Thời hạn tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Thời hạn tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứuđề tài

Thời hạn tố tụng hình sự (TTHS) là một nội dung quan trọng của pháp luật tố tụnghình sự (PLTTHS), có ý nghĩa trên cả hai phương diện bảo đảm quyền con người(QCN), quyền công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp

luật. Việc quy định thời hạn TTHS hợp lý, khoa học là cơ sở quan trọng để bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ này, đồng thời tăng cườngtrách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT), người tiến hành tố tụng trong việc phát hiện và xử lý tội phạm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt độngTTHS.

Thể chế hóa yêu cầu cải cách tư pháp đề ra trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 được ban hành đã cónhững sửa đổi, bổ sung các quy định về thời hạn tố tụng trong các giai đoạn khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, bảo đảm hầu hết các hoạt động, hành vi

tố tụng đều bị ràng buộc bởi thời hạn. Những sửa đổi, bổ sung này cùng với những quyđịnh khác về thời hạn tố tụng trong BLTTHS năm 2003 đã góp phần thúc đẩy các chủthể tiến hành tố tụng đẩy nhanh, đẩy mạnh hoạt động tố tụng, phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, thực tiễn cho thấy hoạt động điều tra, truy tố, xétxử hiệnnay vẫn theo nếp cũ, còn chậm chạp, kéo dài, tình trạng vi phạm thời hạnđiềutra, truy tố, xét xử, thời hạn tạm giữ, tạm giam cònxảyra, sốlượngvụán áp dụngthủtụcrútgọnchiếmtỷlệnhỏ(chưađến01% trong tổng số vụ án thụ lý) mặc dù có nhiều vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn [65]. Điều này gây ra những hậu quả không nhỏ về nhiều mặt như làm giảm hiệu

lực, hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, xâm phạm, ảnh hưởngđến các

7

quyền tự do, quyền tự bào chữa, quyền được xét xử công bằng, trong thời hạn luật định củabị can,bị cáo, ảnh hưởng đếnquyền và lợi ích hợp pháp củangười bịhại, làm giãn đoạn cuộc sống trong một thời gian dài củanhững ngườitham gia tố

tụng… Ngoài ra, việc kéo dài, vi phạm thời hạn TTHS còn làm lãng phí thời gian, nhân lực và vật lực, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào các cơ quan bảo vệpháp luật, làm cho mục đích của TTHS không đạtđược.Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, ngoài yếu tố chủ quan như trách nhiệm, thói quen,lề lốilàm việc thìnhững bất cập, hạn chế của các quy định về thời hạn tố tụng trong PLTTHS hiện hành đang là một trong những nguyên nhân chính dẫnđến tình trạng này. Chẳng hạn, việc phân định thời hạn điều tra, thời hạn truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩmvụ án hình sự (VAHS) trong BLTTHS năm 2003chủyếu dựa trên tiêu chíphân loại tội phạm được quy định trong BLHS, các tiêu chí liên quan đến tính chất phức tạp củavụ ánchưa được chú trọng trong việc thiết kế các quy định về thời hạn

tố tụng. Điều nàydẫn đếntâm lý “chần chừ” của các chủ thể tiến hành tố tụng đối với cácvụ ánvề tội phạm rất nghiêm trọng,tội phạm đặcbiệt nghiêm trọng nhưng thuộc trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứvà lai lịch người phạm tội rõ ràng, mặt khác, tạo ra những khó khăn, áp lực trong hoạt độngtố tụng đốivới các vụ án về tộiphạm ít nghiêm trọng nhưng có tính chất phức tạp. Do vậy cần phải có những nghiên cứu để đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định về thời hạn TTHS.

Các Nghị quyết số48/NQ-TW ngày 24/5/2005củaBộChínhtrịvề chiến lượcxây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Namđến năm 2010,định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trịvề chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020 và các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng đề ra các yêu cầu đối với cải cách tư pháp hình sự nói chung và thời hạn giải quyết VAHS nói riêng như: tăng cường trách nhiệm của các chủthểtiến hành tố tụng trong hoạt động tư pháp (HĐTP) hìnhsự;hoạt động TTHS phải bảo đảm nguyên tắc nhanh chóng, kịp thời, chính xác, tiết kiệm; xây dựng cơ chế xét xửtheo thủtục rútgọnđốivới những vụán có đủmột sốđiềukiện nhất

8

định; tôn trọng và bảo vệ QCN. Hiến pháp sửa đổi vừa được Quốc hội khóa XIII kỳ họpthứ 6 thông qua ngày 28/11/2013 (Hiến pháp năm 2013) có nhiều quyđịnhtiến bộ nhằm tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm,đồng thời, bảo đảm QCN, quyền công dân trong TTHS vì lĩnh vực TTHS rất nhạy cảmvới khả năng xâm phạmđến QCN, quyền công dân trong quá trình điều tra, truy tố,xét xử các VAHS. Liên quan đếnthời hạn TTHS, khoản 2 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quyđịnh”Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định”. Những yêu cầu đặt ra có liên quan đến thời hạn TTHS trong các Nghị quyết củaĐảng và trong Hiến pháp nêu trên đòi hỏi phảiđược nghiên cứu thấu đáo, toàn diệnđể thể chế hóa, cụ thểhóa trongDự ánBLTTHS (sửa đổi).

Bên cạnhđó,khi tham gia nhiềuđiềuướcquốctế về đấutranh phòng, chống tội phạm nói chung, về thủ tục TTHS nói riêng, Nhà nước ta đã có nhiều cam kết về cảicách thủtục và thời hạn TTHSđểbảo đảm tốt nhất các QCN trong TTHS. Điều này tất yếu đòi hỏi các các thủ tục TTHS của Việt Nam, trong đó cócác thời hạn TTHS phải có những điều chỉnh thích hợp để thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Để đạt được các yêu cầu,nhiệm vụ nêu trên, việc lựa chọn, nghiên cứu đềtài “Thời hạntố tụng trong pháp luậttốtụng hìnhsự và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam” làm luận án tiến sĩ luật học của mình là rất cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn trong tiến trình cải cách tư pháp và hội nhậpquốc tế của nước ta hiện nay.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứutoàn diện, có hệthống vềmặtlý luận, đánh giá chính xác, khách quan các quy định về thời hạn TTHS và thực tiễn áp dụngtạiViệt Nam. Trên cơsở đóđưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định về thời hạn tố tụng trong PLTTHS và các giải pháp nâng cao hiệu quảáp dụng tại Việt Nam.

9

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên,luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

– Làm rõ khái niệm,đặc điểm,cơ sởlý luận của việc xác định thời hạn TTHS, các căn cứ quyđịnhvà phân loại thời hạn TTHS.

– Nghiên cứu thời hạn tố tụng trong lịch sử PLTTHS Việt Nam từ năm 1945đến trước khi ban hành BLTTHS năm 2003.

– Nghiên cứu, đánh giá thời hạn tố tụng trong PLTTHScủa một sốnước đại diện cho các truyền thống pháp luật điển hình trên thế giới.

– Phân tích, đánh giá đầy đủ,toàn diện các quy định về thờihạntố tụng trong PLTTHS hiện hành và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, qua đó chỉ ra những ưuđiểmcũng như những vi phạm, hạn chế và nguyên nhân của những vi phạm, hạn chế; trên cơsở đó đưara cácđề xuất,kiến nghị hoàn thiện các quyđịnhvềthờihạn tố tụng trong PLTTHS và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tại Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là thời hạn tố tụng trong PLTTHS trên các phương diện: phương diện lý luận: nghiên cứu cơ sở lý luận về thời hạn tố tụng trong PLTTHS; phương diện pháp luật thựcđịnh: nghiêncứu thờihạn tố tụng trong PLTTHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay và thờihạntốtụng trong PLTTHScủa07 nước đại diện cho các truyền thống pháp luật điển hình trên thế giới, đó là Đức, Pháp, Anh và Xứ Wales, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc; và phương diện áp dụng pháp luật: nghiên cứu thực tiễn áp dụng thời hạn TTHS của CQĐT, VKS, tòa án tại Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Đây là đề tàimới mẻ, có phạm vi rộng, liên quan đến toàn bộ các thủ tục trong PLTTHS. Trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ luật học, tác giả chỉ nghiên cứu thời hạn giải quyết VAHS qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn; thời hạn tố tụng trong thủ tục đặc biệt (thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội, thủ tục rút gọn, khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự); thời hạn giải quyết VAHS có yêu cầu tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, giải quyết toàn bộ VAHS.

Vềphạm vi không gian và thời gian: luận án nghiên cứuthời hạn tố tụng trong PLTTHS Việt Nam hiện hành cũng như việc áp dụng thời hạn này trên lãnh thổ Việt Nam và các số liệu về tổ chức và HĐTP hình sự trong phạm vi 10 nămgầnđây (từnăm 2004đếnhết năm 2013). Cácsố liệu ở các mốc thời gian khác nhauđượcđưara trong luận án do chỉđượccác cơ quan có thẩm quyền tổng hợp, công bố theo giai đoạn nhất định mà không cósố liệu chi tiết,cụ thểtheo từng năm. Ngoài ra, các tài liệu,sốliệu và thực tiễn áp dụng thời hạn TTHS đượctrình bày trong luận án làkếtquả khảo sát, đánh giá trên phạm vi toàn quốc, có chọn điểm một số tỉnh, thành phố theo tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên (một số địa phương bất kỳ) và tiêu chí lựa chọn điển hình (địa phương có số lượngán lớn, có nhiều án trọngđiểm so với các địa phương khác trong phạm vi cả nước).

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án nghiên cứu được thực hiện trên cơsở phương pháp luận của chủnghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta vềcải cách tư pháp, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tác giả luận ánđã vận dụng các nguyên lý của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích và làm sáng tỏcác nội dung nghiên cứu.

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu khác nhau để giải quyết những vấn đề đặt ra đối với luận án như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, phương pháp tọa đàm, trao đổi chuyên gia.

5. Những đóng góp mới của luận án

Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Namởcấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứumộtcách toàn diện, cóhệ thống về thờihạntốtụng trong PLTTHS. Có thể xem những nội dung sau đây là đóng góp mới về mặt khoa học của luận án:

Thứ nhất, làm rõ khái niệm, đặc điểm, cơ sở lý luận của việc xác định thời hạn TTHS, các căn cứ quy định và phân loại thời hạn TTHS; phân tích sự hình thành và phát triển củachế định thờihạntố tụngtronglịch sửPLTTHS Việt Nam; nghiên cứu các quy định về thờihạntốtụng trong PLTTHScủamộtsố nước trên thế giới và chỉ ra những giá trị có thể vận dụng ở Việt Nam.

Thứ hai, phân tích,đánh giá đầy đủ,toàn diện các quy định về thờihạn tốtụng trong PLTTHS Việt Nam, thực trạng áp dụng các thời hạn này tại Việt Nam, chỉ ra những ưu điểm, kết quảđã đạtđược cũng như những vi phạm, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các thời hạn TTHS và nguyên nhân của những vi phạm, hạn chế đó. Thứ ba, luận giải, làm rõ các yêu cầuđối với việchoàn thiệnchế định thời

hạn TTHSvà đề xuất,kiến nghị hoàn thiện các quy định về thời hạn tố tụng trong PLTTHS và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tại Việt Nam.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận

Đây là công trình đầutiên nghiên cứuchuyên biệt, thấu đáo, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về thời hạn TTHS. Do đó kết quả nghiên cứu của luận án sẽbổsung, phát triển hệ thống lý luận về tư pháp hình sự như: khái niệm,đặc điểm, cơ sở lý luận của việc xác định thời hạn TTHS, các căn cứ quy định vàphân loại thời hạn TTHS với những đóng góp về mặt khoa học đã nêu ở phần trên.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu và các đề xuất, kiến nghị trong luận án sẽ là cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định vềthời hạn tố tụng trong PLTTHS Việt Nam theo hướng khắc phục những bất cập, hạn chế trong pháp luật hiện hành, thiết kếhệthống thời hạn tố tụng hợp lý, theo xu hướng chung của các nước trên thế giới, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận án cũng là cơsở đề ra các giải pháp tăng cường trách nhiệmcủacác chủ thể tiến hành tố tụng trong việc chấp hành các quy định về thời hạn TTHS, nâng cao chất lượng, hiệu quảđấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm QCN trong TTHS.

Các đề xuất, kiến nghị mà luận án đưa ra được dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, do đó,có giá trị tham khảo thiết thực đốivới các nhà lập pháp hình sựtrong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện PLTTHS, cũng như đối với các cán bộ làm công tác thực tiễn trong việc tìm hiểu, áp dụng thời hạn TTHS. Đồng thời, luận án sẽlà một tài liệu tham khảo có giá trịtrong việc nghiên cứu và giảng dạy vềPLTTHS tại các cơ sở đào tạo cử nhân luật cũng như tại các cơ sở đào tạo nghề luật.

Thời hạn tố tụng  trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
Thời hạn tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.

7. Kết cấu của luận án

Ngoàiphần mởđầu,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận ángồm4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quanđến đềtài luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận về thời hạn tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự. Chương 3: Quy định của pháp luật hiện hànhvề thời hạn tố tụnghình sự và

thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.

Chương 4: Hoàn thiện các quy định về thời hạn tố tụng trong pháp luậttố tụng hình sự và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tại Việt Nam.

13

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Từ kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên dù ít hay nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếpđãnghiên cứu,đềcậpđếnnhữngvấnđềlý luậnvềthời hạn TTHS như: khái niệm, ý nghĩa, căn cứ quy định và phân loại thời hạn; đánh giá thực trạng PLTTHS về thời hạn, việc áp dụng các thời hạn này trong thực tiễn và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định về thời hạn tố tụng trong PLTTHS. Một số kết quả

27

nghiên cứu chủ yếu bàn về khái niệm, ý nghĩa, căn cứ quy định và phân loại thời hạnđược tác giảluận án kế thừa, phát triển. Một số kết quả nghiên cứu có ý nghĩa tổng kết,đánh giá thực tiễn áp dụng thời hạn tố tụng trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự và thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Một số công trình đã công bố trên các báo, tạp chí đã gợi mở, cung cấp thông tin, sự kiện, bình luận giúp cho tác giả luận án kế thừa các luận cứ khoa học để hoàn thành luận án của mình.

Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa cómộtcông trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ, chuyên sâu cả dưới góc độ lý luận và gócđộ thực tiễn về thời hạn tốtụng trong PLTTHS và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Do vậy cần phải nghiên cứuchuyên biệt, thấu đáo, toàn diện vềthời hạn tố tụng trong PLTTHS nhằm đưa ra những vấn đề lý luận về thời hạn TTHS, làm căn cứ cho việc thiết kếchính xác, hợp lý, khoa học các điều luật quy địnhvề thời hạn tốtụng trong dự án BLTTHS (sửa đổi). Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài luận án cần phải tiếp tục làmrõ các vấn đềcụthể sau đây:

Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luậnvềthời hạn tố tụng trong PLTTHS, cụ thể là:

đưa rađược khái niệm, đặc điểm củathờihạnTTHS; làm rõ cơ sở lý luận của việc xác định thời hạn TTHS; chỉ rõ các căn cứ quy định và phân loại thời hạn TTHS.

Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá quá trình hình thành và phát triển thời hạn tố

tụng trong PLTTHS Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLTTHS năm 2003, phân chia thành các giai đoạn: từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLTTHS năm 1988; thời hạn tố tụng trong BLTTHS năm 1988 và các Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của BLTTHS năm 1988 vào các năm 1990, năm 1992 và năm 2000; từ đórút ra được những nhận xét về xu hướng phát triển của thời hạn tố tụng trong tiến trình lịch sử TTHS Việt Nam.

Thứ ba, nghiên cứu, đánh giáchếđịnh thời hạn tố tụngtrong PLTTHS của một số nước đại diện cho các truyền thống pháp luật điển hình trên thế giới: các nước Pháp, Đức đại diện cho truyền thống pháp luật châu Âu lục địa; các nước Anh và Xứ Wales, Hoa Kỳ và NhậtBản đạidiện cho truyền thống án lệ, theo mô hình TTHS tranh tụng; và các nước Nga, Trung Quốc đại diện cho các nước chuyển đổi.

28

Trên cơ sở đórút ra những nhận xét, đánh giá, chỉ rađược xuhướngquy địnhvềthời hạn TTHS của các nước này và tìm ra những giá trị có thể vận dụng ở Việt Nam.

Thứtư, phân tích, đánh giá toàn diện,đầy đủ các quy địnhcủa PLTTHS Việt Nam hiện hành để tìm rađượcnhững ưu điểm vàbấtcập, hạn chế về thời hạn tố tụng trong BLTTHS năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đánh giá thực trạng áp dụng các thời hạn TTHS, thông qua việc nhận diện, làm rõ những kết quảđã đạt được cũng như những vi phạm, hạn chếtrong thực tiễn áp dụng và chỉ rađược nguyên nhân của những vi phạm, hạnchế đó.

Thứ năm, nghiên cứu, làm rõ các yêucầu đặtra đối với việc hoàn thiện các quy định về thời hạn tố tụng trong PLTTHS Việt Nam trong thời gian tới thông qua nghiên cứu các yêu cầu về thể chế hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước,về cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan đến thời hạn TTHS; yêu cầu, đòi hỏicủathực tiễn cũng như kinh nghiệmcủamột số nướctrên thế giới nhằm đáp ứng được yêu cầuđấu tranh phòng, chống tội phạm, bảođảmQCN trong TTHS.

Thứ sáu, nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện quy định chung về thời hạn tố tụng; hoàn thiện các quy định về thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo các tiêu chí phù hợp; rút ngắn một số thời hạn tố tụng để đẩy nhanh việc giải quyết VAHS, bảo đảm QCN trong TTHS; tăng một số thời hạn tố tụng nhằm giảm áp lực cho các chủ thể tiến hành

tố tụng và bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng; quy định rõ một số loại thời hạn để tránh tình trạng lạm dụng hoặc áp dụng tùy tiện; bổ sung một số thời hạn nhằm ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng, bảo đảm QCN của những người tham gia tố tụng; sửa đổi quy định số lần trả hồ sơ đề điều tra bổ sung, điều tra lại, xét xử lại; bổ sung các quy định về biện pháp, chế tài khi vi phạm thời hạn TTHS.

Thứbẩy,đưara các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các thời hạn TTHS trong thực tiễn gồm nâng cao vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tiến hành

tố tụng,đổimớiphương thức tổchức, chỉ đạo,điều hành; tăng cườngcông tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ và tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật, kinh phí cho hoạt động TTHS.

29

Kết luận chương 1

1. Thời hạn TTHSđã dành đượcsự quan tâm nghiên cứu nhất định của các chuyên gia, các nhà khoa học và nhữngngườilàm công tác thực tiễn. Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiêncứutrong và ngoài nước xung quanh vấnđề này nhằm đưa ra các kiến giải khoa học, góp phần hoàn thiện chế định thời hạn tố tụng trong PLTTHS. Tuy nhiên, so với các chếđịnh khác, chế địnhthời hạn TTHS ở Việt Nam chưa dành được sự quan tâm nghiên cứu của các chuyên gia, nhàkhoahọcvới các công trình nghiên cứu chuyên sâu,đề cập đầy đủ,toàn diện những

vấn đề lý luậnvà thực tiễn về thời hạn TTHS, tạo cơ sở cho việc đề xuất, hoàn thiện các quy địnhthời hạn TTHS theo hướngchặt chẽ, chính xác và khoa học đang làmột trong những nguyên nhânảnhhưởngđến kết quảđấutranh phòng, chống tội phạm, đến yêu cầu bảo đảm QCN trong TTHS.

2. Trên cơ sở tổng hợp và khái quát kết quả của các công trình khoa học liên quanđếnTTHS nói chung, thờihạnTTHS nói riêng, luận ánđãphân tích tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và ở nước ngoài cả về mặt lý luận lẫnthực tiễn và nhữngvấnđềliên quanđếnnộidung nghiêncứucủaluận án, qua đó xác định những yêu cầu, đòi hỏi bức thiết của việc phân tích để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thời hạn TTHS, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện PLTTHS vàđưara các giải pháp nâng cao hiệuquảáp dụng các thời hạn TTHS trong thực tiễn.

3.Từ kết quả phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu, có thể khẳngđịnh luận án là một công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu,đề cập đầyđủ,toàn diện, có hệ thống nhữngvấnđềlý luận và thực tiễnvề thờihạn TTHS, đápứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa,vừabảo vệlợi ích chung của Nhà nước,xã hội, vừa bảo đảmQCN, quyền công dân khi tham gia vào hoạt độngTTHS; bảo đảmquá trình giải quyết VAHS được khách quan, toàn diện, triệt để, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; có biện pháp, chế tài xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi vi phạm PLTTHS, nhất là vi phạm thời hạn tố tụng từ phía cácchủ thểtiến hành tố tụng.

30

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỜIHẠN TỐ TỤNG

TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1. KHÁI NIỆM,ĐẶC ĐIỂM,CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÁCĐỊNH THỜI HẠN TỐ TỤNG HÌNH SỰ, CÁC CĂNCỨ QUYĐỊNHVÀ PHÂN LOẠI THỜI HẠN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thời hạn tố tụng hìnhsự

Theo Từ điển tiếng Việt: “Thời hạn là khoảng thời gian có giới hạn nhất định để làm việc gì đó”[70]. Theo TừđiểnLuật học thì thời hạnđược hiểu là”khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác” [85, tr. 718] hay thời hạn tố tụng là “thời gian được pháp luật quyđịnhđể tiến hành các hành vi

tố tụng” [85, tr. 471]. Nhìn chung, nếu áp dụng các khái niệm này cho thời hạn TTHS thì chưa đầy đủ, trọn vẹn. Nếu theo Từ điển Tiếng Việt thì chỉ mới xác địnhđược khoảng thời gian (bao nhiêu phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sựkiện có thể xảy ra) mà không xác định rõ thời điểm bắt đầu và thời điểmkếtthúc.

Qua nghiên cứu một số công trình, bài báo ở nước ngoài chưa thấy các tác giả đưa ra khái niệm thời hạn TTHS mà chỉ phân tích, làm rõ các quy định chung vềthời hạnTTHS. Một số công trình, bài báoở trong nước thời gian qua đã đưa ra khái niệm thời hạn TTHS. Tác giả Lê Minh Tuấn trong bài viết vấnđề thời hạn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, đưa ra khái niệm: “Thời hạn tố tụng hình sự làkhoảng thời gian để tiến hành các hoạtđộngtố tụnghình sự” [86]. Tác giả Hà ThịMai Huế trong luận văn thạc sĩ luật học thời hạn điều tra trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cho rằng “Thời hạn tố tụng hình sự là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác, là khoảng thời gian cần thiết để giải quyết tốt nhất các nhiệm vụ của từng giai đoạn tố tụng” [28]. Tác giả Lê Hữu Thểtrongđề tàikhoa học cấp bộ các thời hạn tố tụng theo quy định của BLTTHS năm 2003 – Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện có đưa ra khái niệm: “Thời hạn tố

31

tụng hình sự là một loại thời hạn pháp lý, được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự,là khoảng thời gianđược xácđịnh từ thờiđiểmnày đến thờiđiểm khácđể tiếnhành các hoạtđộng tốtụng, hành vi tố tụng cụ thể” [67, tr. 11].

Các khái niệm mà các tác giả nêu trên đưa ra đều có điểm chung là mô tả nội hàm của khái niệm thời hạn TTHS trước hết là khoảng thời gian. Tuy nhiên, so với thuật ngữ “khoảng thời gian” có nội hàm rộng, tính xác thực, tính cụ thể thấp thìthuật ngữ “giới hạn thời gian” có độ chính xác, tính khái quát cao hơn lại khôngđược sử dụng. Trong khi đó, thuật ngữ “giới hạn thời gian” còn phù hợp với tinh thần của các điều luật quyđịnh về thời hạn tố tụng trong PLTTHS, chẳng hạn khoản 1 Điều 119 BLTTHS năm 2003 quy định thời hạn điều tra không quá 02 tháng đối với

tội phạm ít nghiêm trọng. Điều này có nghĩa, 02 tháng là giới hạn về thời gian màCQĐT phải kết thúc điều tra vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng. Ngoài ra, các khái niệm nêu trên chưa bao quát được đối với loại thời hạnTTHS không xác định vàchưa chỉ rađượctrong thờihạnluật định các chủ thể TTHS thực hiện các hoạt động,hành vitố tụng nhằm đạt được mục tiêu,yêu cầu cụ thể.

Theo quy định của Bộ luật dân sự thì thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra [59, Điều 149]. Theo quy định củaBộ luật tố tụng dânsựthì thời hạn tố tụng là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện hành vi tố tụng doBộ luậtnày quy định. Thời hạn tố tụng có thểđược xácđịnh bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra [60,Điều 157]. Các khái niệm trên chưa chính xác ởchỗ, có những loại thời hạn được quy định trong pháp luật này nhưng không thểxácđịnh được thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc, chẳng hạn thời hạn tố tụng không xácđịnh.

Từ những phân tích trên, có thể thấy, thời hạn TTHS chỉ do PLTTHS quy định.Thực tiễn cho thấy có nhiều loại thời hạn khác nhau và việc quy định các thời

32

hạn cũng không giống nhau. Có những loại thời hạn do luật quy định như thời hạnđiều tra, thời hạn tạm giam bị can, bị cáo; có những loại thời hạn được quy định bởi các nội quy, quy chế, điều lệ của một cơ quan hay một tổ chức nào đó như thời hạn dựbị của đảng viên mới được kết nạp theo quy định của ĐiềulệĐảng Cộng sản Việt Nam là 12 tháng; có những loại thời hạn do thỏa thuận giữa các bên như thời hạn tronghợpđồngdânsự [86]. Thời hạn TTHS không chỉ đơnthuần là giới hạn thời gian mà còn được xác định với tư cách là một sự kiện pháp lý đặc biệt làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong những trường hợp luật định. Trong giới hạn thời gian hoặc tại thời điểm khi thời hạn này kết thúc thì làm phát sinh hậu quả pháp lý. Xét về tính chất, thời hạn TTHS vừa mang tính khách quan của thời gian, vừa mang tính chủ quan củachủ thểtrongviệc đặtra thời gian để tiến hành các hoạt động, hành vitố tụngnhằm đạtđược mục tiêu, yêu cầu cụ thể.

Qua phân tích những đặc trưng nêu trên từ khía cạnh ý nghĩa về mặt ngôn ngữ và khía cạnh bản chất pháp lý của thuậtngữcó thể đưa ra khái niệm về thời hạn TTHS như sau: Thời hạn tố tụng hình sự là giới hạn thời gian do pháp luật tố tụng hình sự quy định để các chủ thể tố tụng hình sự thực hiện các hoạt động, hành vi tố tụng nhằmđạt được mục tiêu,yêu cầu cụ thể. Từ khái niệm này, thời hạn TTHS có những đặc điểm cơ bản là:

Thứnhất, thời hạn TTHS vừa mang tính khách quan,vừamang tính chủquan. Quy định của pháp luật phản ánh tất cả những đặc trưng củamộthiện tượng xã hộiphát sinh và phát triển trong những điều kiện lịch sử và hiện tượngxã hội theo quy luật khách quan. Thời hạn TTHS cũng nằm trong quy luật đó, nó được tính toán trên cơsở các điều kiện kinh tế,chính trị, xã hội, đáp ứng yêucầuđấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng thời kỳ lịch sử thông qua quá trình giải quyết các VAHS với cácđặc điểmloại tội phạm đã thực hiện, quy mô, tính chất, mức độ phức

tạp của vụ án kết hợp với sốlượng, chất lượng của các chủ thể tiến hành tố tụng,từđóxác định khoảng thời gian vật chất cần thiết cho việc thực hiện các hoạt động tố

33

tụng, bảo đảm tính khả thi của các quy định về thời hạn TTHS, phù hợpvớithực tếkhách quan. Tuy nhiên, các điềukiện kinh tế, chính trị, xã hội thay đổitheo thời gian nên các quy định về thời hạn TTHS cũng được điều chỉnh cho phù hợp. Thời hạn tố tụng cũng đượctính toán, xác định và được quy định trong PLTTHS mang dấu ấnchủ quan của nhà làm luật, đồng thời trong từng giaiđoạncụ thể còn là yêu cầu của nhân dân, của xã hộiđối với quátrình phát hiện và xử lý tội phạm. Nhà làm luật thể hiện ý chí của nhân dân thông qua việc xác định nhữngthời hạn cần thiết đểtiến hành các hoạtđộngTTHS. Tuy nhiên, quy định về thời hạn TTHS không chỉ làvấn đề nhậnthức mà là vấn đề thực tiễn xây dựng pháp luật, trong đó việc xác định các nguyên tắc pháp lýđể kếthợpđúng đắn giữa tính khách quan với chủ quan, vừa phản ánh được những quy luật của thực tiễn xã hội, nằm ngoài ý chí chủ quan và do đócon người nhất thiết phải tuân theo. Một trong những mục đích quy định thời hạn TTHS là để ngăn chặn những tư tưởng cho các hoạt động tố tụng dựa trên các tiêu chuẩn khách quan,chủquan của ngày hôm qua. Chỉ khi nào thời hạn TTHS được xây dựng trên nền tảng nhận thức của nhà lập pháp về những quy luật khách quan và những điều kiện tácđộng,chi phối nó trong TTHS thì hoạt động TTHS mới cóthể đem lại những kết quả mong đợi.

Thứ hai, mỗi thời hạn TTHS đặt ra yêu cầu hoạtđộng,hành vi tố tụng đối với việc giải quyết nhiệm vụ nhất định. Quá trình TTHS được thực hiện qua các giaiđoạn với các thời hạn tố tụng khác nhau đặt ra cho từng giai đoạn đó và trong từng giaiđoạn có các thời hạn tố tụng cụ thể gắn với từng hoạt động tố tụng. Sự phân chia thời gian tương ứng với mỗi giai đoạn theo yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra phải giải quyết trong thời gian đó là cách thức tối ưu hóa tiến trình giải quyết VAHS. Trongmỗithời hạn TTHS khác nhau có hoạt động, hành vi tố tụng đặc trưng, điển hình được thực hiện. Mỗi thời hạn TTHS đặt ra cho các chủ thể mục tiêu riêngcần đạt được,đặtra trình

tự, thủ tục, nội dung nhiệmvụvà yêu cầucụ thể cần giảiquyết trong thời hạn đó.

Thứba, các thời hạn TTHSnằmtrong một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽvớinhau. Mỗi thời hạn TTHS được xácđịnhbằng thời điểm bắt

34

đầu và thời điểmkết thúc và đều làmộtphần độc lập tương đốitrong tiến trình TTHS. Tuy nhiên, các thời hạn TTHS nằm trong một chỉnh thể thống nhất của thời hạn TTHS nói chung – thời hạn giải quyết VAHS, được bắt đầu từ khi có tố giác, tin báo vềtộiphạmđến khi ra bản án, quyếtđịnh có hiệu lực pháp luật cũng như ra quyết địnhthi hành án. Các thời hạn TTHS nằm trong một chu trình, dây chuyền khép kín,đồng bộ,nốitiếp nhau, kết thúc thời hạn này thì đồngthời cũng mởra một thời hạn khác. Thời hạn ở giai đoạn trước là điều kiện làm phát sinh thời hạnở giaiđoạnsau, thời hạn tiếp theochỉđược bắtđầukhi thời hạntrước đãkếtthúc, thời hạn sau là hệquả của thời hạn trước nó. Các thời hạn TTHS có liên quan hết sức chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau tạo thànhsựđồng bộ,thống nhất trong toàn bộ quá trình giải quyết VAHS cũng như ở từng giai đoạn tố tụng cụ thể. Ranh giới giữa các thời hạnTTHS là các sựkiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ tố tụng trong thời hạn cụ thể, trong đó các chủ thể thực hiện những hoạt động, hành vi tố tụng theo thẩm quyền của mình, ra các quyết định tố

tụng để kết thúc thời hạn và mở đầu cho thời hạn mới.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\THỜI HẠN TỐ TỤNG TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

Thời hạn tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng Thời hạn tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng Thời hạn tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng Thời hạn tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *