Thi hành án phạt tù ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp

Thi hành án phạt tù ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Pháp luật Việt Nam có nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh thi hành án hình sự (THAHS) trong đó có thi hành án phạt tù (THAPT), gồm: Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi 2009), Bộ luậttốtụng hìnhsự(BLTTHS) năm 2003 và Luật THAHS năm 2010… Hệ thống pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý đểbuộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù, để cơ quan THAPT thực hiện nhiệm vụ, chức năngcủamình trong THAPT, để cơ quan quản lý nhà nước quản lýTHAPT. Hệ thống pháp luật về THAPTđãgóp phần hoàn thiện thủ tục đưa người bị kết án phạt tù vào trại giam để chấp hành hình phạt, thủ tục tiếp nhận phạm nhân đượcquyđịnhkhácụthểvà chặtchẽcó tác dụng trong việc thực hiện công tác THAPT đúng đối tượng và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật [35, tr. 100]. Hệ thống pháp luật THAPTđã điều chỉnh cụ thể hơn một số lĩnh vực như hoãn THAPT, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và tạm đình chỉ THAPT. Bên cạnh đó, hình thành hệ thống bộ máy, tổ chức chuyên trách làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác THAPTở Bộ Công an và BộQuốc phòng từTrung ương đến địa phương. Hệ thống tổ chức hình thành đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện từ việc theo dõi, quản lý người bị kết án tù còn ngoài xã hội và tổ chức quản lý người bị kếtán tù đang chấp hành án tại các nhà tạmgiữ,tạmgiam và các trại giam, tạo bước chuyển biến mới trong công tác THAPT ở nước ta, khắc phục những sơ hở, buông

lỏng kéo dài nhiều năm trước đây. Công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân có nhiều tiến bộ, hàng năm có hàng vạn người chấp hành xong hình phạt tù trở về xã hội, sốđông đã tiến bộ và làm ăn lương thiện, trở thành người có ích cho xã hội. Cơ sở vật chất phụcvụcông tác THAPTđãtăng cường đáng kể, bảo đảmyêu cầu THAPT ngày càng tốt hơn, tạo môi trường thuận lợi để phạm nhân cải tạo trở thành người có ích cho xã hội. Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm công tác THAPTđãđược nâng cao một bước về trình độ chính trị, pháp luật, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu quản lý THAPT do lực lượng Công an và Quân đội đảm nhận [16].

1

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được, thì công tác THAPT vẫn còn những hạn chế, vướng mắc như:

– Tình trạng quản lý công tác THAPT lỏng lẻo, nhiều đối tượng đã bị kết án bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng ra quyết định thi hành án còn chậm, bỏ sót.

– Vẫn còn một số không ít người bị kết án bằng hình phạt tù, bản án đã cóhiệu lực pháp luật đã có quyếtđịnhthi hành án nhưnghọ vẫn chưa đi chấp hành hình phạt tù tại trại giam hoặc bỏ trốn khỏi nơi cư trú, lợi dụng các quyđịnh vềhoãn THAPT. Việc giải quyết giảm thời hạn, miễn chấp hành hình phạt có sai phạm; số liệu thống kê, báo cáo công tác THAPT thiếu chính xác, không đầy đủ.

– Hệ thống cơ quan THAHS và pháp luật về THAHS về cơ bản chưa có nhữngđổi mớixứng tầmphát triển của xã hội, hiệu quả THAPTvẫncòn hạn chế, bất

cập… Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực THAPT còn có những hạn chế trong chỉ đạo, điều hành, kiểm tra. Chính nó đã làm giảm hiệu quả và hiệu lực quản lý [29, tr. 5]. Khi thiếusựquyđịnhtrách nhiệmcụthể, thiếusựkiểm tra,đônđốc thường xuyên của các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này thìtình trạng quản lý lỏng lẻo đã khiến nhiều đối tượng bị Tòa án kết án bằng bản án vàquyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không thi hành [16], [29, tr. 6].

– Công tác tái hòa nhập cộng đồng còn kém hiệu quả, tỷ lệ người tái phạm sau khi mãn hạn tù còn cao. Việc xóa án tích của Tòa án còn thụ động chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác tái hòa nhập cộng đồng.

Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trên có thể kể đến: Pháp luật thi hành hình phạt tù chưa đảm bảo tính hệ thống, chưa thật phù hợp. Nhiều vướng mắc phát sinh trong hoạt động quản lý và tổ chức thi hành hình phạt tù chưa được điều chỉnh kịp thời hoặc đã được điều chỉnh nhưng không còn phù hợp; Công tác THAPTcần phải đượcthực hiện nghiêm của các cơ quan có thẩm quyền và sự phối hợp giữa Cơ quan chuyên trách với nhiều cơ quan khác cùng tham gia, thực hiện nhưTòa án nhân dân (TAND), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Cơ quan THAPT,Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú, cơ quan

2

y tế… Tuy nhiên, việc thực hiệnvà sựphối hợp giữa các cơ quan này còn lỏng lẻo dẫn đến thi hành hình phạt tù không đạt được kết quả, tác dụng phòng ngừa vi phạm vàtội phạm bị hạn chế; trong THAPT thì lĩnh vực hợp tác quốc tế chưa được quan tâm, chú trọng, gần như bỏ ngỏ và mới chỉ dừng lại trong dẫn độ tội phạm [58, tr. 526].

Tư tưởng nổi bật của Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (sau đâygọi tắtlà Nghị quyết số 48-NQ/TW) và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sauđâygọitắtlàNghị quyết số 49-NQ/TW), là phải tiến hành cải cách và đổi mới mạnh mẽ công tác thi hành án ở Việt Nam trong đó có THAPT, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện về THAPT. Điều này được thể hiện thông qua bốn nội dung cơ bản, bao gồm: một là, xây dựng Bộ luật thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực về thi hành án; hai là, xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất công tác thi hành án; ba là, chuẩn bị cácđiềukiện vềcán bộ, cơ sở vật chấtđể thực hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án từBộ Công an sang Bộ Tưpháp; bốn là, từng bước xã hội hóa các hoạt động thi hành án.

Từnhững yêu cầubứcthiết cần phải nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn những vấn đề lý luậnvề THAPT, tiến hành tổng kết một cách đầyđủ hơn nhằm chỉ ra những kinh nghiệm thành công cũng nhưhạnchế, vướng mắc của thực tiễn công tác THAPT. Đâysẽ là nền tảngđể tiếp tục đổimới công tác THAPT trong giai đoạn hiện nay trước yêu cầu cải cách tư pháp.

Với những lý do trên, tác giả đãchọnđề tài “Thi hành án phạt tù ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp” làm đề tài luận án tiến sĩ Luật học.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về THAPT, đánh giá chính xác, khách quan công tác THAPT thể hiện trong việc thi hành pháp luật và thực tiễn THAPT ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp hợp lý vềxây dựng, hoàn thiện pháp luật liên quan đến THAPT và các giải pháp

3

khác nhằm nâng cao hiệuquảTHAPTtrướcyêucầucảicách tư phápởnước ta hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đíchtrên, luận án đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận, làm rõ nội dung và ý nghĩa của THAPT, chỉ ra đượcđặc trưng của THAPT so với thi hành các hình phạt khác. Trên cơsở đóxây dựng khái niệm THAPT về mặt lập pháp, về mặt lý luận và về mặt thực tiễn.

– Nghiên cứu làm rõ tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quanđến thi hành án phạt tù để khái quát thành những nội dung tiếp tục cần nghiên cứu và làm sáng tỏ trong luận án.

– Làm rõ nội dung, điều kiện, trình tựthủ tục THAPT trong luậttố tụng hình sự và Luật THAHS Việt Nam, chỉ ra những ưu điểm và hạnchế củahệ thống quy phạm pháp luật về THAPT.

– Làm rõ thực trạng tổ chức và hoạt động THAPT; những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động THAPT, đồng thời xác định các nguyên nhân của tình trạng ấy, làm cơ sở đề xuất những giải pháp khắc phục phù hợp.

– Đưa ra các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về THAPT và các giải pháp nâng cao hiệu quả THAPT trước yêu cầu cải cách tư pháp.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Thi hành án phạt tù làđối tượngđiềuchỉnh của nhiều ngành luật khác nhau như luật hình sự, luật tố tụng hình sựvà luật THAHS. Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung nghiên cứu THAPTdướigóc độ luật hình sự và tố tụng hình sự, đồng thời cónghiên cứu Luật THAHSdướigóc độ bổ trợcho các quy địnhcủaluật hìnhsựvàluật tố tụng hình sự,bao gồm những vấn đềphát sinh trong quá trình thi hành án

phạt tù (căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, điều kiện… thi hành án phạt tù). Luậnán còn nghiên cứu các yêu cầu cải cách tư pháp của Việt Nam đối với THAPT.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả tập trung nghiên cứu vào những vấn đề sau đây:

4

– Pháp luật THAPT (bao gồm cả thi hành án tù có thời hạn và tù chung thân) những năm gần đây (khoảng 10 năm từ 2005-2014), dưới góc độ luật hình sự, luật tố tụng hình sự và luật thi hành án hình sự, cụ thể như: Trình tự, thủ tục đưa người phải THAPT vào thi hành và quá trình THAPT tại trại giam, cơ quan, tổ chức liên quan đến công tác THAPT.

– Nghiên cứu công tác THAPT trong phạm vi cả nước.

Luận án không đi vào nghiên cứu các đối tượng khác, như THAPT nhưng cho hưởng án treo. Đồng thời, luận án chỉ tập trung nghiên cứu THAPT trong lực lượng Công an nhân dân.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp luận củaluận án dựa trên quan điểm duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là phương pháp quan trọng nhất của luận án. Nó giúp nghiên cứu lịch sửphát triển pháp luật THAPT và công tác THAPT. Từđóchỉ ra hướng kế thừa những thành tựu cơ bản của các giai đoạn trước và phát triển hướng đi phù hợp cho giai đoạn hiện nay. Đồng thời, trong khi giải quyết các vấn đề chính, luận án cũng đặt chúng trong cái nhìn biện chứng, trong mối liên hệ, tương tác với các vấn đề khác như công tác

điều tra, truy tố, xét xử…

Luận án còn sử dụng một số phương pháp khác để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như:

Phương pháp xã hội học: điều tra, phỏng vấn các cán bộ khoa học, các cán bộ thực tiễn, các học viên cao học, các sinh viên đang công tác, học tập và nghiên cứu theo chuyên ngành tư pháp hình sự về THAPT.

Phương pháp thống kê: thống kê cácsố liệu thực tế từcác cơ quan quản lýTHAPT ở Việt Nam hiện nay.

Phương pháp phân tích: trên cơ sở các quy phạm pháp luật thực định hiện hành trong lĩnh vực tố tụng hình sự và THAHS, phân tích và làm rõ nội dung của THAPT. Phương pháp so sánh luật học: so sánh để chỉ ra những tương đồng và khác

biệt về các quy phạm pháp luật tương ứng có liên quanđếnTHAPT giữa Việt Nam và một số nước trên thế giới.

5

Phương pháp tổng hợp: trên cơ sở phương pháp xã hội học, thống kê, phân tích, so sánh, luận án đi đến những vấn đề khái quát nhất xung quanh các vấn đề về khái niệm, phạm trù, các quy định về THAPT.

5. Những đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện về THAPT ở nước ta trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay, được thể hiện ở những nội dung cụ thể sau:

– Luận án phân tích một cách có hệ thống những vấnđềlý luận về THAPT, đưa ra khái niệm, đặcđiểm, nộidung và ý nghĩa củaTHAPT thông qua ba bình diện lập pháp, thực tiễn và lý luận.

– Luận án làm rõcơ sởcủa THAPT, nguyên tắc của THAPT được quy định trong Hiến pháp, BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009, BLTTHS

năm 2003, Luật THAHS…

– Luận án nghiên cứu một cách có hệ thống vềlịch sửTHAHS nói chung và THAPT nói riêng từnăm 1945 đến nay, luận án chỉ rõ những sựkhác biệt trong hoạt động này ở các thời kỳ, giai đoạn phát triển khác nhau, cho phép chúng ta rút ra được những bài học kinh nghiệm và trên cơ sở đó, có những định hướng, những giải pháp cụ thể thích hợp cho hoạt động THAPT hiện tại cũng như tương lai.

– Luận án phân tích, đánh giá nội dung các quyđịnh của pháp luật vềTHAPT thông qua các quy định của BLTTHS, Luật THAHS, cụ thể là các quy định về cơ quan, cá nhân có thẩm quyền THAPT, trình tựthủ tục THAPT, quyền vànghĩa vụcủacác chủ thể trong THAPT; đánh giá hiệu quả công tác THAPT, thực trạng pháp luật, thực trạng về cơ quan có thẩm quyền trong THAPT, về trại giam,

trại tạm giam, về đội ngũ cán bộ làm công tác THAPT…

– Luận án nghiên cứu các quy định củamột số nướcvề THAPT, trong đó cóso sánh về sự tương đồng với Việt Nam, đánh giá mặt tích cực của một số nước màchúng ta có thể áp dụng trong THAPT ở Việt Nam.

– Luận án đưa ra những yêu cầu, cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả THAPT; phương hướng nâng cao hiệuquảTHAPT, đưa ra các giải pháp hoàn thiệnvề mặt

pháp luật và tổ chức bộ máy làm công tác THAPT…

Thi hành án phạt tù ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp
Thi hành án phạt tù ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp

– Luận án đưa giải pháp mang tính đột phá trong tình hình hiện nay là chếđịnh “tha tù trước thời hạn có điều kiện”để giảm tình trạng quá tảitrong các trại giam và trại tạm giam hiện nay, trong đó có học tập kinh nghiệm của nước ngoài vềchế định này cho phù hợp với điều kiện của nước ta hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

– Đóng góp vào khoa học pháp lý hình sự và khoa học pháp lý tố tụng hình sựvềlĩnh vực THAPT.

– Làm cơ sở cho các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trong quá trình thi hành, quản lý phạt tù, cũng như định hướng cho việccảicách tư pháp trong THAPT.

– Góp phần triển khai nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp trong lĩnh vực THAPT.

– Những nội dung và kết quảnghiên cứu của luận án cũng có thể sửdụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các cơsở đào tạo Luật, trong các trường Công an nhân dân.

– Những luận điểm và các kiến nghị của luận án có ý nghĩa thiết thực cho việc tiến hành sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 và Luật THAHS cũng như pháp luật về tổ chức, hoạt động của cơ quan có thẩm quyền trong THAPT, đề ra các giải pháp nhằm kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ quan đó.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Chương 2: Những vấn đề lý luận về thi hành án phạt tù.

Chương 3: Quy định của pháp luật và thực trạng thi hành án phạt tù. Chương 4: Các giải pháp nâng cao hiệu quảthi hành án phạt tù trước yêu

cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.

7

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƢỚC

1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN ĐƯỢC TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện những vấn đề về THAPTở Việt Nam trước yêu cầucảicách tư pháp. Do vậy, luận án cần phải làm rõ về lý luận vàthực tiễn những vấn đề sau:

– Làm sáng tỏ những nội dung về trình tự, thủ tục THAHS nói chung và THAPT nói riêng.

– Làm sáng tỏ những nội dung lý luận về khái niệm, ý nghĩa, nội dung của THAPT thông qua ba bình diện lập pháp, thực tiễn và lý luận.

– Phân tích, đánh giá cơ sở của THAPT, nguyên tắc của THAPT được quyđịnh trong Hiến pháp, BLHS năm 1999đãđược sửa đổi, bổ sung năm 2009, BLTTHS năm 2003, Luật THAHS năm 2010

– Nghiên cứu lịch sử THAHS nói chung và THAPT nói riêng từ năm 1945đến nay, luận án chỉ rõ những sự khác biệt trong hoạt động này ở các thời kỳ, giai

22

đoạn phát triển khác nhau, cho phép chúng ta rút ra được những bài học kinh nghiệm và trên cơ sở đó, có những định hướng, những giải pháp cụ thể thích hợp cho hoạt động THAPT hiện tại cũng như tương lai.

– Phân tích, đánh giá nội dung các quy định của pháp luật về THAPT thông qua các quy định của BLHS, BLTTHS, Luật THAHS, cụ thể là các quy định về cơquan, cá nhân có thẩm quyền THAPT, trình tự thủ tục THAPT, quyền và nghĩa vụcủa các chủ thể trong THAPT; đánh giá hiệu quả công tác THAPT, thực trạng pháp luật, thực trạng về quản lý nhà nước về THAPT, về trại giam, trại tạm giam, về đội

ngũ cán bộ làm công tác THAPT…

– Nghiên cứu các quyđịnh củapháp luật nước ngoàivề THAPT, trong đócó so sánh về sự tương đồng với Việt Nam, đánh giá mặt tích cực của nước ngoài mà chúng ta có thể áp dụng trong THAPT ở Việt Nam. Nhằm tăng cường trong việc áp dụng những tiến bộ của nước ngoài trong thi hành án ở Việt Nam, chúng ta cần phải tăng cường hợp tác quốc tế trong THAPT, điều này cần phải có những nghiên cứu về pháp luật và cơ chế hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Do vậy, luận án cầnphải nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc lĩnh vực hợptác quốc tế trong THAPT.

– Nghiên cứu các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác THAPTở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay, đề ra những yêu cầu, cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả THAPT; phương hướng nâng cao hiệu quả, đưa ra các giải pháp

hoàn thiện về mặt pháp luật và tổ chức bộ máy làm công tác THAPT…

Nghiên cứu một cách toàn diện về giải pháp mang tính đột phá trong tình hình hiện nay là chế định “tha tù trước thời hạn có điều kiện”để giảmtình trạng quá tải trong các trại giam và trại tạm giam hiện nay, trong đó có học tập kinh nghiệm của nước ngoài về chế định này cho phù hợp với điều kiện của nước ta hiện nay.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Quá trình cải cách tư pháp nói chung và đổi mới cơ quan THAHS nói riêngđã và đang diễn ra theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tiếp thu những yếu tố tích cực của các nước tiến tiến trên thế giới. Quá trình cải cách đổi mới công tác THAHS có vai

23

trò quan trọng và đóng góp tích cực của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia với một khối lượng các công trình khoa học to lớn và những quan điểm lý luận tiêu biểu.

Ở ViệtNam, các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tố tụng hình sựvà THAHS đã góp phần quan trọng vào việc hình thành quan điểmcủa Đảng vàNhà nước vềcải cách tư pháp, đổi mới và hoàn thiện pháp luật THAHS trongđó cóTHAPT. Về định hướng, hầu hết các công trình nghiên cứu đều lấytâmđiểmlà khắc phục những khiếm khuyết, hạn chế của công tác thi hànhán đểhình thành môhình thi hành án bảo đảmquyền con người, tăng cường sựtham gia của xã hội, nâng cao hiệu quả thi hành án.

Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách cầu thị có thể nói rằng, các công trình nghiên cứu có thể đang ở giai đoạn gợi mở ý tưởng về một sự đổi mới, cải cách sâu

rộng hơn cho THAHSnước ta trước yêu cầu xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN. Vì vậy, các đềtài mới chỉ chú ý vào những khía cạnh cụ thể hay từng bộphận cụ thể củaTHAPT, chưa vươn tớitầm nhìn hệ thống và đưa ra quan điểm xuyên suốt cho việc cải cách tư pháp hình sự nói chung và THAHS nói riêng.

Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu ở nước ngoài, có thể xác nhận một khối lượng khổng lồ các tư liệu khoa học. Các công trình đã đưa ra các khái niệm, bản chất của THAPT, lịch sử THAPT qua các thời kỳ gắn với điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia. Nhiều quan điểm khoa họcrất đáng được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình tiếp cận các vấn đề tương ứng ở Việt Nam.

24

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ

2.1. NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ

2.1.1. Khái niệm thi hành án hình sự

Điều 30 Bộ luật hìnhsựnăm 2015 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối vớingười hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặchạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”.

Thi hành bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án là việc các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân có liên quan đưa bản án và quyếtđịnh đó ra thi hành làm cho nó phát huy hiệu lực trên thực tế.

Thi hành bản án và quyết định của Tòa án nhằm đảm bảo các phán quyết của Tòa án phát huy hiệu lực trên thực tế, các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cóý nghĩa hơn khi bản án và các quyết định của Tòa án được mang ra thi hành.

Việc thi hành bản án và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật là nhiệm vụ chung của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân, trongđó cơ quan Tòa án giữvai trò quan trọng. Chánh án Tòa án đã xétxửsơ thẩm cótrách nhiệm ra quyết định thi hànhbảnán và trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ theo quyđịnh của pháp luật các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan thi hành nghiêm chỉnh quyết định thi hành án của Tòa án [13, tr. 453].

Ở nước ta, về bản chất của THAHS nói chung và thi hành hình phạt tù nói riêng có phải là một trong các giai đoạn tố tụng hình sự hay không đang còn là vấn đềchưa được thống nhất về lý luận trong khoa học tư pháp hình sự [35, tr. 33]. Có quanđiểm cho rằng, THAHS, trong đó có thi hành hình phạt tù là một trong các giai đoạn tố

tụng hình sự độc lập của quá trình tố tụng được xuất phát từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và THAHS [75, tr. 12]. Chính thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử nhằm bảo đảm sự khép kín của quá trình tố tụng hình sự. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên ngay trong Điều 1 BLTTHS (năm 2003) cũng đã chỉ rõ: “Bộ luật tố tụng hình

25

sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”. Quan điểm khác lại cho rằng, thi hành bản án hình sự là hoạt động tư pháp [95, tr. 24], nhưng không phải là giai đoạn tố tụng hìnhsựđộc lậpvì nó gắn liền với hoạtđộng xét xử của Tòa án. Sau khi bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật, những công việc tiếp theo đều là công việc của Tòa án vì Chánh án Tòa án ra quyết định thi hành án; Tòa án quyết định việc miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt; Tòa án quyết định việc xóa án tích cho người bị kết án… Chínhtừđiềunày, những người theo quanđiểm này xác định thi hành bản án hình sự, trong đó có thi hành hình phạt tù là hoạtđộng tư pháp mang tính chất hành chính, hay còn gọi là hành chính tư pháp [75, tr. 13], vì cơ quan tư pháp (Tòa án) ra các quyếtđịnhmang tính chất hành chínhđểcơ quan chấp hành phải thực hiện có tính chất cưỡng chếnhànước đối vớingườicóbản án hình sự. Quan điểm thứ ba thì cho rằng, thi hành bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật không phải là hoạt động tư pháp nói chung và không phải là một giaiđoạn của quá trình tố tụng hình sự nói riêng vì nó không chứa đựng các quan hệ tố

tụng [58, tr. 478]. Những người đưa ra quan điểm này cho rằng, khi nói đến quan hệ

tố tụng hình sự trong hoạt động tư pháp là nói đến quan hệ ngang quyền trong tìm kiếm chứng cứ giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội, trong việc tranh tụng tại phiên tòa để tìm ra sự thật khách quan của vụ án hình sựđể quyết định việc đó cóáp dụng hay không áp dụng loại và mức hình phạt hình sự [35, tr. 34]. Vì vậy, những nguyên

tắc cơ bản phải tuân thủ trong hoạt động tư pháp nói chung và tố tụng hình sự nói riêng là nguyên tắc bình đẳng của những người tiến hành và tham gia tố tụng. Giaiđoạn thi hành bản án hình sựđã có hiệu lực pháp luật không phải tuân thủ các nguyên tắc này vì ở đâykhông có sựbìnhđẳng. Tạigiai đoạn này chỉ có quan hệmệnh lệnh, quyền uy của Nhà nước buộc người có bản án kết tội phải bị thi hành. Hay nói cách khác, THAHS nằm trong quan hệ hành pháp. Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật thì cơ quan của Chính phủ phải ra quyếtđịnhvà đưa bản án đó vào thi

hành [35, tr. 35]. Xuất phát từ điều này, không phải ngẫu nhiên, trong các văn bản pháp luật tố tụng nói chung và BLTTHS nói riêng không quy định, những người liên quan đến việc bảo đảm thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật là những người

26

tiến hành tố tụng, mà chỉ có những người trong cơ quanđiềutra, truy tố, xét xử mới là những người tiến hành tố tụng (Điều 33 BLTTHS năm 2003).

Như vậy, nên hiểu như thế nào cho đúng về giai đoạn THAHS nói chung vàvị trí của THAPT nói riêng. Có lẽ chúng ta phải xuất phát từ hệ thống pháp luật vàtính logic của công việc cụ thể liên quan đến THAHS. Đúng là nếu coi thi hành bản án hình sự, trong đó có THAPT, là một giai đoạn tố tụng hình sự thì phải quy định trong nó có những người tiến hành tố tụng; nếu trong nó có những người tiến hành tố

tụng thì hoạt động của những người này phải hướng vào việc thực hiện hoạt động tưpháp, những hoạt động bảo đảm xét xử có căn cứ và hợp pháp. Mặt khác, nếu THAHS là giai đoạn tố tụng hình sựthì những ngườitiến hànhtố tụng hình sựkhôngchỉnhững người trong cơ quan thi hànhbảnán phạt tù, mà còn cả những người trong chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơingườibị kết áncư trúhoặc làm việc khi đưa bản án cải tạo không giam giữ, án treo, quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân, cấmđảmnhiệm chức vụ, cấmhành nghề hoặc làm một công việc nhất định; những người làm việc trong các cơ sở y tế thi hành quyết định về bắt buộc chữa bệnh. Liệu quyđịnh như thế có hợp lý không? [35, tr. 35]. Việc xác định đúng bản chất THAHS có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện,đặc biệt là tạo ra cơ chế quản lý, mô hình tổ chức và hoạt động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của THAHS.

Từnhững phân tích trên và các quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu, thi hành án hình sự là việc các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân có liên quan đưa bản án và quyết định hình sự đó ra thi hành làm cho nó phát huy hiệu lực trên thực tế.

2.1.2. Khái niệm thi hành án phạt tù

Điều 38Bộluật hình sự năm 2015 quy định: “Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tạicơsở giam giữ trong một thời hạn nhất định”. Và Điều 39 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đốivới người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình”.

27

Thi hành án phạt tù là hoạt động của cơ quan nhà nướcvà người có thẩm quyền thực hiện trách nhiệm đưa những người bị kết án tù đi chấp hành hình phạt

tại trại giam và tổ chức thực hiện các biện pháp cảitạogiáo dục nhằm giúp họnhanh chóng trở thành người lương thiện. Cơ quan và cá nhân có thẩm quyền thi hành hìnhphạt tù đượcnhân danh Nhànước, sửdụng quyền lực nhànước để buộc người bị kết án tù phải chấp hành hình phạt tại trại giam. Đối với người bị kết án tù nếu không chịu chấp hành hình phạt sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theoĐiều 304 BLHS năm 1999, còn đối với người bị kết án tù đang tại ngoại mà không có mặtđể đến trại giam chấp hànhán sẽ bịáp dụng biện pháp áp giải. Do vậy, thi hành hình phạt tù là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước [95, tr. 231].

Thi hành án phạt tù làm cho TNHS đối vớingười phạm tội đượcthực thi trong đời sống. Điều này thể hiện THAPT có nhiệm vụ bảo đảm làm sao hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên đối với các bị cáo khi đã có hiệu lực pháp luật phải được thực hiện nghiêm chỉnh trên thựctế.Đâylà nhiệmvụhàngđầuvàhếtsứcquan trọngbởinếu hình phạt tù đã được tuyên trong bản án và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật khôngđược thực hiện hay thực hiện không đầy đủ, thì quá trình tố tụng trước đó (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử) khó mà có ý nghĩa đầy đủ, đồng thời, khó mà giáo dục được công dân ý thức tôn trọng pháp luật và trật tự pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của họ. Cải tạo, giáo dục người bị kết án tù trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, tạo mọiđiềukiệnđểhọtái hóa nhập cộngđồng,phòng ngừa họ phạm tội mới là một trong những mục đích mà thi hành hình phạt tù cần đạt tới. THAPT diễn ra theo một quá trình gồm nhiều hoạt động kế tiếp nhau, được bắt đầu bằng việc Tòa án ra quyếtđịnh thi hành án, đưa người bị kết án đến trại giam để chấp hành hình phạt tù, tổ chức thực hiện các biện pháp cải tạo, giáo dục phạm nhân, trả tự do cho người bị kết án.

Đối với các trường hợp phạm tội, Tòa án nhân danh công lý ra các phán quyết, nhằm lập lại trật tựxã hội đã bị vi phạm, trừng trị, giáo dụccải tạo người phạm tội, phòng ngừa tội phạm, thực hiện công lý, công bằng xã hội. THAHS chính là thực hiện các phán quyết đó và nói một cách khái quát thì THAHS trong đó cóTHAPT là việc thực hiện công lý, công bằng xã hội trong thực tế.Như vậy, bảo

28

đảm thi hành các phán quyết của Tòa án trong thực tế là yêu cầu sống còn của Nhà nước, của xã hội, nó liên quan trực tiếp đến tính nghiêm minh của cả hệ thống pháp luật, đến hiệu lực, uy tín của Nhà nước, đến kỷ cương, phép nước [95, tr. 21].

Với những đặc điểm và mục đích trên, các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra những khái niệm về THAPT khác nhau. Có thể kể đến:

Theo PGS. TS Nguyễn Ngọc Chí, cho rằng: “Thi hành bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án là việc các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội vàcác cá nhân có liên quan đưa bản án và quyết định đó ra thi hành làm cho nó phát huy hiệu lực trên thực tế” [13, tr. 453]; PGS. TS Võ Khánh Vinh và PGS. TS Nguyễn Mạnh Kháng cho rằng: “Thi hành án hình sựđó là việc thực hiện công lý, công bằng xã hội trong thực tế” [95, tr. 21],

Thi hành hình phạt tù là hoạt động áp dụng pháp luật mang tính quyền lực nhà nước, tính thủ tục, tính định hướng mục đích, tính sáng tạo và tính khoa học do cơquan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền thực hiện dựa trên những nguyên tắc nhấtđịnh nhằm đưa bản án phạt tù đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế nhằm cải tạo giáo dục người bị kết án tù có thời hạn trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội [95, tr. 235].

TS Trần Quang Tiệp cho rằng: Thi hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân là buộc người bị kết án tù có có thời hạn, tù chung thân chấp hành hình phạt tại trại giam nhằm giáo dục họ trở thành người lương thiện. Trong thời gian chấp hành hình phạt, người bị kết án tù phải bị giam giữ, lao động và học tập theo quyđịnh của pháp luật [75, tr. 81].

GS.TS Đỗ Ngọc Quang cho rằng: “Hình phạt tù giam có thời hạn hoặc chung thân được áp dụngđối với người bị kết án phạt tù nhằm tước bỏquyền tự do cư trú,đi lại của ngườibị kếtán trong một khoảng thời gian nhất định hoặc vô thời hạn, buộc họphải sống và làm việc trong trại giam do Nhà nước quy định” [58, tr. 493]; PGS.TS Hồ Trọng Ngũ cho rằng: “Thi hành án phạt tù là buộc những người bị kếtán phạt tù có thời hạn, tù chung thân chấp hành hình phạt tại trạitạmgiam, trại giam nhằm giáo dục họ trở thành người lương thiện” [35, tr. 124].

29

Các nhà khoahọcđãđưa ra được khái niệm về THAHS nói chung vàTHAPT nói riêng thể hiện bản chất của THAPT và mối quan hệ của nó với nhiệm vụ bảo đảman ninh trật tự. THAPT là một quá trình hoạt động có mục đích, thểhiện rõ nét ý chí Nhà nước, tính khoa học cao, tính nhân văn sâu sắc, do cơ quan, tổchức, cá nhân tham gia THAPT thực hiện, bằng hành vi củamình làm cho những quy định pháp luật về THAPT đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Tuy nhiên, việc đưa ra các khái niệm trên của các nhàkhoa học mới chỉ dựa vào bản chất của THAPT và mục đích của THAPT chưa gắn với chiến lược cải cách tư pháp hiện nay của nước ta.

Để làm sáng tỏ khái niệm THAPT, trước hết cần làm rõ khái niệm thi hành án. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, thi hành là “Thực hiện điều đã chính thức quyếtđịnh” [99, tr. 1559].

Trên thế giới việc điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực THAHS các nước có những cách thức khác nhau [35, tr. 10]. Tuy nhiên, về bản chất, THAPT làviệc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật buộc người bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật phảichịu sựquản lý giam giữ, giáo dục, cải

tạo trong trại giam, trại tạmgiam trong thời gian nhấtđịnhhoặc có thể cho họra ngoài xã hội nhưng chịu sự giám sát, quản lý của cơ quan có thẩm quyền để họ trởthành người có ích cho xã hội.

Về mặt lập pháp, khoản 3 Điều 3 Luật THAHS năm 2010 giải thích: “Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sựquản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội” [64].

Thi hành án phạt tù còn có nhiều cách gọi khác nhau như thi hành bản án phạt tù, THAPTvề bản chất chung đều là buộc người bị kết án tù chấp hành hình phạt tại trại giam, trại tạm giam trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục họ trở thành người lương thiện.

Từ những phân tích trên có thể hiểu: Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền trong THAPT thực hiện nhiệm vụ theo trình tự thủ tục do luật định

30

buộc người bị kết án phạt tù phải chấp hành hình phạt, nhằm tước bỏ quyền tự do cư trú, đi lại của người bị kết án trong một khoảng thời gian nhất định hoặc vô thời hạn, buộc họ phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội, trong đó cơ quan, người có thẩm quyền trong THAPT phải bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

2.1.3. Phân biệt thi hành án phạt tù với thi hành các hình phạt khác

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ Ở VIỆT NAM TRƯỚC YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Thi hành án phạt tù ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp Thi hành án phạt tù ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp Thi hành án phạt tù ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *