Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bình đẳng giới là khát vọng chung của nhân loại, là một mục tiêu quan trọng trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của một xã hội, của một đất nước. Từ đó, vừa là mục tiêu của sự phát triển vừa là yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng kinh tế Quốc gia. Đối với Việt Nam nói chung, thành phố Đà Nẵng nói riêng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, các cấp ủy Đảng, chính quyền luôn quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới. Điều này được khẳng định là nhà nước ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật khá đầy đủ điều chỉnh về bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phòng chống hành vi xâm phạm đến quyền bình đẳng giới như: Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, một số luật khác và các văn bản dưới luật có liên quan.

Tuy nhiên, thực tế tác động của nó mang lại không ít bất công, thực trạng bất bình đẳng giới, khoảng cách giới, phân biệt đối xử về giới vẫn đang tồn tại trong đời sống xã hội, tiêu biểu như: định kiến giới, bạo lực gia đình, bất bình đẳng về vị trí, vai trò của phụ nữ so với nam giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, một số chế tài pháp luật chưa nghiêm đối với những hành vi vi phạm quyền, nhân phẩm phụ nữ, quyền trẻ em… Để đạt được một cách hoàn toàn đầy đủ và vững chắc các mục tiêu bình đẳng giới ở nước ta vẫn còn là một quá trình dài và khó khăn, do nhiều nguyên nhân khác nhau như hệ thống pháp luật, nhận thức của cán bộ và người dân về vấn đề này còn hạn chế, quá trình thi hành luật bình đẳng giới còn bất cập. Thực trạng này đòi hỏi phải có thêm những nghiên cứu để tìm ra giải pháp tiếp tục thúc đẩy bình đẳng giới ở nước ta. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về bình đẳng giới không chỉ là yêu cầu của các nhà nghiên cứu khoa học mà còn là nhu cầu thiết thực của từng công dân trong xã hội.

Với ý nghĩa đó, nhằm góp phần giúp mọi đối tượng có cái nhìn bao quát, toàn diện về bình đẳng giới cũng như pháp luật bình đẳng giới, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng”. Với đề tài này tác giả muốn được góp một phần công sức nhỏ bé vào việc hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới và hy vọng góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về bình đẳng giới ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận văn là xây dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cuả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

– Tập hợp và phân tích hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

– Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bình đằng giới. Trên cơ sở đó, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thành tựu, hạn chế trong thực hiện pháp luật bình đẳng giới tại thành phố Đà Nẵng.

– Đưa ra quan điểm và đề xuất những giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại thành phố Đà Nẵng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Tập trung vào việc thực hiện pháp luật của chính quyền địa phương, các cơ quan nhà nước có liên quan và các chủ thể khác…

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung đánh giá hoạt động thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại địa bàn Đà Nẵng. Các số liệu, thông tin làm cơ sở đánh giá được thu thập trong khoảng thời gian 5 năm (từ năm 2012 đến 2016)

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật trong sự nghiệp đổi mới, các quan điểm về quyền con người thể hiện trong các Công ứơc quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp cụ thể được sử dụng nghiên cứu đề tài bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh giữa lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ các quy định của pháp luật về bình đẳng giới. Các phương pháp này giúp cho việc nghiên cứu đề tài được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, từ đó hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu về bình đẳng giới.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Trong thời gian qua, đã có một số đề tài, luận văn nghiên cứu về pháp luật bình đẳng giới, tuy nhiên những đề tài này chỉ đề cập đến một số khía cạnh này hay khía cạnh khác của bình đẳng giới, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại thành phố Đà Nẵng. Vì vậy đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu pháp luật một cách tương đối toàn diện về thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Đà Nẵng.

Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện có hiệu quả pháp luật về bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các vấn đề liên quan đến quyền của phụ nữ, công tác cán bộ nữ.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

    1. 1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
      1. 1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

1.1.1.1. Khái niệm bình đẳng giới

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về bình đẳng giới, song các quan điểm này vẫn có đặc điểm chung, đó là:

Thứ nhất, bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa cơ học là số lượng của phụ nữ và nam giới tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau. Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ giới được công nhận và được hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội.

Thứ hai, bình đẳng giới không có nghĩa là nhìn nhận nam giới và nữ giới giống y hệt nhau mà sự tương đồng và khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ được công nhận và có giá trị như nhau. Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ được hưởng các thành quả một cách bình đẳng.

Hiểu sâu xa thì bình đẳng giới là vấn đề cơ bản về quyền con người và là yêu cầu về sự phát triển bền vững. Có thể nói, ý nghĩa quan trọng của bình đẳng giới là nam và nữ có thể trải nghiệm những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp vào công cuộc phát triển quốc gia trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.

1.1.1.2. Khái niệm pháp luật về bình đẳng giới

Pháp luật về bình đẳng giới là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của nhà nước nhằm đảm bảo việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó trên cơ sở giáo dục thiết phục và cưỡng chế.

1.1.1.3. Khái niệm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới là hoạt động thực tiễn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được tiến hành theo những hình thức pháp lý nhất định, có mối liên hệ và quy định lẫn nhau trong một cơ chế phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn lịch sử, nhằm hiện thực hóa các yêu cầu, nội dung của quy phạm pháp luật về bình đẳng giới, bảo đảm cho bình đẳng giới được thiết lập và duy trì trong đời sống xã hội và gia đình.

      1. 1.1.2. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

1.1.2.1. Đặc điểm về chủ thể thực hiện

Chủ thể thực hiện pháp luật về bình đẳng giới mang tính đa dạng và phong phú. Cụ thể: Là các cơ quan nhà nước; Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; Các tổ chức kinh tế; Các đơn vị sự nghiệp; Các đơn vị vũ trang nhân dân. Các gia đình, dòng họ và công dân Việt Nam có liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ nhằm tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực.

1.1.2.2. Đặc điểm về phạm vi thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Để có được phạm vi thực hiện pháp luật về bình đẳng giới đòi hỏi nhà nước phải quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới; chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về bình đẳng giới mang tính chất quản lý hành chính.

1.1.2.3. Đặc điểm về nội dung thực hiện

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới có nội hàm phong phú và bao trùm toàn bộ đời sống xã hội. Nội dung đó được thể hiện thông qua các chiến lược, chính sách, mục tiêu của nhà nước về bình đẳng giới, hướng đến việc thúc đẩy các quyền con người trong các lĩnh vực được tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Do đó, một trong những nội dung không thể thiếu trong thực hiện pháp luật về bình đẳng giới gồm các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; phổ biến, chính sách pháp luật về bình đẳng giới, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức giới cho đội ngũ cán bộ – những người có liên quan đến việc thực thi chính sách đến bình đẳng giới.

      1. 1.1.3. Vai trò của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

1.1.3.1. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới là phương thức để đường lối, chính sách, pháp luật đi vào thực tiễn đời sống xã hội

1.1.3.2. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới đảm bảo mục tiêu phát triển bình đẳng nam nữ

1.1.3.3. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới là phương thức giúp các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nâng cao ý thức pháp luật

1.1.3.4. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới là biện pháp phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.1.3.5. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới đóng vai trò quan trọng trong việc khẳng định uy tín và trách nhiệm của Nhà nước trước cộng đồng quốc tế trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người

    1. 1.2. Nội dung thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Xác định tầm quan trọng của việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới, nên trong quá trình thực hiện cần tập trung vào các nội dung như sau:

– Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

– Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động việc làm

– Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

– Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

 – Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao

– Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế

– Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình

    1. 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.
      1. 1.3.1. Yếu tố chính trị

Là cơ sở pháp lý để xây dựng một xã hội có cơ cấu tổ chức và chế độ chính trị hướng tới tôn trọng, bảo vệ quyền bình đẳng giới, quyền con người.

      1. 1.3.2. Yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội

Yếu tố kinh tế: Pháp luật sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ phát huy được mọi tiềm năng, hạn chế các mặt tiêu cực, từ đó tạo điều kiện vững chắc cho việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

Yếu tố văn hóa – xã hội: Phát triển nền văn hóa giáo dục, nâng cao dân trí cũng phải được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật, bảo đảm cho con người được phát triển tự do và toàn diện, tạo điều kiện cho mọi người độc lập, nghiên cứu nâng cao nhận thức về mọi mặt, từ đó bảo đảm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

Quan niệm văn hóa truyền thống, đó là hệ thống giá trị để phân biệt quốc gia này với quốc gia khác, dân tộc này với dân tộc khác…Chính vì vậy khi nói tới văn hóa là nói tới trình độ văn minh của một xã hội. Trình độ phát triển của một xã hội không hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng, chất lượng của các đạo luật, mà phụ thuộc vào chỗ những quy định pháp luật có đi vào cuộc sống hay không.

      1. 1.3.3. Yếu tố pháp luật

Yếu tố pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng mang tính quyết định đến việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Chất lượng của pháp luật thực định đối với bình đẳng giới là yếu tố đảm bảo đầu tiên để thực hiện pháp luật, bởi lẽ không có pháp luật có chất lượng sẽ rất khó khăn để đưa pháp luật vào cuộc sống, trở thành hiện thực. Muốn thực hiện pháp luật tốt, điều quan trọng nhất là phải có được hệ thống pháp luật có chất lượng, nếu không sẽ rất khó khăn trong tổ chức thực hiện.

      1. 1.3.4. Yếu tố nguồn lực

Yếu tố nguồn lực là điều kiện quan trọng để thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; nhà nước cần có chủ trương tập trung nguồn lực và có chính sách huy động tối đa mọi nguồn lực để đảm bảo và tăng cường thực hiện bình đẳng giới, trong đó khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân hợp tác, giúp đỡ dưới mọi hình thức trong việc bảo đảm và tăng cường thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng
Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ

BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Các yếu tố đặc thù của thành phố Đà Nẵng ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
      1. 2.1.1. Các yếu tố thuận lợi

Đà Nẵng là thành phố phát triển năng động với cơ sở hạ tầng khá tốt; là trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn nhất của khu vực Miền Trung – Tây Nguyên; Đột phá về phát triển dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch và thương mại; Chính nhờ kinh tế – xã hội Đà Nẵng phát triển nên đời sống của nhân dân thành phố ổn định và từng bước được nâng cao, là tiền đề quan trọng để thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

Điều đáng chú ý là ý thức thượng tôn pháp luật của người dân Đà Nẵng khá cao, thể hiện qua việc chấp hành tốt pháp luật trong tham gia giao thông (đội mũ bảo hiểm, đi theo làn xe…), giữ gìn và bảo vệ môi trường xanh, cải cách hành chính,… Chính điều này đã tác động hết sức thuận lợi đến việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

      1. 2.1.2. Các yếu tố bất lợi

Ảnh hưởng của tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn đang ăn sâu vào tiềm thức. Sự nhập cư của cư dân các địa phương khác, sự tăng lên về mật độ dân cư do kết quả của quá trình đô thị hoá cũng dẫn tới những bức xúc về điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc, an sinh xã hội, từ đó làm tăng những vấn đề về bình đẳng giới, đặc biệt là sự phân biệt đối xử và bạo lực gia đình với phụ nữ. Tất cả những điều này là những thách thức với thành phố Đà Nẵng trong việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở thời điểm hiện nay.

2.2. Thực trạng pháp luật của Nhà nước nói chung

Đà Nẵng đang trên con đường phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo những điều kiện thuận lợi nhất định đối với đời sống vật chất, tinh thần của người dân cũng như các hoạt động thực hiện pháp luật.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại một bộ phận thực hiện pháp luật trái với quy định nhà nước, có thể gọi là vi phạm pháp luật. Điều này cho thấy ý thức pháp luật của những bộ phận này chưa cao đã ảnh hưởng xấu tới sự ổn định và trật tự xã hội.

2.3. Thực trạng pháp luật về bình đẳng giới

Nhận thức về bình đẳng giới và sự quyết tâm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới của lãnh đạo thành phố và của các cơ quan, ban ngành, đội ngũ cán bộ công chức cũng như nhân dân được nâng lên. Các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về bình đẳng giới được triển khai nghiêm túc, toàn diện.

Các cấp, các ngành có sự quan tâm vào cuộc, công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới được tăng cường; công tác phối hợp giữa các sở ngành và địa phương trong thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ngày càng chặt chẽ và hiệu quả; việc thực hiện các mục tiêu, các chỉ tiêu chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới cơ bản đạt kế hoạch đề ra.

Tuy nhiên, trong thực tế, nhận thức về bình đẳng giới có chuyển biến tích cực nhưng còn chậm, chưa sâu sắc và toàn diện. Giữa mong muốn, mục tiêu đề ra với thực tế thực hiện pháp luật về bình đẳng giới còn nhiều khoảng cách, con đường tiến tới bình đẳng giới thực chất vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Chính vì vậy, tình hình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng đòi hỏi cần phải được sự quan tâm, nỗ lực phấn đấu thực hiện của cả hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước có vai trò trung tâm.

    1. 2.4. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại thành phố Đà Nẵng

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

Nhiều năm qua, Đà Nẵng đã ban hành các chủ trương, chính sách về bình đẳng giới để phụ nữ và nam giới toàn thành phố đều có cơ hội phát huy tài năng của mình và tham gia những vị trí lãnh đạo chủ chốt các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền các địa phương, các đơn vị, doanh nghiệp…; Thường phố đã tập trung lãnh đạo thực hiện tốt công tác đào tạo, quy hoạch cán bộ, có biện pháp, chủ trương để đưa cán bộ vào quy hoạch các chức danh cao hơn.

Tuy nhiên, con số thực chất đạt để tương xứng với vị thế, vị trí của lực lượng cán bộ vẫn chưa đạt được so với mục tiêu đề ra.

Thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm

Trên cơ sở Hiến pháp cũng như các nguyên tắc của Luật Bình đẳng giới, lãnh đạo Thành phố Đà Nẵng đã lãnh đạo và chỉ đạo các đơn vị, người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con của lao động nữ; Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lao đông nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi; trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.

Vị thế việc làm của lao động nữ cũng có sự thay đổi tích cực. Tỷ trọng lao động nữ trong số người làm công ăn lương tăng mạnh thể hiện sự thay đổi theo hướng giảm sự bất bình đẳng giới về việc làm có thu nhập ổn định giữa nam và nữ. Đây là một chỉ số quan trọng để đánh giá tình hình bình đẳng giới của Đà Nẵng có nhiều tiến bộ; Ngoài ra, lãnh đạo thành phố đã có nhiều chủ trương, giải pháp tạo việc làm trong chương trình xây dựng thành phố “3 có” và cải thiện đời sống cho người dân ở nông thôn, khu vực giải toả, tái định cư.

Tuy nhiên, thực trạng thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm ở Đà Nẵng vẫn còn những hạn chế, bất cập đó là:

– Về tiêu chuẩn khi tuyển dụng:  Nhiều doanh nghiệp tuyển dụng lao động nữ lại đưa thêm các quy định về điều kiện tuyển dụng ngoài pháp luật lao động như: lao động nữ được tuyển dụng sau một thời gian nhất định mới được kết hôn hoặc mới được phép sinh con.

– Về tiền lương và thu nhập: do tiền lương và tiền công phụ thuộc vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế nên vấn đề này đã bảo đảm được tính công bằng không có sự phân biệt đối xử về giới. Tuy nhiên, trung bình tiền lương chính của lao động nữ vẫn thấp hơn so với lao động nam. Nguyên nhân có thể đề cập trước hết là do sự cách biệt về trình độ chuyên môn kỹ thuật, bậc học càng lớn, cách biệt càng cao, dẫn đến tính cạnh tranh của lao động nữ không cao. Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau nhưng cuối cùng lao động nữ luôn gặp thiệt thòi hơn, họ khó tránh khỏi những rủi ro dễ vấp phải trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Thành phố chú trọng triển khai tốt chương trình xoá mù chữ và phổ cập tiểu học, trung học cơ sở, nhất là địa bàn các xã miền núi, phường ven biển. Đến nay, tỷ lệ nữ từ 15-45 tuổi biết chữ đạt 99,46%; kết quả phổ cập tiểu học và THCS đúng độ tuổi ở 100% xã phường, hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học có 55/56 xã phường, đạt tỷ lệ 98,21%, 56/56 xã phường và 7/7 quận, huyện đạt chuẩn xoá mù chữ (đạt 100%).

Thành phố ban hành nhiều chính sách về công tác cán bộ, chính sách đào tạo, thu hút cán bộ, công chức, trong đó có lồng ghép các nội dung về bình đẳng giới nhằm tạo điều kiện cho cán bộ, công chức được nâng cao năng lực và tham chính. Hàng năm, cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, trong đó cán bộ nữ chiếm khoảng 40%, đào tạo sau đại học, chiếm 44,9%; đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học… chiếm 41%; đào tạo cao cấp lý luận chính trị trên 30%; bồi dưỡng kỹ năng quản lý điều hành cán bộ nữ chiếm 32%. Chú trọng đến công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ, trong đó đặc biệt quan tâm đến đội ngũ nữ cán bộ quản lý, nữ giáo viên trẻ, có năng lực, có hướng phát triển bổ sung vào đội ngũ cán bộ quy hoạch, kế cận hàng năm.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở các cấp học càng cao thì khoảng cách giới càng lớn. Đặc biệt, đối với phụ nữ vùng nông thôn, vùng sâu và vùng xa thì vấn đề này lại càng trở nên cấp bách hơn. Các hiện tượng bỏ học cũng chủ yếu tập trung vào trẻ em gái và trong gia đình nghèo, cơ hội đến trường của các em gái còn thấp hơn nhiều so với các em trai.

Hơn nữa, với tiến bộ của khoa học và công nghệ như hiện nay, nếu phụ nữ không được đào tạo và nâng cao trình độ thì khó có thể thích ứng với điều kiện làm việc và tăng hiệu quả lao động. Đặc biệt, trong kinh tế thị trường, nhiều nhóm ngành nghề đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, việc phụ nữ bị tụt hậu quá xa sẽ là nguyên nhân dẫn đến sự thua kém của họ trong tìm kiếm việc làm và thu nhập.

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh khoa học và công nghệ

Trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển, phụ nữ có nhiều cơ hội thuận lợi để phát huy tốt vai trò và vị thế của mình, là cơ hội hàng đầu đảm bảo cho phụ nữ phấn đấu tiến bộ, bình đẳng phát triển.

Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin dẫn đến những biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội những sự thay đổi quan trọng về cơ cấu ngành nghề, những đòi hỏi mới rất cao về trình độ và kỹ năng lao động. Điều đó đòi hỏi nhà nước phải có các chính sách đặc biệt, có tầm nhìn chiến lược theo quan điểm bình đẳng giới trong quá trình chuyển đổi cơ chế ngành nghề kinh tế – kỹ thuật nhằm xoá định kiến nghề nghiệp trên cơ sở giới tính trong các cơ sở giáo dục, đào tạo, trong các địa chỉ sử dụng lao động và trong cộng đồng nói chung.

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế

Ban hành kịp thời các văn bản triển khai Chiến lược Dân số, sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020, tích cực triển khai thực hiện đề án can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh. Lồng ghép truyền thông và nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục và phòng chống HIV/AIDS cũng như thiết lập và duy trì mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên, phụ nữ và nam giới trong phạm vi toàn thành phố.

Sở Y tế đã đưa nội dung 100% các cơ sở y tế cam kết không thông báo giới tính thai nhi cho phụ nữ có thai và người thân của họ và không loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính.

Trong công tác tuyển chọn luôn đảm bảo yếu tố giới, không có sự phân biệt về giới trong tiêu chí tuyển dụng; xem xét, bố trí và sử dụng công chức viên chức vào các vị trí quản lý, trưởng, phó các Khoa, Phòng;

Tuy nhiên, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực này vẫn còn những hạn chế: Hiện nay, toàn ngành Y tế có hơn 66% lực lượng lao động là nữ, nhưng vị thế của chị em cả trong chuyên môn cũng như trong cương vị quản lý hoặc là cương vị lãnh đạo hiện là biểu đồ hình chóp nón (ở đáy lao động đơn giản, chức vụ thấp chiếm số đông, còn lên cao, những người có trình độ cao, cương vị lãnh đạo cao thì càng giảm).

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao

Đà Nẵng luôn khẳng định vị thế của mình qua việc tổ chức và đăng cai các sự kiện quốc tế như Cuộc thi Trình diễn pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng; cuộc thi marathon quốc tế; cuộc thi đường chạy sắc màu, cuộc đua Iron Man70.3 và các hội nghị quốc tế… đặc biệt tham gia cuộc đua thuyền buồm quốc tế Clipper Race 2015 – 2016, tổ chức chương trình đại hội thể thao bãi biển châu Á năm 2016 và hướng đến chuẩn bị tổ chức tuần lễ cấp cao APEC năm 2017. Thành phố luôn xem việc tham gia hoạt động vui chơi, giải trí, thưởng thức văn học, nghệ thuật, tham gia các hoạt động thể dục, thể thao là một trong những quyền công dân nam cũng như nữ cần được vận động và khuyến khích.

Bên cạnh đó, bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá và thông tin là mục tiêu thứ 5 trong chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011- 2020. Để thực hiện mục tiêu này, trong 5 năm qua ( 2011-2015), thành phố đã ban hành nhiều văn bản đề nghị các cơ quan báo chí thành phố xây dựng các chương trình, chuyên trang, chuyên mục và thời lượng thích hợp tuyên truyền hiệu quả chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện Luật Bình đẳng giới; giới thiệu, phổ biến các kinh nghiệm hay, mô hình làm tốt công tác thực hiện bình đẳng giới, nhất là các mô hình câu lạc bộ gia đình hạnh phúc, bình đẳng và không có bạo lực, mô hình tư vấn, hỗ trợ phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới. Đồng thời, hướng dẫn, nhắc nhở các cơ quan báo, đài, xây dựng kế hoạch chi tiết nhằm thông qua những hình thức tuyên truyền, cổ động phù hợp để tuyên truyền thường xuyên, sâu rộng các nội dung về bình đẳng giới.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết qủa đã đạt được, việc bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá và thông tin còn một số khó khăn như: trên thị trường vẫn còn những sản phẩm văn hoá, thông tin mang tính định kiến giới chưa được kiểm soát hết; Công tác tuyên truyền, giáo dục về giới trên các phương tiện thông tin đại chúng đôi lúc, đôi khi chưa linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng và từng khu vực. Chưa theo dõi, kiểm tra các hoạt động và sản phẩm văn hoá, thông tin từ góc độ giới một cách thường xuyên.

  Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình

Đà Nẵng luôn chủ trương kiên quyết loại bỏ sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhiều lớp tập huấn, các mô hình hoạt động về giới, phòng, chống bạo lực gia đình được tổ chức ở hầu hết các địa phương đã góp phần nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, trong đó bình đẳng giới trong gia đình là nhân tố quan trọng tiến đến sự bình đẳng thực chất giữa nam và nữ.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều phụ nữ vẫn bị trói buộc trong công việc nội trợ gia đình và những định kiến mang tính chất phân biệt đối xử trong xã hội, họ không có thời gian tham gia vào các hoạt động xã hội. Bên cạnh đó, bạo lực giới vẫn còn, tỷ lệ gánh chịu bạo lực thân thể trong cuộc đời của người phụ nữ là 31,5%.

    1. 2.5. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế trong thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng
      1. 2.5.1. Nguyên nhân của ưu điểm

Trước hết, Đà Nẵng đã ban hành các văn bản lãnh đạo; Việc lồng ghép các nội dung bình đẳng giới và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được các ngành, các địa phương chú trọng;

Hai là, vai trò của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ thành phố Đà Nẵng.

Ba là, vai trò của Hội liên hiệp Phụ nữ.

Bốn là, đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được nâng cao về trình độ, kiến thức, đã được quy hoạch, bổ nhiệm các chức danh chủ chốt của các cơ quan, đơn vị.

  Năm là, nhận thức về giới, bình đẳng giới và pháp luật về bình đẳng giới có bước tiến bộ tương đối rõ trong một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.  

Sáu là, địa phương coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới.

      1. 2.5.2. Nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc

Một là, do hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành về bình đẳng giới.

Hai là, do hạn chế về năng lực quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Ba là, nhận thức của cộng đồng, xã hội và gia đình

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng
Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 3.1. Quan điểm đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở nước ta hiện nay
      1. 3.1.1. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, quán triệt đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới gắn với việc kiên quyết và kiên trì chống tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” phân biệt đối xử với phụ nữ
      2. 3.1.2. Đảm bảo tăng cường trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới
      3. 3.1.3. Chính sách pháp luật về bình đẳng giới và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới phải phản ánh đúng đắn nhu cầu xã hội, xử lý hài hòa các yếu tố lợi ích, khách quan, toàn diện và sát với yêu cầu thực tiễn
      4. 3.1.4. Thực hiện pháp luật bình đẳng giới phải bảo đảm tính thường xuyên, liên tục, linh hoạt và sáng tạo đồng thời kế thừa, phát triển những thành tựu, khắc phục tồn tại, hạn chế, tiếp thu tiến bộ của thế giới và phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại
    2. 3.2. Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Thành phố Đà Nẵng
      1. 3.2.1. Nhóm giải pháp chung

3.2.1.1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng trong việc cụ thể các chủ trương và định hướng, cũng như thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

3.2.1.2. Đảm bảo bình đẳng giới ngay trong quá trình xây dựng pháp luật

3.2.1.3. Kiện toàn bộ máy thực hiện chiến lược về bình đẳng giới ( Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ )

3.2.1.4. Xây dựng chiến lược, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ, trong đó chú trọng đến công tác quy hoạch nguồn lãnh đạo nữ các cấp, các ngành

3.2.1.5. Kinh phí cho hoạt động bình đẳng giới

3.2.1.6. Chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện Luật bình đẳng giới

      1. 3.2.2. Nhóm giải pháp cụ thể

Thứ nhất, đẩy mạnh hoạt động truyền thông – giáo dục nhằm nâng cao nhận thức pháp luật về bình đẳng giới đối với các chủ thể thực hiện

Thứ hai, tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu quả trong quá trình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Thứ ba, nâng cao vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ các cấp của Đà Nẵng

Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động của các Câu lạc bộ “Phụ nữ với pháp luật”.

Thứ năm, nâng cao vai trò của giới nữ trong thực hiện pháp luật về bình đẳng

KẾT LUẬN

Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ Đà Nẵng nói riêng bao giờ cũng là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội. Họ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Do đó, việc động viên phụ nữ tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội là cần thiết và không thể thiếu được, là yêu cầu của xã hội văn minh và phát triển. Việc quan tâm phụ nữ không chỉ là việc riêng của Đảng và Nhà nước ta, mà nó còn là mối quan tâm chung của toàn xã hội và của phụ nữ, nhằm phát huy vai trò của giới nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và mang lại lợi ích cho bản thân phụ nữ.

Xuất phát từ đặc điểm vai trò của phụ nữ, từ thực tiễn xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới, luận văn đề xuất giải pháp thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Thực hiện pháp luật bình đẳng giới không phải là sự ưu tiên đơn thuần vì họ là phụ nữ mà là tạo cơ hội cần thiết cho phụ nữ nắm bắt được quá trình vận động của đời sống xã hội, tự thân phấn đấu vươn lên, tự quyết định được vận mệnh của mình. Trong quá trình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới đã thể hiện một số ưu điểm nhất định. Song vẫn còn những điểm chưa hợp lý như nhiều quy định của pháp luật vẫn còn quy định trên văn bản chưa thật sự đi vào cuộc sống, giữa quy định và thực tế vẫn còn khoảng cách. Trong phạm vi có hạn của luận văn này, tác giả đã phân tích, làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về bình đẳng giới, mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển của phụ nữ thành phố và hoàn thiện các quy định bảo đảm bình đẳng giới của hệ thống pháp luật Việt Nam trên đà hội nhập với thế giới.

Việc bảo đảm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua đã được Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố chú trọng và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, so với xu thế phát triển và yêu cầu thực tế thì việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần giải quyết. Những tồn tại, hạn chế đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, đòi hỏi cấp uỷ Đảng và chính quyền thành phố phải có những giải pháp khắc phục;

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới, các cấp, các ngành, các cơ quan tổ chức và toàn bộ hệ thống chính trị ở thành phố Đà Nẵng phải vào cuộc, quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề này, đổi mới nhận thức và phương pháp quản lý, tổ chức thực hiện, ưu tiên đầu tư các nguồn lực và thực hiện đồng thời, đồng bộ các giải pháp chung và riêng mà luận văn đã đề xuất. Với tư duy và nỗ lực như vậy, chắc chắn nội dung thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng sẽ được bảo đảm tốt hơn trong thời gian tới./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HANH CHINH\LE THI THU HUONG\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *