa, hiệu quả của cưỡng chế thi hành án dân sự thì pháp luật cần quyđịnhcụthểvềcơ quan có thẩm quyềncưỡngchế; các biện phápcưỡngchế
được áp dụng; trình tự, thủ tục cưỡng chế….Từ những phân tích như trên, có
thể khái niệm: Cưỡngchếthi hành án dân sự là việc chủ thể có thẩm quyền thực hiện biện pháp cưỡng chế theo trình tự,thủ tục pháp luật quy địnhđểbảo đảm thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực thi hành.
Khái niệmvề cưỡngchế thi hành án dânsự thể hiện mục đích của cưỡng chế thi hành án dân sự là đảm bảo thi hành quyền và nghĩa vụ của cácđươngsự và người có quyền, lợi ích liên quan trong các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành. Bởi vậy, có thể nhận diện bản chất của cưỡng chếthi hành án dân sự là việc cơ quan thi hành án dân sự sử dụng quyền lực nhànước khi người phải thi hành án khôngtựnguyện thi hành nhằm chấm dứt quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của người phải thi hành án (ví dụ: khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án); hạn chế quyềnsởhữu, quyền sử dụng tài sản của người phải thi hành án (ví dụ: khi kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thì người phải thi hành ánbị hạn chế quyền chuyển quyền sử dụng đất cho người khác); buộc người phải thi hành
án thực hiện hành vi hợp pháp hay chấm dứt hành vi trái pháp luật (ví dụ: khiáp dụng biện phápcưỡngchế buộc người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc). Từ đó, có thể nhận diện bản chất của cưỡng chế thi hành án dân sựlà hoạt độngcủachủthể có thẩm quyềnsử dụng quyền lực nhà nước làm chấm dứt, hạnchế quyền sởhữu, quyền chiếm hữu, quyềnsử dụng tài sản của người phải thi hành án (kể cả tài sản của người phải thi hànhán đang do người thứ ba giữ) hoặc buộc người phải thi hành án thực hiện hành vi hợp pháp hay chấm dứt hành vi trái pháp luật trên cơ sở bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành.
Với bản chất của cưỡngchế thi hành án dân sự như vậycho thấysự khác biệt với các biện pháp có tính cưỡng chế khác như: biện pháp bảo đảm thi hành án (phạm vi áp dụng biện pháp bảo đảm hẹp hơn so với phạm vi biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự với bản chất là biện pháp có tính cưỡng chếmang tính chấttạmthời như: phongtỏatài khoản;tạmgiữtài sản;tạmdừngđăng ký, chuyển quyềnsởhữu,sửdụng tài sản); biện phápcưỡngchếhành chính (đây là biện pháp nằm ngoài trình tự xét xử của toà án, chủ yếu do cơ quan quản lý hành chính nhànướcáp dụng nhằm ngăn ngừa,xửlý vi phạm hành chính) và biện pháp cưỡng chế hình sự (với bản chất là hạn chế quyền tự do thân thể, thậm chí tước đoạt tính mạng của người bị áp dụng hình phạt).
2.1.1.3. Khái niệm phápluật vềcưỡng chế thi hành án dân sự
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM

