Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam– những đảm bảo pháp lý

Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam– những đảm bảo pháp lý

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em là những ngƣời chƣa trƣởng thành, còn non nớt về thể chất và tinh thần, thƣờng dễ bị tổnthƣơng và xâm hại vềcác quyền tựdo và lợi ích hợp pháp của mình; trẻ em cũng là lớp công dân đặc biệt, nguồn nhân lực cho tƣơng lai, nhân tố quyếtđịnhđếnsựphát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội củađấtnƣớc; vì vậy trẻem là đối tƣợng cần đƣợc đặc biệt ƣu tiên trong xã hội.

Luật quốc tế vềnhân quyền đã dành sự quan tâmđặcbiệtđếnquyền trẻ em và qui định các thiết chế pháp lý để đảm quyềntrẻem đƣợc thực thi trong đời sống; các văn bản pháp lý quốc tếquan trọngvềquyền trẻ emđã đƣợcban hành, bao gồm: Tuyênbốvề quyền trẻ emcủaHộiquốc liên năm 1923; Tuyênbố vềquyềntrẻem củaLiên hợpquốc năm 1959; CôngƣớcvềquyềntrẻemcủaLiên hợp quốc năm 1989; Công ƣớc 182 về các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất do Tổ chức lao động quốc tế thông qua năm 2000; Các nghị định thƣ về sự tham giacủa trẻem trong xung đột quân sự năm 2000 và nạn buôn bántrẻem, mãi dâm trẻ em năm 2002.

Việt Nam là một quốc gia còn nhiều khó khăn nhƣng là một trong những nƣớc đầu tiên tham gia phê chuẩn Công ƣớc quốc tế về QTE, đồng thời đã nội luật hóa Công

ƣớcquốctếvềQTE trong Hiến phápcủanhànƣớcCộng hòa xãhộichủnghĩa Việt Nam và các văn bản pháp luật chuyên ngành nhƣ: Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục

trẻ em năm 2004, luật hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình…

Từnhững nỗ lực nêu trên quyền trẻ em ở Việt Nam đã đƣợc tôn trọng, bảođảmphát triển trẻ emvề thể chất và tinh thần, quyền tham gia, quyền phát triển, quyền bảo vệ và quyền sống còn.

Tuy nhiên trên thực tế quyền trẻ em còn bị xâm phạm, chƣa đƣợc đảm bảo:

vẫn còn tình trạng trẻ em bị mù chữ, trẻ em bị xâm hại tình dục, bịbạo lực về thểchất và tinh thần, tình trạng lao động trẻ em còn diễn ra…

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới những hạn chế nói trên nhƣ: các nguyên nhân vềgia đình, nhà trƣờng, xã hội; trong đó bảođảmpháp lý về quyền trẻ em là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất; cụ thể:

Hiện nay các tiêu chí quốc tế về quyền trẻ em vẫn chƣađƣợc nội luật hóa một cáchđầy đủ, một số quy định chƣa chi tiết, chƣa thực sựtƣơng thích với quyđịnh của Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em, chƣa cụ thể hóa để thực hiện các quyền trẻ em trong đời sống;

1

Bên cạnh đó các biện pháp thực thi các quyền trẻ em còn ít, chƣa thực sự phùhợp với thực tiễn, một số biện pháp còn cứng nhắc thiếu tính linh hoạt;

Hoạt động kiểm soát đối với việc thực thi các QTE còn thiếu đồng bộ;

Hoạt động giáo dục, nâng cao nhận thức các quyền trẻ em còn hạn chế vì vậy việc tiếp cận quyền trẻ em còn hạn chế vớicác cán bộ công chức, gia đình, nhà

trƣờng và với chính bản thân trẻ em.

Do nhu cầu phát triểnđất nƣớc và việc từng bƣớc hội nhập quốc tếvà khu vực, quyền con ngƣời, quyền trẻ em ngày càng đƣợc nâng cao; theo quy định của Hiến pháp năm 2013, tại điều 37 khoản 1 “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc, giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyềntrẻem”; vìvậybảođảmpháp lývềquyềntrẻemcầnphảiđƣợctăng

cƣờng góp phần tôn trọng bảo đảm quyền trẻ em.

Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn vấn đề “ Quyền trẻ em trong giai

đoạn xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam– những đảm bảo pháp lý” làm đềtài luận án Tiến sĩ Luật học của mình.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là dựa trên sự nghiên cứu lý luận, pháp lýcủa quốc tế và thực tiễn Việt Nam về những bảo đảm pháp lý bảo vệ quyền trẻ em; tìm ra những điểm hạn chế của vấn đề này; hình thành các quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền trẻ em. Thông qua bảo đảm pháp lý; hình thành hệ

thống lý luận về quyền trẻ em và bảo đảm pháp lý về quyền trẻ…

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể

Thứ nhất, nghiên cứu, xây dựng lý luận bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em, phân tích, đánh giá các tiêu chí quốc tế về quyền trẻ em và những điều kiện để nội luật hóa ởViệt Nam.

Thứ hai, phân tích, đánh giá quy định pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em và các bảo đảm pháp lý trên các bình diện lập pháp, thực thi và kiểm soát, bảo vệ quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam.

Thứ ba, đánh giá thực trạng những bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em từ đó tìm ra các hạn chế, tồn tại của bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em

Thứ tƣ, đề xuất các giải pháp đối với các bảo đảm pháp lý nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứuĐối tượngnghiên cứu:

– Nghiên cứu chính sách, pháp luật về quyền và BĐPL về quyền trẻ em

– Nghiên cứu hoạt động BĐPL về quyền trẻ em trong thực tiễn xây dựng vàthực thi pháp luật, kiểm soát về quyền trẻ em.

Phạm vi nghiên cứu

– Trong quá trình nghiên cứu và viết tổng quan về tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án, nghiên cứu sinhđƣợcbiết hầu nhƣ không có tài liệu nào sử dụng thuật ngữ“đảmbảo pháp lý”. Thiết nghĩ, việc chỉnh sửa tên đề tài thành: Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam – những bảo đảm pháp lý là cần thiết. Tuy nhiên, thời hạn chỉnh sửa tên đề tài theo quyđịnh chung không còn. Do vậy, trong nội dung của Luận án, nghiên cứu sinh xin phépđƣợcsửdụng thuậtngữ“bảo đảm pháp lý”thay“đảm bảo pháplý” cho thống nhất với các công trình nghiên cứu khoa học khác có liên quan, đồng thời đểbảo đảm tínhhợplý về mặt học thuật. Có thể thấy, đây là đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng, song tác giảđã không nghiên cứu tất cả các vấn đề lý luận và thực tiễn bảo đảm pháp lý ở Việt Nam và tất cả các quốc gia trên thế giới mà xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài nhƣ sau:

– Vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm pháp lý đối với quyền trẻ em.

– Nghiên cứu bảo đảm pháp lýđối với quyềntrẻ em của một số nƣớc trên thếgiới, để rút ra yếu tố hợp lý vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

– Nghiêncứukhảo sát chính sách pháp pháp luật Việt Nam, quốc tế và một số quốc gia trên thế giới về quyền trẻ em.

– Những hoạt độngbảo vệ,chăm sóc và giáo dục trẻ em trong khoảng 10 năm; từnăm 2005 – 2014 (sau khi Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 ra đời).

– Một số những tồn tại trong thực hiện bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em ở Việt Nam

– Trên cơsở nghiên cứu những nội dung trên, luận án kiến nghị những giải pháp cơ bản của bảo đảmpháp lý về quyền trẻ em trong giaiđoạn xây dựng nhà

nƣớc pháp quyền Việt Nam.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Phương pháp luận

Trong quá trình nghiên cứu tácgiảsửdụng phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê Nin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vàđƣờnglốichính sáchcủaĐảng,Nhà nƣớc Việt Nam về con ngƣời về nhà nƣớc và pháp quyền.

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phƣơng pháp hệ thống; kết hợp lý luận với thực tiễn; biện chứng, phân tích và tổng hợp; luật học so sánh; lịch sử; thống kê; các phƣơng pháp nghiên cứu nàyđƣợc sửdụng trong từng chƣơng của luận án cụ thể nhƣ sau:

Phương pháp hệ thống: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận án nhằm trình bày các vấn đề, nội dung của luận án theo trìnhtự, bố cục hợp lý, chặt chẽ, cósựgắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đềđể đạt đƣợcmục đích, yêu cầu đã đƣợc xác định cho luận án.

– Phương pháp luật học so sánh: Phƣơng pháp này chủ yếu đƣợc sử dụng tại

chƣơng 2. Cụ thể là đƣợc vận dụng trong việc tham khảo kinh nghiệm bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em ở một số nƣớc.

– Phương pháp lịch sử: Phƣơng pháp nàyđƣợc sửdụng nhiều tại chƣơng 3 nhằm đƣa ra những cứ liệu lịch sử để trình bày về bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

– Phương pháp thống kê: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để nghiên cứu bảođảmpháp lý về quyền trẻ em của một số nƣớc trên thế giới (chƣơng 2), thực tiễn bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em ở Việt Nam (chƣơng 3, 4).

– Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng trong các chƣơng của luận án. Cụ thểlà đƣợc sửdụng để đisâu vào tìm tòi, trình bày các hiện tƣợng, quan điểm, quyđịnh và thực tiễn của bảo đảmpháp lý; phân tích và tổng hợp đểrút ra bản chất củavấnđề (chƣơng 1, 2, 3); từ đó đƣa ra các đánh giá, kết luận và kiến nghị phù hợp nhằm tiếp tục hoàn thiện những bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em ở Việt Nam (chƣơng 4).

5. Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu của bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em ởViệt Nam làm sáng tỏ các vấn đề đã đƣợc giải quyết và cần tiếp tục nghiên cứu.

Thứhai, làm sáng tỏ những vấnđề lý luận vềbảo đảm pháp lý về quyền trẻem nhƣ: khái niệm, đặc điểmquyền trẻ em; khái niệm và những đặc thù của bảođảm pháp lý về quyền trẻ em, hệ thống các bảo đảm, mối quan hệ của bảo đảm pháp lý với các bảo đảm xã hội khác và những giải pháp hoàn thiện.

Thứba, khái quát quá trình hình thành của hệ thống pháp luật và tình hình thực hiện pháp luật về quyền trẻ em; cung cấp một số kinh nghiệm bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em của một số nƣớc.

Thứtƣ, đề xuất một sốcác giải phápcủa bảođảm pháp lý về quyền trẻ em,đề xuất thành lập một số thiết chế mới bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam: Ombudsman trẻ em của Quốc hội; Tòa án trẻ em.

Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam– những đảm bảo pháp lý
Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam– những đảm bảo pháp lý

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa khoa học, luận án là công trình nghiên cứu trực tiếp và toàn diện về những bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của các bảođảmpháp lý về quyền trẻ em trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam. Sau khi hoàn thành, luận án sẽ là công trình khoa học có giátrị tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập về các bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em.

Ý nghĩa thực tiễn, luận án là tài liệu nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo, phục vụ trực tiếp cho các cơ quan lập pháp, thực thi và bảo vệ pháp luật quyền trẻ em cũng nhƣ giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức chăm sóc, giáodục, bảo vệquyền trẻ em của xã hội.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục và tài liệu tham khảo, phần nội dung đƣợc chia làm bốn chƣơng.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án, cơ sở lý thuyết và

phƣơng pháp nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở lý luận về những bảo đảmpháp lý đốivới quyền trẻ em

trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam.

Chương 3: Bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay.

Chương 4: Các quanđiểm vàgiải pháp vềbảođảm pháp lý về quyền trẻ em

trong bối cảnh xây dựng nhà nƣớc pháp quyền ở Việt Nam.

5

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ

PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Tình hình nghiên cứu của đề tài ở Việt Nam

1.1.2. Tình hình nghiên cứu của đề tài ở một số nƣớc trên thế giới

1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.2.1. Cơ sở lý thuyết

Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt đƣợc mụctiêu nghiên cứu đề ra, trên cơ sở tình hình nghiên cứu đềtài, luận án này đặt ra một số câu hỏi cơ bản nhƣ sau:

Thứ nhất, Bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em là gì và vai trò đối với việc bảođảm thực hiện quyền trẻ em nhƣ thế nào?

Thứ hai,ở nƣớcta hiện nay BĐPL về quyền trẻ em trên thực tế nhƣ thế nào,đã đạt đƣợc những kết quả và hạn chế gì?

Thứ ba, những yêu cầu nào đặt rađốivớiviệc tiếp tục hoàn thiện các bảođảm pháp lý về quyền trẻ em ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng NNPQ? Phƣơng

hƣớng và giải pháp hoàn thiện?

Lý thuyết nghiên cứu

Luận án đƣợc thực hiện trên cơ sở học thuyết Mác – Lê nin và tƣtƣởng HồChí Minh về nhànƣớcvà pháp luật vàvềbảo vệ các quyền con ngƣời – quyền trẻem; Các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Namvề bảo vệ quyền con ngƣời – quyền trẻ em, về tổ chức và hoạt động củabộmáy Nhà nƣớc theo yêu cầu xây dựng NNPQ vì mục đích bảo vệ quyền con ngƣời, quyền trẻ em.

Luận án cũng đƣợc thực hiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc một số lý thuyết

nhƣ: học thuyết về “quyền tự nhiên của con người” vào thế kỷ thứXVI, XVII của các tác giả tiêu biểu nhƣ Jonh locke, B. Spinoza, E.kant, S. Montesque, J.J. Rousseau;học thuyết về “quyền pháp lý của con người” của Emund Burke(1729- 1797) và Jeremy Bentham (1748-1832); họcthuyết về “nhà nướcpháp quyền”. Theo đó quyền trẻ em chính là quyền con ngƣời cần đƣợc bảo đảm thực hiện.

Các giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở nền tảng các nghiên cứu về BĐPL về quyền trẻ em hiện nay cũng nhƣthực tiễnbảođảmthực hiện các quyềntrẻem trong thời gian qua, chúng tôi xácđịnh luận án cần phải hƣớng vào trình bày và luận cứ cho một số giả thuyết khoa học sau:

22

Một là, BĐPL về QTE thể hiện tính nhân văn sâu sắc, coi trọng con ngƣời đặc biệt là coi trọng trẻ em, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ các quyền trẻ em.

Hai là, trong thực tiễn BĐPL về QTE ở Việt Nam những năm qua mặc dù đãđạt đƣợc những thành quả nhất định, nhƣng vẫn còn nhiều hạn chế. Do vậy BĐPL về QTE ở Việt Nam trong thời gian qua chƣa thực sự phát huy hết vai trò và ý nghĩa to lớn của mình, làm ảnh hƣởng tiêu cực đến chất lƣợng và hiệu quả của bảo đảm thực hiện các quyền trẻ em.

Ba là, muốn nâng cao hơn nữa chất lƣợng, hiệu quả của việc bảo vệ QTE cần phải đổi mới, hoàn thiện mạnh mẽ BĐPL về QTE theo hƣớng: Bảo vệ QTE đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ Việt Nam với mục tiêu vì con ngƣời; bảo đảm trẻ em đƣợc phát triển toàn diện; giáo dục QTE; tƣơng thích với BĐPL về quyền trẻ em quốc tế.

1.2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

– Phƣơng pháp kết hợp lý luận với thực tiễn – Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp

– Phƣơng pháp hệ thống

– Phƣơng pháp luật học so sánh

1.2.3. Hƣớng tiếp cận của đề tài

Luận ánkếthừa (có chọn lọc, phân tích và bình luận) cáckếtquả nghiên cứuđã đƣợc công bố trƣớc đề tài này trên cơ sở tập hợp, hệ thống ở mức đầy đủ nhất cóthể đối với các công trình khoa học có liên quan đến BĐPL về QTE.

Bên cạnh việc nghiên cứu trực tiếp về BĐPL về QTE ở Việt Nam, luận án sẽ tập trung hƣớng nghiên cứu vào thực tiễn BĐPL về QTEở nƣớc ta trong khoảng thời gian 10 năm(từnăm 2004 – 2014), đánh giá những thuận lợi, khó khăn cùng với những ƣu điểm, hạn chế trong lĩnh vực nàytừđó rút ra các kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa những ƣu điểm, khắc phục và hạn chế tối đa các hạn chế đó.

Trên cơ sở rút ra những đặc điểmchung của BĐPL về QTE, trên cơ sở tập hợp và tổng hợp kinh nghiệm của các nƣớc, luận án sẽ đƣa ra những giải pháp nhằm tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm phù hợp của các nƣớc góp phần hoàn thiện BĐPL về quyền trẻ em ở nƣớc ta.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Trẻ em là đối tƣợng quan tâmđặc biệt của các quốc gia; Việt Nam cũng làquốc gia nằm trong quy luật chung đó; xuất phát từ tinh thần nhân văn, nhân đạo vàsự coi trọng con ngƣời, đặc biệt coi trọng trẻ em.

Nhiều công trình chuyên khảo, các bài tạpchí khoa học chuyên ngành, bài

23

tạp chí trong nƣớc nghiên cứu về về quyền con ngƣời, QTE; các BĐPL về QTE ở Việt Nam nhƣ: giáo dục pháp luật về QTE, tòa án Việt Nambảovệ quyền con

ngƣời.v..v…; mỗi tài liệu tiếp cận BĐPL về QTE ở những góc độ khác nhau.

Qua nghiên cứu các công trình ở một số quốc gia đã cho thấy: các công trình này mới chỉ tập trung nghiên cứu về một số nội dung cấu thành của BĐPL mang những đặc trƣng riêng gắn liền với chế độ chính trị và văn hóa pháp lý của các quốc gia đó.Tuy nhiên chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc về về BĐPL về QTE ở Việt Nam.

Trong quá trình nghiêncứu đềtài, với những phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau nhƣ: Phƣơng pháp kết hợp lý luận với thực tiễn; Phƣơng pháp phân tích vàtổng hợp; Phƣơng pháp hệ thống; Phƣơng pháp luật học so sánh vềthực tiễn tình hình nghiên cứu trong nƣớc và trên thế giới về bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em đãchỉ ra rằng Việt Nam cần phải tiếp thu có chọn lọc các quan điểm, các kinh nghiệm

xây dựng và thực thi BĐPL về quyền trẻ em của các nƣớc trên thế giới, từ đó vận dụng một cách phù hợp với thực tiễn Việt Nam nhằm hoàn thiện các BĐPL về QTE trongđiều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

24

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHỮNG BẢO ĐẢM PHÁP LÝ ĐỐI VỚI QUYỀN TRẺ EM TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀNƢỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

2.1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN TRẺ EM 2.1.1. Khái niệm quyền trẻ em

Khái niệm trẻ em

Để nghiên cứu về QTE, trƣớc tiên cần làm rõ khái niệmvề “trẻ em”; trong khoa học trẻ emđƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo góc độ tiếp cậncụthể của khoa học đó.

Từ góc độ xã hộihọc, trẻ em đƣợc xác định là ngƣời có vị thế và vai trò xãhội khác với ngƣời lớn vì trẻ em là giai đoạn con ngƣời đang học cách tiếp nhận

những chuẩn mực xã hội và đóng vai trò xã hội của mình [119 – tr556].

Dƣới góc độ tâm lý học, khái niệm trẻ em đƣợc dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý – nhân cách con ngƣời [20- tr367].

Từgóc độ sinh học, trẻ em là con ngƣời ở giai đoạn phát triển, từkhi còn trong trứng nƣớc đến tuổi trƣởng thành [92 – tr61].

Còn dƣới góc độ pháp lý, trẻ em đƣợc xác định theođộ tuổi và ở mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực điềuchỉnh cụ thể độ tuổi của trẻ em quyđịnh khác nhau; khái niệm trẻ em đã đƣợc đề cập trong tuyên bố Giơ ne vơ (1924) và tuyên bố của LHQ về quyền trẻ em (1959), tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời 1968, công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hộivà văn hóa (1966), Công ƣớc của LHQ vềquyền trẻ em (1989); trẻ em là những ngƣời chƣa trƣởng thành còn non nớt về mặt thể chất và trí tuệ, dễbị tổnthƣơngcần đƣợc bảo vệvà chăm sóc đặc biệt,kể cả sựbảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trƣớc và sau khi ra đời.

Theo Công ƣớc quốc tế về QTE năm 1989 quy định tại Điều 1 “trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể áp dụng với trẻ em đóquy định tuổi thành niên sớmhơn”.Nhƣ vậy Công ƣớc đã xác định trẻ em là ngƣời

dƣới 18 tuổi.

Ở một số các văn bản, văn kiện khác của các tổ chức thuộc LHQ nhƣ: Quỹdân sốLHQ (VNFPA), tổ chức laođộngquốc tế (ILO) và tổchức giáo dụckhoa học và văn hóa của LHQ thì quy định trẻ em là những ngƣời dƣới 15 tuổi.

25

Tuy nhiênđối với các văn bảnpháp luật trong nƣớc có các quyđịnh nhằm xác định thế nào là trẻ em; tại điều 1, Luật BVCS&GDTE (2004) quy định “trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam và dƣới 16 tuổi”.

Ngoài ra còn các luật khác bao gồm: BLDS (1995), BLHS (1999), Luật quốc tịch (2000), Luật HN&GĐ (2014) của nƣớcta đều có các quyđịnh liên quan đến việc xác định đối tƣợng trẻ em, xuất phát từ đặc thù của từng ngành luật và căn cứvào quyền lợi và nghĩavụ tốtnhất cho trẻ em;cụ thể,tại điều 20 BLDS (1995) quyđịnh: “Người chưa đủ18 tuổi là người chưa thành niên”và tại điều22 quy định“trẻem chưa đủ 6 tuổi thì không thể là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự; trẻ emtừ

đủ 6 tuổi đến dưới 18tuổi có năng lực hành vi dân sự hạn chế”. Còn theo quy định của BLHS quy định ngƣời đủ 14 tuổi nhƣng chƣa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sựvề những tội nghiêm trọng docố ý và ngƣời đủ16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm; Điều 19 BLLĐ quy định “Người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”.

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về trẻ em, nhƣng có thể thống nhất khái niệm về trẻ em nhƣ sau: “Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển của con người”. Từđây có thể hiểu kháiniệm về độtuổi trẻ em là khoảng thời giantừkhi chàođờichođếnkhi tròn 16 tuổi (theo quy định của pháp luật Việt Nam) hoặc tròn 18 tuổi (theo quy định của pháp luật quốc tế).

Khái niệm Quyền trẻ em

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quyền trẻ em, mỗi cách tiếp cận sẽ làm ảnh hƣởng đến chính sách đối với trẻ em.

Thứ nhất, coi trẻ em là vật sở hữu của cácbậccha mẹ, từ quan niệm này cho thấy trẻ em đƣợc coi nhƣ một phần tài sản vì vậy phải tuân theo các quy tắc do cha mẹ đặt ra cho nên quyền của trẻ em không đƣợc coi trọng [103, tr.52].

Thứ hai, coi trẻ em là đối tƣợng của lòng thƣơng hại, nhƣvậytrẻ emđƣợc coi là sinh linhyếu đuối cần phải đƣợc hỗ trợ từngƣời lớn, không đƣợc coi là con

ngƣời có quyềnhạnvà luônbị ngƣời lớn đàn áp. Nhƣng thực chất trẻ em là con

ngƣời[103, tr.52].

Thứba,trẻemđƣợcbìnhđẳngvớingƣờilớntrong việchƣởngtấtcảcác quyền và tự do cơ bản đƣợc ghi nhận trong luật quốc tế về quyền con ngƣời, cách tiếp cận này đƣợc thể hiệncụ thểtrong các văn bản pháp lý quốc tế: tuyên ngôn toàn thếgiớivềquyền con ngƣời, và hai côngcƣớcvềcác quyền dânsựchínhtrịvà các

26

quyền kinh tế, văn hóa năm 1966,“mọi người hoặc bất cứ người nào đều cóquyền”. Theo cách tiếp cận này chính là sự cào bằng vịthếchủ quyền giữa ngƣời lớn và trẻ em và chƣa phùhợpdo trẻ em vàngƣờilớncó nhữngđặcđiểmkhác nhau, trẻ em yếuthế, nonnớt dễbịtổn thƣơng, cần đƣợc bảo vệ và che chở [18, tr.330].

Thứ tư, trẻ em là những con ngƣời, là chủ thể đặc biệt của quyền con ngƣời nhƣvậytrẻemcầnphảiđƣợcghi nhận các quyềnđặcthù, nhƣ quyềnđƣợcchăm sóc, quyền đƣợc giáo dƣỡng và đƣợc bảo vệ đặc biệt, cách tiếp cận này thể hiện trong tuyên bố liên hợp quốc về QTE năm 1959; Công ƣớc quốc tế về QTE năm 1989 [103, tr.52]

Trong luận án, tác giả tiếp cận về QTE theo cách thứtƣ, tức là khiđứa trẻ

đƣợc coi là chủ thểcủaquyền thì các hành động liên quan đến trẻ em không còn đặt thuần túy trên nền tảng của tình thƣơng, lòng nhân đạo hay sự che chở nữa, mà đóchính là nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan, kể cả các bậc cha mẹ [103, tr.52], từquan điểm này đã cho thấy khi xem xét từ phƣơng diện quyền con ngƣời, QTE đƣợc coi là một bộ phận hợp thành quyền con ngƣời, nhƣng quyền con ngƣời là quyền mang tính chung, tính phổ biến còn QTE vừa mang tính phổ biến, vừa mang tínhđặc thù chỉ giành riêng cho loại chủ thể đặc biệt – chủ thể chƣa phát triển đầy đủ về mặt thể chất, chƣa hoàn thiện về mặt tinh thần rất cần sự quan tâm chăm sóc, bảo vệvà giáo dục từ gia đình, cộng đồng và xã hội.

Việc tiếp cận QTE từ góc độ quyền con ngƣời cho thấy, QTE là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc tôn trọng và thực hiện nhằmđảm bảo sựsống còn, tham gia và phát triển toàn diện. Quyền trẻ em chính là biện pháp bảo đảmcho trẻem không chỉlà những ngƣời đƣợc tiếp thu thụ động tình

thƣơng hay lòng tốt của bất kỳ ai mà còn là chủ thể của quyền.

Hiểu theo Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em, QTEđƣợc thể hiệndƣới bốn dạng quyền đó là: quyền đƣợc sống, quyền đƣợc bảo vệ, quyền đƣợc phát triển vàquyền đƣợc tham gia.

Theo cáchđịnhnghĩa của luật BVCS&GDTEcủaViệt Nam vềQTE đƣợc hiểu là các quyền gắn liền với sựtồn tại và phát triển của trẻ em, bao gồm: quyền

đƣợc khai sinh và có quốc tịch; quyền đƣợcchăm sóc, nuôi dƣỡng; quyền đƣợc sống chung với cha mẹ; quyền đƣợc tôn trọng, bảo vệ tính mạng thân thể, danh dựvà nhân phẩm; quyền đƣợc chăm sóc sức khoẻ và quyền đƣợc học tập;quyền đƣợc vui chơi, giải trí, hoạtđộng văn hoá nghệ thuật, thể dục, thể thao du lịch; quyền

đƣợc phát triển năng khiếu; quyền có tài sản; quyền đƣợc tiếp cận thông tin bày tỏ ýkiến và tham gia xã hội trong đó đặc biệt là các thông tin có liên quan đến quyền và

27

lợi íchhợppháp của trẻ em. Nhƣ vậy, khái niệm QTE đƣợchiểu là nhữngđặc quyền tựnhiên mà trẻ emđượchưởng, được làm, đượctôn trọng và thực hiện nhằm đảm bảo sự sống còn, sự tham gia và phát triển toàn diện.

2.1.2. Đặc điểm, nội dung quyền trẻ emĐặc điểm cơ bản về quyền trẻ em

Quyền trẻ em đƣợc coi là bộ phận của quyền con ngƣời, vì vậy mang đầy đủcác đặc điểmcủa quyền con ngƣời; Nhƣng quyền trẻ em lại có các nét đặc thù so với quyền con ngƣời nói chung ở chỗ: do còn non nớt về thể chất và tinh thần, nên trẻ em đƣợc trao riêng một số quyền, trẻ em đƣợc ƣu tiên một số quyền và trẻ em cũng chƣa có đủ khả năng để thực hiện một số các quyền khác:

Thứ nhất, quyền trẻ em đƣợc ƣu tiên thể hiện thông qua việc trẻ em đƣợc bảo vệ bằng một quy chế riêng, đặc biệt; ví dụ đối với trẻ em thực hiện hành vi phạm tội dù trong bất kì trƣờng hợp nào cũng không bị áp dụng các hình phạt:tửhình, tù chung thân hoặc quy định trẻ em không bị buộc phải lao động sớm; trên thực tế, đểđảmbảo quyền phát triển của trẻem thì bất kì trẻ em nào cũng đều đƣợc tạo mọiđiều kiện đến trƣờng, điều này thể hiện thông qua việc trẻ em ở bậc tiểu học đƣợc học tập miễn phí, nhà nƣớc và xã hội có nghĩa vụ ƣu tiên, chăm sóc, giáo dụcvà bảo vệ các quyền trẻ em.

Thứ hai, có một số quyền trẻ em chƣa đƣợc thực hiện: quyền bầu cử, quyền ứng cử, chƣa có quyền kết hôn, quyền đại diện, quyền ký kết các hợp đồng kinh tế. Do tính chất đặc thù của các quyền nàylà chỉ đƣợc thực hiện khi đạt đến độ tuổi luật định.

Thứ ba, bản thân trẻ em do non nớt về thể chất và tinh thần, rất dễ bị tổn thƣơng vì vậy sự tồn tại, phát triển của trẻ em phụ thuộc vào cơ chế bảo đảm việc thực hiện các QTE; bên cạnh đó còn gắn liền với sự chăm sóc của gia đình, nhà trƣờng và xã hội; đặc biệt trẻ em luôn gắn liền với sự chăm sóc của ngƣời mẹ, cho nên khingƣời mẹ đƣợc tôn trọng và bảo vệ đầy đủ các quyền con ngƣời thì đó sẽ là tiền đề để bảo đảm thực hiện đầyđủ các QTE ngay từ khi còn nhỏ, ví dụ: khi bảo vệ quyền con ngƣời của phụnữ trong thời kì mang thai, sinh sản, nuôi dƣỡng em bé cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ các quyền con ngƣời của trẻ em.

Thứ tư, trẻ em có cácquyền đặcthù, tức là những quyền này chỉ riêngtrẻem mới có bao gồm: quyền khai sinh, quyền đƣợc chung sống cùng cha mẹ, quyềnđƣợc nhận làm con nuôi.Đốivớiquyền khai sinhcủatrẻ emđƣợcthực hiện từkhi mới sinh ra, điều này chính là cơ sở pháp lý để xác nhận trẻ em là công dân của nhà nƣớc; vì vậy đƣợc nhà nƣớc bảo vệ và bảo đảmthực hiện các quyền con ngƣời của trẻ em.

28

Thứ năm, các quyền của trẻ em còn bao gồm: quyền bảo vệ, quyền sống còn, quyền học tập, quyền vui chơi giải trí; với tính cách là nhóm xã hội đặc biệt, trẻ em luôn đƣợc quan tâm và đƣợc ƣu tiên bảo vệtrong mọihoàn cảnh, luôn đƣợc nhà

nƣớc, gia đình và xã hội giành cho mọi điều tốt nhất.

Nhƣ vậy có thể thấy rằng QTE là quyền con ngƣời nhƣngmở rộng và đƣợc thể hiện thông qua các nhóm quyền cơ bản: quyền sống còn, quyền bảo vệ, quyền tham gia, quyền phát triển.

Nộidung của quyền trẻ em

Theo quyđịnhcủaCôngƣớcquốctếvềquyềntrẻem năm 1989 vàhệthống pháp luật Việt Namvềbảovệ,chăm sóc và giáodụctrẻem, các QTE

đƣợc hiểu gồm các nhóm quyền sau:

Nhóm quyềnđượcsống còn, bao gồm: quyền củatrẻemđƣợcsống vàđƣợc đáp ứng những nhu cầuđể tồn tại nhƣ:phải có mức sống đủ, có nơiở,đảmbảo về dinhdƣỡngvà chăm sócsứckhỏe; có quyền đƣợckhai sinh,đâyđƣợccoi là một trong những quyền quan trọngđầutiêncủacon ngƣời, thông qua quyềnđƣợckhai sinh thể hiện việc trẻ em phải có họ tên; đây cũng là cơsởpháplý để nhà nƣớccông nhận các quyền và bổn phận của trẻ em, đồng thời nảy sinh mối quan hệ ràng buộc giữa một bên là nhà nƣớc và một bên trẻ em là công dân của đất nƣớc. Thông qua thủ tụccấpgiấy khai sinh chotrẻemsẽxácđịnh cơsởpháp lýđểcác emđƣợchoàn thành các thủ tục cần thiết, điều này nhằm xácnhận sự bảo đảmcác quyền khác của trẻ em nhƣ: quyềnđƣợcchăm sóc về sức khỏe, đƣợc tham gia tiêm chủng miễn phí,

đƣợc tham gia các chƣơng trình phòng chống suy dinh dƣỡng của quốc gia và đồng thời đây cũng là căn cứ để xác định độ tuổi trẻ em đƣợc hƣởng sự ƣu tiên hay đƣợc miễn trách nhiệm pháp lý. Tuyên ngôncủaLiênHợpQuốcvềQTE năm 1959 ghi nhận:“Trẻem khi sinh ra có quyền được khai sinh”, ngoài ra Côngƣớc quốctế về quyền trẻ em năm 1989 cũng khẳng định “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức khi sinh ra”; tại khoản 1 Điều 11 luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quyđịnh “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch”. Quyền đƣợc khai sinh là điều kiện cần thiết để khẳng định mỗi trẻ em sinh ratrởthành công dân củamộtquốc gia, có quyền bình đẳng, đồng thời có các nghĩa vụ nhƣ các công dân khác.

Ngoài ra, quyền sống còn của trẻ emđƣợc thểhiện thông qua quyền có quốc tịch; quốc tịch là một khái niệm, một phạm trù chính trị pháp lý nhằm xác định mối quan hệ ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ giữa một công dân với Nhà nƣớc; Quốc tịch gắn liền với mỗi con ngƣời từ khi sinh ra đến khi chết đi và đồng thời cũng là

29

tiền đề để họ đƣợc hƣởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân đối với Nhà

nƣớc;Bên cạnh đó quyền có quốc tịch của trẻ em còn có nghĩa là quyền trẻ em phải

đƣợc giúpđỡđể biết cha mẹcủa mình,đƣợccha mẹ chăm sóc, bảo vệ sứckhỏe; quyền đƣợc bảođảmđến mức tối đa có thểđể đƣợc sống còn và phát triển. Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về vấn đề quốc tịch nói chung và của trẻ em nói riêng trong nhiều luật khác nhau; Hiến pháp 2013 quy định tại Điều 17 “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”; Bộ luật Dân sự 2005 quy định tạiĐiều45“Cá nhân có quyềncó quốc tịch”, còn theo quy địnhcủaLuật bảovệ,chăm sóc và giáodụctrẻ em năm 2004“Trẻem có quyền được khai sinh và có quốc tịch”.

Nhóm quyền được phát triển, là trẻ emđƣợc chămsóc, dạy dỗ, tạo điều kiệnđể phát triển một cách lành mạnh, baogồmnhững thứ trẻ emcầncó đểphát triển đầyđủ nhấtnhƣ: quyền giáo dục, trẻ em đƣợc học tập. Đây là nhóm quyền vô cùng quan trọngđốivớiconngƣờinói chung,đặcbiệtđốivớitrẻem;điềunàyđãđƣợcHiến pháp 2013 tại điều 39 quy định “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân”. Bên cạnhđóquyềnđƣợchọctậpcònđƣợccụthểhóaởnhiều văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhƣ: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, quy định tại Điều 16: “Trẻ em có quyền được học tập” và “Trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trảhọcphí”.Theo quy định pháp luật Việt Nam, bậc tiểu học là bậc giáo dục bắt buộc đối với mọi trẻ em. Mọi trẻ em không phân biệtđiềukiện, hoàn cảnhđều đƣợcbìnhđẳngvềcơ hộihọctậpvà

đƣợc nhà nƣớc tạođiềukiện cho học tập. Luật giáodụcđã khẳng định mụctiêu của giáo dục Việt Nam là đào tạo con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩmmỹvà nghề nghiệp, trung thànhvớilý tƣởng độc lập dântộcvà chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất nănglực củacông dân, đáp ứng yêucầucủa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Dựa trên mục tiêu đó, trẻ em có quyềnvà đƣợc tạo điềukiện tiếp cận một nền giáo dục cơ bản, toàn diện và có chất lƣợng để trở thành một thế hệ công dân mới có đức, có tài.

Ngoài ra quyền phát triển, đƣợc hiểu là quyền phát triển tài năng, phát triển vềnăng khiếu và bồi dƣỡngnhân tài làmộttrong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nƣớc, điều này đƣợc thể hiện rõ trong các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam, cụ thể trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quyđịnhtạiĐiều18“Trẻem có quyềnđượcphát triển năng khiếu. Mọi năng khiếucủatrẻ em đềuđượckhuyến khích vàtạođiềukiện thuậnlợiđểphát

30

triển”; nội dung này tiếp tục đƣợc khẳng định tại điều 10 của Luật giáo dục“Nhà nướcvà cộngđồngtạođiềukiện cho nhữngngườicó năng khiếu phát triểntài năng”. Trên thựctế,việc phát triển tài năng luônđƣợcquan tâmthểhiện trong thời gian qua,cảnƣớcđãmởnhiềulớpnăng khiếu,lớptài năng, các trƣờng chuyên, lớp chọn, tổ chức nhiều cuộc thi phù hợp với từng lứa tuổi nhằm thu hút

sựtham giacủacác em thiếu niên, nhiđồngnhằm khuyến khíchkhảnăng sáng tạo, phát hiện và bồi dƣỡng các em sớm trở thành nhân tài phục vụ tổ quốc.

Ngoài ra, nhóm quyền đƣợc phát triển còn đƣợc thể hiện ở các quyền: đƣợc chăm sóc sức khỏe, điều trị bệnh; trẻ em có quyền đƣợc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và quyền này đƣợc quy định cụ thể tại Điều 15 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, theo đótrẻ em dƣới 6 tuổi đƣợc chăm sóc sức khỏe ban đầu, đƣợc khám chữa bệnh miễn phí tại các cơsởytếcông lập; trẻ em đƣợc tiêm chủng phòng bệnh, phòngdịch, đƣợckhám chữa bệnh.Đểtrẻemđƣợchƣởngcác quyềnlợivềytếthìđòihỏigia đình, chamẹ

ngƣời nuôi dƣỡng có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng theo kế hoạch của các cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe trẻ em khi ốm đau, thực hiện các chỉ định của thầy thuốc trong khám chữa bệnh cho trẻ.

Quyền đƣợc vui chơi, giải trí, theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam,tạiĐiều 17 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 có quy định “Trẻ em có quyền vui chơi giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi”. Vui chơi, giải trí chính là nhu cầu thiết thực của con ngƣời, đặc biệt với trẻ emđó không chỉ là nhu cầu đơn thuần mà còn là điều kiện cần thiết để trẻ em phát triển hài hòa, toàn diện về cả thể chất và tinh thần. Hơn thế nữa, việc thực hiện quyền vui chơi, giải trí về tinh thần là sựchuẩn bị vềmặttâm lý, tạo nên sự năng động, thích nghi của trẻ em với xã hội hiện đại.

Ngoài ra, còn có các quyền đƣợc hoạt động văn hóa, nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi; quyền đƣợc tự do tín ngƣỡng, tôn giáo; quyền đƣợc thu nhận nhiều nguồn thông tin, tƣ liệu có lợi về xã hội, văn hóa cho trẻ em; quyền đƣợc cómức sống đủ. Hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về quyền đƣợc chăm sóc và nuôi dƣỡng của

trẻ em trong rất nhiều luật khác nhau; Hiến pháp năm 2013 khẳngđịnh vềchế độ BVCS&GDTE, đồng thời cũng đề cao trách nhiệm của gia đình, của cha mẹ đối với con cái; cụ thể tại Điều 37 quy định “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”; luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cụ thể hóacủaHiến pháp bằng việc quy định“Trẻ em có quyềnđược chămsóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức”.

31

Nhóm quyền được bảovệ, bao gồm: nhóm quyền thể hiện sự đòi hỏi trẻ em phải đƣợc bảo vệ, bao gồm: quyền đƣợctạomôi trƣờng an toàn, đƣợc hƣởng an toàn xã hội, bảo trợ xã hội và các biện pháp cần thiết khác; quyền đƣợc sống chung với chamẹ,tạiđiều13 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định“Trẻem có quyền sống chung với cha mẹ. Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em”; quyền sống chung với cha mẹ là quyền tựnhiên, tất yếu và bất khả xâm phạm của mọi trẻ em, kể cả trƣờng hợp trẻ em là con riêng của vợ hoặc chồng; không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹmàtrái với ý kiến của cha mẹ và trẻ em, trừ trƣờng hợp cha mẹ bị hạn chế quyền chăm nom, chăm sóc, giáo dục đối với con chƣa thành niên hoặc trƣờng hợp cha mẹ đang thi hành án phạt tù tạitrại giam thì ngƣời có thẩm quyền thực hiện pháp luật sẽquyết định cách ly trẻ em với cha mẹ nhƣng việc cách li này là nhằm bảo vệ lợi ích

tốt nhất của trẻ.

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định việc giao con chƣa thành niên cho cha hoặcmẹchăm nom, nuôi dƣỡng, giáodụcphải căn cứ vào quyền và lợi ích mọi mặt của trẻ. Ngoài ra, nhóm quyền đƣợc bảo vệ còn thể hiện thông qua các quyền đƣợc nhận làm con nuôi, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trẻ em đi làm con nuôi “Trường hợp trẻ được làm con nuôi thì việc giao nhận con nuôi phải tuân theo quyđịnhcủapháp luật và phảiđảmbảolợiích tốt nhất chotrẻem”.Ngoài ra,trẻem còn có quyền có tài sản, trong Hiến pháp 2013, tại điều 32 ghi nhận quyền tài sản của công dân “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tếkhác. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”;

tại điều 19 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định “Trẻ em có quyền có tài sản, quyền thừa kế theo quy định pháp luật”, còn trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quyđịnh:con có quyền có tàisảnriêng. Tàisảncủa con bao gồm tài sản đƣợc thừa kế riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tứcphát sinhtừtàisảnriêngcủacon và các thu nhậphợppháp khác.Mặcdùquyền có tài sản riêng của trẻ em đã đƣợc cụ thể hóa trong các lĩnh vực pháp luật khác nhau, nhƣng trẻ em chƣa phát triển toàn diện nên chƣa đủ khả năng quản lý,

định đoạt tài sản riêng; Để bảo vệ tuyệt đối quyền có tài sản riêng của trẻ em, pháp luật cũng đã quy định trách nhiệm của cha, mẹ, ngƣời giám hộ trong việc quản lý và định đoạt tài sản riêng của trẻ em.

32

Bên cạnh đó, trẻ em còn có các quyền đƣợctôn trọng, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm và danh dự, đâylà quyền cơ bản của công dân nói chung và QTE nói riêng trong hệ thống pháp luật Việt Nam và đãđƣợc quy định rấtcụ thể, Hiến pháp 2013 ghi nhận tại điều 20“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộvề tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”;Bên cạnh đó, trong luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cũng đã cụ thể hóa quyđịnh của Hiến pháp, “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe, thân thể, nhân phẩm và danh dự”; còn Bộ luật dân sựnăm 2005 quyđịnhtại khoản 1 Điều 32, “cá nhân có quyền được đảm bảo an toàn vềtính mạng sức khỏe”. Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự giành riêng chƣơng X để quyđịnh về ngƣời chƣa thành niên phạm tội và chƣơng XII quyđịnh về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danhdựcủa con ngƣời, trong đó đặc biệt quan tâm tới trẻ em nhằm chống lại tất cả các hình thức ngƣợc đãi, làm nhục, hành hạ, ruồng bỏ, bắt trộm, bắt cóc, mua bán, đánh tráo trẻ em, lạm dụng, sao nhãng vàbóc lột trẻ em khỏi nạn tra tấn, lạm dụng khi có hành vi VPPL hình sự.

Ngoài ra, còn có các quy định bảo vệ để trẻ em không bị bắt buộc tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang; quyền đƣợc giữ gìn bản sắc dân tộc; quyền không chịu sựcan thiệp tùy tiện hay bất hợp pháp vào việc riêng tƣ; quyền đƣợc bảo vệ chống lại mọi hình thức lạm dụng, bóc lột về tình dục, về kinh tế, bị bắt cóc, mua bán, phải lao động nặng nhọc có hại cho sựphát triển của trẻ; quyền đƣợc bảo vệchống lạiviệc sửdụng ma túy, chất kích thích haybị lôi kéo vào việc sản xuất, buôn bán ma túy, lôi kéo trẻ em đánh bạc, uống rƣợu, hút thuốc;quyền đƣợcbảovệkhỏi sựtra tấn, đối xử, trừng phạtđộcác, bị tƣớc quyền tự do bất hợp pháp; nghiêm cấm việc dụ dỗ, dẫn dắt trẻ em mại dâm, bán hoặc cho trẻ emsửdụng những văn hóa phẩmđồi trụy,đồchơi có hại cho sựphát triển lành mạnh củatrẻ em; quyền

đƣợc bảo vệ không phải tham gia chiến sự khi chƣa đủ 15 tuổi;

Nhóm quyềnđượctham gia, bàytỏýkiếncủamình là nhóm quyền cho phép trẻ em đóng một vai trò tích cực trong cộng đồng và đất nƣớc của các em, gồm có: sự tự do diễn đạt, bày tỏ quan điểm và ý kiến cá nhân (nhƣng không trái luật);trẻemđƣợctrực tiếp hoặc thông quangƣờiđạidiện,tổchức, cơ quan cótrách nhiệm nuôidƣỡngvà chăm sóc phát biểuvềcácvấnđềcó liên quanđến cuộc sống của chính mình; trong gia đình, trẻ em có quyềnđƣợcđềđạtnguyện vọng về các vấn đề liên quan đến nhu cầu của mình nhƣ: việc học tập, phát triển năng khiếu, nhucầuvui chơi giải trí;đƣợctham gia và các hội, đoàn vàtụ họp

33

nhƣng phải hòa bình; quyền đƣợc hình thành quan điểm riêng và tự do phát triển những quan điểm đó về các vấn đề có tác động đến trẻ em; quyền tự do kết giao, hội họp, tụ tập một cách hòa bình.

2.2. NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ BẢO ĐẢM PHÁP LÝ ĐỐI VỚI QUYỀN TRẺ EM

2.2.1. Khái niệm bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em

Bảo đảmpháp lý đƣợchiểu theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào từng góc độtiếp cận, nhƣng về cơ bản có một số cách tiếp cận nhƣ sau:

Cách hiểuthứnhất, bảo đảmpháp lý đƣợc hiểu là các quyđịnh pháp luật trực tiếp liên quan đến việc thực hiện quyền công công dân, trong đó có QTE. Đây là cách tiếp cận theo nghĩa hẹp, BĐPL là những bảo đảm có tính chất pháp lý, trực tiếp gắn liền với việc thực hiện các quyền con ngƣời, quyền trẻ em [61].

Cách hiểuthứhai, theotừđiểnluật học,bảođảm pháp lý là mộttrong những quyền cơ bản của công dân. Mọi quyền lợi chính đáng, hợp pháp của công dân nhƣ: quyền nhân thân, quyền dânsự,quyền chínhtrịxã hội, quyền sống,

quyềnđƣợctựdo, quyền mƣucầuhạnhphúc…đềuđƣợcnhànƣớcbảovệbằng những quy định trong điều luật cụ thể [104, tr.28].

Nhà nƣớc có trách nhiệm bảo đảm cho các quyền công dân đã đƣợc ghi nhận trong các điều luật, các đạo luật phải đƣợc thực thi; phải tạo điều kiện cho công dân

đƣợc hƣởng các quyền đó. Trong trƣờng hợp có sự vi phạm đến các quyền công dân thì phải áp dụng các biện pháp loại trừ. Các cán bộ trong các cơ quan nhà nƣớc sẽ phải chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật trong trƣờng hợp họ không hành động để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Theo cách hiểu khác,bảo đảm pháp lý đƣợchiểu dƣới dạng quy định những bảo đảmpháp lý của pháp chế là: các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn xóa bỏnguyên nhân dẫnđến vi phạm pháp luật ngày càng đầyđủ, hoạt động của các cơquan bảo vệ pháp chế ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, các quy định của pháp luật bảo đảm cho nhân dân đƣợc tham gia vào công tác pháp chế ngày càng đạt hiệuquảcao hơn, các quy định bảo đảm cho nhân dân tham gia vào công tác pháp chế ngày càng đầy đủ và phù hợp [70, tr.526].

Theo cách hiểu của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo đảm pháp lývớihệthống pháp luậtđầyđủ,hoàn thiện, là cơsởđểnhànƣớc,tổchức, các cơ quan nhànƣớcvà công dân thực hiệnđầyđủcác quyền và nghĩavụcủa mình [70, tr.255].

34

Nhƣ vậy hiểu BĐPL, bao gồm các yếu tố quan trọng nhƣ các quy định pháp luậtvềquyền và nghĩa vụcủachủ thể pháp luật vàthủtục, trìnhtựthực hiện các quyền và nghĩa vụ đó;các thiếtchếpháp luật baogồmLập pháp, Hành pháp, Tƣpháp, Thanh tra, Kiểm tra, Giám sát việcbảo vệcon ngƣời, quyền công dân; ngoài ra còn phải kểđến hệ thống dịchvụ pháp luậtgồmcác hoạt động trợ giúp pháp lý, Luật

sƣ, Tƣ vấn nhằmđảmbảo cho con ngƣời nói chung, trẻ em nói riêng đƣợc hƣởng các quyền và lợi ích hợp pháp.

Từcác khái niệm trẻ em, quyền trẻ em và khái niệm bảo đảm pháp lý có thểrút ra khái niệm bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em nhƣ sau:

Khái niệm Bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em đƣợc hiểu: là hệ thống các quyđịnh pháp luật về quyền, nghĩa vụ của trẻ em; các thiết chế pháp lý và xã hội; hệthống dịch vụ pháp luật; hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và cơchế thực thi nhằm làm cho cho trẻ em được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp.

2.2.2. Một số đặc thù cơ bản của bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em

Bảo đảm pháp lý về QTE khác với các bảo đảm xã hội về QTE; bảo đảm xãhội hình thành từ gia đình, cộng đồng và dƣ luận xã hội, còn BĐPL mang tính đặc thù đƣợc xác định từcác yếu tố: pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia vềQTE; từ các thiết chế bảo vệ QTE; hệ thốngdịch vụpháp luậtvề QTE, hoạtđộng tuyên truyền, giáo dụcpháp luật về QTE. VìvậyBĐPL có một số các đặc thù cơbản nhƣ sau:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật về QTE, có nội dung pháp luật qui định các quyền và bổn phận của trẻ em; quiđịnh về trách nhiệm của các thiết chế bảo vệquyền trẻ em; các biện pháp tác động của nhà nƣớc nhằm bảo vệ trẻ em khi bị vi phạm về quyền hoặc sử dụng không đúng, không đủ các quyền.

Bên cạnh đó các quiđịnh pháp luật quốc giavề QTE phải phù hợpvới nội dung của pháp luật quốc tế về quyền trẻ em; tức là phải cụ thể hóađƣợc quiđịnh của các Điều ƣớc quốc tế về QTE.

Thứ hai, các thiết chế bảo vệ quyền trẻ em bao gồm các thiết chế pháp lý và các thiết chế xã hội.

Thiết chế pháp lý, bao gồm Quốc hội ban hành các văn bản pháp luật về QTE và thực hiện hoạt độnggiám sát tốicao trongđốivới việc thực hiện pháp luậtvề QTE; cơ quan Hành chính nhànƣớc tổchức thực hiện pháp luậtvề QTE, bảođảm cho trẻ emđƣợchƣởng các quyền về y tế, giáo dục, vui chơi giải trí; cơ quan Tòa án thực hiện chức năng xét xử quađóbảovệđƣợc các quyền trẻ embịxâm phạm.

35

Các thiết chế xã hội, gồm có: Nhà trƣờng có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện các QTE, đặc biệt là quyền học tập; Gia đình là nhóm xã hội cơ bản, là môi trƣờng tự nhiên quyết định đến sự phát triển và hạnh phúc của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ em. Gia đình góp phần quan trọng trong việc bảo vệ QTE; Mặt trận tổ quốc Việt Nam, bảo vệ QTE thông qua việc tuyên truyền và giáo dục pháp luật về QTE, tham gia vào quá trình giám sát việc thực hiện pháp luật liên quan đến trẻ em, đƣa ra các giải pháp bảo vệ các QTE; ngoài ra còn có Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên Hiệp phụ nữViệt Nam, Hội cựu chiến binh, tổ chức Công Đoàn, Quỹ Bảo trợ trẻ em tham gia bảo vệ QTE.

Thứ ba, hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật về QTE thực hiện thống nhất, bên cạnh hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đối với việc thực hiện pháp luật về QTE còn có cơ chế giám sát xã hội do Mặt trận tổ quốc và các thành viên; giám sát của Hội bảo trợ trẻ em,

Thứ tư,hệ thống dịch vụpháp lý bảo đảmđƣợc các quyền trẻ em gồm: trợ giúp pháp lý, Luật sƣ bào chữa và Tƣ vấn pháp lý về quyền trẻ em.

Trợ giúp pháp lý hƣớng dẫn pháp luật chotrẻem gia đình, cộng đồng và xãhội về quyền trẻ em, xây dựng ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật nhằm phòng ngừa và hạn chế các tranh chấp và vi phạm pháp luật về quyền trẻ em.

Luật sƣ bào chữa nhằm bảo vệ cho trẻ em trong trƣờng hợp trẻ em vi phạm pháp luật Hình sự hoặc trong trƣờng hợp trẻ em bị xâm hại, nhằm bảo vệ quyền trẻem đƣợc thực hiện trong lĩnh vực tƣ pháp.

Tƣvấnpháp luật về QTE, giải đáp các quy định pháp luật đồng thời hƣớng dẫn cho trẻ em và các cá nhân tổ chức trong và ngoài nƣớc lựa chọn cách thức xử sựphù hợp với pháp luật về QTE.

Thứ năm, hoạt động tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về QTE có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ các QTE, vì thông qua hoạt động này sẽ đƣa nội dung của pháp luật về QTE đến đông đảo quần chúng nhân dân và đặc biệt là giúp trẻ em có ý thức về quyền của mình.

Thứ sáu, BĐPLvềQTE gắn liền với truyền thống đạo đức, văn hóa pháp lýcủa dân tộc Việt Nam, thể hiện tinh thần nhân đạo và nhân văn sâu sắc, luôn coi trọng trẻ em, quan tâm và bảo vệ quyền lợi của trẻ em; điều này thể hiện không chỉtrong các nội dung của quy định pháp luật mà còn thông qua các hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc nhằm tổ chức thực hiện pháp luật về quyền trẻ em.

Thứ bảy, BĐPL về quyền trẻ em gắn liền với nhu cầu thiết yếu của đời sống

36

xã hội của trẻ em trong một xã hội phát triển và biến đổi không ngừng, ngày càngđòi hỏi chúng ta phải ƣu tiên hơn nữa trong việc quan tâm BVCS&GDTE nhằmđảm bảo việc thực hiện các quyền của trẻ em.

2.2.3. Các phƣơng thức bảo đảm thực hiện quyền trẻ em

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUYỀN TRẺ EM TRONG GIAI ĐOẠN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM – NHỮNG ĐẢM BÁO PHÁP LÝ

Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam– những đảm bảo pháp lý Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam– những đảm bảo pháp lý Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam– những đảm bảo pháp lý Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam– những đảm bảo pháp lý Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam– những đảm bảo pháp lý Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam– những đảm bảo pháp lý

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *