Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Quảng Ngãi, Tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề môi trường đang là mối quan tâm mang tính toàn cầu, môi trường sống đã và đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâm nhất và cũng là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại. Bởi lẽ, môi trường sống gắn bó hữu cơ với cuộc sống của con người, cũng như với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Quản lý và bảo vệ môi trường là công việc cấp bách của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, đặc biệt rất quan trọng với các nước đang phát triển như Việt Nam.
Thành phố Quảng Ngãi là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Ngãi; gắn với khu kinh tế Dung Quất và nhà máy lọc dầu thành một trong những trung tâm công nghiệp – dịch vụ của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2014, trên địa bàn thành phố có khoảng 2.840 cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, với một số mặt hàng chủ yếu là chế biến thực phẩm và đồ uống, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, mộc dân dụng, đồ nhựa gia dụng, trang trí nội thất, quần áo may sẵn, các sản phẩm truyền thống. Có khoảng 18.065 cơ sở Thương mại – Dịch vụ, với một số loại hình kinh doanh: điện máy, điện lạnh, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ tín dụng, ngân hàng… Thành phố đang trong quá trình đô thị hóa, xây dựng đô thị loại II để đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Gắn liền với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa thì hàng loạt các vấn đề môi trường nảy sinh ngày càng gia tăng đòi hỏi cần có và thực hiện tốt các chính sách về bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển theo hướng bền vững.
Từ những lý giải trên, có thể thấy rằng: Việc lựa chọn đề tài “ Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Quảng Ngãi, Tỉnh Quảng Ngãi” làm Luận văn chính sách công là xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế và có ý nghĩa thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách bảo vệ môi trường đô thị và thực hiện chính sách này
– Nghiên cứu làm rõ và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường đô thị ở thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
– Đề xuất biện pháp tăng cường tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường đô thị từ thực tiễn thành phố Quảng Ngãi
Nhiệm vụ nghiên cứu:
– Nghiên cứu cơ sở lý luận, lý thuyết về chính sách công và vận dụng vào đối tượng nghiên cứu của đề tài.
– Nghiên cứu thực trạng và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở địa bàn nghiên cứu
– Đưa ra biện pháp tăng cường tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn thành phố Quảng Ngãi
– Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn nghiên cứu : thành phố Quảng Ngãi
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2013 đến nay (2015)
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn kết hợp cách tiếp cận từ trên xuống (top-down) với tiếp cận từ dưới lên (bottom-up), cụ thể là kết hợp các yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển đô thị bền vững thể hiện trong các chủ trương, định hướng, chính sách phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu của nhà nước với sự cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách ở cấp địa phương (thành phố và cộng đồng).
Phương pháp nghiên cứu: – Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở nước ta nói chung và thực tế thành phố Quảng ngãi nói riêng.
6. Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa lý luận:
– Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường đô thị.
Ý nghĩa thực tiễn:
– Cung cấp chứng cứ thực tiễn và đề xuất có giá trị tham khảo đối với các nhà quản lý về giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường đô thị từ thực tiễn thành phố Quảng Ngãi
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1. Một số cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách và thực hiện chính sách bảo vệ môi trường đô thị.
Chương 2. Thực trạng và thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở thành phố Quảng Ngãi.
Chương 3. Một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường đô thị từ thực tiễn thành phố Quảng Ngãi
Chương 1
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Môi trường
Môi trường là khái niệm dùng để chỉ tổng thể các yếu tố vật chất, tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người có quan hệ mật thiết đến sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người.
1.1.2 Bảo vệ môi trường đô thị
Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành. ( Luật BVMT 2014)
1.1.3 Chính sách công
Chính sách công là thành tố của quản lý nhà nước, có thể được hiểu “là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội (Vũ Cao Đàm, Quản lý học đại cương, 1996).
1.1.4 Chính sách bảo vệ môi trường đô thị
Chính sách bảo vệ môi trường đô thị là một loại chính sách công nhằm bảo vệ môi trường đô thị, là một bộ phận của chính sách bảo vệ môi trường, tập trung vào các vấn đề môi trường ở đô thị và có liên quan chặt chẽ với các bộ phận khác của chính sách môi trường (môi trường nông thôn, tài nguyên đất, nước, đa dạng sinh học…
1.1.5 Thực hiện chính sách:
Thực hiện chính sách là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách. Nó (việc thực hiện chính sách) được tiến hành ngay sau khi chính sách được ban hành và được hiểu là quá trịnh tổ chức các hoạt động nhằm thực thi các nội dung được quy định trong chính sách một cách hiệu quả.
1.2 Các nguyên tắc trong quản lý bảo vệ môi trường
1.2.1 Nguyên tắc phòng ngừa
1.2.2 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả chi phí (bồi thường, khắc phục)
1.2.3. Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền
1.3. Các bên liên quan và sự phối kết hợp trong thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
– Chính phủ
– Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
– Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
– Mặt trận TQVN, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường, gồm:
1.4 Kinh nghiệm trong nước về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường đô thị và bài học kinh nghiệm
1.4.1. Kinh nghiệm một số đô thị lớn ở nước ta
Đối với BVMT không khí, hiện nay, ở hầu hết các đô thị chất lượng không khí đang ngày càng suy giảm, đặc biệt ô nhiễm bụi đang trở thành vấn đề cấp bách. Các địa phương đã nhận thức được yêu cầu phải cải thiện chất lượng môi trường không khí đô thị nên đã tích cực triển khai việc di dời các cơ sở gây ONMT ra khỏi nội thành, các khu dân cư. Điển hình là TPHCM, từ năm 2002, đã xây dựng Đề án xử lý các cơ sở gây ONMT nghiêm trọng trong khu dân cư và đến năm 2006, đã xử lý 1.349 trên tổng số 1.402 cơ sở. Thành phố Hà Nội cũng đã di dời 422 cơ sở sản xuất công nghiệp gây ONMT ra khỏi nội thành. Trong đó, 209 cơ sở nằm trong các quận nội thành và thị xã Sơn Tây (diện tích 228,7 ha) và 213 cơ sở nằm trong các thị trấn, khu dân cư nông thôn (diện tích 659 ha). Thời gian qua, các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng,… đã có nhiều nỗ lực trong quy hoạch, xây dựng và cải tạo hạ tầng giao thông, phát triển giao thông công cộng để giảm ùn tắc, giảm ô nhiễm không khí. Ở Hà Nội và TPHCM đều đã khởi công các dự án các hệ thống vận tải khách công cộng khối lượng lớn như tàu điện trên cao, tàu điện ngầm.
1.4.2. Bài học kinh nghiệm
– Nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ các nỗ lực BVMT trong xã hội thông qua có chính sách, cơ chế đúng đắn, phù hợp nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện và đạt được các mục tiêu BVMT.
– Việc BVMT đô thị cần có các dịch vụ công nên các tổ chức cung cấp dịch vụ BVMT đô thị cần được các tổ chức do Nhà nước thành lập (các công ty môi trường đô thị hoạt động theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên – URENCO như hiện nay đang hoạt động rất thành công ở các thành phố lớn và các đô thị khác) làm hạt nhân. Đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ BVMT đô thị và có chính sách cụ thể, rõ ràng đảm bảo lợi ích của các tổ chức, cá nhân này cùng tham gia cung cấp dịch vụ.
– Nhận thức, ý thức của các cộng đồng và từng người dân về môi trường và BVMT có vai trò quan trọng trong thực hiện chính sách BVMT đô thị – nơi có mật độ dân cư và các hoạt động sản xuất, kinh doanh đậm đặc và do vậy phát sinh nhiều vấn đề về môi trường. Công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về BVMT cần được tiến hành thường xuyên và liên tục.
– Các mục tiêu BVMT cần được xác định rõ ràng, cụ thể với lộ trình tổ chức thực hiện huy động, lôi kéo được toàn thể mọi người dân, các tổ chức, đoàn thể và các cộng đồng trong xã hội cùng tham gia.
– Vấn đề lớn của tất cả các đô thị là chất thải, nhất là chất thải rắn. Do vậy việc giảm thiểu phát sinh chất thải tại nguồn cùng với các giải pháp xử lý hiệu quả, phù hợp là một bộ phận quan trọng của chính sách quản lý chất thải. Một chiến lược 3R (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế) chất thải hiện đang được nhiều đô thị áp dụng, đem lại hiệu quả tốt cả về kinh tế – xã hội và cả về môi trường.

Chương 2
ThỰc trẠng và thỰc hiỆn chính sách BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở thành phỐ QUẢNG NGÃI
2.1. Thành phố Quảng Ngãi và các vấn đề môi trường
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Thành phố Quảng Ngãi nằm dọc theo hai bên bờ của sông Trà Khúc, có địa hình khá bằng phẳng, độ dốc trãi đều về 3 phía: Đông, Bắc và Nam.
Thành phố Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới gió mùa, điển hình cho khu vực với hai mùa trong năm. Mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến Cơ cấu các loại đất chính của thành phố (năm 2013) gồm:
– Đất nông nghiệp: 8.018,53 ha, chiếm 50,42% DTTN;
– Đất phi nông nghiệp: 7.129,6 ha, chiếm 44,83% DTTN;
– Đất chưa sử dụng: 755,87 ha, chiếm 4,75% DTTN.
Nguồn nước cấp chính cho thành phố Quảng Ngãi được lấy từ tầng ngậm nước nằm ở độ sâu từ 20-30m dưới khu vực bằng phẳng thường xuyên bị ngập ở phía nam sông Trà Khúc, với công suất 22.000 m3/ngày đêm.
2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
Thành phố Quảng Ngãi có 23 đơn vị hành chính gồm 9 phường và 14 xã. Diện tích tự nhiên 159,04km2, dân số 248.693 người. Mật độ dân số trung bình 1.563 người/km2. Mật độ dân số cao nhất tập trung vào các phường: Trần Hưng Đạo (15.487 người/km2), Nguyễn Nghiêm (14.482 người/km2). Các xã ngoại thành có mật độ dân số thấp hơn như xã Tịnh Ấn Đông (550 người/km2), xã Tịnh Hòa (607 người/km2).
Về kinh tế
Trong những năm gần đây, kinh tế của thành phố tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao mức thu nhập của người dân.
Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi năm 2014 đạt 39.375 tỷ đồng, tăng 4.912 tỷ đồng so với năm 2013, trong đó ngành dịch vụ đạt 16.057 tỷ đồng, ngành công nghiệp – xây dựng đạt 20.017 tỷ đồng, ngành nông – lâm – thủy sản đạt 3.304 tỷ đồng.
Về hệ thống giao thông
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, hạ tầng giao thông thành phố tăng lên đáng kể về số lượng, chủ yếu là hạ tầng giao thông đường bộ; chất lượng đường giao thông trong thành phố cũng được cải thiện đáng kể, hầu hết các tuyến nội thành đã được trải nhựa, bêtông hóa, trồng cây xanh.
Về y tế và giáo dục
Trên địa bàn thành phố có 3 bệnh viện và nhiều trung tâm y tế, nhà hộ sinh, đội vệ sinh phòng dịch, trạm y tế xã, phường và nhiều cơ sở khám chữa bệnh tư nhân, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có tiến bộ, công tác phòng chống dịch bệnh được triển khai và thực hiện tốt.
Hệ thống công viên, cây xanh
Trên địa bàn thành phố có 8.326 cây xanh/62 tuyến đường phố; 19 vườn hoa, công viên với tổng diện tích khoảng 12ha. Hiện nay diện tích đất cây xanh công cộng khu vực nội thành còn thấp.
2.1.3. Về chất lượngmôi trường
+ Nước mặt, nước ngầm và nước biể
Sự gia tăng dân số cùng với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng đã tạo nên nhu cầu sử dụng nước lớn trong khi nguồn nước không thay đổi, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng về tài nguyên nước. Đặc biệt, hiện nay nạn khai thác cát quá mức và bừa bãi trên sông Trà Khúc gây sạt lở bờ, thay đổi dòng chảy, độ đục nước tăng cao và về lâu dài gây ảnh hưởng đến tầng nước ngầm của thành phố. Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm trữ lượng nước ngầm bị giảm.
+ Nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp
Các nguồn ô nhiễm nước trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi bao gồm:
– Nguồn thải đô thị: Hoạt động sinh hoạt của người dân tại lưu vực sông Trà Khúc trên địa bàn thành phố là một trong số những nguồn gây ô nhiễm môi trường nước mặt.
– Nguồn thải nông nghiệp: dư lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng gây ra phú dưỡng hoặc nhiễm độc cho nguồn nước tiếp nhận.
– Nguồn thải từ trung tâm y tế, bệnh viện, bãi rác: trên địa bàn thành phố có 04 bệnh viện lớn và nhiều cơ sở khám chữa bệnh tư nhân.
– Nguồn thải thủy sản: nước thải của vùng nuôi tôm ảnh hưởng khá lớn đến môi trường nước biển, nước ngầm và đất tại khu vực xung quanh. Bên cạnh đó, nước thải của những cơ sở chế biến thủy sản chưa qua xử lý thải ra môi trường cũng ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước.
Môi trường không khí
+ Phát thải từ hoạt động giao thông vận tải
+ Phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp
+ Phát thải từ hoạt động xây dựng
+ Phát thải từ hoạt động dân sinh
+ Phát thải từ các hoạt động khác
Môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất gây ô nhiễm. Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn phát sinh hoặc các tác nhân gây ra ô nhiễm. Các nguồn phát sinh gây ô nhiễm:
– Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt;
– Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp;
– Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp.
2.2. Khái quát chung về chính sách và thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
2.2.1 Chính sách bảo vệ môi trường quốc gia
Thể chế, chính sách trong công tác bảo vệ môi trường quốc gia những năm qua đã có những bước thay đổi đáng kể. Các dự án triển khai đều thực hiện nghiêm túc việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. Một loạt các thông tư, nghị định, quy chuẩn….về môi trường đã được bổ sung, sửa đổi, ban hành.
2.2.2 Chính sách bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Ngãi
Trong những năm qua, UBND tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạo kịp thời các ngành, các cấp tổ chức thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường; ban hành các văn bản để triển khai các kế hoạch hành động về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh
2.2.3. Bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
– Ở tỉnh:
Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi thành lập Chi cục Bảo vệ ,môi trường trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Trắc địa và Quan trắc môi trường tỉnh cũng được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường. Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường cũng được thành lập, đã góp phần nâng cao năng lực giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Sự ra đời của Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh vào năm 2014 với mục tiêu hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án, các hoạt động phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự sự cố môi trường trên địa bàn tỉnh cũng góp phần rất quan trọng cho công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh.
Ở thành phố:
Đã phân công 01 Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường phụ trách công tác môi trường và bố trí từ 1-2 cán bộ chuyên trách có trình độ chuyên môn phù hợp làm công tác môi trường. Đa số các xã, phường, thị trấn giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường cho cán bộ địa chính kiêm nhiệm.
2.2.4 Các tổ chức cung cấp dịch vụ môi trường trên địa bàn thành phố
Ở thành phố chỉ có 01 công ty Cổ phần Môi trường chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ môi trường bao gồm: thu gom, xử lý chất thải rắn; trồng và chăm sóc cây xanh, vườn hoa công viên, xử lý nước thải sinh hoạt.
2.3. Kết quả thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở thành phố Quảng Ngãi
2.3.1. Những mặt làm được
2.3.1.1 Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về môi trường
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về môi trường được triển khai dưới nhiều hình thức, đa dạng và đổi mới về nội dung.
Không ngừng tăng thời lượng và cải tiến nội dung tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hàng tháng có chuyên mục môi trường trên đài truyền thanh. Đã góp phần cùng toàn tỉnh xây dựng được hơn 500 chuyên mục, tạp chí chuyên đề với hàng trăm tin bài có nội dung về các hoạt động bảo vệ môi trường. Thời lượng thông tin về chuyên mục môi trường trên Đài truyền thanh thành phố tăng lên. Hàng quý có bản tin về môi trường do Sở Tài nguyên và Môi trường phát hành…
2.3.1.2 Công tác thẩm định và hậu thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường và hậu thẩm định
Từ năm 2006 đến nay, đã tổ chức thẩm định và tham mưu UBND tỉnh phê duyệt hơn 220 báo cáo đánh giá tác động môi trường, 35 hồ sơ đề án bảo vệ môi trường chi tiết, 20 đề án cải tạo phục hồi môi trường; 20 hồ sơ xác nhận hoàn thành các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường của các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh, 1.250 bản cam kết bảo vệ môi trường.
Hầu hết báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư được Hội đồng thẩm định xem xét, yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung các biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, một số khác không được Hội đồng thẩm định đồng ý thông qua vì lý do không đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường.
2.3.1.3. Công tác quản lý chất thải nguy hại
Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi chỉ có một đơn vị được cấp phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại là Công ty Cổ phần cơ điện môi trường Lilama. Công ty này được UBND tỉnh cấp phép hoạt động từ năm 2009, đến nay Công ty đã xin mở rộng vùng hoạt động và được Tổng cục Môi trường cấp phép hoạt động từ năm 2012 với mã số QLCTNH: 1-4-5-6.025.VX.
2.3.1.4. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường
Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức triển khai được 54 cuộc thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại 124 đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh theo chương trình kế hoạch hằng năm và kiểm tra đột xuất theo chỉ đạo của Bộ Tài nguyên Môi trường, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, lãnh đạo Sở và đơn thư phản ánh, kiến nghị của công dân.
Lực lượng Công an phát hiện 934 vụ, 106 tổ chức, 828 cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
2.3.1.5. Công tác rà soát, phát hiện lập danh mục; kiểm tra, xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh
UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành các Quyết định số 1049/QĐ-UBND ngày 30/6/2009; số 1162/QĐ-UBND ngày 27/7/2011; số 1234/QĐ-UBND ngày 11/8/2011; số 924/QĐ-UBND ngày 19/6/2012; số 391/QĐ-UBND ngày 24/3/2014 phê duyệt danh mục và lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh. Hàng năm, thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện các biện pháp, thời gian xử lý ô nhiễm triệt để; yêu cầu các cơ sở có tên trong Quyết định báo cáo kết quả thực hiện, lập hồ sơ hoàn thành xử lý ô nhiễm triệt để.
2.3.2 Những mặt tồn tại
2.3.2.1 Về cơ cấu tổ chức quản lý môi trường
Bộ máy quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tuy đã được tăng cường một bước nhưng còn thiếu về số lượng, chưa đáp ứng được khối lượng công việc cần phải giải quyết. Lực lượng cán bộ chuyên trách môi trường ở thành phố còn mỏng, số lượng cán bộ chuyên trách môi trường ở Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố là 05 người, trong đó: 01 biên chế và 04 hợp đồng lao động, ở các phường hầu như không có, chủ yếu là kiêm nhiệm. Kiến thức chuyên môn về môi trường của một số cán bộ thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp còn hạn chế. Với lực lượng cán bộ như vậy thì chưa đáp ứng được yêu cầu công việc hiện tại và trong thời gian đến.
2.3.2.2 Về thể chế, chính sách
Hệ thống văn bản về môi trường còn nhiều bất cập, nhất là việc triển khai tổ chức thi hành trong thực tế. Nhiều văn bản chưa được cụ thể hoá, chuyển tải kịp thời đến cơ sở. Một số văn bản mới đã ra đời nhưng việc áp dụng vào thực tiễn còn chậm. Trong thực thi về Luật bảo vệ môi trường hiện nay, việc ban hành các quy định pháp luật còn mang tính tự phát, thụ động – nổi lên vấn đề gì thì đưa ra các quy định cho vấn đề ấy, không có một sự nghiên cứu và tiên liệu tổng quát trước đó.
Một số văn bản đã được ban hành và tổ chức thực hiện nhưng tính khả thi chưa cao, chưa phù hợp với tình hình thực tế và cần được tiếp tục nghiên cứu chỉnh sửa.
Còn thiếu nhiều văn bản pháp luật nhằm thể chế hoá áp dụng công cụ kinh tế trong hoạt động bảo vệ môi trường, gắn bảo vệ môi trường với chính sách sử dụng tiết kiệm và hợp lý tài nguyên thiên nhiên, thúc đẩy xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường, còn thiếu các quy định về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường.
2.3.2.3 Về mặt tài chính, đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường
Kinh phí từ tỉnh phân bổ về thành phố cho công tác bảo vệ môi trường còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu. Việc đầu tư kinh phí còn dàn trải, quản lý và phân cấp vốn chưa chặt chẽ, chưa có cơ chế khuyến khích và huy động vốn từ các doanh nghiệp và nhân dân.
2.3.2.4 Về các hoạt động giám sát, quan trắc, cảnh báo ô nhiễm môi trường
Mạng lưới các điểm quan trắc trong khu vực thành phố còn thưa thớt, chính vì điều này mà không thể đáp ứng yêu cầu công việc báo cáo hiện trạng môi trường và thiếu cơ sở để đưa ra những dự báo cảnh báo tình hình ô nhiễm môi trường.
2.3.2.5 Xã hội hoá và đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường
Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, địa phương trong việc giải quyết các vấn đề về môi trường chưa chặt chẽ, thường xuyên. Một số hoạt động của các đoàn thể nhân dân còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, chưa thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường. Chưa ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích và ràng buộc các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân chủ động tham gia và đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường.
2.3.3. Nguyên nhân của các tồn tại
Về khách quan: xuất phát từ hậu quả chung của sự biến đổi khí hậu toàn cầu và điều kiện kinh tế, hạ tầng kỹ thuật môi trường thấp, trong khi nhu cầu cần thiết về kinh phí, năng lực đầu tư để giải quyết các vấn đề về môi trường đang ngày càng gia tăng cả về quy mô, mức độ và tính phức tạp nên công tác bảo vệ môi trường của tỉnh vẫn còn những hạn chế.
Về chủ quan:
Công tác quán triệt, tuyên truyền Luật Bảo vệ môi trường tuy đã được các cấp uỷ, chính quyền quan tâm chỉ đạo nhưng chưa thực sự đến được với quần chúng nhân dân. Hoạt động tuyên truyền về bảo vệ môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng mặc dù đã được tăng cường về thời lượng, thời gian, cải tiến nội dung nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Công tác lãnh đạo và quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của cấp uỷ, chính quyền xã phường có nơi còn yếu. Các cơ quan chuyên môn bảo vệ môi trường từ tỉnh đến cơ sở chưa đủ mạnh trong công tác tham mưu. Nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường ở cấp xã trước đây hoàn toàn bỏ trống thì nay hầu hết là kiêm nhiệm nên đang gặp nhiều khó khăn trong triển khai thực hiện Luật Bảo vệ môi trường. Năng lực cán bộ quản lý môi trường ở thành phố, xã phường còn hạn chế nên chưa đáp ứng được yêu cầu tham mưu cho cấp ủy, chính quyền trong công tác bảo vệ môi trường.

Chương 3
MỘt sỐ giẢi pháp TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN chính sách BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN thành phỐ QUẢNG NGÃI
3.1. Tầm nhìn, quan điểm và định hướng chính sách bảo vệ môi trường của thành phố Quảng Ngãi đến năm 2020 và những năm tiếp theo
3.1.1. Tầm nhìn và quan điểm
Ngăn chặn, đẩy lùi xu hướng gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; cải thiện chất lượng môi trường sống; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; hình thành các điều kiện cơ bản cho nền kinh tế xanh, ít chất thải, cac-bon thấp vì sự thịnh vượng và phát triển bền vững đất nước nói chung và thành phố Quảng Ngãi nói riêng.
Bảo vệ môi trường là yêu cầu sống còn của nhân loại; Chiến lược, định hướng bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Chiến lược phát triển bền vững; bảo vệ môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững nhằm đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại nhưng vẫn giữ được tiềm năng và cơ hội cho các thế hệ mai sau; đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.
Ưu tiên phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm; coi trọng tính hiệu quả, bền vững trong khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học; từng bước phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; tăng cường năng lực ứng phóvới biến đổi khí hậu.
3.1.2. Định hướng chính sách
Trên cơ sở tầm nhìn và quan điểm bảo vệ môi trường nêu trên, tỉnh Quảng Ngãi đã định hướng việc cụ thể hóa các văn bản của Trung ương, các Bộ, ngành và tổ chức thực hiện chính sách chung về bảo vệ môi trường quốc gia phù hợp với điều kiện phát triển của tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 và những năm tiếp theo, trong đó nhấn mạnh tới “Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và trách nhiệm công dân trong việc xây dựng, bảo vệ và góp phần quản lý, phát triển đô thị. Chú trọng giải quyết tốt hơn các vấn đề về bảo vệ môi trường, sinh thái đô thị”
3.2. Đề xuất giải pháp tăng cường thực hiện chính sách quản bảo vệ môi trường đô thị từ thực tiễn thành phố Quảng Ngãi
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện và cụ thể hóa chính sách bảo vệ môi trường đô thị
Xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các chế tài phù hợp về quản lý môi trường đô thị trên địa bàn thành phố theo định hướng phát triển Thành phố môi trường xanh, sạch, đẹp.
Xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi.
Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát và xử lý ô nhiễm bụi và tiếng ồn tại các cơ sở làng nghề trên địa bàn thành phố.
Xây dựng Quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường trên địa bàn thành phố đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Quy hoạch, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên; chú trọng bảo vệ và phục hồi cảnh quan môi trường tại các khu vực khai thác khoáng sản.
3.2.2. Hoàn thiện và tăng cường năng lực bộ máy quản lý môi trường các cấp (thành phố, quận/huyện, phường/xã)
a. Hoàn thiện bộ máy quản lý môi trường
Phân cấp trách nhiệm và có cơ chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các phòng, ban, UBND các phường, xã trong việc tăng cường các hoạt động quản lý nhà nước về môi trường.
Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở cấp phường, xã, tăng biên chế chuyên trách, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ quan quản lý về bảo vệ môi trường các cấp. Xây dựng Đề án tăng cường năng lực quản lý môi trường cấp xã, phường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
b. Năng cao năng lực bộ máy quản lý môi trường
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xây dựng chính sách hỗ trợ, chế tài xử lý, lộ trình khắc phục sai phạm về môi trường làm căn cứ để thực hiện bảo vệ môi trường.
Xác định rõ trách nhiệm và phân công, phân cấp hợp lý nhiệm vụ bảo vệ môi trường giữa các cấp chính quyền; tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc bảo vệ môi trường.
Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở cấp huyện, cấp xã, tăng biên chế chuyên trách, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ quan quản lý về bảo vệ môi trường các cấp, chú trọng ở cấp huyện, cấp xã. Xây dựng Đề án tăng cường năng lực quản lý môi trường cấp xã, phường, thị trấn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Không ngừng nâng cao năng lực, trình độ nghiệp vụ của cá bộ, công chức trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi thông qua các chương trình đào tạo về quản lý môi trường do cấp UBND tỉnh Quảng Ngãi, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh triển khai tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác quản lý bảo vệ môi trường.
Xây dựng và thực hiện Đề án nâng cao nguồn lực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
3.2.3. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận tthức, ý thức về bảo vệ môi trường
Tiếp tục quán triệt, phổ biến rộng rãi Luật Bảo vệ môi trường; các quan điểm, mục tiêu, giải pháp nêu trong Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; Chỉ thị 29-CT/TW của Ban Bí thư và các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ môi trường đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân; đặc biệt là trong thanh thiếu niên, tạo thành dư luận xã hội lên án nghiêm khắc đối với các hành vi gây mất vệ sinh và ô nhiễm môi trường, xử phạt nghiêm, đúng mức mọi vi phạm. Xây dựng tiêu chí, chuẩn mực về bảo vệ môi trường để đánh giá mức độ bảo vệ môi trường của từng cơ quan, gia đình, khu phố, tập thể, cá nhân cán bộ, đảng viên.
Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ môi trường, hình thành và phát triển các điển hình tiên tiến trong hoạt động bảo vệ môi trường. Chú trọng xây dựng và thực hiện hương ước, quy định, cam kết bảo vệ môi trường; kế hoạch bảo vệ môi trường; phát triển các mô hình cộng đồng dân cư tự quản trong hoạt động bảo vệ môi trường.
3.2.4. Tăng cường sự tham gia của các tổ chức, cộng đồng trong thực hiện chính sách bảo vệ môi trường
a. Huy động sự tham gia của các cộng đồng (doanh nghiệp, dân cư, …)
Xây dựng chính sách khuyến khích mọi thành phần tham gia trong công tác BVMT như thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác về BVMT để khuyến khích các tổ chức, cá nhân đóng góp nguồn tài chính cho đầu tư thực hiện các quy chế về BVMT, phòng ngừa và khắc phục ô nhiễm, tạo lập môi trường sống xanh, sạch, đẹp tại nơi làm việc và nơi cư trú.
b. Tăng cường vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội (Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh, ….)
Tổ chức các buổi tập huấn cho hội viên, cán bộ cơ sở về kiến thức bảo vệ môi trường, tổ chức hội thi tìm hiểu kiến thức môi trường, biến đổi khí hậu cho các hội viên trên địa bàn Phường, xã thuộc thành phố.
Đối với Đoàn thành niên thành phố phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố lồng ghép các hoạt động môi trường vao các Chương trình, hành động, hoạt động của Thanh Thiếu niên, tổ chức các hình thanh sân khấu hóa để giáo dục, rèn luyện ý thức tự giác bảo vệ môi trường trong Thanh Thiếu Niên.
3.2.5. Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường
Đa dạng hoá các loại hình hoạt động, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân, có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thực hiện các dịch vụ; khuyến khích thành lập các tổ chức đánh giá, tư vấn, giám định, công nhận, chứng nhận về bảo vệ môi trường.
Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ, xây dựng và phát triển các điển hình tiên tiến trong hoạt động bảo vệ môi trường. Tiếp tục áp dụng tiêu chí môi trường trong công tác thi đua khen thưởng hàng năm.
Chú trọng xây dựng và thực hiện hương ước, quy định, cam kết bảo vệ môi trường; phát triển các mô hình cộng đồng dân cư tự quản trong hoạt động bảo vệ môi trường. Tổ chức phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường”.
3.2.6. Tăng cường nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong bảo vệ môi trường
Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ môi trường, công nghệ sạch, thân thiện môi trường, phát triển các công nghệ xử lý và tái chế, tái sử dụng chất thải; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong bảo vệ môi trường; xây dựng và nhân rộng các mô hình về sản xuất sạch hơn; hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường, tạo thị trường, thúc đẩy các doanh nghiệp dịch vụ môi trường, phát triển kinh tế môi trường.
Lập lộ trình để chuyển đổi các cơ sở sản xuất công nghiệp có máy móc, công nghệ lạc hậu, tiêu tốn nguyên liệu, điện năng, ảnh hưởng nhiều đến môi trường sang công nghệ mới tiên tiến; không cấp phép cho dự án đầu tư công nghệ lạc hậu.
3.2.7. Tăng cường đầu tư và sử dụng nguồn chi thường xuyên từ ngân sách cho sự nghiệp môi trường
Phân định rõ các nội dung chi từ ngân sách nhà nước cho các hoạt động sự nghiệp môi trường. Trên cơ sở đó hình thành mục chi ngân sách nhà nước riêng cho các hoạt động sự nghiệp môi trường, xây dựng kế hoạch thực hiện để bảo đảm tăng dần hàng năm theo tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Đa dạng hoá hình thức đầu tư, cần chú trọng huy động mọi nguồn lực trong toàn xã hội để bảo đảm có đủ nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể để khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho bảo vệ môi trường. Đầu tư bảo vệ môi trường cần được lồng ghép với các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội
Hoàn thiện và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách hỗ trợ vốn, ưu đãi, khuyến khích về thuế, các biện pháp trợ giá đối với hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với quy định.
3.2.8. Mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường
Hoàn thiện hệ thống chính sách phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh việc phổ biến và áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường có liên quan đến sản phẩm và hàng hoá xuất nhập khẩu.
Xây dựng chiến lược hợp tác và huy động tối đa các nguồn lực quốc tế, chú trọng việc nâng cao năng lực xây dựng các chương trình, dự án, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài trợ quốc tế cho bảo vệ môi trường.
KẾT LUẬN
Thành phố Quảng Ngãi là trung tâm hành chính của tỉnh Quảng Ngãi. Trong những năm gần đây, thành phố Quảng Ngãi có những bước phát triển to lớn về kinh tế – xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị đã tạo cho thành phố thay đổi về diện mạo đô thị và nền kinh tế phát triển. Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố, công tác bảo vệ môi trường luôn được quan tâm và và tạo điều kiện thuận lợi để quản lý và mở rộng hoạt động. Do vậy, diện mạo của Thành phố ngày càng được cải thiện toàn diện, trong đó có về môi trường, cả về cảnh quan bên ngoài và cả về chất lượng môi trường.
Tuy vậy, Quảng Ngãi là một tỉnh còn nghèo nên sự đầu tư của Nhà nước và của xã hội cho công tác bảo vệ môi trường nói chung và cho bảo vệ môi trường ở thành phố Quảng Ngãi nói riêng còn những hạn chế. Sự phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập kinh tế nhanh ở Tỉnh, Thành phố Quảng Ngãi cùng làm gia tăng các vấn đề môi trường, nhất là vấn đề về chất thải và thu gom, xử lý chất thải với hệ quả là ô nhiễm môi trường có xu hướng gia tăng.
Với đối tượng nghiên cứu là việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Quảng Ngãi, luận văn một mặt đã chứng minh sự hiện thực hóa có kết quả các cơ chế chính sách về bảo vệ môi trường quốc gia ở địa phương, mặt khác cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập trong việc hiện thực hóa này và trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp phát huy những mặt được, khắc phục các hạn chế, tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường nhìn từ giác độ thực hiện chính sách, trước hết là làm cho thành phố Quảng Ngãi ngày càng sạch, đẹp, thân thiện với môi trường.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\LUAT HINH SU DOT 2\CHINH SACH CONG\TRAN THI THUY DUNG\SAU BAO VE


