Thực hiện chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Thực hiện chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Thực hiện chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, vấn đề VL đã trở thành một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việt Nam đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vấn đề VL cho người LĐ, CSVL và chống thất nghiệp là một trong những tiêu chí bảo đảm định hướng XHCN, góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển KT-XH.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “GQVL là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng đã xác định rõ: “Phát triển thị trường LĐ trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung – cầu LĐ, phát huy tính tích cực của người LĐ trong học nghề, tự tạo và tìm VL”.

CSVL cho người LĐ là một vấn đề xã hội nhằm tạo thêm VL và đảm bảo VL cho người LĐ, có mục tiêu xã hội là nâng cao phúc lợi cho người dân, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo sự hoà nhập xã hội, giảm dần sự tách biệt xã hội. Do đó thời gian qua nó đã được Đảng và NN luôn quan tâm, thể hiện trong việc đề ra các chủ trương lớn như giáo dục và đào tạo, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng VL cụ thể.

Sự phát triển KT-XH và quá trình đô thị hoá của thành phố Đà Nẵng trong những năm qua đã có những tác động tích cực: Thúc đẩy thị trường LĐ phát triển, cơ cấu lại lực lượng LĐ, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo môi trường và nhiều cơ hội cho người LĐ tìm được VL, ổn định đời sống. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực, quá trình đô thị hoá và phát triển của thành phố cũng làm nảy sinh một số khó khăn về việc GQVL cho một bộ phận LĐ. Trong quá trình cơ cấu, sắp xếp lại DN NN, một bộ phận LĐ không đáp ứng yêu cầu sử dụng, nhưng không thể đào tạo lại, bị mất VL; vấn đề chuyển đổi ngành nghề, đào tạo, phục hồi thu nhập, tạo VL cho số LĐ của các hộ trong diện di dời, chỉnh trang đô thị, còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, số học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường hàng năm, bộ đội xuất ngũ, LĐ nhập cư cần tìm VL càng làm cho vấn đề GQVL trở nên bức xúc.

Xuất phát từ áp lực về LĐ và VL ngày càng gia tăng nên vấn đề này đã được nhiều cơ quan, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Là một học viên trong ngành chính sách công, bản thân thấy đây là vấn đề cấp bách và sát hợp với thực tế cần nghiên cứu nên tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” là quan trọng và cần thiết phục vụ hoàn thành các mục tiêu của Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XX đã đề ra, nhằm đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện CSVL trên địa bàn thành phố trong thời gian qua để từ đó đưa ra những quan điểm, giải pháp tăng cường thực hiện CSVL trong thời gian đến làm luận văn thạc sĩ.

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở nhận thức lý luận theo chủ trương của Đảng và NN ta và các nhân tố ảnh hưởng về CSVL và đánh giá thực trạng thực hiện, những tồn tại và nguyên nhân của thực trạng CSVL từ thực tiễn của thành phố Đà Nẵng, qua đó đề xuất quan điểm, một số giải pháp hoàn thiện chính sách GQVL ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

  • Đối tượng nghiên cứu chủ yếu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện CSVL ở thành phố Đà Nẵng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc thực hiện CSVL từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005- 2015 và giải pháp thực hiện đến năm 2020.
  • Về không gian: Địa bàn thành phố Đà Nẵng.
  • Về thời gian: Giai đoạn 2005- 2015.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

* Phương pháp luận:

  • Luận văn được viết dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật về LĐ, VL và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài.
  • Luận văn được viết trên cơ sở kế thừa những nghị quyết, chỉ thị về LĐ và VL của HĐND, UBND thành phố Đà Nẵng.

* Phương pháp nghiên cứu:

  • Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Kết hợp sử dụng các phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, phương pháp chuyên gia và tổng hợp để làm rõ vấn đề mà đề tài đã đề cập.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

  • Làm rõ ý nghĩa KT-XH của việc thực hiện CSVL cho người LĐ từ thực tiễn của thành phố Đà Nẵng.
  • Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện CSVL cho người LĐ ở địa phương và nguyên nhân.
  • Đề xuất phương hướng, giải pháp sát thực để hoàn thiện CSVL nhằm mục tiêu tăng cường thực hiện tốt CSVL cho người LĐ ở địa phương.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu luận văn gồm có 3 chương.

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện CSVL.

Chương 2: Thực trạng thực hiện CSVL từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Mục tiêu, quan điểm, giải pháp tăng cường thực hiện CSVL từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM

    1. Dân số

Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng LĐ. Dân số biến động có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi LĐ.

    1. Lực lượng lao động

Theo tổ chức LĐ quốc tế (ILO): Lực lượng LĐ là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia LĐ và những người không có VL đang tích cực tìm kiếm VL [1, tr.34].

    1. Nguồn lao động

Nguồn LĐ và lực lượng LĐ là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối LĐ, VL trong xã hội. Việc quy định độ tuổi LĐ tuỳ mỗi nước có quy định khác nhau, thậm chí khác nhau ở các giai đoạn của mỗi nước. Ở nước ta, theo quy định của Bộ Luật LĐ (2012) độ tuổi LĐ đối với nam từ đủ 15-60 tuổi và nữ là từ đủ 15-55 tuổi [1, tr.36].

  • Thị trường LĐ

Theo ILO: Thị Trường LĐ là thị trường trong đó các dịch vụ LĐ được mua và bán thông qua một quá trình để xác định mức độ có VL của LĐ cũng như mức độ tiền lương và tiền công [1, tr.38]. Như vậy, thị trường LĐ được cấu thành bởi ba yếu tố: Cung LĐ; cầu LĐ và giá cả sức LĐ.

    1. Năng suất lao động

Năng suất LĐ là “Sức sản xuất của LĐ cụ thể có ích”. Nói lên kết quả hoạt động của con người trong một đơn vị thời gian nhất định.

Các khái niệm dân số, dân số hoạt động kinh tế, nguồn LĐ, lực lượng LĐ, năng suất LĐ liên quan trực tiếp tới CSVL, hoạt động GQVL; đó là các chuẩn mực cơ bản để xác định, thống kê, đánh giá và thông tin về tình trạng đủ VL, thiếu VL, thất nghiệp.

    1. Khái niệm về việc làm, giải quyết việc làm và chính sách việc làm
  • Khái niệm về việc làm

Điều 9, Chương II về việc làm của Bộ Luật Lao động (2012) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện hành quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”.

  • Khái niệm giải quyết việc làm

Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ: “GQVL là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”.

GQVL cần phải được xem xét cả phía người LĐ, người sử dụng LĐ và vai trò của NN. Vì vậy, “GQVL là tổng thể các biện pháp, chính sách KT-XH từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người LĐ có thể có VL”.

  • Chính sách việc làm [13, tr.2]

CSVL là một trong những chính sách xã hội quan trọng, đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội. CSVL thực chất là một hệ thống các chính sách chung có quan hệ và tác động đến việc mở rộng và phát triển VL cho lực lượng LĐ của toàn xã hội.

Thực hiện tốt CSVL, nguồn nhân lực được sử dụng có hiệu quả thì hiện tượng thất nghiệp sẽ giảm đi, như vậy chính sách bảo hiểm xã hội sẽ giảm được chi phí cho các trợ cấp thất nghiệp. Thực hiện tốt CSVL cho người LĐ, giúp họ tham gia vào quá trình sản xuất là yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế.

    1. Thiếu việc làm và thất nghiệp
  • Thiếu việc làm

Theo ILO thì người thiếu VL là người trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ VL và có nhu cầu thêm VL [1, tr.54]. Từ khái niệm này có thể hiểu như sau: Người thiếu VL là người LĐ đang có VL nhưng họ làm việc không hết thời gian theo pháp luật quy định hoặc làm những công việc mà tiền lương thấp không đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống, họ muốn tìm thêm VL để bổ sung thu nhập.

  • Thất nghiệp

Theo ILO, cho rằng: “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng LĐ muốn làm việc, nhưng không thể tìm được VL ở mức tiền công đang thịnh hành” [1, tr.57]. Người thất nghiệp là người trong độ tuổi LĐ có khả năng LĐ, không có VL và đang có nhu cầu tìm VL.

    1. Vai trò của chính sách việc làm cho người lao động đối với sự phát triển KT-XH

CSVL cho người LĐ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH. Bởi vì, con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế và là yếu tố tạo ra lợi ích KT-XH.

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định: Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản đó là sức LĐ, tư liệu LĐ và đối tượng LĐ.

    1. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách việc làm cho người lao động
  • Nhân tố về điều kiện tự nhiên
  • Nhân tố về dân số
  • Nhân tố về chính sách vĩ mô
  • Nhân tố liên quan đến giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ
  • Nhân tố toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế
    1. Kinh nghiệm thực hiện CSVL cho người LĐ ở một số thành phố ở nước ta
      1. Kinh nghiệm của Nam Định
      2. Kinh nghiệm của Thanh Hoá
      3. Một số kết luận rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn

Từ thực tiễn ở một số địa phương trong nước thời gian qua, có thể rút ra bài học kinh nghiệm và vận dụng cho việc thực hiện CSVL trong quá trình phát triển KT-XH ở thành phố Đà Nẵng như sau:

  • Xác định mục tiêu của CSVL trong chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH; đồng thời bố trí đủ nguồn lực, đảm bảo để thực hiện chính sách về VL.
  • NN có chính sách khuyến khích cụ thể, sát hợp với tình hình thực tế để tổ chức, cá nhân tham gia tạo VL và tự tạo VL, nhằm góp phần phát triển KT-XH, phát triển thị trường LĐ.
  • Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các CSVL, phát triển thị trường LĐ và bảo hiểm thất nghiệp.
  • Có chính sách ưu đãi đối với ngành nghề sử dụng LĐ có trình độ chuyên môn cao. Có chính sách hỗ trợ tương xứng cho các DN, người sử dụng LĐ có sử dụng nhiều LĐ là người khuyết tật, LĐ nữ, LĐ là người dân tộc thiểu số…
  • NN cần phải có những chính sách vĩ mô về vai trò quản lý NN để chống thất nghiệp, thiếu VL, GQVL cho người LĐ.
  • Đào tạo nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người LĐ, đáp ứng nhu cầu thị trường LĐ, nhất là các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, yêu cầu chất lượng cao và thu hút nhiều LĐ.
  • Phát triển hệ thống sự nghiệp về LĐ – VL như các trung tâm dịch vụ VL, cơ sở dạy nghề, các DN xuất khẩu LĐ.
  • Trên cơ sở phát huy nội lực trong nước, mở rộng hợp tác quốc tế để tranh thủ và sử dụng có hiệu quả sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm để thực hiện tốt CSVL cho người LĐ.
  • Thực hiện chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
    Thực hiện chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Chương 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. Đặc điểm về tự nhiên, KT-XH của thành phố Đà Nẵng ảnh hưởng đến việc thực hiện CSVL
      1. Đặc điểm tự nhiên
      2. Đặc điểm về KT-XH
      3. Thực trạng về dân số và lực lượng LĐ ở thành phố Đà Nẵng

Trong những năm qua, thành phố Đà Nẵng đã quán triệt và làm tốt công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm từ 18,19‰ năm 2000 xuống còn 10,09‰ năm 2010. Dân số trung bình của thành phố năm 2010 là 926.018 người; Trong đó nữ chiếm 51,32%, nam 48,16%; thành thị chiếm 86,97%, nông thôn chiếm 13,03%.

Dân số có cơ cấu trẻ; nhóm tuổi từ 0-14 tuổi chiếm 20,78%, nhóm 15- 19 tuổi chiếm 9,64% và nhóm 20-24 tuổi chiếm 9,30%; đây là một thuận lợi về cung nguồn nhân lực trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, cơ cấu dân số trẻ cũng là một khó khăn, do số người bước vào tuổi LĐ hàng năm khá cao. Vấn đề GQVL, xóa đói giảm nghèo, giáo dục đào tạo, nhất là đào tạo nghề đang đặt ra yêu cầu rất lớn đối với thành phố Đà Nẵng.

Xét theo cơ cấu dân số giữa 2 khu vực thành thị – nông thôn có biến động nhưng không lớn. Dân cư Đà Nẵng phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các quận trung tâm thành phố.

Do dân số đông nên lực lượng LĐ đến tuổi LĐ hàng năm bổ sung vào lực lượng LĐ tương đối dồi dào. Nguồn nhân lực tăng tự nhiên hàng năm ước khoảng 13.500 đến 14.000 người. Điều đó đặt ra vấn đề cấp bách trong việc đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu sử dụng LĐ của các DN và phục vụ cho CSVL của địa phương trong những năm đến.

      1. Cơ cấu nhân lực theo trình độ chuyên môn kỹ thuật

Từ năm 2000 đến nay, chất lượng nguồn nhân lực của thành phố Đà Nẵng từng bước được nâng lên nhưng vẫn còn rất thấp. Năm 2005, toàn thành phố có 643.285 LĐ làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân chỉ có 167.704 người qua đào tạo (chiếm 26,07%), trong đó qua đào tạo nghề chiếm 21,6% trên tổng LĐ đang làm việc. Năm 2010, tỉ lệ LĐ qua đào tạo là 35,02%, trong đó qua đào tạo nghề chiếm 28% trên tổng LĐ đang làm việc, thấp hơn so với trung bình cả nước (34,3%). Cơ cấu giữa các cấp đào tạo còn bất hợp lý; trình độ kỹ năng của LĐ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của thành phố. Với chất lượng LĐ như trên, rất khó cho các DN địa phương trong việc cạnh tranh trên thị trường hội nhập quốc tế, ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện CSVL cho người LĐ ở Đà Nẵng những năm tiếp theo.

      1. Những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến thực hiện CSVL

* Thuận lợi: Hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH ngày càng phát triển; năng lực quản lí, điều hành năng động của lãnh đạo thành phố được nâng lên.

Nguồn nhân lực của thành phố dồi dào, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng LĐ tiếp tục được nâng cao. Tỉ lệ LĐ có VL phù hợp với ngành nghề đào tạo có VL khá cao so với nhiều thành phố, thành phố trong cả nước. Tỉ lệ thất nghiệp liên tục giảm; cơ cấu LĐ theo ngành chuyển dịch nhanh theo hướng CNH, HĐH.

Có lợi thế trong phát triển kinh tế biển với ngành thủy sản là mũi đột phá nên việc khai thác hải sản theo hướng vươn khơi và đánh bắt xa bờ. Ngoài ra, sản xuất nông nghiệp đã từng bước phát triển theo hướng tập trung, chuyên môn hóa cao, áp dụng thành công nhiều tiến bộ khoa học, kỹ thuật canh tác ngày càng hoàn thiện,chú trọng đến hiệu quả sản xuất.

* Khó khăn, hạn chế và thách thức: Nền kinh tế tuy đã phát triển đáng kể, nhưng hiện còn ở trình độ thấp, đặc biệt là thiếu vốn đầu tư; kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng không đều giữa các ngành, các nghề.

Ngoài các cơ sở CN nặng ở KKT, KCN thì các cơ sở CN còn lại đa số có qui mô sản xuất nhỏ; năng lực cạnh tranh với sản xuất nông nghiệp phát triển thiếu toàn diện, chưa hình thành được nhiều vùng nguyên liệu chuyên canh gắn với CN chế biến; cộng với giảm mạnh về diện tích, sản lượng; giá trị sản xuất trên 1 đơn vị diện tích còn thấp; chăn nuôi thiếu ổn định.

LĐ tăng thêm hàng năm lớn, chủ yếu là LĐ trong khu vực nông thôn có trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo nghề, do vậy GQVL gặp nhiều khó khăn. LĐ qua đào tạo, tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng cơ cấu chưa hợp lý nên vẫn còn tồn tại tình trạng thừa LĐ có bằng cấp, thiếu LĐ có kỹ thuật nên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường LĐ về chất lượng và số lượng.

Sự phối hợp giữa các ngành, đoàn thể từ thành phố đến cơ sở trong thực hiện CSVL và dạy nghề chưa được phát huy, hiệu quả thấp. Mặt khác sự gắn kết giữa các cơ sở đào tạo nghề với DN chưa chặt chẽ.

      1. Thực trạng thực hiện CSVL từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng thời gian qua

* Tình hình về LĐ: Năm 2010, lực lượng LĐ 705.679 người, tăng 81.504 người so với năm 2005 và tăng 144.932 người so với năm 2001. Đây là lợi thế rất lớn về LĐ trong quá trình phát triển KT-XH, nhưng đồng thời cũng là thách thức về chính sách GQVL. Vì vậy, thực hiện CSVL cho người LĐ đang là vấn đề hết sức thiết thực và cấp bách.

2.1.7. Tình hình thất nghiệp, thiếu VL

* Thất nghiệp, thiếu VL:

Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu VL ở Đà Nẵng có xu hướng giảm dần qua các năm. Qua phân tích thực trạng thất nghiệp và thiếu VL ở Đà Nẵng trong những năm qua nổi lên một số đặc điểm sau:

– Tỷ lệ thất nghiệp ở Đà Nẵng có xu hướng giảm dần nhưng còn ở mức cao.

– Số người thiếu VL ở nông thôn còn rất lớn, độ tuổi có tỷ trọng thiếu VL cao nhất là 15-24 tuổi, 25-34 tuổi.

– Mỗi năm, dân số vào độ tuổi LĐ tăng thêm trên 14 đến 15 nghìn người, đây là vấn đề khó khăn trong việc thực hiện CSVL.

– Dân số và LĐ sống ở khu vực nông thôn, trình độ mọi mặt của LĐ nhìn chung còn thấp so với thành thị. Trình độ học vấn của lực lượng LĐ ở nông thôn được nâng lên, nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp và chênh lệch lớn giữa nông thôn và thành thị.

* Hậu quả của tình trạng thất nghiệp, thiếu VL:

– Do tình trạng thất nghiệp, thiếu VL, mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tối thiểu bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp sẽ ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến việc giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái….

– Thành phố Đà Nẵng là một trong những địa phương có LĐ nhập cư cao so với các tỉnh trong cả nước. Hàng năm, số người nhập cư là những người trong độ tuổi LĐ đến các từ các tỉnh lân cận vào Đà Nẵng ngày một tăng. Từ đó gánh nặng GQVL càng là vấn đề bức xúc đối với chính quyền thành phố.

* Nguyên nhân thất nghiệp và thiếu VL hiện nay ở Đà Nẵng:

– Cung LĐ lớn hơn cầu LĐ. Hàng năm, số người đến tuổi LĐ ở thời điểm này vẫn còn ở mức cao.

– Thất nghiệp và thiếu VL ở Đà Nẵng còn xuất phát từ nguồn LĐ đa số có trình độ học vấn thấp, trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của DN.

– Sản xuất công nghiệp chưa phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Nhìn chung, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển; cơ cấu LĐ chuyển đổi chậm, số DN thu hút LĐ quy mô lớn chưa nhiều, VL và thu nhập chưa bền vững.

– Hạn chế về cơ sở hạ tầng, dịch vụ thông tin thị trường LĐ và những biến động về việc sắp xếp sản xuất cũng góp phần gây khó khăn trong thực hiện CSVL cho người LĐ.

– Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, sử dụng thời gian LĐ ở nông thôn còn nhàn rỗi vào mùa mưa lũ.

– Đầu ra sản phẩm còn nhiều ách tắc. Hiện nay, mạng lưới dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, chính sách hỗ trợ đầu ra cho thị trường tiêu thụ, sản phẩm cho nông dân còn hạn chế, khó tạo ra VL ổn định.

– Chính sách đầu tư chưa hợp lý, chưa đồng bộ. Do đó, trong những năm qua chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư như kỳ vọng để phát triển công nghiệp, giải quyết đủ VL cho người LĐ.

– Quỹ đất ở một số vùng nông thôn đã bị thu hẹp do NN thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu CNH và lợi ích quốc gia.

– Môi trường pháp lý, hệ thống thông tin thị trường LĐ chưa hoàn thiện, còn bất cập nên chưa tạo điều kiện tốt nhất để phát triển nguồn nhân lực, tạo VL cho LĐ.

– Hoạt động xoá đói giảm nghèo còn nhiều hạn chế, kết quả giảm nghèo còn chưa vững chắc, nguy cơ tái nghèo cao, phân hoá giàu nghèo giữa các vùng dân cư, giữa thành thị và nông thôn có xu hướng gia tăng.

    1. 2.2. Những giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động ở thành phố Đà Nẵng những năm qua
      1. 2.2.1. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế để GQVL
      2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – thủy sản: Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – thủy sản có vị trí then chốt trong chính sách phát triển kinh tế – xã hội và chuyển dịch cơ cấu lao động của thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian qua, Đà Nẵng đã tập trung phát triển ngành nông nghiệp – thủy sản trên các cơ sở tiềm năng, thế mạnh của thành phố.

– Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp:

Thành phố đã tập trung đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Khai thác triệt để tiềm năng và lợi thế so sánh của thành phố để phát triển công nghiệp với nhịp độ cao đã tạo bước đột phá trong phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố. Nhờ chính sách thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp nhằm thực hiện tốt CSVL và chuyển dịch cơ cấu LĐ trên địa bàn thành phố, từ năm 2010 đến nay đã GQVL cho trên 30.000 LĐ.

      1. 2.2.2. Thực hiện chính sách phát triển KT-XH lồng ghép với chương trình GQVL cho LĐ

* Kết quả giải quyết làm việc mới:

  • Số LĐ chủ động tự tìm VL: Thời gian qua, công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng được quan tâm. Do đó, nhận thức của người LĐ về CSVL được nâng cao, người LĐ đã chủ động tự tạo VL và tìm việc, giảm dần thành phố trạng trông chờ vào sự bố trí sắp xếp của NN như trước đây.
  • Các chương trình khác: Trong những năm qua, đã có nhiều chương trình được triển khai nhằm tạo VL cho người LĐ đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và tạo VL cho đồng bào trong thành phố, đặc biệt là LĐ ở khu vực nông thôn.
      1. 2.2.3. Chính sách đào tạo nguồn nhân lực gắn với CSVL

Những năm qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng các cơ sở dạy nghề và hệ thống các trung tâm dịch vụ VL đã từng bước khắc phục khó khăn, tìm mọi biện pháp để triển khai các hoạt động dịch vụ, tư vấn, đào tạo nghề cho người LĐ. Để thực hiện tốt CSVL, thành phố đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ về tài chính nhằm hỗ trợ trực tiếp cho các cơ sơ sản xuất, các DN tiếp nhận LĐ là người địa phương. Thông qua những chính sách ưu đãi, thành phố đã thu hút nhiều DN mạnh dạn đầu tư vào Khu kinh tế, các Khu công nghiệp của thành phố, góp phần thực hiện CSVL cho LĐ tại địa phương.

      1. 2.2.4. Chính sách về xuất khẩu LĐ

Ngoài những cơ chế, chính sách của Trung ương về điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với các đối tượng thuộc diện ưu đãi, UBND thành phố cũng đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến việc điều chỉnh giảm lãi suất cho vay với một số chương trình tín dụng ưu đãi thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương. Đồng thời ban hành các chính sách hỗ trợ chi phí bổ túc nghề cho người LĐ trước khi đi làm việc ở nước ngoài; quy chế hỗ trợ cộng tác viên xuất khẩu LĐ…

    1. 2.3. Đánh giá về thực hiện CSVL ở Đà Nẵng thời gian qua
    2. 2.3.1. Ưu điểm và nguyên nhân

* Ưu điểm:

– Nhận thức của xã hội về CSVL cơ bản đã được thay đổi. Thành phố đã có nhiều cố gắng tạo điều kiện về cơ chế, chính sách đầu tư phát triển và hỗ trợ trực tiếp cho người LĐ tự tạo VL.

– Nguồn quỹ quốc gia về VL và quỹ GQVL của thành phố đã góp phần đáng kể vào việc thực hiện chính sách.

– CSVL thông thoáng đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tạo VL, phát triển thị trường LĐ, chuyển dịch cơ cấu LĐ để đảm bảo ổn định việc phát triển KT-XH của địa phương.

– Chính sách dạy nghề, xuất khẩu LĐ ngày càng được chú trọng để GQVL tại chỗ và tham gia xuất khẩu LĐ.

– Các biện pháp GQVL thông qua sự hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp đã phát huy hiệu quả; giới thiệu VL thông qua các trung tâm dịch vụ VL có sự tham gia tích cực của các đoàn thể xã hội.

– Hệ thống thông tin thị trường LĐ bước đầu đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện; cơ sở dữ liệu cung – cầu LĐ đã được hình thành.. Người LĐ ngày càng tiếp cận đầy đủ hơn các thông tin về thị trường LĐ.

* Nguyên nhân:

– Những thành tựu trên bắt nguồn từ chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, NN, HĐND, UBND thành phố về đổi mới trong lĩnh vực LĐ và VL. Từ đó, đã giải phóng được sức sản xuất và phát huy mọi tiềm năng sức LĐ, tạo cơ hội cho mọi người cùng phát triển.

– Người LĐ đã năng động, chủ động tự tạo VL cho mình và cho xã hội. Người sử dụng LĐ được khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tạo VL trong xã hội.

– Thành phố đã tổ chức thực hiện có kết quả các chương trình mục tiêu quốc gia về VL. Đồng thời, thực hiện lồng ghép các chương trình mục tiêu nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tạo VL. Từ đó, đã phát triển nhiều hình thức, mô hình GQVL phong phú, đa dạng.

Thực hiện chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Thực hiện chính sách việc làm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

2.3.2. Nhược điểm và nguyên nhân

* Nhược điểm: VL vẫn là một vấn đề bức xúc, còn nhiều hạn chế, chất lượng VL chưa cao, tính bền vững trong VL và hiệu quả tạo VL còn thấp.Tỷ lệ LĐ thành thị thất nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao, chưa đạt mục tiêu đề ra.

– Vẫn còn tình trạng mất cân đối cung – cầu LĐ, đặc biệt nhu cầu LĐ phổ thông làm việc trong các ngành dệt, may, chế biến thủy sản.

– LĐ được GQVL từ nguồn vốn Quỹ quốc gia hỗ trợ VL còn chiếm tỷ lệ thấp so với chỉ tiêu đề ra.

– Số LĐ được GQVL tuy có tăng nhưng chưa bền vững, số LĐ bị mất VL có xu hướng tăng. LĐ qua đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu cả về chất lượng; cơ cấu LĐ qua đào tạo còn chưa hợp lý, thiếu quy hoạch; chất lượng đào tạo nghề còn bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu.

– Công tác xuất khẩu LĐ đạt kết quả thấp, chất lượng nguồn LĐ xuất khẩu chưa đáp ứng được yêu cầu.

– Sự chuyển đổi cơ cấu LĐ gắn với cơ cấu kinh tế còn chậm.

– Còn thiếu những chính sách kinh tế hữu hiệu để thu hút đầu tư, khai thác mọi nguồn lực phát triển kinh tế, tạo mở VL.

* Nguyên nhân của hạn chế:

– Do ảnh hưởng của việc tăng nhanh dân số từ những năm 2000 trở về trước nên dẫn đến số người đến tuổi LĐ hàng năm vẫn còn ở mức cao, gây ra sức ép cho công tác GQVL và tạo VL cho người LĐ.

– Mâu thuẫn giữa cung – cầu LĐ gay gắt, làm cho mối quan hệ cung – cầu về LĐ mất cân đối.

– Nhiều nhân tố tự nhiên, KT-XH chưa thực sự tác động tích cực đến tăng trưởng VL cao và ổn định.

2.3.3. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết

– Nguồn cung LĐ hàng năm của thành phố vẫn ở mức cao. Tình trạng thất nghiệp, thiếu VL và nhu cầu GQVL lớn, mất cân đối giữa cung – cầu LĐ.

– Cần gắn kết CSVL với kế hoạch phát triển kinh tế cụ thể của từng thời kỳ theo hướng phát triển bền vững; chủ động mở rộng, phát triển các thị trường LĐ có tiềm năng và hiệu quả kinh tế cao, nhất là thị trường LĐ chất lượng cao về kinh tế nông nghiệp, kinh tế biển, công nghệ thông tin và xuất khẩu LĐ.

– CSVL cần được thực hiện đồng bộ, đồng thời và thậm chí đi trước một bước so với các chính sách kinh tế khác.

– Tổ chức tốt hoạt động dịch vụ VL. Hoạt động của các trung tâm dịch vụ VL cần chú trọng đến hoạt động tư vấn, giới thiệu VL, thông tin thị trường LĐ.

– Để nâng cao hiệu lực của CSVL cần tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách, phát hiện những hạn chế để xử lý kịp thời để các chính sách đi vào cuộc sống có hiệu quả hơn.

Chương 3

QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN TỚI

    1. 3.1. Quan điểm cơ bản về tăng cường thực hiện chính sách việc làm ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016-2020

Về chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: Thực hiện tốt các chính sách về LĐ, VL, tiền lương, thu nhập, nhằm khuyến khích và phát huy cao nhất năng lực của người LĐ. Đẩy mạnh dạy nghề và tạo VL. Nâng cao chất lượng và hiệu quả chính sách hoạt động đưa người LĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Hỗ trợ học nghề và tạo VL cho các đối tượng chính sách, người nghèo, LĐ nông thôn và vùng đô thị hóa.

Trong điều kiện KT-XH nước ta còn kém phát triển, muốn thực hiện tốt CSVL cần phải phát huy mọi nguồn lực, tiềm năng trong nước và tranh thủ mọi tiềm năng trong dân. Vì vậy, việc thực hiện CSVL vừa là vấn đề cơ bản có tính chất chiến lược, vừa là vấn đề có tính cấp bách.

Để tăng cường thực hiện CSVL cho người LĐ ở thành phố Đà Nẵng đạt hiệu quả cao, cần thống nhất những quan điểm chỉ đạo như sau:

  • Thứ nhất, cần phải có quan niệm, nhận thức đúng đắn về VL.
  • Thứ hai, chính quyền các cấp từ thành phố đến xã, phường phải nhận thức đầy đủ và toàn diện về CSVL là chính sách KT-XH tổng hợp, không chỉ là vấn đề “kinh tế” hay “xã hội” đơn thuần.
  • Thứ ba, một trong những vấn đề cơ bản nhất của sự thay đổi nhận thức về CSVL là coi trọng yếu tố tự tạo VL của người LĐ trong các thành phần kinh tế.
  • Thứ tư, trong cơ chế thị trường, VL ổn định chỉ là khái niệm tương đối. Sự chuyển dịch và di chuyển LĐ sẽ ngày càng mạnh mẽ, phụ thuộc vào cung – cầu về LĐ, vào giá cả LĐ hình thành trên thị trường LĐ, làm cho cơ cấu LĐ thích ứng với cơ cấu kinh tế.
  • Thứ năm, trong cơ chế thị trường, thất nghiệp là hiện tượng kinh tế tất yếu, khách quan và bình thường.
  • Thứ sáu, CSVL là chính sách cốt lõi của vấn đề đảm bảo ổn định, an toàn, công bằng xã hội và tiến bộ xã hội.
    1. 3.2. Dự báo cung – cầu lao động thành phố Đà Nẵng đến năm 2020
    2. + Dự báo cung LĐ: Nguồn LĐ của thành phố có nhu cầu cần tư vấn tìm VL, học nghề khá cao. Mỗi năm, thành phố cần GQVL tăng thêm cho khoảng 43.150 LĐ; số LĐ có nhu cầu được đào tạo nghề khoảng 29.500 người.

+ Dự báo cầu LĐ: Các DN trong KKT, KCN trong thành phố sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng quy mô và ngành nghề, có nhu cầu tuyển dụng số lượng lớn LĐ vào làm việc. Dự báo giai đoạn 2015 – 2020, mỗi năm các DN trên địa bàn toàn thành phố có nhu cầu tuyển thêm và tuyển mới trên 25.000 người vào làm việc, các khu vực kinh tế khác cần tuyển khoảng 18.000 người.

    1. 3.3. Mục tiêu của chính sách việc làm giai đoạn 2015-2020

Căn cứ vào định hướng kế hoạch phát triển KT-XH của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015-2020 và Quyết định 1866/QĐ-TTg ngày 8/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, có thể xác định, mục tiêu CSVL của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015-2020 như sau:

  • Mỗi năm giải quyết việc làm mới và thêm việc làm cho 30.000 lao động.
  • Giảm tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống còn 3,5% vào năm 2020. Tỷ lệ LĐ qua đào tạo năm 2020 lên 55%.
  • Tiếp tục thực hiện chủ trương đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là cán bộ khoa học công nghệ và quản lý đầu tàu.
  • Xây dựng và triển khai các đề án phát triển nguồn nhân lực cho khối ngoài NN, chú ý cho đội ngũ doanh nhân.
  • Chú trọng phát triển dạy nghề và gắn kết quả đào tạo với nhu cầu của DN cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, trình độ.
  • Nghiên cứu hình thành, khuyến khích phát triển thị trường LĐ lành mạnh đáp ứng về số lượng, trình độ và cơ cấu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế của thành phố, đặc biệt đáp ứng nhu cầu thực sự của các DN sản xuất kinh doanh.
    1. 3.4. Phương hướng giải quyết việc làm

Phương hướng cơ bản có tính chất chiến lược để sử dụng có hiệu quả nguồn LĐ và CSVL ở Đà Nẵng trong thời gian đến là thực hiện tốt chiến lược phát triển KT-XH, tổ chức lại toàn bộ LĐ xã hội để phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế; kết hợp GQVL tại chỗ là chính với phân bố lại LĐ để gắn LĐ với đất đai và tài nguyên của từng địa phương; đồng thời tăng cường công tác đưa LĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, phát triển VL ngoài nước. Đa dạng hóa VL, trên cơ sở đó mà đa dạng hóa thu nhập, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phong phú và đa dạng trong mối quan hệ đan xen giữa các thành phần kinh tế; coi trọng khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thu hút được nhiều LĐ phù hợp với quy luật phát triển kinh tế thị trường.

    1. 3.5. Những nhóm giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thực hiện chính sách việc làm ở thành phố Đà Nẵng
      1. 3.5.1. Nhóm giải pháp tác động đến cung của nguồn LĐ

Để chủ động tạo ra số lượng, chất lượng nguồn LĐ phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của thị trường LĐ, cần thực hiện nhiều giải pháp. Sau đây là những giải pháp chủ yếu:

  • Nâng cao chất lượng thực hiện chương trình dân số – kế hoạch hoá gia đình, giảm cung LĐ lâu dài
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đổi mới giáo dục đào tạo, Đào tạo và nâng cao tay nghề cho người LĐ.
      1. 3.5.2. Nhóm giải pháp chính sách tăng cầu việc làm cho lao động thành phố Đà Nẵng

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XX (2010-2015) xác định: Tập trung nâng cao quy mô, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp.

  • Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp – nông nghiệp.
  • Tiếp tục phát triển và đa dạng hóa ngành dịch vụ, du lịch
  • Khôi phục và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp – kể cả nghề truyền thống và nghề mới
  • Phát triển kinh tế tư nhân và loại hình DN vừa và nhỏ nhằm tạo ra nhiều VL cho người LĐ
  • Phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng CNH, HĐH là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển KT-XH thành phố Đà Nẵng.
  • Phát triển mạnh kinh tế tư nhân, DN vừa và nhỏ.
  • Cùng với các loại hình nêu trên, cần đặc biệt chú trọng phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại ở nông thôn cùng với các loại hình tổ chức kinh tế khác.
      1. 3.5.3. Thực hiện có hiệu quả hoạt động xuất khẩu lao động

Đẩy mạnh công tác xuất khẩu LĐ, đây là một lĩnh vực có tiềm năng lớn đang được khai thác và mở rộng, vừa tạo nguồn thu ngoại tệ mạnh để phát triển KT-XH trong thành phố vừa đảm bảo mục tiêu thực hiện tốt CSVL cho một bộ phận lớn LĐ , đặc biệt là LĐ nông thôn. Ngoài các chính sách của Trung ương và của thành phố hiện hành, thành phố cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chính sách hỗ trợ người LĐ thuộc diện nghèo, diện chính sách, LĐ nông thôn có cơ hội để đi xuất khẩu LĐ.

      1. 3.5.4. Nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tổ chức tốt thị trường tiêu thụ để tạo cầu vững chắc cho việc làm

Mở rộng tiêu thụ sản phẩm nông sản có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá và kinh tế nông thôn phát triển nhanh, giúp cho GQVL ở nông thôn một cách vững chắc. Chú trọng thương nghiệp ngoài quốc doanh, xây dựng mạng lưới thương mại phục vụ rộng khắp trên địa bàn các địa phương. Tạo điều kiện thuận lợi để các bạn hàng đến địa bàn tham quan các cơ sở sản xuất kinh doanh, từ đó có điều kiện ký kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, nhằm thúc đẩy sản xuất, góp phần đảm bảo VL cho người LĐ.

      1. 3.5.5. Hoàn thiện chính sách và đổi mới cơ chế quản lý về VL gắn với phát triển thị trường LĐ

Để thực hiện tốt hai nhóm giải pháp trên, cần phải có giải pháp điều tiết cung – cầu nguồn LĐ. Vai trò của NN trong việc điều tiết cung – cầu nguồn LĐ có nhiều, nhưng đối với thành phố Đà Nẵng thì cần phải tăng cường việc thực hiện chính sách và chú trọng việc đổi mới cơ chế quản lý về CSVL gắn với phát triển thị trường LĐ.

      1. 3.5.6. Hoàn thiện chính sách và đổi mới lãnh đạo quản lý về lĩnh vực việc làm

UBND thành phố tiếp tục xây dựng chương trình GQVL từ nay đến hết năm 2020.

Chính quyền cấp quận, huyện, thành phố và cấp xã, phường cần tăng cường phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội ở cơ sở kiểm tra, kiểm soát, thực hiện các chính sách, chương trình, dự án GQVL ở địa phương.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong ngành LĐTBXH;

Lồng ghép CSVL với việc thực hiện các chương trình, dự án như: Chương trình giảm nghèo; chương trình phát triển làng nghề….

Bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý quỹ quốc gia GQVL.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  1. Kết luận

Trong những năm qua, Đảng và NN ta đã ban hành nhiều chủ trương, CSVL cho LĐ xã hội. Hàng năm, chúng ta đã GQVL mới và thêm VL cho hàng triệu LĐ, cơ cấu LĐ đã từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực. Do đó, sức ép về VL còn rất lớn đối với cả nước nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng. Vì vậy, vấn đề tăng cường thực hiện CSVL cho người LĐ ở địa phương là rất cần thiết.

Để nhanh chóng giảm được sức ép về VL cho người LĐ ở địa bàn thành phố; cần phát huy thế mạnh và tiềm năng của thành phố, hướng vào sử dụng có hiệu quả nguồn lực LĐ, trước mắt cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

  • Phát triển KT-XH và đa dạng hoá các ngành nghề để tạo VL cho người LĐ (đây là giải pháp cơ bản quan trọng).
  • Hỗ trợ trực tiếp cho LĐ thất nghiệp và thiếu VL.
  • Đẩy mạnh công tác xuất khẩu LĐ.
  • Đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang dịch vụ và công nghiệp – xây dựng.
  • Đầu tư bổ sung, lồng ghép các chương trình để GQVL.
  • Tổ chức tốt công tác đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ thực hiện chương trình GQVL ở các cấp, hướng dẫn các chủ dự án mở rộng sản xuất kinh doanh tạo nhiều chỗ làm việc cho người LĐ.
  1. Kiến nghị

* Đối với Trung ương

  • Bổ sung và hoàn thiện chính sách về LĐ – VL.
  • Trong chính sách tạo vốn, quan trọng nhất là hoàn thiện chính sách và hệ thống tín dụng.
  • Đối với những hộ gia đình bị mất đất sản xuất, cần có chính sách đầu tư thích đáng trong việc đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp để họ có được VL, thu nhập ổn định
  • Thực hiện chính sách miễn giảm thuế đối với các DN vừa và nhỏ, các hộ gia đình mới đăng ký kinh doanh lần đầu nhằm thu hút thêm LĐ.

* Đối với địa phương

  • Đề nghị HĐND, UBND thành phố tiếp tục xây dựng chương trình, mục tiêu GQVL vào mục tiêu và giải pháp của chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2015-2020 của thành phố.
  • Đề nghị thành phố tập trung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế cùng với chuyển dịch cơ cấu LĐ, hàng năm cần tiếp tục trích nguồn ngân sách địa phương bổ sung vốn GQVL để đầu tư vào các dự án tạo VL cho người LĐ.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\LUAT HINH SU DOT 2\CHINH SACH CONG\TRAN THI HONG PHUONG\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *